1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lý luận và bài tập tình huống về việc nuôi con nuôi

17 269 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 31,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 2010, Chị Nguyễn Thị A và anh Lâm Thế N (1987) chung sống như vợ chồng với nhau mà không đăng ký kết hôn. Năm 2011 vợ chồng anh chị sinh được cháu T. Tuy nhiên, do còn là sinh viên, chưa có việc làm nên anh chị không có điều kiện để nuôi cháu T. Do đó, khi cháu T sinh được 3 ngày thì anh chị đã bỏ cháu T lại bệnh viện.

Trang 1

Bài tập nhóm môn: Luật Hôn nhân và gia đình.

Giải quyết tình huống

Mục lục

A Mở đầu 2

B Nội dung 3

I Khái quát chung 3

1 Một số vấn đề về việc nuôi con nuôi 3

2 Tóm tắt tình huống 7

II Giải quyết tình huống 8

1 Anh N có được đòi lại cháu T hay không? 8

2 Anh Được, chị Thu có quyền cấm anh N đến thăm cháu T không? 11

C Kết luận 13

D Tài liệu tham khảo 14

Trang 2

A Mở đầu.

Trong lời nói đầu của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Nhà nước ta đã khẳng định rất rõ : “Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người,

là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Gia đình tố thì xã hội mới tốt…”

Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của gia đình, trong mối giai đoạn, Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm lớn đối với vấn đề gia đình và có những chủ trương để thể chế hóa bằng pháp luật, đường lối, và chính sách của mình Trong từng thời kì phát triển của lịch sử, pháp luật hôn nhân và gia đình ngày càng được củng cố và hoàn thiện

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định tương đối đầy đủ các vấn đề về Hôn nhân và gia đình điển hình như vấn đề nuôi con nuôi Trong luật đã có hẳn một chế định quy định về vấn đề này và năm 2010 nước ta đã ban hành Luật nuôi con nuôi bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2011

Ở Việt Nam, việc nhận nuôi con nuôi đã xảy ra từ rất lâu, với nhiều lý do và mục đích khác nhau, nhưng lý do lớn nhất là vì lòng từ tâm, lòng thương người, muốn cưu mang, giúp đỡ những người rơi vào hoàn cảnh khó khăn Với quan niệm như vậy, việc nhận nuôi con nuôi, nhận cha mẹ nuôi đã trở nên khá phổ biến

Thực tế có không ít các trường hợp tranh chấp xoay quanh vấn đề nuôi con nuôi, trong đó có tranh chấp trong vấn đề nhận nuôi con giữa bố mẹ đẻ và bố mẹ nuôi như trong tình huống sau đây mà nhóm đưa ra Từ đó đòi hỏi chúng ta phải căn cứ vào những quy định của pháp luật để có cách giải quyết hợp lý

Trang 3

B Nội dung.

I Khái quát chung.

1 Một số vấn đề về việc nuôi con nuôi.

a Khái niệm.

Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa những người nhận nuôi con nuôi với người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội

Việc nuôi con nuôi nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình Để việc nuôi con nuôi đạt được ý nghĩa, mục đích, pháp luật cấm các hành vi sau: Lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi, bóc lột sức lao động, xâm hại tình dục, bắt cóc, mua bán trẻ em; giả mạo giấy tờ để giải quyết việc nuôi con nuôi; v v

Để việc nuôi con nuôi được pháp luật công nhận thì phải tuân thủ pháp luật hôn nhân và gia đình và pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch về điều kiện và thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi

Khoản 3, điều 3, Luật nuôi con nuôi năm 2010, quy định rõ khái niệm con nuôi như sau: “ Con nuôi là người được nhận làm con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký.”

b Điều kiện về việc nuôi con nuôi hợp pháp

* Điều kiện về phía người được nhận làm con nuôi (Điều 8 Luật nuôi con nuôi 2010).

Người từ dưới 16 tuổi được nhận làm con nuôi Người từ đủ 16 tuổi đến 18 tuổi cũng được nhận làm con nuôi nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: Được

Trang 4

cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi; được cô, cậu, dì, chú , bác ruột nhận làm con nuôi Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc cả hai người

là vợ chồng

* Điều kiện về phía người nhận con nuôi (Điều 14 Luật nuôi con nuôi 2010)

Người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau:

Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;

Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;

Có tư cách đạo đức tốt;

Những người sau đây không được nhận con nuôi: Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên; đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh; đang chấp hành hình phạt tù; chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em

* Điều kiện về sự tự nguyện của các bên trong việc nuôi con nuôi

Được quy định tại khoản 1 điều 21 Luật nuôi con nuôi 2010

* Đăng ký việc nuôi con nuôi (điều 22, Luật nuôi con nuôi 2010)

Thẩm quyền: Quy định tại điều 9 Luật nuôi con nuôi 2010

Hồ sơ của người nhận con nuôi: Quy định tại điều 17 và 31 Luật nuôi con nuôi 2010

Trang 5

Hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi: Quy định tại điều 18 và 32 Luật nuôi con nuôi 2010

Thời hạn đăng kí việc nuôi con nuôi: Quy định tại điều khoản 1 điều 22 Luật nuôi con nuôi

Từ chối đăng kí việc nuôi con nuôi: Quy định tại khoản 2 điều 22 Luật nuôi con nuôi

c Hệ quả của việc nuôi con nuôi.

Theo quy định tại Luật nuôi con nuôi 2010 thì kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha

mẹ có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội Con cái có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo, phụng dưỡng cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình (Khoản 1 điều 24)

Theo Căn cứ khoản 2, 3, 4 Điều 24 Luật nuôi con nuôi thì việc nhận nuôi con nuôi không đương nhiên làm thay đổi họ, tên của con nuôi theo họ của người nhận nuôi Tuy nhiên, nếu con nuôi từ đủ 9 tuổi trở lên, thì việc thay đổi họ, tên phải được sự đồng ý của người đó Trường hợp, con nuôi từ đủ 9 tuổi trở lên không đồng ý việc thay đổi họ, tên của mình, thì con nuôi mang họ, tên cũ Việc thay đổi

họ, tên của con nuôi mất năng lực hành vi chỉ cần có sự đồng ý và yêu cầu của cha,

mẹ nuôi Đối với trẻ em được nhận nuôi là trẻ em bị bỏ rơi thì dân tộc được xác định theo dân tộc của cha nuôi, mẹ nuôi Như vậy, nếu cha mẹ nuôi là dân tộc kinh thì con nuôi cũng là dân tộc kinh Trừ trường hợp giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi

có thỏa thuận khác, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không có quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi

Trang 6

d Chấm dứt việc nuôi con nuôi.

*.Căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi được quy định tại Điều 25 Luật nuôi con nuôi năm 2010, các trường hợp sẽ dẫn tới chấm dứt việc nuôi con nuôi:

- Con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi;

- Con nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của cha mẹ nuôi; ngược đãi, hành hạ cha mẹ nuôi hoặc con nuôi có hành vi phá tán tài sản của cha mẹ nuôi;

- Cha mẹ nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con nuôi; ngược đãi, hành hạ con nuôi;

Theo Điều 10 Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy định về thẩm quyền giải quyết yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi thì theo đó Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự

Quyền chấm dứt nhận nuôi con nuôi được quy định cụ thể tại Điều 26 Luật nuôi con nuôi 2010 bao gồm: Cha mẹ nuôi, Con nuôi đã thành niên Cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của con nuôi Cơ quan, tổ chức sau đây có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi khi có một trong các căn cứ quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 25 của Luật này gồm Cơ quan lao động, thương binh và xã hội;Hội liên hiệp phụ nữ

*.Hệ quả của việc chấm dứt nuôi con nuôi theo quy định của Luật nuôi con nuôi

2010 như sau:

- Quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật (khoản 1 Điều 27)

Trang 7

- Trong trường hợp con nuôi là người chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động thì Tòa án quyết định giao cho cha mẹ đẻ hoặc tổ chức, cá nhân khác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục vì lợi ích tốt nhất của người đó Khi được giao lại cho cha mẹ đẻ thì cha mẹ đẻ có quyền

và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý, định đoạt tài sản riêng đối với người

đó (khoản 2 Điều 27)

2 Tóm tắt tình huống.

Năm 2010, Chị Nguyễn Thị A và anh Lâm Thế N (1987) chung sống như vợ chồng với nhau mà không đăng ký kết hôn Năm 2011 vợ chồng anh chị sinh được cháu T Tuy nhiên, do còn là sinh viên, chưa có việc làm nên anh chị không có điều kiện để nuôi cháu T Do đó, khi cháu T sinh được 3 ngày thì anh chị đã bỏ cháu T lại bệnh viện Vào thời điểm đó, anh Được, chị Thu vào viện thăm em gái mới đẻ

và biết được hoàn cảnh cháu T Anh chị cũng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục nuôi con theo đúng quy định của pháp luật

Sau khi ra trường, anh N đã có công việc ỏn định và lúc này anh N đều muốn tìm nuôi lại đứa con mình đã bỏ rơi năm xưa Năm 2017, sau một thời gian tìm kiếm, anh N cũng đã biết được thông tin con mình đang do anh Được, chị Thu nhận nuôi dưỡng Vì thế, anh N có đến gặp anh Được, chị Thu yêu cầu nhận lại cháu T là con ruột của mình để nuôi dưỡng và chấp nhận bồi hoàn các chi phí nuôi dưỡng cháu T cho anh Được và chị Thu

Về phía anh Được, chị Thu, anh chị cho rằng anh chị đã nuôi dưỡng cháu T tính đến nay đã 6 năm, anh chị yêu thương cháu T như con đẻ của mình, lo cho cháu ăn học và cũng đã làm giấy khai sinh cho cháu Anh chị cũng hoàn toàn có điều kiện

để chăm sóc cháu T Do đó anh chị không đồng ý trả cháu T lại cho anh N và cũng yêu cầu anh N không được đến thăm cháu T vì không muốn làm xáo trộn cuộc sống của cháu

Trang 8

II Giải quyết tình huống.

1 Anh N có được đòi lại cháu T hay không?

Để xác định quyền đòi lại cháu T của anh N, đầu tiên, cần xác định anh N có phải

là cha đẻ của cháu T hay không Vấn đề xác định anh N là cha đẻ của cháu T được Điều 89 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau:

“Điều 89 Xác định con

1 Người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình

2 Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình.”

Theo đó, nếu anh N không được nhận làm cha của cháu T thì có thể yêu cầu Tòa

án xác định mình là cha của cháu T theo đúng trình tự thủ tục của pháp luật Anh N

sẽ phải cung cấp chứng cứ, giấy tờ chứng minh mình là cha cháu T hoặc trong trường hợp không thể cung cấp được chứng cứ, giấy tờ có tính thuyết phục thì có thể yêu cầu Tóa án giám định ADN

Sau khi đã xác định được anh N là cha đẻ của cháu T thì anh N đã thuộc nhóm các cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với cháu T theo Điều 26, Luật nuôi con nuôi 2010:

“Điều 26 Tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi:

1 Cha mẹ nuôi

2 Con nuôi đã thành niên

3 Cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của con nuôi

4 Cơ quan, tổ chức sau đây có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi khi

có một trong các căn cứ quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 25 của Luật này:

Trang 9

a) Cơ quan lao động, thương binh và xã hội;

b) Hội liên hiệp phụ nữ.”

Tuy nhiên, việc anh N có thể yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi với cháu T hay không còn cần phải căn cứ theo các quy định tại điều 25, luật nuôi con nuôi 2010, như sau:

“Điều 25 Căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi

Việc nuôi con nuôi có thể bị chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

1 Con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi;

2 Con nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của cha mẹ nuôi; ngược đãi, hành hạ cha mẹ nuôi hoặc con nuôi có hành vi phá tán tài sản của cha mẹ nuôi;

3 Cha mẹ nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con nuôi; ngược đãi, hành hạ con nuôi;

4 Vi phạm quy định tại Điều 13 của Luật này.”

“Điều 13, Luật nuôi con nuôi 2010, quy định:

1 Lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi, bóc lột sức lao động, xâm hại tình dục; bắt cóc, mua bán trẻ em

2 Giả mạo giấy tờ để giải quyết việc nuôi con nuôi

3 Phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi

4 Lợi dụng việc cho con nuôi để vi phạm pháp luật về dân số

5 Lợi dụng việc làm con nuôi của thương binh, người có công với cách mạng, người thuộc dân tộc thiểu số để hưởng chế độ, chính sách ưu đãi của Nhà nước

Trang 10

6 Ông, bà nhận cháu làm con nuôi hoặc anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi

7 Lợi dụng việc nuôi con nuôi để vi phạm pháp luật, phong tục tập quán, đạo đức, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.”

Có thể thấy, quan hệ cha mẹ nuôi – con nuôi giữa anh Được, chị Thu và cháu T trong tình huống này không thuộc vào các trường hợp có thể chấm dứt việc nuôi con nuôi theo những quy định tại điều 25 Luật nuôi con nuôi 2010 Như vậy, anh N

sẽ không thể yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi với cháu T và do đó sẽ không có quyền đòi lại cháu T

Thêm vào đó, Điều 24 Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy định hệ quả của việc nuôi con nuôi như sau:

“Điều 24 Hệ quả của việc nuôi con nuôi

1 Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật

có liên quan

2 Theo yêu cầu của cha mẹ nuôi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc thay đổi họ, tên của con nuôi

Việc thay đổi họ, tên của con nuôi từ đủ 09 tuổi trở lên phải được sự đồng ý của người đó

3 Dân tộc của con nuôi là trẻ em bị bỏ rơi được xác định theo dân tộc của cha nuôi, mẹ nuôi

4 Trừ trường hợp giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thỏa thuận khác, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng,

Trang 11

cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi.”

Trong tình huống này, anh chị N, A đã bỏ cháu T lại bệnh viện, sau đó cháu T mới được anh Được, chị Thu nhân nuôi, đồng nghĩa với việc anh N không hề có bất

cứ thỏa thuận nào khác với gia đình anh Được, chị Thu trước đó nên kể từ ngày gia đình anh Được, chị Thu nhận nuôi cháu T thì cha mẹ đẻ ( tức anh N, chị A) đã không còn các quyền và nghĩa vụ đối với cháu T Như vậy, theo khoản 4, điều 24 nêu trên, chỉ khi quan hệ cha mẹ nuôi – con nuôi giữa anh Được, chị Thu và cháu T nảy sinh những căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi được quy định trong Điều 25, Luật nuôi con nuôi 2010 hoặc phạm phải các điều cấm của luật thì anh N mới có thể yêu cầu chấm dứt nuôi con nuôi và đòi lại cháu T

2 Anh Được, chị Thu có quyền cấm anh N đến thăm cháu T không?

Luật nuôi con nuôi năm 2010 đã quy định rõ ràng, cụ thể về quyền và nghĩa vụ

của cha, mẹ nuôi và con nuôi Theo đó, kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi

và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan

Căn cứ vào Khoản 1 và Khoản 4 Điều 24 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định

về hệ quả của việc nuôi con nuôi như sau:

1 Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật

có liên quan

Ngày đăng: 01/01/2022, 10:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w