Xây dựngĐNCB cấp cơ sở ở các HV, TSQ quân đội đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu,chất lượng cao là vấn đề cơ bản, thiết thực góp phần xây dựng các đảng bộ HV,TSQ trong sạch, vững mạnh tiêu
Trang 1ĐổI MớI ĐáNH GIá CáN Bộ CấP cơ sở ở CáC
đảng bộ HọC VIệN, TRƯờNG Sĩ QUAN QUÂN ĐộI HIệN
NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Trang 3ĐổI MớI ĐáNH GIá CáN Bộ CấP cơ sở ở CáC
đảng bộ HọC VIệN, TRƯờNG Sĩ QUAN QUÂN ĐộI HIệN
NAY
Chuyờn ngành: Xõy dựng Đảng và Chớnh quyền Nhà nước
Mó số : 931 02 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS Lờ Duy Chương
Trang 5trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi Các số liệu, tài liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN
1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến
cán bộ, công tác cán bộ và đánh giá cán bộ 101.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước liên quan đến cán
bộ, công tác cán bộ và đánh giá cán bộ 151.3 Khái quát kết quả của các công trình nghiên cứu đã công
bố liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề luận án
Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN, THỰC
TIỄN ĐÁNH GIÁ CÁN BỘ VÀ ĐỔI MỚI ĐÁNH GIÁ CÁN BỘ CẤP CƠ SỞ Ở CÁC ĐẢNG BỘ HỌC
2.1 Các đảng bộ học viện, trường sĩ quan quân đội và những vấn
đề cơ bản về đánh giá cán bộ cấp cơ sở ở các đảng bộ học
2.2 Quan niệm, nội dung, biện pháp, những vấn đề có tính
nguyên tắc đổi mới đánh giá cán bộ cấp cơ sở ở các đảng
bộ học viện, trường sĩ quan quân đội 64
KINH NGHIỆM ĐÁNH GIÁ CÁN BỘ CẤP CƠ
SỞ Ở CÁC ĐẢNG BỘ HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ
3.1 Thực trạng đánh giá cán bộ cấp cơ sở ở các đảng bộ học
3.2 Nguyên nhân và một số kinh nghiệm đánh giá cán bộ cấp cơ
sở ở các đảng bộ học viện, trường sĩ quan quân đội 110
Chương 4 YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI
ĐÁNH GIÁ CÁN BỘ CẤP CƠ SỞ Ở CÁC ĐẢNG BỘ HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN
4.1 Những yếu tố tác động và yêu cầu đổi mới đánh giá cán bộ cấp
cơ sở ở các đảng bộ học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay 1244.2 Những giải pháp đổi mới đánh giá cán bộ cấp cơ sở ở
các đảng bộ học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay 132
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ
Trang 7PHỤ LỤC 184
Trang 8TT Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài luận án
Đánh giá cán bộ có vai trò đặc biệt quan trọng; là cơ sở, tiền đề để thựchiện các khâu, các nội dung khác của công tác cán bộ ĐGCB được tiến hànhkhoa học, khách quan, nghiêm túc sẽ giúp cán bộ nhận rõ ưu điểm để phát huy,khuyết điểm để khắc phục, góp phần quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sửdụng, bổ nhiệm, đề bạt và thực hiện chính sách đối với cán bộ một cách đúngđắn Ngược lại, ĐGCB không chặt chẽ, không chính xác sẽ dẫn tới bố trí, sửdụng sai, vừa không phát huy được năng lực của cán bộ, vừa dễ dẫn đến sự nghi
kỵ, gây mất đoàn kết nội bộ
Đổi mới ĐGCB là “đột phá” đầu tiên mà Đảng ta xác định để xây dựngĐNCB các cấp, nhất là cấp chiến lược đầy đủ phẩm chất, năng lực và uy tín,ngang tầm nhiệm vụ Mặc dù đã được cấp ủy, tổ chức đảng, các cấp, các ngànhquan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, nhưng, trên thực tế, ĐGCB vẫncòn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII củaĐảng đã chỉ rõ: “ĐGCB vẫn là khâu yếu nhất qua nhiều nhiệm kỳ nhưng chưa
có những tiêu chí cụ thể và giải pháp khoa học để khắc phục” [27, tr.194] Nghịquyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của BCHTƯ (khóa XII) về tập trung xâydựng ĐNCB các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín,ngang tầm nhiệm vụ khẳng định: “ĐGCB vẫn là khâu yếu, chưa phản ánh đúngthực chất, chưa gắn với kết quả, sản phẩm cụ thể, không ít trường hợp còn cảmtính, nể nang, dễ dãi hoặc định kiến” [6, tr.2] Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứXIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “ĐGCB vẫn là khâu yếu, mặc dù đã cónhiều đổi mới nhưng vẫn còn không ít trường hợp chưa phản ánh đúng thựcchất” [28, tr.196] Do vậy, đổi mới ĐGCB là yêu cầu hết sức cấp thiết hiện nay,góp phần xây dựng ĐNCB các cấp vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
Các HV, TSQ quân đội là những trung tâm GD&ĐT, nghiên cứu, ứngdụng, phát triển khoa học của quân đội và quốc gia, có vai trò rất quan trọngtrong sự nghiệp đào tạo cán bộ quân đội của Đảng, đáp ứng yêu cầu sự nghiệpxây dựng và bảo vệ Tổ quốc Cán bộ cấp cơ sở ở các HV, TSQ quân đội là một
bộ phận trong ĐNCB quân đội; là lực lượng nòng cốt, quyết định trong tổ chức
Trang 10thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị ở các HV, TSQ quân đội Xây dựngĐNCB cấp cơ sở ở các HV, TSQ quân đội đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu,chất lượng cao là vấn đề cơ bản, thiết thực góp phần xây dựng các đảng bộ HV,TSQ trong sạch, vững mạnh tiêu biểu, nhà trường chính quy, mẫu mực, hiệnđại; làm chuyển biến thực sự vững chắc về chất lượng GD&ĐT, nghiên cứukhoa học đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Trong thời gian vừa qua, trên cơ sở quán triệt đường lối, quan điểm củaĐảng, chỉ thị, nghị quyết của các cấp về cán bộ, công tác cán bộ và ĐGCB, cáccấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì, cơ quan chức năng ở các đảng bộ HV, TSQquân đội đã đặc biệt chú trọng, thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổchức thực hiện ĐGCB cấp cơ sở và bước đầu đã thu được những kết quả quantrọng, góp phần nâng cao chất lượng công tác cán bộ và xây dựng ĐNCB vữngmạnh Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, ĐGCB cấp cơ sở ở cácđảng bộ HV, TSQ quân đội vẫn còn những hạn chế, bất cập: một số cấp ủy, cán
bộ chủ trì, cơ quan chính trị nhận thức chưa sâu sắc về vai trò, tầm quan trọngcủa ĐGCB; thực hiện nguyên tắc, nội dung, phương pháp, quy trình ĐGCB cómặt, có thời điểm chưa chặt chẽ, nghiêm túc, còn có biểu hiện cảm tính, chủquan, nể nang, né tránh, chưa nhất quán trong nhận xét, đánh giá, xếp loại cánbộ; kết quả ĐGCB cấp cơ sở chưa thực sự tạo nên sự chuyển biến vững chắccho công tác cán bộ và xây dựng ĐNCB ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội… Dovậy, đổi mới ĐGCB cấp cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội vừa là nhiệm
vụ thường xuyên, vừa là yêu cầu hết sức cấp thiết
Hiện nay, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, bảo đảm cho Đảng thực
sự TSVM về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ đang được tiếnhành quyết liệt với yêu cầu ngày càng cao Nhiệm vụ của quân đội, nhiệm vụGD&ĐT, nghiên cứu khoa học, xây dựng chính quy của các HV, TSQ có bướcphát triển mới Trong khi đó, tình hình thế giới và khu vực vẫn tiếp tục diễnbiến phức tạp, khó lường Sự bùng nổ của khoa học, công nghệ, sự phát triểnmạnh mẽ của kinh tế số, kinh tế tri thức và xu hướng toàn cầu hóa, hội nhậpquốc tế vừa là thời cơ, vừa là thách thức Ở trong nước, công cuộc đổi mới ngàycàng đi vào chiều sâu, sức mạnh tổng hợp quốc gia và uy tín quốc tế của Việt
Trang 11Nam ngày càng được nâng cao, tạo tiền đề để đất nước phát triển nhanh, bềnvững Tuy nhiên, sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta vẫn đứng trướcnhiều khó khăn, thách thức; bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn còn hiệnhữu, có mặt gay gắt hơn; tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởngchính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, mâuthuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp; sự chống phá của các thế lực thù địch,phản động ngày càng tinh vi, nguy hiểm,… Tình hình đó tác động mạnh mẽ,toàn diện, sâu sắc đến công tác cán bộ và xây dựng ĐNCB, càng đòi hỏi phảiđổi mới ĐGCB của Đảng nói chung, ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội nói riêng
để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới
Cho đến nay đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về ĐGCB ở cácphạm vi với các đối tượng khác nhau Tuy nhiên, nội dung cụ thể về đổi mớiĐGCB cấp cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội chưa được công trình nào
nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống Vì vậy, tác giả lựa chọn vấn đề: “Đổi mới đánh giá cán bộ cấp cơ sở ở các đảng bộ học viện, trường sĩ quan quân đội
hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ Khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng
Đảng và chính quyền Nhà nước
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn về ĐGCB và đổi mới ĐGCB cấp
cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội, từ đó xác định yêu cầu và đề xuất giảipháp đổi mới ĐGCB cấp cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội hiện nay
Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, khái quátkết quả nghiên cứu và xác định những vấn đề luận án tập trung giải quyết
Làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn về ĐGCB và đổi mới ĐGCB cấp
cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội
Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra một số kinhnghiệm ĐGCB cấp cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội
Xác định yêu cầu và đề xuất những giải pháp đổi mới ĐGCB cấp cơ sở ởcác đảng bộ HV, TSQ quân đội hiện nay
Trang 123 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đánh giá cán bộ cấp cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội
Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu về ĐGCB cấp cơ sở hằng năm ở các đảng
bộ HV, TSQ quân đội Cán bộ cấp cơ sở chỉ tập trung vào những sĩ quan, quânnhân chuyên nghiệp, công chức quốc phòng giữ các chức vụ lãnh đạo, chỉ huy,quản lý, những người làm công tác giảng dạy, nghiên cứu, trợ lý ở các cơ quan,khoa, đơn vị của các HV, TSQ quân đội (không nghiên cứu cán bộ đang là họcviên ở các HV, TSQ quân đội)
Tập trung điều tra, khảo sát thực tế ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội: Họcviện Chính trị, Học viện Lục quân, Học viện Hậu cần, Học viện Kỹ thuật quân
sự, Học viện Phòng không-Không quân, Học viện Biên phòng, Trường Sĩ quanChính trị, Trường Sĩ quan Lục quân 1, Trường Sĩ quan Lục quân 2, Trường Sĩquan Phòng hóa, Trường Sĩ quan Pháo binh, Trường Sĩ quan Tăng Thiết giáp
Các số liệu, tư liệu sử dụng trong luận án chủ yếu từ năm 2010 đến nay.Những giải pháp đổi mới ĐGCB cấp cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ quânđội có giá vận dụng thực tiễn đến năm 2030
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Hệ thống lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, quanđiểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, về cán bộ,công tác cán bộ và ĐGCB
Cơ sở thực tiễn
Toàn bộ hiện trạng công tác cán bộ, xây dựng ĐNCB và ĐGCB cấp cơ sở
ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội; các nghị quyết, chỉ thị, báo cáo tổng kết côngtác xây dựng Đảng, công tác cán bộ và xây dựng ĐNCB của QUTƯ, BQP,TCCT, các đảng ủy tổng cục, quân chủng, binh chủng, Bộ đội Biên phòng vàcác đảng ủy HV, TSQ quân đội; kết quả điều tra, khảo sát, tổng kết thực tiễn,đồng thời, tác giả tham khảo, kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của cáccông trình, đề tài khoa học đã nghiệm thu, công bố có liên quan
Trang 13Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, luận án sử dụngtổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành, liên ngành, chútrọng sử dụng các phương pháp: lôgic, lịch sử; phân tích, tổng hợp; thống kê, sosánh; khảo sát thực tế, tổng kết thực tiễn và phương pháp chuyên gia
5 Những đóng góp mới của luận án
Xây dựng, luận giải quan niệm và làm rõ nội dung, biện pháp, những vấn đề
có tính nguyên tắc đổi mới ĐGCB cấp cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội
Rút ra một số kinh nghiệm ĐGCB cấp cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQquân đội
Đề xuất một số nội dung biện pháp cụ thể, khả thi trong những giải phápđổi mới ĐGCB cấp cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm sâu sắc thêm những vấn đề
lý luận, thực tiễn về ĐGCB và đổi mới ĐGCB cấp cơ sở ở các đảng bộ HV,TSQ quân đội
Cung cấp thêm luận cứ khoa học phục vụ cho các cấp ủy, tổ chức đảng,cán bộ chủ trì và cơ quan chính trị ở các HV, TSQ lãnh đạo, chỉ đạo đổi mớiĐGCB cấp cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụtrong tình hình mới
Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảngdạy và học tập môn CTĐ, CTCT trong các nhà trường quân đội
7 Kết cấu của luận án
Luận án gồm: Mở đầu, 4 chương (9 tiết), kết luận, danh mục các côngtrình của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu thamkhảo và phụ lục
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến cán bộ, công tác cán bộ và đánh giá cán bộ
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về cán bộ, công tác cán bộ, xây dựng
và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
Ioblev.A.M (1979), Hoạt động của Đảng Cộng sản Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo cán bộ quân đội [74] Cuốn sách đã đề cập khá toàn diện hoạt động
của Đảng Cộng sản Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo và giáo dục sĩ quan quân độitrong tất cả các giai đoạn phát triển của lực lượng vũ trang Xô Viết trước đây.Tác giả khẳng định, muốn xây dựng một quân đội mạnh phải xây dựng đượcĐNCB mạnh Để có ĐNCB mạnh phải tiến hành đồng bộ các khâu, các bướccủa quá trình xây dựng ĐNCB, trong đó, đặc biệt chú trọng khâu ĐGCB Cuốnsách cũng đã rút ra một kinh nghiệm lớn của Đảng Cộng sản Liên Xô trongcuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại (1941-1945), góp phần quan trọng làm nênchiến thắng phát xít, kết thúc Chiến tranh Thế giới lần thứ 2 là: “Đảng thườngxuyên chăm lo giáo dục, xây dựng đội ngũ cán bộ sĩ quan vững về tư tưởng,giỏi về quân sự và kỹ thuật” [74, tr.3] Kinh nghiệm quý báu của Đảng Cộngsản Liên Xô có thể nghiên cứu, vận dụng vào công tác xây dựng ĐNCB Quânđội nhân dân Việt Nam hiện nay
Chương Tư Nghị (1986), Công tác chính trị của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc [92] Cuốn sách này gồm lời nói đầu và mười phần, đề cập
tương đối toàn diện về lĩnh vực công tác chính trị của Quân giải phóng nhândân Trung Quốc Trong phần 4 có 4 chương (chương 13-16), với 13 bài giảng lànội dung về xây dựng ĐNCB Tác giả chỉ ra, Đảng Cộng sản Trung Quốc từtrước tới nay luôn lấy việc tăng cường xây dựng ĐNCB là một nhiệm vụ quantrọng, chủ trương xây dựng ĐNCB theo phương châm “bốn hóa”: cách mạnghóa, trẻ hóa, trí thức hóa, chuyên nghiệp hóa; đồng thời xác định nguyên tắc cơbản của công tác cán bộ là: đề bạt cán bộ lấy đức, tài làm trọng; đức, tài songtoàn; quản lý, ĐGCB theo quan điểm phát triển, toàn diện và nguyên tắc dùngngười theo tài năng Đối với quân đội, tác giả khẳng định: “Công tác cán bộ làcái gốc của công tác xây dựng quân đội, xây dựng, hiện đại hóa quân đội phảidựa vào cán bộ” [92, tr.312]
Trang 15Nhiệm Khắc Lễ (1995), Công tác xây dựng Đảng trong giai đoạn hiện nay
[84] Cuốn sách đã tập trung trình bày khá chi tiết về những vấn đề cơ bản của côngtác xây dựng Đảng hiện nay của Trung Quốc, trong đó, ở Chương V đã tập trunggiải quyết vấn đề về xây dựng ĐNCB và bồi dưỡng người kế tục sự nghiệp XHCN.Tác giả cuốn sách khẳng định, cán bộ Đảng là nhân tố quyết định trong việc thựchiện sự lãnh đạo của Đảng Trong xây dựng ĐNCB, tác giả cho rằng, vấn đề hàngđầu là xác định tiêu chuẩn cán bộ là phải vừa có đức vừa có tài, không thể thiênlệch; sau đó là lựa chọn và bổ nhiệm cán bộ theo hướng hiểu người, biết dùngngười; giải quyết tốt mối quan hệ giữa “ổn định” và “xông lên”, mạnh dạn sử dụngnhân tài Muốn vậy, phải “xây dựng chế độ cán bộ”, tức là những “pháp quy hoặcchuẩn tắc hành động do tổ chức có liên quan của Đảng và nhà nước định ra, dựa vàotrình tự đó để làm việc, quản lý và ràng buộc cán bộ” [84, tr.289]
Vôngxavăn Xaynhavông (2013), “Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ởLào-Thực trạng và giải pháp” [142] Bài báo đã phân tích những ưu điểm, hạn chếcủa công tác đào tạo, bồi dưỡng ĐNCB ở Lào, trên cơ sở đó đề xuất các giải phápđào tạo, bồi dưỡng ĐNCB ở Lào hiện nay là: tiến hành phân loại cán bộ để có cáchình thức đào tạo, bồi dưỡng phù hợp; thực hiện đào tạo, bồi dưỡng theo quyhoạch, gắn chặt với quy hoạch cán bộ; đầu tư hợp lý và có chế độ, chính sách thíchhợp cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; đổi mới nội dung, chương trình,phương pháp đào tạo, bồi dưỡng; chăm lo xây dựng đội ngũ giảng viên có trình độcao và tăng cường hợp tác quốc tế về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
Sam Lane Phan Kha Vong (2014), Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng cấp tỉnh của nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào giai đoạn hiện nay [114] Luận án đã khẳng định vai trò của ĐNCB chuyên
trách đối với công tác thi đua, khen thưởng Trên cơ sở phân tích thực trạng, theotác giả, để nâng cao chất lượng ĐNCB này, cần tập trung nâng cao nhận thức,trách nhiệm của cấp ủy tỉnh, thành phố, ĐNCB, đảng viên; Cụ thể hóa tiêu chuẩnchức danh cán bộ, công chức chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng; Xâydựng và thực hiện quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, quản lý, đánh giá, sử dụng vàthực hiện chính sách đối với cán bộ; Ban hành cơ chế, chính sách và đề ra cácbiện pháp về tư tưởng, tổ chức để đẩy mạnh việc tự đào tạo, rèn luyện của cánbộ; phát huy vai trò trách nhiệm của các cấp ủy đảng và các tổ chức có liên quantrong xây dựng ĐNCB chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng cấp tỉnh
Trang 16Hồ Thành Quốc (2016), Đạo làm quan [108] Cuốn sách đã tập trung
nghiên cứu về tu dưỡng đạo đức cán bộ theo quan điểm của Đảng Cộng sảnTrung Quốc gồm các nội dung: nâng cao phẩm chất nhân cách, tăng cường tudưỡng đạo đức; tăng cường phẩm chất ý chí, nâng cao năng lực cầm quyền;kiên quyết phòng, chống thoái hóa, biến chất, xây dựng vững chắc mặt trận tưtưởng; sáng tạo môi trường hài hòa Theo tác giả, đạo đức cán bộ là cụ thể, nóđược biểu hiện ra hằng ngày, không phải những gì khó thấy hoặc viễn tưởng,
mà nó hiện hữu trong cuộc sống, trong mọi mối quan hệ xã hội của người cánbộ: “Đạo đức, tư tưởng cao thường do tích lũy từng giờ, từng phút mà có;những cán bộ đảng viên phạm sai lầm cũng là vì không chú trọng việc nhỏ màdần dần rơi vào vũng bùn” [108, tr.301]
Kouyang Sisomblong (2016), Chất lượng đội ngũ cán bộ nghiên cứu,
giảng dạy ở các trường chính trị-hành chính tỉnh nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào giai đoạn hiện nay [79] Luận án đã đưa ra quan niệm về chất lượng
ĐNCB nghiên cứu, giảng dạy ở các trường chính trị-hành chính tỉnh nước Cộnghòa Dân chủ nhân dân Lào, đồng thời xác định tiêu chí đánh giá chất lượngĐNCB gồm nhóm tiêu chí về số lượng, cơ cấu của đội ngũ; nhóm tiêu chí vềphẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng; nhóm tiêu chí về trình độ chuyên môn,năng lực giảng dạy và nghiên cứu khoa học của từng người; nhóm tiêu chí vềkết quả thực hiện nhiệm vụ của cán bộ Trên cơ sở những vấn đề lý luận, tác giảphân tích, đánh giá thực trạng, nguyên nhân và rút ra kinh nghiệm; dự báonhững yếu tố tác động, phương hướng, mục tiêu và đề xuất những giải pháp chủyếu nâng cao chất lượng ĐNCB nghiên cứu, giảng dạy ở các trường chính trị-hành chính tỉnh Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào giai đoạn hiện nay
Neang Phat (2016), Xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội Hoàng gia Campuchia hiện nay [91] Luận án đã đưa ra quan niệm xây dựng ĐNCB Quân
đội Hoàng gia Campuchia; những vấn đề có tính nguyên tắc và tiêu chí đánh giáxây dựng ĐNCB Quân đội Hoàng gia Campuchia hiện nay Thông qua đánh giáthực trạng, tác giả đã rút ra một số kinh nghiệm và đề xuất giải pháp xây dựngĐNCB Quân đội Hoàng gia Campuchia là: Tạo sự chuyển biến về nhận thức
trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng; Thực hiện tốt quy hoạch, tạo nguồn
và tuyển chọn; Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng ĐNCB; Làm tốt công tác
Trang 17quản lý, đánh giá, bố trí sử dụng ĐNCB; Thực hiện tốt chính sách đối với cán bộ; Phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng trong xây dựng
ĐNCB Quân đội Hoàng gia Campuchia
Sinnakhone Douangbandith (2020), “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộcác ban tổ chức tỉnh ủy của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào” [116] Bàibáo khẳng định, chất lượng của ĐNCB các ban tổ chức tỉnh ủy là một trongnhững yếu tố quan trọng hàng đầu để nâng cao chất lượng tham mưu cho sựlãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào Trên cơ sở đánh giá thực trạng,bài viết đã đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng ĐNCB các ban tổ chứctỉnh ủy ở Lào như: hoàn thiện hệ thống chính sách; đổi mới công tác tuyểndụng; nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng; xây dựng các tiêu chí đánh giá;cải thiện điều kiện, môi trường làm việc; tăng cường công tác thanh tra, kiểmtra, giám sát Trong đó, giải pháp về xây dựng các tiêu chí đánh giá: “Tiêu chí
về ý thức tổ chức kỷ luật, phẩm chất đạo đức; về năng lực và kỹ năng công tác ;
về kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao” [116, tr.78] được coi là cóvai trò rất quan trọng, mang tính đột phá trong nâng cao chất lượng ĐNCB cácban tổ chức tỉnh ủy của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về đánh giá cán bộ
Dick Grote (2002), The Performance appraisal question and answer book,
a survival guide for manager (Câu hỏi và câu trả lời về đánh giá hiệu suất, cẩm
nang sống còn cho các nhà quản lý) [148] Đây là cuốn sách của một chuyên giangười Mỹ được quốc tế công nhận trong lĩnh vực quản lý đánh giá hiệu suất nhân
sự Cuốn sách đã nghiên cứu công việc đánh giá dưới góc độ một quy trình quản
lý bao gồm lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, giám sát và đánh giá kết quả; làm rõkhái niệm, tầm quan trọng của đánh giá; các yêu cầu pháp lý cần đảm bảo choquá trình đánh giá thực hiện; đồng thời đề cập đến cách thức xác định tráchnhiệm công việc cá nhân, cách thức xác định một phương pháp để đánh giá cánhân, cách thức theo dõi hiệu quả làm việc của từng cá nhân; cách thức để cáccuộc thảo luận đánh giá thực hiện thành công Cuốn sách cũng đưa ra các mẫuđánh giá thực hiện, các hình thức đánh giá, quy trình đánh giá
U.S Department of the Interior (2004), Performance Appraisal Handbook (Sổ tay đánh giá hiệu suất) [150] Đây là cuốn sách dưới dạng một sổ
Trang 18tay hướng dẫn của Bộ Nội vụ Hoa Kỳ Cuốn sách cung cấp kinh nghiệm để cảithiện hoạt động của tổ chức và cá nhân thông qua định kỳ đánh giá hiệu suấtlàm việc Cuốn sách giới thiệu về quá trình xây dựng kế hoạch đánh giá thực thicông việc; các yếu tố trong đánh giá; tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả làm việc; cán
bộ, nhân viên tham gia đánh giá
Jody Zali Kusek và Ray C.Rist (2004), Ten steps to a results-based monitoring and evaluation system (Mười bước tiến tới hệ thống giám sát và đánh giá dựa trên kết quả) [75] Cuốn sách được viết bởi Jody Zall Kusek
(chuyên gia giám sát và đánh giá tại Ngân hàng Thế giới, từng là cố vấn cấp caogiúp thiết kế và thực hiện Đạo luật về hiệu suất và kết quả của Chính phủ HoaKỳ) và Ray C Rist (người đồng sáng lập và đồng giám đốc của Chương trìnhquốc tế về đào tạo đánh giá phát triển (IPDET) Cuốn sách hiện đã tái bản lầnthứ 5 và có sẵn bằng 7 ngôn ngữ, được dịch ra tiếng Việt bởi nhóm tác giả: VũCương, Hoàng Thanh Dương, Mai Kim Nga Cuốn sách đã đề cập tới nhữngkhó khăn của các nước đang phát triển khi xây dựng hệ thống đánh giá côngchức căn cứ vào kết quả thay cho đánh giá theo quá trình thực hiện Trên cơ sởphân tích những ưu điểm, hạn chế của hai hệ thống đánh giá này, cuốn sáchnhấn mạnh đến tầm quan trọng của đánh giá dựa trên kết quả, các yêu cầu cơbản để xây dựng hệ thống đánh giá và quy trình thực hiện, đồng thời, nêuphương hướng để áp dụng hệ thống này trong khu vực công
Ken Langdon và Christina Osborne (2004), Appraising Staff (Đánh giá
năng lực nhân viên) [76] Đây là cuốn sách của hai học giả người Mỹ, được tácgiả Hoàng Ngọc Tuyến, Lê Ngọc Phương Anh dịch ra tiếng Việt Cuốn sách nêulên mục đích của việc đánh giá nhân viên và lợi ích mà nó đem lại cho tổ chức;giới thiệu các hình thức đánh giá như đánh giá từ cấp cao xuống cấp thấp, đánhgiá ngang cấp, đánh giá toàn diện Trong nội dung đánh giá, cuốn sách tập trungchủ yếu vào đánh giá hiệu quả công việc thông qua xem xét bản mô tả côngviệc, đánh giá sự tiến bộ trên cơ sở thực hiện kế hoạch Cuốn sách cũng đề cậpđến một số định kiến nên tránh khi thực hiện đánh giá, đồng thời giới thiệu quytrình đánh giá bao gồm 6 bước: xác định mục đích đánh giá; thống nhất chươngtrình đánh giá; xây dựng kế hoạch thực hiện nhằm đạt mục tiêu; yêu cầu nhânviên tóm lược các công việc đã thực hiện; tiến hành đánh giá; giám sát việc thựchiện kế hoạch và các mục tiêu công việc
Trang 19Gargi DasguPta, R.A.M Brown, Santosh Rawat (2004), Performance management and appraisal system: HR tools for global competitiveness (Hệ
thống quản lý và đánh giá hiệu suất: Các công cụ nhân sự cho khả năng cạnh
tranh toàn cầu) [149] Đây là cuốn sách của các tác giả ở Học viện Quản lý Ấn
Độ Ahmedabad (IIMA) Cuốn sách đặc biệt nhấn mạnh đến đánh giá theo kết quảthực thi công việc như là một công cụ quan trọng trong quản lý nhân lực, trong
đó đã làm rõ khái niệm, cách tiếp cận về quản lý đánh giá theo kết quả thực thicông việc và các phạm vi của nó bao gồm phạm vi kết quả đầu ra, phạm vi đầuvào, phạm vi thời gian, phạm vi sự tập trung, phạm vi chất lượng và phạm vi chiphí; các yếu tố ảnh hưởng đến đánh giá theo kết quả thực thi công việc
Nhiệm Ngạn Thân (2016), Phát hiện và sử dụng nhân tài [122] Cuốn
sách chứa đựng tư tưởng về cách dùng người, lựa chọn cán bộ, nghệ thuật lãnhđạo, tinh thần “Đại học”-học rộng, giá trị của văn hóa và truyền thông đạichúng Khi đề cập đến vấn đề ĐGCB, tác giả cho rằng, cần lấy thành tích thực
tế là tiêu chuẩn cơ bản nhất, “chỉ khi chú trọng thành tích thực tế mới có thểtránh được tính tùy tiện, chủ quan trong nhìn nhận con người, mới có thể kiểmsoát có hiệu quả những phương thức làm việc tiêu cực như đánh giá năng lựccán bộ bằng cảm tính, chạy chức, chạy quyền trong công tác lựa chọn và sửdụng cán bộ” [122, tr.60]; “nhận xét ĐGCB cần xem xét đến tình hình thực tiễn,thành tích thực tế, trên cơ sở đó tiếp tục xem xét đến dân ý, khi đó, ý kiến củanhân dân sẽ có tính chân thực và tin cậy hơn” [122, tr.63]
1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước liên quan đến cán bộ, công tác cán bộ và đánh giá cán bộ
1.2.1 Các công trình nghiên cứu về cán bộ, công tác cán bộ, xây dựng
và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
1.2.1.1 Các công trình nghiên cứu về cán bộ, công tác cán bộ, xây dựng
và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ của Đảng
Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm (2001), Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước [131] Cuốn sách đã tập trung làm sáng tỏ luận cứ khoa
Trang 20học của việc nâng cao chất lượng ĐNCB với những nội dung cơ bản: vị trí, vaitrò của cán bộ và công tác cán bộ; tiêu chuẩn cán bộ; phát hiện, lựa chọn; đánhgiá, sử dụng và cân nhắc cán bộ; huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; côngtác kiểm tra, quản lý và chính sách đối với cán bộ Các tác giả rút ra những kinhnghiệm xây dựng ĐNCB trong các thời kỳ cách mạng của Đảng, trong đó cơbản, xuyên suốt là phải xuất phát từ lập trường giai cấp công nhân, vì lợi íchdân tộc, chuẩn bị đường lối chính trị, đường lối tổ chức và chiến lược cán bộ,coi trọng tiêu chuẩn cán bộ và trọng dụng nhân tài
Nguyễn Minh Tuấn (2012), Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá [134] Cuốn sách khẳng định, xây dựng ĐNCB
là “khâu then chốt” của “nhiệm vụ then chốt” là đổi mới, chỉnh đốn Đảng; đổi mớicông tác cán bộ và xây dựng ĐNCB phải được tiến hành thường xuyên, liên tục,thực hiện đồng bộ trong toàn hệ thống chính trị Để làm được điều đó, tác giả chorằng: “Phải có tầm nhìn chiến lược trong xây dựng ĐNCB và công tác cán bộ; tiếptục đổi mới mạnh mẽ tư duy và nhận thức, bảo đảm quán triệt, vận dụng đúng đắn,sáng tạo, linh hoạt các quan điểm, nguyên tắc, mục tiêu đã xác định trong Chiếnlược cán bộ” [134, tr.39] và “phải thực sự phát huy dân chủ trong tất cả các khâu củacông tác cán bộ, đồng thời tiếp tục cụ thể hoá, thể chế hoá nguyên tắc Đảng thốngnhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý ĐNCB, đi đôi với việc phát huy tráchnhiệm của các tổ chức và người đứng đầu trong các tổ chức” [134, tr.216]
Võ Mạnh Sơn (2015), Phương thức lãnh đạo công tác cán bộ của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ giai đoạn hiện nay [117] Luận án đã đưa ra quan niệm
về phương thức lãnh đạo công tác cán bộ của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ:
“Phương thức lãnh đạo công tác cán bộ của tỉnh ủy là hệ thống các hình thức,phương pháp, quy chế, quy trình, lề lối làm việc mà tỉnh ủy sử dụng để thựchiện sự lãnh đạo của tỉnh ủy đối với công tác cán bộ của đảng bộ” [117, tr.57],đồng thời đề xuất 5 giải pháp đổi mới phương thức lãnh đạo công tác cán bộ củacác tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ giai đoạn hiện nay là: Nâng cao nhận thức, tráchnhiệm của các tỉnh ủy, các cấp ủy đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên các tỉnh khuvực Bắc Trung Bộ đối với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng về công táccán bộ; Tăng cường phân công, phân cấp trong quản lý và sử dụng cán bộ;Hoàn thiện các quy chế công tác cán bộ và thực hiện tốt chủ trương lấy phiếu
Trang 21tín nhiệm cán bộ; Xây dựng ban tổ chức tỉnh ủy thực sự vững mạnh; Tăngcường sự lãnh đạo, sự giúp đỡ của các ban, ngành Trung ương đối với các tỉnh
ủy khu vực Bắc Trung Bộ về đổi mới phương thức lãnh đạo công tác cán bộ
Phạm Minh Chính (2018), “Quán triệt sâu sắc các quan điểm chỉ đạo củaĐảng về xây dựng đội ngũ cán bộ và đổi mới công tác cán bộ đáp ứng yêu cầu pháttriển thời kỳ mới của Hội nghị Trung ương 7, khóa XII” [19] Bài viết đã đi sâuphân tích 5 quan điểm chỉ đạo bảo đảm cho Nghị quyết đi vào cuộc sống đạt hiệuquả Theo tác giả, xuyên suốt cả 5 quan điểm chỉ đạo là yếu tố cán bộ quyết địnhthành công hay thất bại của sự nghiệp cách mạng của Đảng Về cán bộ và công táccán bộ, bài viết khẳng định đây vẫn là “then chốt” trong công tác xây dựng Đảng,xây dựng hệ thống chính trị và rộng hơn là đối với toàn bộ sự nghiệp đổi mới Vì vậy,
“cấp ủy đảng các cấp luôn phải quán triệt sâu sắc vị trí “then chốt” và tính “hệ trọng”của ĐNCB và công tác cán bộ, bảo đảm cho “then cài” luôn vững chắc, nếu thấy suyyếu hoặc có biểu hiện bị “ruỗng mọt” phải kịp thời thay thế” [19, tr.20]
Đoàn Minh Huấn (2018), “Hai trọng tâm” và “Năm đột phá” trong xây dựngđội ngũ cán bộ và đổi mới công tác cán bộ của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7
khóa XII” [70] Bài viết cho rằng, việc xác định “Hai trọng tâm” và “Năm đột phá”
không chỉ thuận lợi cho học tập, quán triệt Nghị quyết mà trong tổ chức thực hiện sẽtập trung được vào mặt cơ bản, khâu chính yếu, mối quan hệ bản chất, khắc phụctình trạng “dàn trải” các vấn đề trong điều kiện giới hạn về nguồn lực; tập trung tiếptục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, đồng bộ, hiệu quả công tác cán bộ, không bỏ trốngbất cứ mặt nào, khâu nào, bộ phận nào; vừa kiểm soát quyền lực, thiết lập lại trật tự,
kỷ cương ở một số khâu bị buông lỏng, vừa giải phóng các tiềm năng, thúc đẩy cácnăng lực đổi mới, sáng tạo và đột phá vì lợi ích chung của cán bộ
1.2.1.2 Các công trình nghiên cứu về cán bộ, công tác cán bộ, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong quân đội nói chung, ở các học viện, trường sĩ quan quân đội nói riêng
Nguyễn Quang Phát (chủ nhiệm, 2007), Xây dựng đội ngũ giảng viên và cán bộ khoa học của Học viện Chính trị Quân sự đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay [95] Đề tài đã nghiên cứu một cách có hệ thống những
vấn đề lý luận, thực tiễn xây dựng ĐNCB, giảng viên của Học viện Chính trịquân sự Tác giả phân tích tình hình cán bộ, giảng viên của Học viện cả về số
Trang 22lượng, chất lượng, cơ cấu; làm rõ thực trạng, đánh giá những thành tựu, yếukém và rút ra bài học kinh nghiệm, từ đó xây dựng tiêu chí đánh giá ĐNCB,giảng viên; chỉ ra những yếu tố tác động, yêu cầu và đề xuất các giải pháp cótính khả thi để xây dựng ĐNCB, giảng viên ở Học viện Chính trị quân sự.
Học viện Chính trị quân sự (2008), Công tác cán bộ ở Học viện Chính trị quân sự trong thời kỳ mới [64] Cuốn sách đã làm rõ lý luận và thực tiễn về công tác
cán bộ, xây dựng ĐNCB ở Học viện Chính trị quân sự Trên cơ sở đánh giá đúng ưuđiểm, hạn chế về công tác cán bộ và xây dựng ĐNCB, công trình đã xác định nhữngnhóm giải pháp xây dựng ĐNCB và nâng cao chất lượng công tác cán bộ ở Họcviện Chính trị quân sự, trong đó đặc biệt nhấn mạnh các giải pháp là: Nâng cao nhậnthức, trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng; Thực hiện tiêu chuẩn hóa ĐNCB,giải quyết mối quan hệ giữa số lượng, chất lượng và cơ cấu đội ngũ; Đổi mới nộidung, hình thức, biện pháp tiến hành công tác cán bộ; Thực hiện dân chủ hóa côngtác cán bộ trên cơ sở chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện đúng quychế công tác cán bộ; Thường xuyên sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm; chăm lo bồidưỡng nâng cao chất lượng cơ quan chức năng làm công tác cán bộ
Vũ Việt (2010), Nghiên cứu kiện toàn, phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong các nhà trường quân đội [140].
Đề tài đã đưa ra 4 giải pháp kiện toàn, phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũnhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong các nhà trường quân đội: Hoàn thiện, bổsung các văn bản pháp quy về kiện toàn, phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũnhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục quân đội; thực hiện có hiệu quả vấn đề kiện toàn
về số lượng, cơ cấu đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục; từng bước chuẩnhoá chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, cần thực hiện tốt vềchuẩn chất lượng theo hướng quản lý chất lượng; chuẩn về trình độ học vấn, chuẩn
về trình độ đào tạo chức vụ và kinh nghiệm thực tiễn, chuẩn về trình độ nghiệp vụ
sư phạm; chuẩn về trình độ ngoại ngữ, tin học, bồi dưỡng kỹ năng nghiên cứu vàtạo điều kiện cho việc nghiên cứu khoa học của đội ngũ nhà giáo; xây dựng chínhsách ưu đãi, thu hút đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục quân đội
Cáp Quang Hưng (2013), “Một số giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ khảothí và đảm bảo chất lượng giáo dục - đào tạo ở các học viện, trường sĩ quan trongquân đội” [72] Bài báo đã luận giải ĐNCB khảo thí có vị trí, vai trò rất quan
Trang 23trọng, là lực lượng trực tiếp tham mưu cho đảng ủy, ban giám đốc (ban giám hiệu)
HV, TSQ trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý công tác khảo thí, góp phần nâng caochất lượng GD&ĐT ở các HV, TSQ quân đội; đồng thời, trên cơ sở đánh giá thực
trạng, xác định yêu cầu, bài viết đã đề xuất sáu giải pháp xây dựng ĐNCB khảo thí
và đảm bảo chất lượng GD&ĐT ở các HV, TSQ, trong đó, giải pháp “Tăng cườngbồi dưỡng và phát huy tính tích cực, chủ động tự học tập, tự bồi dưỡng của ĐNCBkhảo thí” [72, tr.74] được xác định là giải pháp mang tính đột phá
Mạch Quang Lợi (2015), “Xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội nhân dânViệt Nam đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới” [88].Bài báo đã đưa ra những nội dung quan trọng của việc xây dựng ĐNCB quânđội trong thời kỳ mới, trong đó nhấn mạnh vấn đề bản lĩnh chính trị, phẩm chấtđạo đức, trình độ, “có năng lực hoạt động thực tiễn tốt, thành thạo nhiệm vụ cấpmình, giỏi nhiệm vụ của cấp dưới và biết phương pháp tổ chức chỉ đạo, điềuhành của cấp trên Quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm,không dựa dẫm, ỷ lại” [88, tr.10]
Trần Đình Hồng (2016), Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý học viên trong các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay [69] Luận án đã làm rõ cơ sở lý
luận, thực tiễn phát triển ĐNCB quản lý học viên, nhấn mạnh yêu cầu phát triểnĐNCB quản lý học viên cần kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo, bồi dưỡng với sửdụng và thực hiện tốt chính sách cán bộ Luận án đưa ra kết quả khảo nghiệm,thử nghiệm các biện pháp phát triển ĐNCB quản lý học viên trong các HV, TSQquân đội và đề xuất kiến nghị mở mã ngành đào tạo cử nhân quản lý giáo dục;tăng cường cử ĐNCB quản lý học viên đi thực tế tại đơn vị cơ sở; ứng dụngcông nghệ thông tin vào quá trình quản lý đơn vị, quản lý học viên
Đặng Văn Thuấn (2017), Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ ban tuyên huấn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay [129] Luận án đã tập trung
làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng và nâng cao chất lượngĐNCB ban tuyên huấn ở các HV, TSQ quân đội Đánh giá đúng thực trạng, đềxuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng ĐNCB ban tuyên huấn ởcác HV, TSQ quân đội hiện nay Trong hệ thống các giải pháp, giải pháp “Thựchiện tốt nội dung, quy trình nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ ban tuyên huấn ởcác HV, TSQ quân đội hiện nay” [129, tr.133] được tác giả xác định có vị trí, vai
Trang 24trò rất quan trọng, mang tính đột phá, tác động trực tiếp đến kết quả nâng cao chấtlượng ĐNCB ban tuyên huấn ở các HV, TSQ quân đội hiện nay.
Ngô Xuân Lịch (2018), “Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán
bộ Quân đội ngang tầm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” [85] Trongbài báo, tác giả khẳng định: “Công tác cán bộ trong Quân đội đã có sự chuyển biếntích cực cả về nhận thức và tổ chức thực hiện ĐNCB trong toàn quân cơ bản đủ sốlượng, cơ cấu hợp lý, chất lượng ngày càng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cảtrước mắt và lâu dài” [85, tr.4], đồng thời đưa ra 5 biện pháp tiếp tục đổi mới toàndiện công tác cán bộ và nâng cao chất lượng ĐNCB là: Nâng cao nhận thức tráchnhiệm, đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; Thực hiện tốt công tácquy hoạch, luân chuyển; tập trung giải quyết số lượng, điều chỉnh cơ cấu gắn vớinâng cao chất lượng ĐNCB; Phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chứcđảng, cán bộ chủ trì trong nhận xét, ĐGCB; Tiếp tục đổi mới công tác đào tạo, bồidưỡng; Hoàn thiện, thực hiện tốt chính sách cán bộ; xây dựng cơ quan tham mưu
về công tác cán bộ các cấp vững mạnh
Lê Đức Lự (2019), “Bàn về xây dựng đội ngũ cán bộ ở đơn vị cơ sở trongquân đội hiện nay” [89] Bài báo đã đánh giá thực trạng và đề xuất hệ thống giảipháp xây dựng ĐNCB ở đơn vị cơ sở trong quân đội, gồm: Thường xuyên đổimới việc ĐGCB; Tiếp tục đổi mới công tác quy hoạch, tạo nguồn; Đẩy mạnh đổimới công tác đào tạo, bồi dưỡng; Không ngừng đổi mới công tác bố trí, sử dụngcán bộ; Tích cực đổi mới công tác quản lý cán bộ Tác giả nhấn mạnh: “Cần bámsát và căn cứ vào tiêu chuẩn chức danh cán bộ đã được cụ thể hóa theo từng cấp,căn cứ vào kết quả hoàn thành nhiệm vụ, chức trách của từng người trên thực tế,gắn với kết quả hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị và mức độ tín nhiệm đã được
“lượng hóa” để xem xét, đánh giá và kết luận” [89, tr.97]; tích cực bồi dưỡng chocác cấp ủy có đầy đủ phẩm chất, năng lực để xem xét, ĐGCB một cách chínhxác, khoa học, khách quan và công tâm; đồng thời, thường xuyên duy trì chặtchẽ, có chất lượng việc nhận xét cán bộ định kỳ và theo nhiệm vụ; “kết hợp chặtchẽ giữa nhận xét của cấp ủy, chỉ huy với tự nhận xét của cán bộ và ý kiến đónggóp của quần chúng theo một trình tự thống nhất, chặt chẽ Kiên quyết khắc phụcmọi biểu hiện áp đặt chủ quan, dập khuôn, máy móc hoặc chung chung, phiếndiện một chiều, e dè, nể nang, né tránh” [89, tr.97]
Trang 25Lê Chí Hải (2020), Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục
ở các học viện, trường sĩ quan trong quân đội giai đoạn hiện nay [57] Luận án
đã tập trung làm rõ chức trách, nhiệm vụ, đặc điểm, vai trò, yêu cầu phẩm chất,năng lực của ĐNCB quản lý giáo dục ở các HV, TSQ quân đội; đánh giá thực
trạng, xác định các yêu cầu, đề xuất năm giải pháp nâng cao chất lượng ĐNCB
quản lý giáo dục ở các HV, TSQ quân đội hiện nay, trong đó, giải pháp “Kếthợp chặt chẽ giữa đào tạo, bồi dưỡng và tự đào tạo bồi, dưỡng đề nâng cao chấtlượng ĐNCB quản lý giáo dục” [57, tr.143] được tác giả xác định là giải phápquan trọng, mang tính đột phá
Phạm Trung Thành (2020), Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ quan chính trị ở các học viện, trường sĩ quan trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay [119].
Luận án đã làm rõ quan niệm, những vấn đề có tính nguyên tắc, yêu cầu xâydựng ĐNCB cơ quan chính trị ở các HV, TSQ; đánh giá thực trạng, rút ra 4 kinhnghiệm và đề xuất 5 giải pháp xây dựng ĐNCB này, trong đó, nhấn mạnh giảipháp phát huy tính tích cực, chủ động của ĐNCB cơ quan chính trị ở các HV,TSQ quân đội trong tự học tập, rèn luyện nâng cao phẩm chất, năng lực,phương pháp, tác phong công tác
Hoàng Văn Thọ (2021), Đổi mới quy hoạch cán bộ chỉ huy, quản lý ở các đảng bộ trường sĩ quan quân đội hiện nay [125] Luận án đã luận giải tính cấp
thiết, chỉ ra những vấn đề có tính nguyên tắc, tiêu chí đánh giá đổi mới quyhoạch cán bộ chỉ huy, quản lý ở các đảng bộ trường sĩ quan quân đội; đánh giáthực trạng, xác định yêu cầu và đề xuất giải pháp đổi mới công tác này trongthời gian tiếp theo, trong đó, tác giả nhấn mạnh cần đổi mới tư duy, nhận thứccủa các chủ thể, lực lượng; đổi mới nội dung, quy trình, biện pháp quy hoạchcán bộ và gắn quy hoạch với các khâu khác của công tác cán bộ
1.2.2 Các công trình nghiên cứu về đánh giá cán bộ và đổi mới đánh giá cán bộ
1.2.2.1 Các công trình nghiên cứu về đánh giá cán bộ và đổi mới đánh giá cán bộ của Đảng
Trần Đình Hoan (2008), Đánh giá, quy hoạch, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa [62] Trong cuốn sách, tác
giả đã trình bày những vấn đề lý luận, thực tiễn về đánh giá, quy hoạch, luân
Trang 26chuyển cán bộ Về ĐGCB, tác giả đã đưa ra quan niệm, cơ sở, nội dung, các yêucầu cơ bản, tính nguyên tắc, tính quy trình và phương pháp ĐGCB, đồng thờitrên cơ sở làm rõ quá trình thực hiện ĐGCB trong lịch sử Đảng ta và thực trạngcông tác này trong tình hình hiện nay, tác giả đã nêu quan điểm và giải pháp đổimới, nâng cao hiệu quả ĐGCB trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước, đó là: Hoànthiện các tiêu chí ĐGCB; Hoàn thiện các phương pháp ĐGCB; Hoàn thiện quytrình ĐGCB; Công khai hóa, dân chủ hóa trong ĐGCB Tác giả nhấn mạnh:
“Lấy hiệu quả công tác làm căn cứ cơ bản để đánh giá, trên cơ sở so sánh vàđánh giá toàn diện các yếu tố chi phối hoạt động thực tiễn của người cán bộ Đadạng hóa các hình thức ĐGCB Công khai hóa công tác ĐGCB phù hợp với đặcđiểm, tình hình và môi trường đánh giá [62, tr.559, 560]
Hà Quang Ngọc (chủ nhiệm, 2011), Đổi mới phương pháp đánh giá cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước [93] Đề tài đã luận giải những
vấn đề lý luận về phương pháp đánh giá cán bộ, công chức; giới thiệu một sốphương pháp đánh giá cơ bản như: cho điểm, đồ thị, sự kiện, báo cáo, bình bầu,phỏng vấn… Đề tài tập trung vào phân tích thực tiễn ĐGCB, công chức hiện nay ởcác cơ quan hành chính nhà nước, từ đó đề xuất quan điểm, giải pháp đổi mớiphương pháp ĐGCB, công chức, bao gồm phương pháp phân tích định lượng, mô
tả, đánh giá theo kết quả, lưu trữ; đồng thời đưa ra một số giải pháp về thể chế, tổchức bộ máy, đội ngũ người đánh giá để thực hiện được các phương pháp nêu trên
Lê Minh Thông (chủ nhiệm, 2011), Đổi mới công tác đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý trong điều kiện hiện nay ở nước ta [126] Đề tài đã hệ thống hoá, làm rõ thêm
một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác ĐGCB lãnh đạo, quản lý Theo đề tài,ĐGCB là “quá trình thu nhận, xử lý thông tin của tập thể có thẩm quyền để đưa ra nhậnđịnh về phẩm chất, năng lực, hiệu quả công tác của cán bộ để đưa ra quyết định vềtuyển dụng, quy hoạch, luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng, bổ nhiệm,miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện các chế độ chính sách đối với cán bộ”[126, tr.9] Đề tài đã tổng quan được quan điểm của Đảng về công tác ĐGCB qua các
kỳ đại hội Đảng; phân tích những yếu tố khách quan, chủ quan ảnh hưởng tới ĐGCB;nêu được những kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập, nguyên nhân của những yếukém, bất cập trong công tác ĐGCB lãnh đạo, quản lý từ đó đưa ra 8 giải pháp cơ bản
để đổi mới công tác ĐGCB lãnh đạo, quản lý là: Đổi mới tư duy trong công tác ĐGCB;Xây dựng chế độ ĐGCB lãnh đạo, quản lý; Tiếp tục hoàn thiện quy trình ĐGCB lãnh
Trang 27đạo, quản lý; Phân định rõ mối quan hệ về thẩm quyền, trách nhiệm giữa tập thể cấp ủy
và người đứng đầu trong ĐGCB; Hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ quátrình công tác của cán bộ; Dân chủ hóa trong nhận xét, ĐGCB; Đổi mới các khâu trongcông tác cán bộ; Nâng cao chất lượng cơ quan tham mưu về công tác tổ chức cán bộ
Nguyễn Thị Thanh Dung (2016), “Bàn thêm về đánh giá cán bộ” [21].
Bài báo khẳng định: “ĐGCB là công việc cần thiết, thường xuyên của mỗi tổchức đảng, cơ quan, đơn vị Đánh giá đúng cán bộ sẽ tạo động lực, khích lệnăng lực, niềm đam mê và sự cống hiến hết mình cho công việc” [21, tr.41] Đểđánh giá đúng người, đúng việc, khắc phục những hạn chế trong ĐGCB, theobài viết, cần thực hiện tốt các nội dung: Cụ thể hóa, lượng hóa tiêu chí đánh giákết quả, hiệu quả hoàn thành chức trách, nhiệm vụ và sự đóng góp thực tế củacán bộ trong đơn vị; Người đứng đầu cần có cái nhìn toàn diện, khách quan,công tâm; Tạo môi trường dân chủ để mọi người được nói lên tiếng nói chânthật, thẳng thắn chỉ ra những ưu, nhược điểm của bản thân và đồng nghiệp trêntinh thần xây dựng; Xử lý nghiêm những hiện tượng tiêu cực trong ĐGCB
Nguyễn Minh Tuấn (2017), Đổi mới việc đánh giá, sử dụng cán bộ [135].
Cuốn sách đã làm rõ vai trò, quan điểm, căn cứ, nội dung và quy trình ĐGCB,đồng thời trên cơ sở đánh giá thực trạng, cuốn sách đã xác định những yếu tốtác động, phương hướng và đề xuất 5 giải pháp đổi mới ĐGCB hiện nay là: Xâydựng và thực hiện tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá có lượng hóa đối vớitừng chức danh cán bộ để làm căn cứ ĐGCB chặt chẽ, khoa học, chính xác;Phân cấp mạnh mẽ cho cấp ủy, người đứng đầu trực tiếp quản lý ĐGCB gắn vớicác chế tài để kiểm soát quyền lực; Đổi mới phương pháp, quy trình ĐGCB;Quy định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, tổ chứcđảng và cơ quan, đơn vị trong ĐGCB; Công khai việc ĐGCB, có cơ chế đểnhân dân tham gia ĐGCB
Phạm Văn Định (2017), “Để nâng cao chất lượng công tác đánh giá cán bộ”[53] Bài báo khẳng định tầm quan trọng của ĐGCB, chỉ ra thực trạng và nguyênnhân ĐGCB chưa tốt là do chưa xây dựng tiêu chuẩn cán bộ cụ thể cho từng chứcdanh nên tiêu chí đánh giá còn chung chung, thiếu chặt chẽ, thiếu tính chính xác,khoa học; cơ quan tham mưu về công tác cán bộ và cấp có thẩm quyền ĐGCB còn
nể nang, né tránh, sợ mất lòng hoặc bị chi phối bởi lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân nênkhi đánh giá còn thiếu công tâm, từ đó, tác giả đề xuất giải pháp nâng cao chất lượngcông tác ĐGCB là: Cần tuân thủ đầy đủ và đúng đắn những quy định của Đảng,
Trang 28Nhà nước về mục đích, căn cứ, mức độ, nội dung, quy trình ĐGCB; Xây dựng hệthống tiêu chí đánh giá toàn diện, rõ ràng và định lượng cụ thể, chú trọng việc lấykết quả hoàn thành nhiệm vụ theo chức trách được giao làm thước đo; Minh bạchtrong ĐGCB và công khai hóa kết quả ĐGCB.
Trương Thị Bạch Yến (2018), “Hoàn thiện tiêu chí đánh giá cán bộ”[147] Bài báo đã phân tích các nội dung của Quy định số 89-QĐ/TW ngày4/8/2017 của Bộ Chính trị khóa XII về khung tiêu chuẩn chức danh, định hướngkhung tiêu chí ĐGCB lãnh đạo, quản lý các cấp và Quy định số 90-QĐ/TWngày 4/8/2017 về tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí ĐGCB thuộc diện BCHTƯ, BộChính trị, Ban Bí thư quản lý, từ đó chỉ ra các tiêu chí cần hoàn thiện là: Tiêuchí đánh giá về chức trách, nhiệm vụ đối với cán bộ trong một số cơ quan lãnhđạo của Đảng; Tiêu chí ĐGCB đặt trong mối quan hệ với điều kiện, hoàn cảnhđặc biệt, các yếu tố đặc thù vùng miền, yếu tố độ tuổi, giới tính, thành phần xuấtthân, lĩnh vực công tác đặc thù…; Tiêu chí đánh giá mức độ, chiều hướng vàtriển vọng phát triển của cán bộ
Minh Anh (2019), “Định lượng đánh giá cán bộ từ góc nhìn thực tiễn” [1].
Trong bài báo, tác giả cho rằng, ĐGCB chưa thực chất đã tồn tại từ lâu bởi nhiều
lý do và khẳng định, những địa phương làm tốt công tác ĐGCB đều tiến hànhđồng bộ nhiều biện pháp, trong đó đã lượng hóa tiêu chí về trình độ, năng lực, khốilượng công việc, kết quả công tác và đều gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương
4 khóa XII Tác giả đã phân tích thực tiễn ở quận Long Biên, thành phố Hà Nội,
Hà Giang, Trà Vinh và Thành phố Hồ Chí Minh để minh chứng cho điều này
Cao Văn Thống, Vũ Trọng Lâm (2020), Đổi mới và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ trong giai đoạn mới [127] Trong cuốn sách
nói về các vấn đề cơ bản của công tác cán bộ và xây dựng ĐNCB này, các tácgiả đã dành một dung lượng khá lớn để trình bày về công tác ĐGCB Các tácgiả cho rằng: “Công tác ĐGCB vẫn là khâu yếu nhất trong công tác cán bộ.Việc ĐGCB chưa lấy hiệu quả công việc làm thước đo chủ yếu, chưa đa kênh,
đa chiều; chưa xác định rõ trách nhiệm của tập thể lãnh đạo và của cá nhânngười đứng đầu trong nhận xét, đánh giá đối với cán bộ dưới quyền trực tiếp”[127, tr.214] Các tác giả đề xuất các giải pháp đổi mới công tác ĐGCB baogồm: Nâng cao nhận thức của các cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, tổ chức đảng,
cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị-xã hội, đơn vị, lựclượng vũ trang, tổ chức kinh tế của Nhà nước; Cụ thể hóa khung tiêu chuẩn, tiêu
Trang 29chí ĐGCB; đổi mới nội dung ĐGCB theo hướng căn cứ vào mục đích sử dụngkết quả đánh giá để xác định trọng tâm trong các nội dung đánh giá; Đổi mớiphương pháp, quy trình ĐGCB; Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn,đôn đốc, kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng cấp trên.
1.2.2.2 Các công trình nghiên cứu về đánh giá cán bộ và đổi mới đánh giá cán bộ trong quân đội
Hoàng Quốc Long (2007), “Đổi mới, nâng cao chất lượng đánh giá và bốtrí, sử dụng cán bộ ở cơ quan quân sự địa phương” [86] Bài báo đã khẳng định
vị trí, vai trò của ĐNCB ở cơ quan quân sự địa phương; phân tích thực trạng và
đề xuất giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng đánh giá và bố trí, sử dụng cán
bộ ở cơ quan quân sự địa phương Về ĐGCB ở cơ quan quân sự địa phương, bàiviết khẳng định: “Một số cấp ủy đánh giá, nhận xét cán bộ còn chung chung, nétránh, thiếu nhất quán” [86, tr.45] Bài viết cho rằng, để đổi mới nâng cao chấtlượng ĐGCB, cần “tiến hành trên cơ sở khách quan khoa học, phù hợp với tìnhhình thực tế của địa phương; nhất thiết phải dựa vào những chuẩn mực, căn cứvào tiêu chuẩn; tránh biểu hiện cá nhân, cục bộ, thiếu dân chủ, áp đặt, tùy tiện”[86, tr.46]; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập thể, quá trình đánh giá “cần có sựkết hợp hài hòa giữa việc đánh giá của cấp ủy, cán bộ chủ trì và cơ quan chuyênmôn với việc tự đánh giá của bản thân cán bộ, đồng thời tham khảo và thật sựtôn trọng ý kiến của cấp ủy, chính quyền địa phương và nhân dân nơi cán bộquan hệ, cư trú và ý kiến của cấp dưới” [86, tr.47]; đánh giá thông qua hoạtđộng thực tiễn công tác quân sự, quốc phòng địa phương; thường xuyên củng
cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng cơ quan và đội ngũ làm chuyên môn công táccán bộ ở cơ quan quân sự địa phương
Phạm Hồng Thắng (2012), “Quán triệt Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIvào việc đánh giá cán bộ ở Đảng bộ Trường Sĩ quan Chính trị” [120] Bài báo
đã phân tích những ưu điểm, hạn chế trong ĐGCB ở Đảng bộ Trường Sĩ quanChính trị; khẳng định việc quán triệt Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI vàoĐGCB là một vấn đề có ý nghĩa sâu sắc Để quán triệt Nghị quyết Trung ương 4khóa XI vào ĐGCB ở Đảng bộ Trường Sĩ quan Chính trị, bài viết đề xuất cácgiải pháp là: Tiếp tục quán triệt sâu sắc, vận dụng sáng tạo các quan điểm, chủtrương, nguyên tắc của Đảng về công tác cán bộ và xây dựng ĐNCB; coi trọngxây dựng, cụ thể hóa tiêu chí, quy trình ĐGCB và cấp ủy viên các cấp; thực
Trang 30hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo đi đôi với phát huyvai trò, trách nhiệm của người đứng đầu; nâng cao chất lượng công tác kiểm tra,giám sát Bài báo nhấn mạnh: “Trong nhận xét, ĐGCB phải phát huy được tráchnhiệm của cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, bí thư cấp ủy, cơ quantham mưu, nhất là người trực tiếp quản lý, sử dụng cán bộ Kết hợp chặt chẽcông tác ĐGCB với quy hoạch, luân chuyển, điều động, bổ nhiệm; giữa đánhgiá, xếp loại cán bộ với kiểm điểm, đánh giá, xếp loại cấp ủy, tổ chức đảng,đảng viên hằng năm; lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ, rèn luyện, tu dưỡng phẩmchất chính trị, đạo đức làm thước đo chủ yếu để ĐGCB” [120, tr.13].
Nguyễn Văn Thi (2017), “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về hiểu biếtcán bộ trong nắm bắt tư tưởng đội ngũ sĩ quan ở đơn vị cơ sở hiện nay” [123].Bài báo đã luận giải tư tưởng Hồ Chí Minh về hiểu biết cán bộ trên bốn nộidung chủ yếu: Người lãnh đạo phải biết cách xem xét cán bộ; phải đưa ra đượctiêu chí ĐGCB; phải tự nhận biết bản thân mình; phải có cái tâm trong sáng,tình thương yêu con người, thật thà, dân chủ trong tự phê bình và phê bình, từ
đó bài báo định hướng vận dụng tư tưởng đó trong nắm bắt tư tưởng của độingũ sĩ quan ở các đơn vị cơ sở trong quân đội Bài báo cho rằng, cấp ủy, chỉ huycác đơn vị phải thường xuyên tìm hiểu, nắm chắc thực chất con người của mỗi
sĩ quan, “phải xem xét một cách đầy đủ, toàn diện cả quá khứ và hiện tại, giữalời nói và việc làm cụ thể, đồng thời phải nghiên cứu, điều tra kỹ lưỡng để biết
rõ nguyên nhân, động cơ của những ưu điểm, khuyết điểm, tránh định kiến cánhân” [123, tr.43]; cần cụ thể hóa và tổ chức thực hiện nghiêm túc các quy địnhcủa Đảng, của QUTƯ, TCCT về tiêu chuẩn cán bộ; cần phải có tinh thần “tựsoi, tự sửa” tốt, thấy rõ được những ưu điểm để phát huy, hạn chế để khắc phục,xây dựng phong cách làm việc thực sự khoa học, dân chủ, quần chúng, làm chocấp dưới tin yêu, mến phục để họ có thể chia sẻ hết tâm tư, nguyện vọng, khúcmắc của bản thân; nhận xét, đánh giá “phải đúng đắn, rõ ràng, chống biểu hiệnthiên lệch, thiếu dân chủ, thiếu khách quan vì như vậy không những không đánhgiá chính xác được chất lượng thực sự của đội ngũ sĩ quan mà còn làm cho họnảy sinh tư tưởng chán nản, mất lòng tin vào tổ chức” [123, tr.45]
Hoàng Văn Thọ (2018), “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán
bộ trong đánh giá, quy hoạch, sử dụng cán bộ ở các nhà trường quân đội” [124].Theo tác giả bài báo, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ thể hiện ở các vấn
Trang 31đề: Một là, yêu thương, đánh giá đúng cán bộ; Hai là, khéo dùng cán bộ; Ba là,
mạnh dạn cất nhắc cán bộ, tránh cục bộ địa phương Bài viết đã định hướng một sốnội dung vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ trong đánh giá, quyhoạch, sử dụng cán bộ ở các nhà trường quân đội, trong đó, về ĐGCB, bài viết chorằng, phải “khách quan, dựa trên phẩm chất, năng lực thực tiễn nhiệm vụ của cánbộ” [124, tr.32], “phải gần gũi, phải hiểu cán bộ, đặt họ trong mối quan hệ toàndiện nhiều chiều, bám sát các tiêu chí đánh giá căn bản nhất như: tiêu chuẩn chứcdanh, theo hiệu quả công việc và sự tín nhiệm của cán bộ, đảng viên trong từng cơquan, đơn vị; ĐGCB phải công tâm, vô tư, khách quan” [124, tr.33]
Lê Minh Sơn (2019), “Mấy giải pháp nâng cao chất lượng đánh giá đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự” [118] Tác giả bài báo đã chỉ ra thực
trạng ĐNCB khoa học kỹ thuật quân sự, phân tích sự cần thiết và đề ra 5 giảipháp nâng cao chất lượng đánh giá ĐNCB khoa học kỹ thuật quân sự hiện nay:
Một là, nâng cao nhận thức về vai trò của khâu đánh giá trong quy trình công tác cán bộ; Hai là, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện tiêu chí đánh giá ĐNCB khoa
học kỹ thuật quân sự có tính khoa học cao, phù hợp với từng đối tượng Bộ tiêuchí phải hội tụ đầy đủ quan điểm của Đảng, QUTƯ, cấp ủy cấp mình, đảm bảotính cơ bản, toàn diện, đồng bộ, có chuẩn mực cụ thể, phù hợp với chức năngđơn vị, chức trách của từng cán bộ, trong đó cần coi trọng tiêu chí về năng lựcnghiên cứu, chất lượng tổ chức thực hiện các đề tài, dự án, chương trình phát
triển, áp dụng khoa học; Ba là, tôn trọng sự thật, không cảm tính, không định kiến, không phiến diện khi nhận định, ĐGCB; Bốn là, thường xuyên mở rộng
dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể, vai trò của các tổ chức, cán nhân trong cơ
quan, đơn vị; Năm là, luôn thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát.
1.3 Khái quát kết quả của các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề luận án tập trung giải quyết
1.3.1 Khái quát kết quả của các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến đề tài luận án
Một là, nhiều công trình nghiên cứu ở nước ngoài và ở trong nước đã khái
quát, luận giải một cách cơ bản, hệ thống về cán bộ và xây dựng ĐNCB trongtừng giai đoạn lịch sử Nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về từng loại cán
bộ cụ thể, làm rõ quan điểm, nguyên tắc; đánh giá thực trạng, chỉ ra nguyên nhâncủa những ưu điểm, hạn chế; xác định mục tiêu, phương hướng, nội dung, hìnhthức, biện pháp xây dựng ĐNCB các cấp, các ngành trong các giai đoạn, các thời
Trang 32kỳ Nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về xây dựng ĐNCB quân đội hoạtđộng trong những lĩnh vực cụ thể; trong đó, một số công trình đã đi sâu luận giảinhững vấn đề lý luận và thực tiễn; đề xuất các giải pháp xây dựng ĐNCB cấp cơ
sở, ĐNCB ở các HV, TSQ quân đội trong giai đoạn cách mạng mới
Hai là, các công trình đều thống nhất khẳng định vai trò quan trọng của
công tác cán bộ; làm rõ quan điểm chỉ đạo, nguyên tắc, nội dung của công táccán bộ Nhiều công trình đã luận giải được các yếu tố cấu thành, tiêu chí đánhgiá chất lượng công tác cán bộ; tiến hành đánh giá thực trạng, chỉ ra nguyênnhân, rút ra bài học kinh nghiệm; dự báo những yếu tố tác động; chỉ ra nhữngthuận lợi và khó khăn; xác định yêu cầu, đề xuất những giải pháp tổng thể, cơbản nâng cao chất lượng công tác cán bộ của cấp ủy các cấp trong giai đoạnhiện nay Một số công trình nghiên cứu sâu về vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng
ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội, trách nhiệm của đội ngũ bí thư cấp ủy, cán bộchủ trì trong công tác cán bộ hoặc tập trung vào một khâu, một quy trình cụ thểtrong công tác cán bộ như: quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
Ba là, nhiều công trình đã luận giải quan niệm, cơ sở, vai trò, quan điểm,
nguyên tắc, nội dung, quy trình và phương pháp ĐGCB Các công trình đềukhẳng định vị trí, vai trò, tầm quan trọng của ĐGCB, khẳng định tính cấp thiếtcủa vấn đề đổi mới ĐGCB hiện nay Một số công trình đã tiến hành đánh giáthực trạng và bước đầu đề xuất những giải pháp tổng thể, cơ bản để đổi mớiĐGCB, trong đó đều nhấn mạnh đến vấn đề nâng cao nhận thức, trách nhiệmcủa chủ thể tiến hành; tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng,
cơ quan chức năng; quán triệt và thực hiện tốt quan điểm chỉ đạo, nguyên tắc,quy chế, quy định; hoàn thiện và cụ thể hóa tiêu chí đánh giá; đổi mới quy trình,phương pháp đánh giá; phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lựclượng trong đổi mới ĐGCB
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàndiện, hệ thống về đổi mới ĐGCB cấp cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ quân độidưới góc độ chuyên ngành xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước Vì vậy,luận án là công trình độc lập, không trùng lặp với công trình khoa học nào đãcông bố
Trang 331.3.2 Những vấn đề luận án tập trung giải quyết
Trên cơ sở tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án,xuất phát từ đối tượng, nhiệm vụ đã xác định, luận án tập trung giải quyếtnhững vấn đề cơ bản sau:
Một là, làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn về ĐGCB cấp cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội
Trên cơ sở khái quát về các HV, TSQ quân đội, các đảng bộ HV, TSQ vàcán bộ cấp cơ sở ở các HV, TSQ quân đội, luận án xác lập và luận giải quanniệm, đặc điểm, vai trò và tiêu chí đánh giá ĐGCB cấp cơ sở ở các đảng bộ HV,TSQ quân đội
Hai là, luận giải những vấn đề lý luận, thực tiễn về đổi mới ĐGCB cấp
cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội
Luận án tập trung xây dựng quan niệm; làm rõ mục đích, chủ thể, lựclượng tham gia, đối tượng, nội dung, biện pháp, những vấn đề có tính nguyêntắc đổi mới ĐGCB cấp cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội
Ba là, đánh giá thực trạng và rút ra kinh nghiệm ĐGCB cấp cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội
Trên cơ sở những vấn đề lý luận đã xây dựng, tiến hành điều tra, khảo sátthực tế, thu thập số liệu, tư liệu, đánh giá toàn diện thực trạng ĐGCB cấp cơ sở
ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội theo những tiêu chí đã xác định; chỉ ra nguyênnhân của ưu điểm, hạn chế và khái quát một số kinh nghiệm ĐGCB cấp cơ sở ởcác đảng bộ HV, TSQ quân đội
Bốn là, xác định yêu cầu và đề xuất giải pháp đổi mới ĐGCB cấp cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội
Trên cơ sở phân tích những yếu tố tác động, luận án xác định yêu cầu và
đề xuất những giải pháp đổi mới ĐGCB cấp cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ quânđội hiện nay
Trang 34Kết luận chương 1
Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án cho thấy,
đã có nhiều công trình khoa học ở nước ngoài và ở trong nước nghiên cứu, giảiquyết thành công những vấn đề bao hàm cả lý luận, thực tiễn về cán bộ, xâydựng ĐNCB và nâng cao chất lượng công tác cán bộ nói chung, ĐGCB nóiriêng Các công trình nghiên cứu phong phú về nội dung và được thể hiện dướinhiều hình thức như: sách chuyên khảo, sách tham khảo, đề tài khoa học cáccấp, luận án tiến sĩ, các báo cáo tham gia hội thảo khoa học, các bài báo đượcđăng tải trên các tạp chí chuyên ngành
Dưới nhiều góc độ tiếp cận, trên từng lĩnh vực cụ thể, với các mức độnghiên cứu khác nhau, các công trình khoa học đã luận giải, làm sáng tỏ nhiềuvấn đề liên quan đến đề tài luận án Kết quả nghiên cứu của các công trình cóliên quan đến đề tài luận án là nguồn tư liệu quý, gợi mở cho nghiên cứu sinh vềđịnh hướng nghiên cứu, những vấn đề có thể kế thừa phù hợp với đối tượng,phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án, những vấn đề cần tiếp tục giải quyết, bổsung, phát triển nhằm thực hiện nội dung nghiên cứu đã được xác định
Kết quả tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận
án cho thấy, mặc dù có sự giao thoa ở một mức độ nhất định về khách thể, đốitượng, phạm vi, nội dung nghiên cứu, nhưng cho đến nay, chưa có một côngtrình nào đi sâu nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống, chuyên sâu về vấn đề
“Đổi mới đánh giá cán bộ cấp cơ sở ở các đảng bộ học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay” Do vậy, luận án là công trình độc lập, không trùng lặp với
bất kỳ công trình khoa học nào đã được công bố
Trang 35Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN
ĐÁNH GIÁ CÁN BỘ VÀ ĐỔI MỚI ĐÁNH GIÁ CÁN BỘ CẤP CƠ SỞ
Ở CÁC ĐẢNG BỘ HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI 2.1 Các đảng bộ học viện, trường sĩ quan quân đội và những vấn đề cơ bản về đánh giá cán bộ cấp cơ sở ở các đảng bộ học viện, trường sĩ quan quân đội
2.1.1 Các đảng bộ học viện, trường sĩ quan quân đội và cán bộ cấp cơ
sở ở các học viện, trường sĩ quan quân đội
2.1.1.1 Các đảng bộ học viện, trường sĩ quan quân đội
* Khái quát các học viện, trường sĩ quan quân đội
Các HV, TSQ quân đội là những trung tâm GD&ĐT, nghiên cứu ứng dụng
và phát triển khoa học, công nghệ của quân đội và quốc gia; là một bộ phận quantrọng trong hệ thống các trường đại học trong cả nước, có tư cách pháp nhân,được Chính phủ, BQP giao nhiệm vụ đào tạo đại học, sau đại học các chuyênngành khoa học quân sự, khoa học xã hội và nhân văn, chuyên môn kỹ thuật;thực hiện Luật Giáo dục, Điều lệ Công tác nhà trường QĐND Việt Nam
Hiện nay, hệ thống các HV, TSQ trong QĐND Việt Nam gồm 21 trường,trong đó có 09 trường trực thuộc BQP, 12 trường trực thuộc các quân chủng,binh chủng, tổng cục và Bộ đội Biên phòng [Phụ lục 3]
Cơ cấu, tổ chức của các HV, TSQ quân đội
Theo Điều lệ Công tác nhà trường QĐND Việt Nam, hiện nay, cơ cấu, tổchức của các HV, TSQ quân đội gồm: Ban giám đốc (ban giám hiệu); các đơn vịtrực thuộc: các cơ quan chức năng (phòng, ban; riêng Học viện Quốc phòng, các
cơ quan: Huấn luyện và Đào tạo, Chính trị, Hậu cần-Kỹ thuật được thành lập cấpcục), các khoa giáo viên, các đơn vị quản lý học viên (hệ, tiểu đoàn) và đơn vịphục vụ Một số HV, TSQ còn có viện (trung tâm) nghiên cứu, tạp chí khoa học
Hệ thống tổ chức đảng ở các HV, TSQ trực thuộc BQP thành lập đảng bộ,đảng ủy và là cấp ủy trực thuộc QUTƯ; các HV, TSQ trực thuộc tổng cục, quânchủng, binh chủng, Bộ đội Biên phòng thành lập đảng bộ, đảng ủy và là cấp ủycấp trên trực tiếp tổ chức cơ sở đảng Dưới đảng ủy HV, TSQ quân đội có cácđảng bộ cơ sở, chi bộ cơ sở trực thuộc
Các tổ chức quần chúng bao gồm: Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ cơ sở,
Trang 36Công đoàn cơ sở được thành lập ở các cơ quan, khoa giáo viên (hoặc khối liên
cơ quan, liên khoa) và các hệ, tiểu đoàn quản lý học viên, viện (trung tâm)nghiên cứu, tạp chí khoa học
Hội đồng quân nhân được tổ chức ở các phòng, ban, viện (trung tâm), tạpchí, khoa, hệ, tiểu đoàn, lớp, đại đội
Chức năng của các HV, TSQ quân đội
Theo Điều lệ Công tác nhà trường QĐND Việt Nam, các HV, TSQ quân đội cóchức năng thực hiện nhiệm vụ GD&ĐT; nghiên cứu khoa học; xây dựng nhà trườngquân đội chính quy; cấp văn bằng, chứng chỉ theo quy định của Nhà nước và BQP
Nhiệm vụ cơ bản của các HV, TSQ quân đội
Các HV, TSQ quân đội có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cho các đối tượnghọc viên ở các cấp học, bậc học, ngành học theo nhiệm vụ, nội dung, chươngtrình, kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt; bồi dưỡng kiến thức quốcphòng, an ninh cho cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị; tham gia đào tạonguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Nghiên cứu, ứng dụng, phát triển hoạt động khoa học và công nghệ, khoahọc quân sự, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học chuyên ngành phục vụquân sự; hợp tác, trao đổi khoa học trong GD&ĐT, nghiên cứu khoa học, sángkiến, cải tiến kỹ thuật quân sự
Xây dựng đảng bộ TSVM, nhà trường VMTD; sẵn sàng chiến đấu vàthực hiện các nhiệm vụ khác do Nhà nước, BQP giao
* Các đảng bộ học viện, trường sĩ quan quân đội
Theo Quy định số 59-QĐ/TW ngày 22/12/2016 của BCHTƯ về tổ chứcđảng trong QĐND Việt Nam, toàn quân có QUTƯ do Bộ Chính trị chỉ định,gồm một số ủy viên BCHTƯ công tác trong Quân đội và một số ủy viênBCHTƯ công tác ngoài Quân đội, đặt dưới sự lãnh đạo của BCHTƯ mà thườngxuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư
Các đảng bộ HV, TSQ quân đội là các tổ chức đảng thuộc Đảng bộ Quânđội, được thành lập tương ứng với hệ thống tổ chức của các HV, TSQ quân đội;hoạt động theo Cương lĩnh Chính trị, Điều lệ Đảng và các chỉ thị, nghị quyếtcủa Đảng; chỉ thị, nghị quyết của QUTƯ, của đảng ủy tổng cục, quân chủng,binh chủng và Bộ đội Biên phòng
Hiện nay có 21 đảng bộ HV, TSQ quân đội, trong đó có 09 đảng bộHV,TSQ là tổ chức đảng trực thuộc QUTƯ gồm: Đảng bộ Học viện Quốc
Trang 37phòng, Học viện Chính trị, Học viện Lục quân, Học viện Quân y, Học viện Hậucần, Học viện Kỹ thuật quân sự, Trường Sĩ quan Chính trị, Trường Sĩ quan Lụcquân 1, Trường Sĩ quan Lục quân 2; có 12 đảng bộ HV, TSQ là tổ chức đảngcấp trên trực tiếp cơ sở và trực thuộc các đảng ủy tổng cục, quân chủng, binhchủng, Bộ đội Biên phòng gồm: Đảng bộ Học viện Phòng không-Không quân,Học viện Hải quân, Học viện Biên phòng, Học viện Khoa học quân sự, Trường
Sĩ quan Không quân, Trường Sĩ quan Thông tin, Trường Sĩ quan Tăng thiếtgiáp, Trường Sĩ quan Pháo binh, Trường Sĩ quan Công binh, Trường Sĩ quanĐặc công, Trường Sĩ quan Kỹ thuật quân sự, Trường Sĩ quan Phòng hoá
Cơ cấu tổ chức của các đảng bộ HV, TSQ quân đội gồm: đảng ủy HV,TSQ; đảng bộ cơ sở và chi bộ cơ sở được thành lập ở các đầu mối trực thuộcban giám đốc (ban giám hiệu), trong đó, đảng bộ cơ sở được thành lập ở nơi có
30 đảng viên trở lên và chi bộ cơ sở được thành lập ở nơi có dưới 30 đảng viên;chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở được thành lập ở các ban trực thuộc phòng, các
bộ môn ở khoa giáo viên, các lớp, đại đội và tương đương
Các đảng ủy HV, TSQ quân đội
Các đảng ủy HV, TSQ quân đội là ban chấp hành đảng bộ, là cơ quanlãnh đạo giữa hai kỳ đại hội, do đại hội đại biểu đảng bộ HV, TSQ bầu ra (hoặc
do cấp có thẩm quyền chỉ định) theo quy định của Điều lệ Đảng và BCHTƯ,hoạt động dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của QUTƯ hoặc đảng ủy tổng cục,quân chủng, binh chủng, Bộ đội Biên phòng; là hạt nhân chính trị, trực tiếp lãnhđạo các mặt công tác và mọi hoạt động của các HV, TSQ, bảo đảm thực hiệnthắng lợi mọi nhiệm vụ được giao Đảng ủy HV, TSQ trực thuộc QUTƯ có sốlượng từ 9-17 ủy viên; đảng ủy HV, TSQ thuộc các đảng ủy tổng cục, quânchủng, binh chủng, Bộ đội Biên phòng có số lượng từ 9-15 ủy viên
Chức năng của đảng ủy HV, TSQ quân đội
Theo Quy định số 59-QĐ/TW ngày 22/12/2016 của BCHTƯ (khóa XII) về
tổ chức đảng trong QĐND Việt Nam, đảng ủy HV, TSQ thực hiện chức năng lãnhđạo mọi mặt các đơn vị thuộc quyền; nghiên cứu đề xuất với cấp ủy cấp trênnhững vấn đề có liên quan đến nhiệm vụ GD&ĐT, nghiên cứu khoa học,CTĐ,CTCT; xây dựng tổ chức đảng TSVM; xây dựng nhà trường VMTD
Nhiệm vụ của đảng ủy HV, TSQ quân đội
Căn cứ Quy định số 59-QĐ/TW ngày 22/12/2016 của BCHTƯ và xuấtphát từ nhiệm vụ của các HV, TSQ quân đội, có thể khái quát nhiệm vụ chủ yếu
Trang 38của đảng ủy HV, TSQ quân đội như sau:
Nghiên cứu đề xuất với cấp ủy cấp trên về chủ trương, nghị quyết củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của QUTƯ vềnhiệm vụ quân sự, quốc phòng, cơ yếu và những chủ trương về CTĐ,CTCT, vềthực hiện chế độ chính sách của Đảng và Nhà nước đối với quân đội
Lãnh đạo các HV, TSQ chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chínhsách, pháp luật của Nhà nước, chỉ thị, nghị quyết của QUTƯ, mệnh lệnh củacấp trên, nghị quyết đại hội đảng bộ và nghị quyết cấp ủy cấp mình, thực hiệnthắng lợi mọi nhiệm vụ được giao
Giáo dục, xây dựng ĐNCB, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ có bảnlĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, của Đảng, của quân đội, của nhà trường.Đấu tranh chống các quan điểm sai trái, tư tưởng cơ hội, thực dụng, chủ nghĩa cánhân, phòng chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; nâng cao ýthức tổ chức kỷ luật, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao
Xây dựng các tổ chức đảng trực thuộc TSVM, có năng lực lãnh đạo vàsức chiến đấu cao; chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnhđạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình, phê bình và các chế độ sinh hoạt, giữ vững
Lãnh đạo nâng cao chất lượng công tác GD&ĐT, hoạt động khoa học,công nghệ, môi trường; phương án, kế hoạch sẵn sàng chiến đấu và quyết tâmtác chiến, biên chế, tổ chức lực lượng của HV, TSQ; xây dựng nhà trườngVMTD, có hệ thống chỉ huy, các tổ chức quần chúng và hội đồng quân nhânvững mạnh, hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ; xây dựng đoàn kết nội bộ,đoàn kết quân dân, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở
Lãnh đạo công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, tài chính, tăng gia sản xuất;chấp hành nghiêm các quy định về quản lý chính trị nội bộ, phòng gian, giữ bímật; quản lý, sử dụng vũ khí, trang bị, cơ sở vật chất hậu cần, kỹ thuật, tàichính, tài sản của nhà trường, bảo đảm an toàn, chống tham nhũng, lãng phí
Trang 39Mối quan hệ công tác của đảng ủy HV, TSQ quân đội
Quan hệ giữa đảng ủy HV, TSQ quân đội với QUTƯ (đối với đảng ủy
HV, TSQ trực thuộc QUTƯ), với đảng ủy tổng cục, quân chủng, binh chủng, Bộđội Biên phòng (đối với đảng ủy HV, TSQ trực thuộc tổng cục, quân chủng,binh chủng, Bộ đội Biên phòng) là mối quan hệ giữa phục tùng lãnh đạo và lãnhđạo: Các đảng ủy HV, TSQ quân đội phải phục tùng sự lãnh đạo của QUTƯ,của các đảng ủy tổng cục, quân chủng, binh chủng, Bộ đội Biên phòng, luônquán triệt và chấp hành nghiêm nghị quyết, chỉ thị của QUTƯ, của đảng ủy tổngcục, quân chủng, binh chủng, Bộ đội Biên phòng; thực hiện đúng chế độ báocáo một cách trung thực, chính xác, kịp thời; chủ động xin ý kiến giải quyếtnhững vấn đề mới nảy sinh vượt phạm vi, quyền hạn của cấp mình
Quan hệ giữa đảng ủy HV, TSQ với TCCT, cơ quan chính trị cấp trên, Uỷban kiểm tra QUTƯ, ủy ban kiểm tra cấp trên là quan hệ giữa chịu sự chỉ đạo,hướng dẫn và chỉ đạo, hướng dẫn về CTĐ,CTCT, công tác kiểm tra, giám sát:Các đảng ủy HV, TSQ quân đội chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra củaTCCT, cơ quan chính trị cấp trên, Uỷ ban kiểm tra QUTƯ, ủy ban kiểm tra cấptrên về CTĐ,CTCT, công tác kiểm tra, giám sát
Quan hệ giữa đảng ủy HV, TSQ với ban giám đốc (ban giám hiệu), giámđốc (hiệu trưởng), chính ủy là mối quan hệ giữa lãnh đạo và phục tùng sự lãnhđạo: Ban giám đốc (ban giám hiệu), giám đốc (hiệu trưởng), chính ủy, phó giámđốc (phó hiệu trưởng), phó chính ủy phải phục tùng sự lãnh đạo của đảng ủy vềmọi mặt; kịp thời báo cáo tình hình nhà trường và mọi nhiệm vụ được cấp trêngiao; đề xuất chủ trương lãnh đạo, biện pháp thực hiện để đảng ủy thảo luận,quyết định và có trách nhiệm tổ chức thực hiện nghị quyết theo chức trách,nhiệm vụ Đảng ủy HV, TSQ quân đội lãnh đạo, kiểm tra mọi hoạt động thựchiện chức trách, nhiệm vụ của ban giám đốc (ban giám hiệu), nhất là trong chỉđạo, quản lý, điều hành nhiệm vụ GD&ĐT, nghiên cứu khoa học, xây dựng HV,TSQ vững mạnh theo đúng đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, Hiếnpháp, pháp luật, chính sách của Nhà nước, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên
Quan hệ giữa đảng ủy HV, TSQ quân đội với ủy ban kiểm tra đảng ủycùng cấp là mối quan hệ giữa lãnh đạo với phục tùng sự lãnh đạo: Đảng ủy HV,TSQ trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát, tổ chức và hoạtđộng của ủy ban kiểm tra đảng ủy HV, TSQ Ủy ban kiểm tra đảng ủy HV, TSQphải phục tùng sự lãnh đạo, chỉ đạo của đảng ủy HV, TSQ Ủy ban kiểm tra
Trang 40đảng ủy tham mưu giúp đảng ủy HV, TSQ lãnh đạo, tổ chức thực hiện công táckiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong đảng bộ HV, TSQ; 6 tháng một lần
có báo cáo sơ kết với ban thường vụ, một năm và cuối nhiệm kỳ có báo cáotổng kết về kết quả thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật trongđảng bộ HV, TSQ
Quan hệ giữa đảng ủy HV, TSQ quân đội với cấp ủy, tổ chức đảng cấpdưới trực thuộc đảng bộ HV, TSQ là quan hệ giữa lãnh đạo và phục tùng sự lãnh
đạo: Đảng ủy HV, TSQ thường xuyên nắm chắc tình hình, xác định chủ trương,
biện pháp xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới một cách cụ thể, phù hợp.Cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới phải luôn quán triệt và chấp hành nghiêm chỉ thị,nghị quyết của đảng ủy HV, TSQ
Quan hệ giữa đảng ủy HV, TSQ quân đội với các tổ chức quần chúngtrong HV, TSQ là quan hệ lãnh đạo và phục tùng sự lãnh đạo: Ở các HV, TSQ,các tổ chức quần chúng gồm có Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, côngđoàn, hội phụ nữ được thành lập ở các đơn vị cơ sở Đảng ủy HV, TSQ có tráchnhiệm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng các tổ chức quần chúng vững mạnh, quantâm, tạo điều kiện cho các tổ chức quần chúng hoạt động có hiệu quả; chăm lo
sự tiến bộ, trưởng thành và bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của quần chúng.Các tổ chức quần chúng phải quán triệt và thực hiện nghiêm nghị quyết của cấp
ủy theo chức năng, nhiệm vụ của tổ chức mình
Quan hệ giữa đảng ủy HV, TSQ quân đội với cấp ủy, chính quyền địaphương nơi đóng quân là quan hệ phối hợp công tác: Các đảng ủy HV, TSQquân đội có trách nhiệm thông báo tình hình nhiệm vụ có liên quan với cấp ủy,chính quyền địa phương; chỉ đạo cơ quan chức năng phối hợp với cơ quan quân
sự địa phương thống nhất kế hoạch, hiệp đồng tổ chức phòng thủ tác chiến theo
sự chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương và của cấp trên Khi HV, TSQquân đội chuyển đi nơi khác phải có trách nhiệm thông báo với cấp ủy, chínhquyền và cơ quan quân sự địa phương biết
Trách nhiệm, quyền hạn công tác cán bộ của đảng ủy HV, TSQ quân đội
Theo Quy chế Công tác cán bộ trong QĐND Việt Nam ban hành kèm theoQuyết định số 548-QĐ/QU ngày 29/5/2018 của QUTƯ, trách nhiệm, quyền hạncông tác cán bộ của đảng ủy HV, TSQ quân đội trực thuộc QUTƯ gồm: Lãnh đạo,chỉ đạo, tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, chủ trương, chính sách, quyếtđịnh của cấp trên về cán bộ và công tác cán bộ trong phạm vi phụ trách; quyết định