1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở từ thực tiễn quận hoàn kiếm, thành phố hà nội

115 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 296,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa quyết định của dân chủ,trong quá trình lãnh đạo Cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luônxác định dân chủ xã hội chủ nghĩa XHCN vừa là mục

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

/

BỘ NỘI VỤ /

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

VŨ THỊ HƯƠNG GIANG

THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ CƠ SỞ

-TỪ THỰC TIỄN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ

Trang 2

BỘ NỘI VỤ /

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

VŨ THỊ HƯƠNG GIANG

THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ CƠ SỞ

-TỪ THỰC TIỄN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ

HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số: 8 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS DƯƠNG ĐỨC CHÍNH

HÀ NỘI - 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài “Thi hành pháp luật vềdân chủ cơ

sở - Từ thực tiễn Quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội” là công trình nghiên

cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đềtài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây.Những số liệu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tácgiả thu thập có ghi rõ nguồn gốc trong phần tài liệu tham khảo Nếu phát hiện

có bất kỳ gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văncủa mình

NGƯỜI CAM ĐOAN

Vũ Thị Hương Giang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian học tập và nghiên cứu tại Học viện Hành chính Quốc gia,bằng sự biết ơn và kính trọng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Lãnhđạo, các phòng, khoa thuộc Học viện Hành chính Quốc gia, các Giáo sư, PhóGiáo sư, Tiến sĩ, Thạc sĩ đã nhiệt tình hướng dẫn, giảng dạy và tạo mọi điềukiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoànthiện đề tài nghiên cứu khoa học này

Đặc biệt, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Dương Đức Chính,người Thầy đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tận tình, định hướng khoa học vàluôn động viên khích lệ tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành đề tài nghiên cứukhoa học này

Xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các cán bộ, công chức đangcông tác tại Ban Dân vận Quận ủy Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội đã giúp tôitìm kiếm tài liệu, cung cấp thông tin có liên quan đến đề tài nghiên cứu

Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên, tạo điều kiện thuận lợicho tôi trong suốt quá trình hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học của mình.Tuy có nhiều cố gắng nhưng trong đề tài nghiên cứu khoa học nàykhông tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiếncủa các nhà khoa học, các quý thầy cô giáo, bạn bè để đề tài nghiên cứu của tôiđược hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2020

TÁC GIẢ

Vũ Thị Hương Giang

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

Chương 1.NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀTHI HÀNH PHÁP LUẬT DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ 11

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò thi hành pháp luật dân chủ cơ sở 11

1.1.1 Khái niệm thi hành pháp luật dân chủ cơ sở 11

1.1.2 Đặc điểm thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở 20

1.1.3 Vai trò thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở 21

1.2 Nội dung thi hành pháp luật dân chủ cơ sở 26

1.2.1 Nội dung quy định pháp luật về dân chủ cơ sở 26

1.2.2 Nội dung thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở 31

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở 32

1.3.1 Yếu tố chính trị 32

1.3.2 Yếu tố kinh tế 36

1.3.3 Yếu tố pháp luật 38

1.3.4 Yếu tố văn hóa - xã hội 39

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 42

Chương 2.THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ CƠ SỞ TẠI QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 43

2.1 Thực trạng pháp luật về dân chủ cơ sở 43

2.1.1 Quy định của pháp luật về dân chủ cơ sở 43

2.1.2 Đánh giá thực trạng pháp luật về dân chủ cơ sở 48

Trang 6

2.2 Thực trạng thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở tại Quận Hoàn Kiếm,

thành phố Hà Nội 512.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến thi hành pháp luật dân chủ cơ sở tại quận

Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội 512.2.2 Thực trạng thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở tại Quận Hoàn Kiếm 572.2.3 Đánh giá thực trạng thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở tại Quận Hoàn

Kiếm, thành phố Hà Nội 74TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 78

Chương 3.GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ BẢO ĐẢM THI

HÀNH PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ CƠ SỞ TẠI QUẬN HOÀNKIẾM,THÀNH PHỐ HÀ NỘI 793.1 Phương hướng thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở 793.1.1 Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, quán triệt sâu sắc các quan điểm, chủ

trương của Đảng và các quy định của Nhà nước về thực hiện quy chế dân chủ

ở cơ sở 793.1.2 Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ đảng, phát huy vai trò tiên

phong gương mẫu của đảng viên trong thực hiện dân chủ ở cơ sở 803.1.3 Phát huy vai trò của Mặt trận, các đoàn thể trong việc thực hiện dân chủđại diện; đồng thời vận động nhân dân phát huy dân chủ trực tiếp trong quá

trình thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở 813.1.4 Tiếp tục cũng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động của Ban chỉđạo quy chế dân chủ ở các cấp, tăng cường công tác kiểm tra của Đảng đồng

thời đẩy mạnh xây dựng các điển hình, kịp thời khen thưởng tập thể, cá nhân

thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở 84

Trang 7

3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thi hành pháp luật về dân

chủ cơ sở tại quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội 85

3.2.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về dân chủ cơ sở 85 3.2.2 Nhóm giải pháp bảo đảm thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở tại Quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội 90

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 104

KẾT LUẬN 103

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BCĐ: Ban chỉ đạoCCHC: Cải cách hành chínhHĐND: Hội đồng nhân dânMTTQ: Mặt trận Tổ QuốcQCDC: Quy chế dân chủTTHC: Thủ tục hành chínhUBND: Ủy ban nhân dânVBQPPL: Văn bản quy phạm pháp luật

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn

Dân chủ là một khái niệm, một chế độ chính trị, sự thể hiện quyền lựccủa quần chúng nhân dân có từ thời thế giới cổ đại Dân chủ là một hình thức

tổ chức thiết chế chính trị của xã hội, trong đó thừa nhận nhân dân là nguồngốc của quyền lực Lịch sử nhân loại đã chứng minh một thực tiễn mang tínhchân lý: dân chủ là khát vọng lớn lao, là đòi hỏi bức xúc của con người, là mộtnhu cầu đặc biệt quan trọng mà con người mong muốn vươn tới; đồng thời,dân chủ cũng là một động lực quan trọng thúc đẩy xã hội phát triển Sự pháttriển của dân chủ đánh dấu những nấc thang tiến bộ của xã hội loài người

Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, nhà tư tưởnglớn của cách mạng Việt Nam đã khẳng định rõ quan điểm về dân chủ trongviệc xây dựng Nhà nước Việt Nam: “Thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạnnăng có thể giải quyết được mọi khó khăn”

Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa quyết định của dân chủ,trong quá trình lãnh đạo Cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luônxác định dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN) vừa là mục tiêu, vừa là động lựcphát triển của xã hội.Đặc biệt đối với cơ sở việc thực hiện dân chủ rộng rãi có

ý nghĩa hết sức quan trọng, thể hiện rõ bản chất dân chủ của Nhà nướcta.Nhằm phát huy đầy đủ, hiệu quả quyền làm chủ của nhân dân, ngày18/2/1998 Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 30-CT/TW về việc xây dựng và thựchiện Quy chế dân chủ ở cơ sở Trên cơ sở đó, ngay trong năm 1998, Chính phủ

đã ban hành Nghị định số 29/1998/NĐ-CP về việc ban hành Quy chế thực hiệndân chủ ở xã, phường, thị trấn (sau đó được thay bằng Nghị định số79/2003/NĐ-CP và nay đã được nâng lên thành Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở

xã, phường, thị trấn)

Trang 10

Việc triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trên phạm vi cả nước,thời gian qua đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, thu hút được sự quantâm của tất cả các tầng lớp xã hội Điều đó chứng tỏ đây là một chủ trươngđúng đắn, hợp lòng dân, đáp ứng kịp thời tâm tư, nguyện vọng, những vấn đềbức xúc của người dân, được nhân dân hưởng ứng rất nhiệt tình và tích cựcthực hiện Tuy nhiên, sau nhiều năm thực hiện, một số địa phương, đơn vịcũng bộc lộ những hạn chế, yếu kém do nhận thức về dân chủ còn hạn chế;một số cán bộ, đảng viên còn có biểu hiện thiếu trách nhiệm trong công táclãnh đạo, chỉ đạo, thiếu gương mẫu; thực hành dân chủ còn mang tính hìnhthức; trình độ dân trí của một bộ phận nhân dân còn hạn chế, thậm chí, tạinhiều địa phương còn để xảy ra tình trạng một số phần tử xấu đã lợi dụng dânchủ, vi phạm pháp luật, làm mất trật tự xã hội Trước tình hình đó, vấn đềnghiên cứu pháp luật và thực tiễn thi hànhpháp luật về dân chủ cơ sở để đềxuất những giải pháp thích hợp, nhằm nâng cao chất lượng pháp luật về dânchủ cơ sở trở thành yêu cầu khách quan, cấp bách.

Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả chọn đề tài: “Thi

hành pháp luật vềdân chủ cơ sở - Từ thực tiễn Quận Hoàn Kiếm, thành phố

Hà Nội” làm đềtài luận văn thạc sĩ củamình, với mong muốn góp phầnhoàn

thiện hệ thống pháp luật, nâng cao chất lượng thi hành pháp luật về dân chủ cơ

sở và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở địa bàn nghiên cứu và nhân rộng

ra các địa phương có đặc điểm tương đồng trong cả nước

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Ở Việt Nam hiện nay, vấn đề pháp luật về dân chủ nói chung và thực hiệnpháp luật về dân chủ ở cơ sở đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà chính trị, cácnhà khoa học, những người làm công tác lý luận nghiên cứu ở nhiều khía cạnh, góc độkhác nhau, có thể kể đến một số công trình như:

Trang 11

- PGS.TS Dương Xuân Ngọc, 2000, Quy chế thực hiện dân chủ cấp xã

– một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia Tác giả bài

viếtđã phân tích làm rõ cơsởlý luận, thực tiễn và yêu cầu cấpthiết cho sự ra đời

và triển khai thực hiện QCDC cơ sở; thực hiện QCDC cơ sở hiện nay cònnhiều tồn tại, hạn chế Việc phân tích làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và yêu cầucấp thiết cho sự ra đời QCDC cơ sở, là yếu tố quan trọng để xây dựng một sốgiải pháp chủ yếu, tổ chức thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân,góp phần xây dựng, kiện toàn HTCT, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cótrình độ năng lực và phẩm chất đạo đức cách mạng

- PGS.TS Nguyễn Cúc, 2002, Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong

tình hình hiện nay – một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia.Công

trình nghiên cứuđã phân tích,đánh giálàm sáng tỏ một số vấn đề chủ yếu về lý luận vàthực tiễn sau quá trình triển khai thực hiện thực hiện QCDC ở cơ sở trong bối cảnh nước

ta hiện nay Trên cơ sở đánh giá thực trạng những thành tựu đạt được, những tồn tại, hạnchế, tác giả đã nêu lên một số phương hướng cơ bản và đề xuất một số giải pháp chủ yếunhằm tiếp tục thực hiện QCDC ở cơ sở

- Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, TS Nguyễn Văn Hiển, 2014,

Về thi hành Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007,

Nxb Chính trị Quốc gia Cuốn sách đã nghiên cứu, phân tích, đánh giá thựctrạng thi hành Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; từ đó đềxuất các giải pháp hoàn thiện thể chế pháp lý và nâng cao hiệu quả tổ chức thihành pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn, đồng thời, khắc phục nhữnghạn chế bất cập trong tổ chức và hoạt động của các cấp chính quyền địaphương, đặc biệt khi Hiến pháp 2013 có hiệu lực và đnag được triển khai thihành trong cả nước

Trang 12

- Nguyễn Thị Ngân, 2003, Quá trình thực hiện Quy chếdân chủcơsở

ởmộtsố tỉnh đồng bằng sông Hồng hiện nay,Đềtài khoa học Cấp bộ, Hà Nội Đề tài đã đi

sâu vào nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng việc triển khai thực hiện QCDC cơ sở

ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng hiện nay, từ đó tác giả đã đề xuất những giải phápgóp phần quan trọng hoàn thiện, đẩy mạnh việc thực hiện QCDC ở khu vực đồng bằngsông Hồng

- Nguyễn Tiến Thành, 2016, Hoàn thiện cơchếpháp lý thực hiện dân

chủcơsở ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩchuyên ngành Lý luận và Lịch sửNhà nước

và Pháp luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Kết quảnghiên cứu củaluận án cho thấy quá trìnhhoàn thiện cơ chế pháp lý và thực hiện dân chủ cơ sở ở ViệtNam đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, chỉ đạo Việc thực hiện dân chủ ở cấp cơ sở ởViệt Nam đã thu được kết quả bước đầu nhưng vẫn còn một số hạn chế do cơ chế pháp lýthực hiện chưa sát với thực tiễn, nhiều điều khoản bị chồng chéo…Việc hoàn thiện cơchế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở đòi hỏi: (1) tăng cường sự lãnh đạo và vai trò kiểmsoát quyền lực của Đảng và Nhà nước; (2) tạo điều kiện tối đa để nhân dân tham gia đónggóp ý kiến hoàn thiện cơ chế; (3) khắc phục hạn chế, gia tăng hiệu quả kiểm soát quyềnlực nội bộ giữa các cơ quan nhà nước; (4) bảo đảm cho Hiến pháp thực sự có vị trí, vaitrò tối thượng, được tôn trọng, bảo vệ và thực thi; (5) tạo ra sự phối kết hợp đồng bộ vàhiệu quả giữa các cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước trong điều kiện chính trị, kinh tế,lịch sử, văn hóa, xã hội cụ thể của nước ta

- Đỗ Thị Thạch, 2006, “Ý nghĩa của Quy chế dân chủ cơ sở với phát triển

kinh tế - xã hội”, Tạp chí Lý luận chính trị Tác giả đã làm rõ những tác động tích cực của

QCDC cơ sở đối với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhất là ở các vùng nôngthôn qua 8 năm thực hiện Trong đó tác giả nhấn mạnh đến vai trò chủ thể quyền lực củadân được phát huy, sự đổi mới

5

Trang 13

trong hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị cấp cơ sở ngày càng

rõ nét hơn

- Lưu Ngọc Tố Tâm, 2017, "Một số giải pháp phát huy dân chủ cơ sở",

Tạpchí Tổ chức Nhà nước Tâm đã phân tích trong những năm qua, hướng về

cơ sở, việc phát huy vai trò của người dân và cơ chế bảo đảm sự tham gia củanhân dân vào hoạt động quản lý xã hội đã đạt những bước tiến quan trọng Tuyvậy, việc bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở vẫn còn những tồn tại, hạn chế:Nhận thức về dân chủ ở một bộ phận cán bộ, người dân còn hạn chế; dân chủtrong Đảng chưa được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc; dân chủ trong cơ quanhành chính Nhà nước chưa được thực hiện đầy đủ Từ đó, tác giả đề xuất một

số kiến nghị và giải pháp

Bên cạnh đó, Vấn đề dân chủ, thực hiện dân chủ cơ sở được các học giảnước ngoài quan tâm nghiên cứu, cho đến nay đã có khá nhiều công trìnhnghiên cứu về vấn đề này trên mọi khía cạnh từ xã hội học, văn học, luật học…Một số công trình tiêu biểu như sau:

Virginia Beramandi, Andrew Elis và các tác giả khác, 2014,Dân

chủtrực tiếp: Sổtay IDEA Quốc tế”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

Công trình này được dịch và xuất bản bằng tiếng Việt bởi chính Viện chínhsách công và Pháp luật trực thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuậtViệt Nam với sự cho phép của IDEA Quốc tế, sự hỗ trợ của Đại sứ quán Na

Uy tại Hà Nội và sự cộng tác của Bộ môn Luật Hiến pháp - Hành chính thuộcKhoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Nội dung công trình đã đưa ra các kiếnnghị, một số bài học về thực tiễn vận dụng dân chủ trực tiếp ở tất cả các vùngtrên thế giới; công trình đánh giá ở 06 quốc gia điểm hình như: Thụy Sĩ,Hungary, Hoa Kỳ (bang Oregan), Venezuela, và Uruguay với các hoạt độngtrưng cầu dân ý, sáng kiến của công dân, sáng kiến chương trình nghị sự và bãimiễn

Trang 14

Robert Alan, Dalh, 1991,Democracy and its Critics (Dânchủ và sự phê

phán), New Haven: Yale University Press Trongđó, tác giả đã xácđịnh quyền

lực mà Nhà nước cóđược là xuất phát từ quyền lực gốc của nhân dân, để thựchiện một nền dân chủ đòi hỏi phải được cụ thể hóa và đảm bảo thực thi bằngpháp luật, phải có sự chế ước lẫn nhau giữa các chủ thể trong xã hội Muốn đạt

tới một nền dân chủ lý tưởng phải đảm bảo 5 tiêu chí sau: Một là, mọi công

dân phải có cơ hội đầy đủ và bình đẳng để thể hiện nguyện vọng của mình vàđặt câu hỏi trong các chương trình công cộng, thể hiện các lý do cho một kết

quả tốt đẹp hơn; Hai là, các công dân phải được bình đẳng, công bằng trong bầu cử ở giai đoạn quyết định; Ba là, các công dân phải được hưởng những cơ

hội phong phú và bình đẳng cho những phát hiện và lựa chọn tốt nhất phục vụ

cho lợi ích của họ; Bốn là, kiểm soát các chương trình nghị sự, các công dân phải có cơ hội quyết định những vấn đề chính trị thực sự toàn diện; Năm là,

mọi công dân đều phải có cổ phần hợp pháp trong quá trình chính trị và tínhbình đẳng phải được mở rộng đến tất cả các công dân

- Harold Hongju Koh, 2000, The right to Democracy, Towards

acommunity of democracy (Quyền dân chủ, Hướng tới một cộng đồng dân chủ), Issue of Democracy đã phân tích, lý giải tới nhiều tiêu chuẩn của dân chủ, và khẳng định dân chủ

bao trùm lên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội Mục tiêu của vấn

đề xây dựng dân chủ không chỉ thể hiện cách hành xử trong chính trị, mà còn làm chodân chủ trở thành yếu tố định hướng hành vi của con người

Các công trình khoa học nêu trên đã nghiên cứu vấn đề pháp luật về dânchủ và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở dưới nhiều góc độ khác nhau, tuynhiên chưa thật sự đi sâu nghiên cứu việc thi hành dân chủ ở xã, phường, thịtrấn, đặc biệt là tại Quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội Bên cạnh đó, đến nay

chưa có tác giả nào nghiên cứu đề tài “Thi hành pháp luật vềdân chủ cơ

Trang 15

sở - Từ thực tiễn Quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội” Vì vậy, với luận văn

này tác giả muốn góp phần nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện những mặt cònhạn chế trong việc thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở ở cơ sở, trên cơ sở tiếpthu những kết quả nghiên cứu về lý luận thi hành pháp luật nói chung của cácnhà nghiên cứu đi trước và thực tiễn thi hành pháp luật về dân chủ cơ sởtạiQuận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích:

Nghiên cứu một số vấn đề lý luận của thi hành pháp luật về dân chủ cơ

sở Đồng thời, thông qua thực tiễn, đánh giá thực trạng thi hành pháp luật vềdân chủ cơ sở tạiQuận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội để đề xuất nhữngphương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng pháp luật và thi hành phápluật về dân chủ cơ sở trong giai đoạn hiện nay

- Nhiệm vụ:

Để đạt mục đích trên luận văn có những nhiệm vụ sau:

Thứ nhất,nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận về dân chủ cơ sở và

thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở

Thứ hai,đánh giá thực trạng pháp luật vàthi hành pháp luật dân chủ cơ

sở tạiQuận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội những mặt đã đạt được, những tồntại hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế

Thứ ba,đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm bảo đảm thi hành pháp

luật về dân chủ cơ sở trên địa bàn Quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội tronggiai đoạn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu:

Hiện nay, pháp luật về dân chủ cơ sở điều chỉnh 3 loại hình cơ bản: ở xã,phường, thị trấn (theo Pháp lệnh 34/2007/PL-UBTVQH11); trong hoạt động

Trang 16

của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập (theo Nghị định

số 04/2015/NĐ-CP), tại nơi làm việc (theo Nghị định 60/2013/NĐ-CP) Tuynhiên, trong giới hạn của luận văn này, dưới góc độ của chuyên ngành LuậtHiến pháp và Luật Hành chính, tác giả tập trung nghiên cứu quy định của phápluật và quá trình thi hành pháp luật về dân chủ ở các phường tạiQuận HoànKiếm, thành phố Hà Nội theo tinh thần Pháp lệnh 34/2007/PL-UBTVQU11của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI về thực hiện dân chủ ở xã, phường,thị trấn

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Phạm vi nội dung: Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật vàquá trình thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở tại Quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.+ Phạm vi không gian: Quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

+ Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

- Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn được tiến hành nghiên cứu bằng cách sử dụng một số phươngpháp nghiên cứu khoa học pháp lý và khoa học hành chính như:

- Nghiên cứu lý thuyết, tài liệu liên quan đến đề tài, đặc biệt là các văn bản quy phạm pháp luật, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

Trang 17

- Thu thập, phân tích, tổng hợp, so sánh các số liệu, kết quả trong phạm

vi thời gian nghiên cứu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Ý nghĩa lý luận: Các kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa thiết

thực góp phần bổ sung và hoàn thiện những vấn đề lý luận về dân chủ cơ sở, thi hànhpháp luật về dân chủ cơ sở, tập trung ở cấp xã

Các phương hướng, giải pháp rút ra từ việc nghiên cứu đề tài luận văn

có ý nghĩa thực tiễn thiết thực góp phần hoàn thiện các giải pháp bảo đảmthihành pháp luật về dân chủ cơ sở nói chung và trên địa bàn tại Quận HoànKiếm, thành phố Hà Nội nói riêng

Có giá trị tham khảo trong việc nghiên cứu chính sách, giảng dạy, học tập

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn được trình bày với 03 chương:

Chương 1 Những vấn đề lý luận về thi hành pháp luật dân chủ cơ sở; Chương 2 Thực trạng pháp luật và thi hành pháp luật về dân chủ cơ sởtạiQuận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội;

Chương 3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thi hành pháp luật

về dân chủ cơ sở tạiQuận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

Trang 18

Chương 1:

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THI HÀNH PHÁP LUẬT DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai tròthi hành pháp luật dân chủ cơ sở

1.1.1 Khái niệm thi hành pháp luật dân chủ cơ sở

1.1.1.1 Khái niệm dân chủ

Dân chủ là một khái niệm đa nghĩa, phức tạp, thuộc phạm trù chính trị rađời từ thời Hy Lạp cổ đại, khoảng giữa thế kỷ thứ 5 đến thứ 4 trước Côngnguyên ở thành Anthena đã hình thành một thể chế chính trịđược gọi là

“Democratos”, trong đó, “Demos” là nhân dân, “Cratos” là quyền lực Theothể chế này “dân chủ” có nghĩa là “quyền lực thuộc về nhân dân” (hay là

“quyền lực của nhân dân”)[24] Xuất phát từ nguồn gốc ra đời của khái niệmnày, có thể nói dân chủ là một khái niệm thuộc lĩnh vực chính trị, có nội hàm

là quyền lực chính trị Bản chất của khái niệm này là quyền lực nhà nước phảithuộc về nhân dân Dân chủ là hình thức tổ chức quyền lực nhà nước dựa trênnguyên tắc nhân dân là chủ thể duy nhất của mọi quyền lực Điều kiện tiênquyết để có nền dân chủ ổn định là phải có bộ máy nhà nước hoạt động hiệuquả

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, có thể hiểu: “Dân chủ là hình thức

tổ chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do Dân chủ cũng được vận dụng vào các tổ chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế xã hội nhất định”[12].

Như vậy, dân chủ được coi là tiêu chí đánh giá cách thức, trình độ tổchức và thực hiện quyền lực nhà nước đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc vềnhân dân Dân chủ là vấn đề phức tạp, có nội dung lớn và luôn luôn mới, gắn

Trang 19

với những tiến bộ lịch sử và văn hóa của loài người Để nghiên cứu, hiểu rõbản chất, tính chất và nội dung của dân chủ phải xem xét nó dưới các góc độ,khía cạnh khác nhau:

Thứ nhất, theo triết học, chính trị, dân chủ là một hiện tượng lịch sử xã

hội, một sản phẩm của sự vận động chính trị bị chế ước bởi trình độ và trạngthái hiện thực của kinh tế- xã hội; mà dân chủ còn là thành tựu của sự pháttriển văn hoá nhân loại, với tính cách là thước đo về trình độ giải phóng conngười, xã hội mà loài người đã đạt được trong mỗi thời đại lịch sử Trong mốiquan hệ này dân chủ là một động lực, một tiêu chuẩn của tiến bộ xã hội

Thứ hai, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Dân chủ theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin là một hiện tượnglịch sử gắn liền với xã hội có giai cấp và được biến đổi dưới nhiều hình thứckhác nhau trong điều kiện tương ứng của các hình thái kinh tế - xã hội Trong

xã hội xã hội chủ nghĩa, “dân chủ” có một chất lượng mới do được phát triểnđầy đủ trên cơ sở một nền kinh tế phát triển cao, nhờ đó con người được giảiphóng và phát triển toàn diện Trong đó, “sự phát triển của mỗi người là điềukiện phát triển tự do của tất cả mọi người”[24, tr.51]

Theo chủ nghĩa Mác - Lênin dân chủ trước hết là một hình thức Nhànước V.I Lênin viết: “Chế độ dân chủ, đó là một Nhà nước thừa nhận việcthiểu số phục tùng đa số, nghĩa là sự tổ chức đảm bảo cho một giai cấp thihành bạo lực một cách có hệ thống chống lại giai cấp khác”[14, tr.101] Vìvậy, dân chủ luôn mang tính giai cấp, nó tồn tại và biến đổi cùng với sự biếnđổi của cuộc đấu tranh giai cấp và sự thay đổi của phương thức sản xuất chủyếu của xã hội Dân chủ xã hội chủ nghĩa là một hiện tượng hợp quy luật, làbước phát triển cao hơn về chất so với các kiểu dân chủ khác và bản chất củadân chủ xã hội chủ nghĩa là giải phóng con người, để con người có thể thựchiện được những quyền tự nhiên của mình, tự làm chủ vận mệnh và quyết

Trang 20

định những vấn đề xã hội Theo C.Mác, dân chủ xã hội chủ nghĩa thực chất làchế độ “do nhân dân tự quy định Nhà nước”, nhân dân là chủ thể tối cao củaquyền lực Nhà nước Nhân dân tự tổ chức quyền lực nhà nước qua bầu cử,tham gia quản lý và quyết định những vấn đề quan trọng, kiểm tra, giám sáthoạt động của Nhà nước thông qua hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đạidiện Lênin đã khái quát quyền dân chủ trong lĩnh vực chính trị của dân thành

ba nội dung lớn: quyền bầu cử, quyền tham gia quản lý các công việc của Nhànước và quyền bãi miễn

Thứ ba, theo quan điểm của Hồ Chí Minh.

Tiếp thu và kế thừa các quan điểm về “dân chủ” của nhân loại, Hồ ChíMinh lý giải khái niệm “dân chủ” một cách đơn giản, hết sức cô đọng và dễhiểu, dễ thực hiện và kiểm soát Người nói: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức

là dân làm chủ”[11, tr.572], “nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vìdân là chủ”[10, tr 276].Người còn giải thích thêm:

“Nước ta là nước dân chủ

Bao nhiêu lợi ích đều vì dân

Bao nhiêu quyền hạn đều của dân

Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân

Chính quyền từ xã đến Chính phủ do dân cử ra Đoàn

thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên

Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”[10, tr.232] Trong tác phẩm Thường thức chính trị viết năm 1953, Chủ tịch Hồ ChíMinh chỉ rõ: “Ở nước ta chính quyền là của nhân dân, do nhân dân làm chủ Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặtmình thi hành chính quyền ấy Thế là dân chủ” Xã hội nào bảo đảm cho điều

đó được thực thi thì đó là một xã hội thực sự dân chủ Nói tóm lại, quyền hành

và lực lượng đều ở nơi dân Địa vị cao nhất là dân; mọi quyền hành và

Trang 21

lực lượng đều ở nơi dân Dân là quý nhất, mạnh nhất “Công việc đổi mới, xâydựng là trách nhiệm của dân” “Đem tài dân, sức dân, của dân để làm lợi chodân”.

Như vậy, “dân là chủ” và “dân làm chủ” là cốt lõi trong khái niệm “dânchủ” của Hồ Chí Minh Phát huy dân chủ là một khía cạnh biểu hiện ý thức tôntrọng Nhân dân Quan điểm trên thể hiện nội dung cơ bản mà nhân loại tiến bộthừa nhận: dân chủ nghĩa là quyền lực thuộc về Nhân dân Theo quan điểm củaNgười còn cho thấy, dân chủ là một hình thức nhà nước, một thiết chế xã hội

và quyền lực thuộc về Nhân dân, trong đó, bản chất của chế độ dân chủ xã hộichủ nghĩa là vì con người, phục vụ con người, phục vụ xã hội trên tinh thần củachủ nghĩa Mác - Lênin Cốt lõi của dân chủ xã hội chủ nghĩa là thực hiệnquyền làm chủ của nhân dân lao động về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, thểhiện ở bốn mặt gắn bó mật thiết với nhau: Bảo đảm dân quyền, cải thiện dânsinh, nâng cao dân trí, nắm vững dân tâm Bốn mặt đó là thước đo trình độ làmchủ của Nhân dân

Tóm lại, theo phân tích trên cho thấy có nhiều cách tiếp cận khác nhau

về phạm trù “Dân chủ” xét theo đối tượng, phương pháp và mục đích khácnhau của nhiều bộ môn khoa học Từ lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội

Việt Nam, quan điểm về dân chủ được hiểu một cách khái quát: “Dân chủ” là

bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; là hình thức thể hiện quyền tự do, bình đẳng của công dân, xác định nhân dân là chủ thể của quyền lực,gắn với quyền dân chủ của nhân dân trên tất

cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, được pháp luật bảo đảm dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Đây là một trong những luận điểm khái quát cốt lõi về bản chất của nền dân chủ xã hội

chủ nghĩa và xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

1.1.1.2 Khái niệm dân chủ cơ sở

Trang 22

Theo quan niệm triết học, “Cơ sở là những yếu tố ban đầu, là điểm xuấtphát để hình thành nên sự vật, là nền móng, nền tảng tạo nên sự vật đó Sự vật

là gì và như thế nào đều tùy thuộc từ chất lượng của cơ sở”[21]

Theo TS Trương Hồ Hải: “Ở bất cứ đất nước nào, xã hội nào, tổ chứcnào, nếu xét theo cấu trúc thì cũng bao gồm một hệ thống từ nhỏ đến lớn Mànhững cấu trúc nhỏ này nếu xét trong một hệ thống thì nó có tư cách như mộtchỉnh thể tương đối hoàn chỉnh, độc lập nhưng lại có sự thống nhất tạo nênmột nền tảng cho toàn bộ hệ thống thì đó được gọi là cơ sở”[7, tr.209]

Cơ sở là “tế bào” của hệ thống Cơ sở là không gian quản lý nhỏ nhấtcủa nhà nước đối với xã hội, là “địa chỉ” cuối cùng, là “điểm đến” cuối cùngcủa quản lý nhà nước Hệ thống quản lý nhà nước của nước ta được tổ chứcthành 4 cấp: trung ương, tỉnh, huyện và xã (cơ sở) là cấp cuối cùng Phường làcấp cơ sở ở đô thị; xã và thị trấn là cấp cơ sở ở khu vực nông thôn

Vậy xét tổng thể, cơ sở với tư cách là xã, phường, thị trấn có những đặcđiểm sau:

+ Là đơn vị hành chính thấp nhất - xét về mặt không gian quản lý, là nền tảng của nhà nước, của đời sống kinh tế - xã hội

+ Là nơi thể hiện trực tiếp, cụ thể bản chất của chế độ nhà nước; sự hoànthiện hay hạn chế, yếu kém của thể chế, cơ chế và mô hình tổ chức quyền lực; thể hiện trựctiếp, cụ thể thái độ của người dân, là nơi mà việc làm, đời sống, tâm tư, nguyện vọng củangười dân được bộc lộ đầy đủ, rõ rệt và cũng là nơi thể hiện, đánh giá trực tiếp hiệu lực, hiệuquả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở

+ Cơ sở nơi trực tiếp thực hiện đường lối của Đảng, chính sách pháp luậtcủa Nhà nước, là nơi kiểm nghiệm một cách chính xác nhất đường lối của Đảng trong cáclĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa trong thực tiễn khách quan; vừa là nơi khơi nguồn cho

sự hình thành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước

Trang 23

Dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân được thực hiện trước hết là ở cơ

sở Dân chủ thực sự chỉ khi các quyền con người được thực hiện trước hết ở cơ

sở, từng người dân có quyền được biết, được bàn, được tham gia giải quyết vàkiểm tra giám sát mọi hoạt động diễn ra ở cơ sở Lúc đó quyền con người,quyền công dân mới trở thành hiện thực

Dân chủ ở cơ sở được thực hiện dưới hình thức gián tiếp và trực tiếp, làhình thức nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng cách trực tiếp thểhiện ý chí, nguyện vọng đối với những vấn đề về tổ chức và hoạt động ở cơ sở.Dân chủ trực tiếp là hệ thống báo động nhạy cảm nhất những vấn đề về chínhtrị, kinh tế, văn hóa Dân chủ trực tiếp giúp cho Đảng và Nhà nước kiểmnghiệm chính sách pháp luật một cách nhanh nhất, sát với thực tế khách quan,khắc phục bệnh chủ quan, duy ý chí, tăng cường mối liên hệ mật thiết giữachính quyền với nhân dân

Theo GS.TSKH Đào Trí Úc: “Dân chủ ở cơ sở là một đòi hỏi tất yếu củaquá trình thực hiện dân chủ ở nước ta Thực hiện tốt và đẩy mạnh dân chủ cơ

sở không chỉ đơn thuần là một phản ứng chính trị của Đảng và Nhà nước trướctình hình phức tạp của những điểm nóng ở cơ sở mà nó thể hiện cái nhìnhướng tới cơ sở, coi trọng cái gốc ở cơ sở nên nó mang tính chiến lược, cănbản, lâu dài”[26, tr.47]

Tăng cường, hoàn thiện và thực hiện dân chủ thực sự là mục tiêu lâu dài

và thường xuyên của Đảng và Nhà nước Mỗi bước phát triển của dân chủ phảiđược ghi nhận bởi các quy định của pháp luật Dân chủ phải gắn liền với phápluật và thi hành pháp luật Song việc phát huy và mở rộng dân chủ phải phùhợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội, trình độ dân trí, truyền thống vănhóa, phong tục tập quán của mỗi cộng đồng, dân chủ gắn liền với kỷ cương

1.1.1.3 Khái niệm thi hành pháp luật dân chủ cơ sở

Trang 24

Theo các giáo trình lý luận về nhà nước và pháp luật được giảng dạy tạinhiều cơ sở đào tạo pháp luật ở Việt Nam một thời gian dài trước đây, "thi

hành pháp luật" được xác định là một trong bốn hình thức thực hiện pháp luật.

Cụ thể, theo giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của Đại học Luật Hà Nội

ấn hành năm 2013 thì "thực hiện pháp luật là hành vi thực tế, hợp pháp, cómục đích của các chủ thể pháp luật nhằm hiện thực hóa các quy định của phápluật, làm cho chúng đi vào đời sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp phápcủa các chủ thể pháp luật"

Thực hiện pháp luật được biểu hiện dưới bốn hình thức, bao gồm: tuânthủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật[13,tr.396] Theo đó, "thi hành pháp luật" được hiểu là nghĩa vụ pháp lý của chủthể pháp luật được hiện thực hóa thông qua hành động tích cực của chủ thể

này.

Cách hiểu “thi hành pháp luật” với tư cách là một trong 4 hình thức thựchiện pháp luật như vậy có nội dung quá hẹp, chưa thực sự sát với ý nghĩa đíchthực của cụm từ “thi hành pháp luật” được sử dụng trong các văn bản quy

phạm pháp luật của Việt Nam Tra cứu lịch sử pháp luật Việt Nam thời hiện

đại, thuật ngữ “thi hành pháp luật” đã xuất hiện trong các văn bản quy phạmpháp luật quan trọng của Việt Nam từ khá sớm Ngay từ Hiến pháp năm 1946,khi quy định về thẩm quyền của Chính phủ và cơ quan hành chính ở địaphương, Hiến pháp đã quy định rõ thẩm quyền “thi hành” pháp luật của các cơquan này Cụ thể, Điều thứ 52 Hiến pháp năm 1946 quy định Chính phủ có

quyền “thi hành các đạo luật và quyết nghị của Nghị viện”; Điều thứ 59 Hiến pháp năm 1946 quy định Ủy ban hành chính có trách nhiệm “thi hành các

mệnh lệnh của cấp trên” Trong Hiến pháp năm 1959, Điều 50 có quy định

Quốc hội có quyền “giám sát việc thi hành Hiến pháp”, Điều 73 quy định Hội đồng Chính phủ có quyền “kiểm tra việc thi hành những nghị định”, Điều 74

Trang 25

quy định Hội đồng Chính phủ có quyền “đình chỉ việc thi hành những nghị

quyết không thích đáng của Hội đồng nhân dân tỉnh”, Điều 75 có sử dụng cụm

từ “thi hành pháp luật” Hiến pháp năm 1980 có nhắc tới nội dung toàn thể

nhân dân Việt Nam “ra sức thi hành Hiến pháp”; Điều 98 quy định Hội đồng nhà nước “giám sát việc thi hành Hiến pháp, các luật, pháp lệnh”; Điều 107 quy định Hội đồng Bộ trưởng có nhiệm vụ “bảo đảm việc thi hành Hiến pháp

và pháp luật” Tại Điều 112 (Khoản 2) Hiến pháp năm 1992 quy định Chính

phủ có trách nhiệm “bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật” Thêm

vào đó, “thi hành pháp luật” cũng không phải chỉ là hành vi của cơ quan côngquyền mà còn là hành vi của người dân, doanh nghiệp bởi lẽ Điều 9 Hiến pháp

năm 1992 có quy định “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam… động viên nhân dân…

nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật”.

Hiến pháp năm 2013 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ là “Tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp luật, nghị quyết của UBTVQH, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước” (khoản 1 Điều 96), Thủ tướng Chính phủ có nhiệm vụ: “Lãnh đạo tổ chức thi hành pháp luật” (khoản 1 Điều 98); Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ có nhiệm vụ: “Tổ chức thi hành và theo dõi việc thi hành pháp luật liên quan đến ngành, lĩnhvực trong phạm vi toàn quốc” (khoản 1 Điều 99); Chính quyền địa phương có nhiệm vụ: “Tổ chức đảm bảo việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương” (khoản 1 Điều 112); và

Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp có nhiệm vụ: “Tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương” (khoản 2 Điều 114).

Như vậy, cụm từ “thi hành pháp luật” phải được hiểu không chỉ bó hẹp

là hành vi thực hiện nghĩa vụ luật định của chủ thể pháp luật (cơ quan, tổ chức,

cá nhân) Thay vào đó, thi hành pháp luật phải được hiểu là tất cả các dạnghành vi xử sự thực tế của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội theo đúngcác yêu cầu mà pháp luật quy định “Thi hành pháp luật” như thế sẽ bao

Trang 26

gồm cả hành vi như “tuân thủ pháp luật” (không xử sự những hành vi mà phápluật cấm), “chấp hành pháp luật” (thực hiện đầy đủ những hành vi mà phápluật buộc phải làm), “sử dụng pháp luật” (chủ động thực hiện các quyền năng

mà pháp luật cho phép hoặc thực hiện những hành vi mà pháp luật khôngcấm), và với các cơ quan công quyền có thẩm quyền thì còn bao gồm cả việc

“áp dụng pháp luật” (trong đó bao gồm cả hành vi áp dụng pháp luật của cơquan hành chính nhà nước và cả hành vi áp dụng pháp luật của cơ quan xét xử

- tòa án) Có thể khẳng định rằng, “thi hành pháp luật” là hành vi được thựchiện bởi không chỉ chủ thể công quyền (các cơ quan nhà nước) mà cả chủ thểphi công quyền (người dân, doanh nghiệp, tổ chức xã hội,…) Với quan niệm

đó, "thi hành pháp luật" được hiểu theo nghĩa rộng, đồng nghĩa với "thực hiệnpháp luật" Quan niệm “thi hành pháp luật” với nghĩa rộng như vậy đi kèm với

sự đa dạng về chủ thể thi hành pháp luật là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu xâydựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta giai đoạnhiện nay, theo đó, mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều chịu sự điều chỉnh củapháp luật, không được đứng trên pháp luật (đều phải thượng tôn pháp luật)

Tóm lại, thi hành pháp luật được hiểu một cách thống nhất là quá trình

hoạt động có mục làm cho các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trởthành hành động thực tế, hợp pháp của các chủ thể

Từ các khái niệm trên, có thể đưa ra khái niệm về “thi hành pháp luậtdân chủ cơ sở” như sau:

Thi hành pháp luật dân chủ cơ sở là quá trình hoạt động có mục đích làm

cho những quy định của pháp luật về dân chủ cơ sở đi vào cuộc sống, trở thànhhành động thực tế, hợp pháp của các của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhânnhằm phát huy cao độ quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân trong phát triển

Trang 27

kinh tế, văn hoá – xã hội đáp ứng yêu cầu xây dựng xã hội giàu đẹp, công bằng,dân chủ, văn minh, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở trong sạch, vững mạnh.

1.1.2 Đặc điểm thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở

Trong phạm vi nghiên cứu đề tài, thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở làthực hiện quyền làm chủ của nhân dân ở xã, phường, thị trấn, khác với thi hànhpháp luật trong các lĩnh vực, các ngành luật khác Vì thế, thi hành pháp luật vềdân chủ cơ sở ở cấp xãcó các đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất, thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở là hoạt động có mục đích

chung thống nhất là làm cho các quy định của pháp luật thực hiện trong cuộcsống trở thành những hành động thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật.Hay nói cụ thể, mục đích của thi hành pháp luật là làm cho các chủ thể phápluật tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng và áp dụng đúng đắn phápluật

Thứ hai, thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở là hoạt động mang tính tổ

chức đưa pháp luật thực định vào cuộc sống, làm cho pháp luật sau khi banhành có hiệu lực thi hành trong thực tế Như vậy, thi hành pháp luật có mộttrong những nội dung quan trọng là tổ chức để các chủ thể thi hành các nghĩa

vụ pháp lý của mình bằng các hành động tích cực trong thực tế, góp phần xâydựng xã hội giàu đẹp, công bằng, dân chủ, văn minh, xây dựng hệ thống chínhtrị ở cơ sở trong sạch, vững mạnh

Thứ ba, bản chất thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở là mang tính chủ

động và tích cực thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở dưới hình thức “hành vihành động”

Thứ tư,chủ thể thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở trước hết là thôn,

bản, tổ dân phố, chính quyền (Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân) cấp xã,các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở xã và các cơ quan Nhà

Trang 28

nước có liên quan đến việc thực hiện quyền dân chủ ở xã, các công dân sinhsống trong địa bàn xã.

1.1.3 Vai trò thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở

1.1.3.1 Thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở góp phần mở rộng dân chủ, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân

Thứ nhất, thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở góp phần hiện thực hóa

các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về dân chủ trongthực tiễn đời sống của nhân dân ở cơ sở

Việc ban hành và thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở góp phần hiệnthực hóa các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật củaNhà nước về dân chủ vào thực tiễn đời sống của nhân dân ở cơ sở “Nhà nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” (Hiến pháp 2013, Điều 2), việcban hành và thực hiện pháp luật về dân chủ là điều kiện tiên quyết để đảm bảoquyền lực thực sự của nhân dân

Vì vậy, khi bàn về phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp xây dựngĐảng, Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng đã chỉ rõ: “Hoàn thiện những thiếtchế thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội, bảo đảm và phát huy quyền làmchủ của nhân dân Thực hiện có hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở, tiếp tục đổimới, hoàn thiện chế độ dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện” [6, tr.304-305].Với phương hướng này, một lần nữa khẳng định việc xây dựng và thi hànhpháp luật về dân chủ cơ sở có vai trò quan trọng trong việc mở rộng dân chủ,đảm bảo dân chủ cơ sở ở nước ta được thực thi nghiêm túc

Thứ hai, thi hành pháp luật dân chủ ở xã, phường là phương thức quản

lý đảm bảo trên thực tế các quyền dân chủ của nhân dân Nhân dân đượchưởng quyền chính trị cơ bản nhất của người công dân: quyền bầu cử Theoquy định của pháp luật về chế độ bầu cử các cơ quan đại diện cho nhân dân:

Trang 29

bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp thì công dân được thựchiện quyền bầu cử của mình tại cơ sở xã, phường nơi cư trú Nhân dân thiết lậpnên bộ máy nhà nước của mình để ủy quyền quản lý, thực hiện quyền dân chủđại diện thông qua hoạt động của đại biểu các cơ quan dân cử Nhân dân cóquyền bầu và bãi miễn các đại biểu dân cử nếu họ không được dân tín nhiệm

và thực hiện cơ chế giám sát thông qua hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các

tổ chức thành viên Cũng tại cơ sở xã, phường, nhân dân thực hiện các quyền

cơ bản nhất được Hiến pháp quy định: quyền có nhà ở, quyền tự do tín ngưỡng,quyền được chăm sóc và bảo vệ sức khỏe, quyền được làm tất cả những gì màpháp luật không cấm trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội

Thứ ba, thông qua thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở giúp Đảng và

Nhà nước hoàn thiện đường lối, chính sách về dân chủ nói chung, dân chủ ở cơ

sở nói riêng Yêu cầu xây dựng Nhà nước Việt Nam pháp quyền xã hội chủnghĩa của dân, do dân và vì dân đặt ra đòi hỏi tính tối cao của Hiến pháp vàpháp luật Nhà nước được làm những gì mà pháp luật quy định còn công dânđược làm những gì mà pháp luật không cấm Việc thi hành pháp luật về dânchủ trên tất cả các lĩnh vực diễn ra ở cơ sở không chỉ giúp cho pháp luật thực

sự đi vào cuộc sống, nhân dân tự mình làm chủ trong quản lý xã hội mà còngiúp cho Đảng, Nhà nước ngày càng có cơ sở thực tiễn hơn trong việc hoạchđịnh đường lối chính sách, hoàn thiện pháp luật, vì chỉ có thông qua thực tiễn,nhân dân mới thực sự là người sáng tạo ra lịch sử

1.1.3.2 Vai trò của thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở đối với hoạt động của chính quyền cơ sở

Thứ nhất, việc thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở xã, phường, thị trấn

vừa là điều kiện, vừa là yêu cầu nhằm kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạtđộng của hệ thống chính trị ở cơ sở Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò

Trang 30

rất quan trọng trong việc tổ chức và hoạt động nhân dân thực hiện đường lốichính sách của Đảng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khảnăng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư Phápluật về dân chủ quy định cụ thể trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thốngchính trị ở cơ sở đối với việc phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa Với tư cách làchủ thể của hoạt động thực thi pháp luật về dân chủ ở cơ sở, hệ thống chính trị

ở cơ sở là khâu then chốt trong tổ chức thực hiện phương châm “dân biết, dânbàn, dân làm, dân kiểm tra” Mỗi khâu của quá trình dân chủ đều đòi hỏi bảnthân hệ thống chính trị cũng như mỗi tổ chức thành viên đều phải kiện toàn tổchức, đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.Mỗi tổ chức thành viên, căn cứ chức năng, nhiệm vụ mà có các hình thức thựchiện khác nhau trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làmchủ”, song tất cả đều vì một mục tiêu xây dựng một Nhà nước Việt Nam: “dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

Thứ hai, thông qua việc thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở mà hệ

thống chính trị ngày càng nâng cao năng lực tổ chức triển khai nhiệm vụ, pháttriển và bồi dưỡng nguồn cán bộ kế cận cho đội ngũ cán bộ, công chức, đổimới phương thức lãnh đạo, tập hợp đoàn viên, hội viên điều hòa và gắn kết cácnhóm lợi ích, những vấn đề nảy sinh được phát hiện kịp thời, các khó khănđược tháo gỡ và ngày càng thu hút được sự tham gia rộng rãi của người dânvào các công việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội

1.1.3.3 Thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở góp phần phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội; bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở cơ sở Thứ nhất, thi hành pháp lệnh về dân chủ ở xã, phường, thị trấn bảo đảm và góp

phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội hơn Đối với chính quyền cơ

sở, đây vừa là nơi thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các hoạt

Trang 31

động kinh tế - xã hội, vừa là nơi chịu sự quản lý của cấp chính quyền cấp trên.Toàn bộ các mục tiêu, chương trình phát triển kinh tế - xã hội dài hạn, ngắnhạn của tỉnh, huyện đều có ảnh hưởng và triển khai tại xã, phường Bên cạnh

đó, việc hoạch định các mục tiêu của xã, phường cũng được Hội đồng nhândân xã, phường thông qua Mặc dù tầm ảnh hưởng của Nghị quyết Hội đồngnhân dân đối với việc phát triển kinh tế tại không lớn, song những vấn đề mànhân dân quan tâm, được biết, được bàn, được kiểm tra theo nội dung của phápluật thực hiện dân chủ ở xã, phường bao gồm: quy hoạch, kế hoạch sử dụngđất đai, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, quyết toán ngân sách, xây dựng cơ sởtrường, trạm, các thiết chế văn hóa, công khai mức thuế, phí và lệ phí, vốn vayxóa đói, giảm nghèo, bình xét gia đình văn hóa,…đều là những vấn đề ảnhhưởng trực tiếp đến việc phát triển kinh tế - xã hội ở cả vùng miền Do đó,thực hiện pháp lệnh về dân chủ xã, phường, thị trấn góp phần phát triển kinh tế

- xã hội hơn, quyền của nhân dân trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, y tế được bảođảm hơn Việc thực hiện dân chủ nằm trong một mục tiêu chung “tất cả vì mụctiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

Thứ hai, thi hành pháp luật về dân chủ ở xã, phường cũng là cơ sở để

giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Pháp luật về dân chủ ở xã,phường là một bộ phận của pháp luật thực định, góp phần thực hiện chức năngduy trì trật tự xã hội Quy chế dân chủ, các chế định pháp luật khác nhau vềquyền công dân đảm bảo cho nhân dân được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, nhânphẩm, các quyền về kinh tế, pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi gây mất dânchủ, ảnh hưởng đến quyền lợi và lợi ích hợp pháp của công dân Các quy địnhpháp luật đều có chế tài để răn đe, phòng ngừa và trừng trị nghiêm khắc nhữnghành vi vi phạm quyền con người, quyền làm chủ của nhân dân Thi hành pháplệnh dân chủ, nhân dân được bàn và quyết định trực tiếp những vấn

Trang 32

đề an ninh trật tự, xây dựng và tổ chức tự quản đời sống cộng đồng, chínhquyền có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết đơn thư dân nguyện, đảm bảoquyền dân chủ trực tiếp của nhân dân Thực tế chứng minh, ở địa phương nàothực hiện tốt dân chủ thì ở đó tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hộiđược đảm bảo, vì sự ổn định, bình yên của từng cụm dân cư góp phần xâydựng nên sự bình yên, ổn định của cả địa phương, quốc gia, dân tộc.

1.1.3.4 Thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở góp phần xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, đấu tranh phòng chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các hiện tượng tiêu cực khác

Thứ nhất, trong điều kiện một đảng cầm quyền, thực hiện dân chủ là một

giải pháp hạn chế sự tha hóa của quyền lực nhà nước Chúng ta kiên trì thực hiệnmục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội do đó việc xây dựng mộtNhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh là yêu cầu cơ bảncủa cách mạng Việt Nam Đảng ta xác định: dân chủ ở cơ sở là nền tảng, dân chủ

ở trung ương có tính chất quyết định đối với việc xây dựng chính quyền của nhân dân

Thứ hai, thi hành pháp lệnh dân chủ cơ sở không còn là một khẩu hiệu

chung chung mà đã trở thành những quy phạm pháp luật quy định cụ thể quyềncủa người dân, nhân dân đã có công cụ để thực hiện quyền làm chủ của mình ở

cơ sở Chính từ khi có quy chế dân chủ ở cơ sở và người dân được biết, đượcbàn, được giải phóng sức sản xuất và sáng tạo, dân được kiểm tra, giám sát, tàichính được công khai, minh bạch hơn đã làm hạn chế rất nhiều các biểu hiệntha hóa của cán bộ, công chức, làm thay đổi tác phong công tác của đa số cán

bộ công chức theo hướng tích cực hơn, trăn trở hơn với lợi ích của dân, sâu sát

và tôn trọng quyền làm chủ của dân Thi hành dân chủ cũng đòi hỏi bộ máynhà nước phải đẩy mạnh cải cách hành chính để ngày càng phục vụ nhân dântốt hơn

Trang 33

1.2 Nội dung thi hành pháp luật dân chủ cơ sở

1.2.1 Nội dung quy định pháp luật về dân chủ cơ sở

Nội dung thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở rất rộng lớn, có liên quantrực tiếp đến quyền và lợi ích của người dân nơi cư trú, được thực hiện theophương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, đặc biệt nhấn mạnhyếu tố "dân thụ hưởng"

Nội dung pháp luật về dân chủ ở cơ sở là sự cụ thể hóa các quyền, cácgiá trị của dân chủ đã được quy định trong Hiến pháp Đó là các quyền vềchính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, trong đó có quyền tự do bầu cử và ứng cử(Điều 54), quyền của nhân dân lao động được tham gia vào quản lý nhà nước(Điều 53), quyền tự do ngôn luận, quyền được thông tin (Điều 69), quyền củanhân dân được kiểm tra, giám sát hoạt động của bộ máy và cán bộ công chứcNhà nước (Điều 8), quyền bình đẳng nam nữ (Điều 63)

Sau một quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, để nâng cao giátrị pháp lý của các quy định về dân chủ ở cơ sở, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội

đã ban hành Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 thực hiện dân chủ ở xã,phường, thị trấn (thay thế Nghị định 79/2003/NĐ-CP) Pháp lệnh này có 6chương, 28 điều quy định những nội dung cần được giải trình trước dân; nhữngnội dung cần được dân thảo luận và quyết định; những nội dung cần lấy ý kiếncủa dân trước khi được cơ quan có thẩm quyền quyết định; những nội dungphải được dân giám sát; trách nhiệm của chính quyền và công chức

ở các cấp làng- xã; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và những người có liên quan trong quá trình thi hành dân chủ ở cấp xã Cụ thể như sau:

Một là, những nội dung cần công khai để dân biết:

Một trong những quyền trước tiên của nhân dân đó là quyền được biết

về tình hình chung đang diễn ra trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa xãhội của đất nước, của địa phương và những vấn đề cụ thể có liên quan trực

Trang 34

tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của bản thân mỗi người dân, cũng như của giađình và cộng đồng dân cư Điều 5 Pháp lệnh quy định những nội dung côngkhai:

- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phương án chuyển dịch cơ cấu kinh

tế và dự toán, quyết toán ngân sách hằng năm của cấp xã

- Dự án, công trình đầu tư và thứ tự ưu tiên, tiến độ thực hiện, phương ánđền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư liên quan đến dự án, công trình tại cấp xã;quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh, quy hoạch khu dân cưtại cấp xã

- Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp giải quyết các công việc của nhân dân

- Việc quản lý và sử dụng các loại quỹ, khoản đầu tư, tài trợ theo chương trình, dự án đối với cấp xã; các khoản huy động nhân dân đóng góp

- Chủ trương, kế hoạch vay vốn cho nhân dân để phát triển sản xuất, xoáđói, giảm nghèo; phương thức và kết quả bình xét hộ nghèo được vay vốn phát triển sảnxuất, trợ cấp xã hội, xây dựng nhà tình thương, cấp thẻ bảo hiểm y tế

- Đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp tới cấp xã

- Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũngcủa cán bộ, công chức cấp xã, của cán bộ thôn, tổ dân phố; kết quả lấy phiếu tín nhiệmChủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dâncấp xã

- Nội dung và kết quả tiếp thu ý kiến của nhân dân đối với những vấn đềthuộc thẩm quyền quyết định của cấp xã mà chính quyền cấp xã đưa ra lấy

ý kiến nhân dân theo quy định tại Điều 19 của Pháp lệnh này

Trang 35

- Đối tượng, mức thu các loại phí, lệ phí và nghĩa vụ tài chính khác do chính quyền cấp xã trực tiếp thu.

- Các quy định của pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết các công việc liên quan đến nhân dân do chính quyền cấp xã trực tiếp thực hiện

- Những nội dung khác theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết

Hai là, những nội dung nhân dân được bàn và quyết định trực tiếp:

“Dân bàn” là khâu thứ hai đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân Bàn làtôn trọng quyền tự do ngôn luận của nhân dân, người dân được phát ngôn, biểuthị ý chí, nguyện vọng của mình đối với cộng đồng cũng như với chính quyền.Không có cơ chế dân chủ thì nhân dân sẽ không có điều kiện “bàn” các vấn đềmình quan tâm Việc nhân dân được bàn bạc và quyết định những vấn đề thuộclĩnh vực pháp luật cho phép đã giúp cho nhân dân nâng cao nhận thức, pháthuy trí tuệ, tạo động lực thúc đẩy nhân dân tham gia, hưởng ứng nhiệt thànhcác chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước bằng việc đóng góp sức lực,của cải vật chất để xây dựng các công trình phúc lợi công cộng

Xây dựng các chủ trương, chính sách phù hợp với thực tế Như vậy, vấn

đề “Dân biết”, để “bàn”, để “làm” là nhu cầu hết sức cấp bách và khách quancủa mọi người dân Điều 10, 11, 12 Quy chế quy định những nội dung, hìnhthức nhân dân bàn, quyết định trực tiếp:

- Về nội dung nhân dân bàn và quyết định trực tiếp:

Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp về chủ trương và mức đóng gópxây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng trong phạm vi cấp

xã, thôn, tổ dân phố do nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh phí vàcác công việc khác trong nội bộ cộng đồng dân cư phù hợp với quy định củapháp luật

- Về hình thức nhân dân bàn và quyết định trực tiếp: 28

Trang 36

Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp những nội dung quy định tại Điều

10 của Pháp lệnh này bằng một trong các hình thức sau đây:

+ Tổ chức cuộc họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố;

+ Phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình

+ Trường hợp tổ chức họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình thì việcbiểu quyết được thực hiện bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín; hình thức biểu quyết

do hội nghị quyết định; nếu số người tán thành chưa đạt quá 50% tổng số cử tri hoặc cửtri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố hoặc trong toàn cấp xã thì tổ chức lại cuộchọp

+ Trường hợp không tổ chức lại được cuộc họp thì phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình

Ba là, những nội dung, hình thức mà nhân dân bàn, biểu quyết, tham gia

ý kiến để cấp có thẩm quyền quyết định:

Ngoài việc người dân được “bàn” và quyết định những vấn đề cụ thểnêu trên, còn những vấn đề việc quyết định cuối cùng phải do chính quyền xãhoặc cấp trên thực hiện thì người dân cũng được tham gia bàn bạc, đóng góp

ý kiến để giúp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan Nhà nước cấp trên cónhững quyết sách đúng đắn và sáng suốt Thực tế đã chứng minh có nhiều chủ trương,chính sách của Đảng và Nhà nước được xuất phát từ sáng kiến của quần chúng ở cơ sở

Vì vậy, việc nhân dân bàn và tham gia ý kiến một số việc chủ yếu là thủ tục bắt buộctrước khi chính quyền xã hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định Những nộidung, hình thức mà nhân dân bàn, tham gia ý kiến để cấp có thẩm quyền quyết định gồm:

- Về những nội dung nhân dân bàn, biểu quyết, Pháp lệnh quy định các lĩnh vực sau:

+ Hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố

Trang 37

+ Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố.

+ Bầu, bãi nhiệm thành viên Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng

- Về hình thức nhân dân bàn, biểu quyết, nhân dân bàn và biểu quyết những vấn đề trên bằng một trong các hình thức dưới đây:

+ Tổ chức cuộc họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố;

+ Phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình

+ Trường hợp tổ chức họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình thì việcbiểu quyết được thực hiện bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín; hình thức biểu quyết

do hội nghị quyết định; nếu số người tán thành chưa đạt quá 50% tổng số cử tri hoặc cửtri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố thì tổ chức lại cuộc họp

+ Trường hợp không tổ chức lại được cuộc họp thì phát phiếu lấy ý kiếntới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình, trừ việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởngthôn, Tổ trưởng tổ dân phố

Bốn là, những nội dung nhân dân giám sát:

Giám sát là một nội dung thực hiện quyền dân chủ của nhân dân nhằmgóp phần xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước và các đoàn thể nhân dân trongsạch, vững mạnh Giám sát có ý nghĩa rất quan trọng trong phát hiện nhữngkhuyết điểm của cán bộ, công chức trong bộ máy của Đảng và Nhà nước đểchấn chỉnh những sai phạm, đưa mọi hoạt động vào đúng nền nếp; kịp thờiphát hiện những sai phạm để xử lý kỷ luật,tạo dựng trật tự kỷ cương, góp phầnvào việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước và của tập thể, quyền và lợi ích chínhđáng của nhân dân.Do đó, quyền giám sát không chỉ thể hiện thông qua hoạtđộng của các cơ quan chuyên trách giám sát mà còn phải lôi cuốn được đôngđảo nhân dân tham gia Nhân dân cần được giám sát những gì có liên quan đến

Trang 38

quyền lợi và nghĩa vụ của họ, giám sát việc thực thi nhiệm vụ của các cơ quannhà nước địa phương, giám sát hoạt động của cán bộ, công chức, những người

có trách nhiệm trong việc thực hiện những quy định về tài chính, kinh tế,quản

lý sử dụng đất đai, chính sách xã hội là việc giải quyết đơn thư khiếu nại,tố cáocủa công dân… Tất cả những nội dung Pháp lệnh quy định người dân có quyềnđược biết, được quyết định và được tham gia ý kiến thì người dân cũng cóquyền giám sát Hình thức giám sát: Thông qua Ban thanh tra nhân dân, Bangiám sát đầu tư của cộng đồng; thông qua quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghịvới các cơ quan công quyền; kiến nghị qua Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổchức thành viên

Năm là, trách nhiệm tổ chức thực hiện dân chủ cơ sở:

Trách nhiệm chung: Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã phối hợpcùng Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên cấp xã

Đối với những việc cụ thể (công khai thông tin, tổ chức họp thôn…),Pháp lệnh quy định trách nhiệm cụ thể của các tổ chức, cá nhân (Ủy ban nhândân xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Trưởng thôn…)

Trên đây là những nội dung trong pháp lệnh dân chủ cơ sở Dựa vào nộidung này chúng ta có thể đánh giá những mặt đạt và chưa đạt được trong quátrình thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở của mỗi địa phương Pháp lệnh dân chủ

cơ sở là một công cụ mạnh để thúc đẩy tính minh bạch và sự tham gia củangười dân Đây là những giá trị mà các tổ chức xã hội dân sự thường hay đềcao và vận động thực hiện

1.2.2 Nội dung thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở

Nội dung thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở bao gồm một chuỗi cáchoạt động kế tiếp nhau, quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, hoạt động trước là tiền đề,điều kiện quyết định cho hoạt động sau Cụ thể:

Trang 39

Thứ nhất, chủ thể thi hành pháp luật ban hành văn bản hướng dẫn thi

hành, xây dựng chương trình và kế hoạch thi hành văn bản quy phạm pháp luật

về dân chủ cơ sở

Thứ hai, phổ biến chương trình, kế hoạch thi hành văn bản quy phạm

pháp luật về dân chủ cơ sở và tuyên truyền, phổ biến nội dung và tinh thần củavăn bản quy phạm pháp luật về dân chủ cơ sở đến các đối tượng trực tiếp phảithi hành Việc phổ biến tinh thần và nội dung của văn bản quy phạm pháp luật

về dân chủ cơ sở bằng tài liệu được biên soạn, bằng các phương tiện thông tinđại chúng và bằng phổ biến trực tiếp

Thứ ba, thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thi hành các văn

bản quy phạm pháp luật về dân chủ cơ sở đang tổ chức thi hành để kịp thờinhắc nhở, uốn nắn

Thứ tư, sau một thời gian thi hành văn bản quy phạm pháp luật về dân

chủ cơ sở tiến hành công tác sơ kết, tổng kết việc thi hành văn bản quy phạmpháp luật đó

Thứ năm, trong quá trình thi hành pháp luật phải theo dõi việc thi hành

pháp luật để kịp thời phát hiện những khó khan, bất hợp lý của việc thi hànhvăn bản quy phạm pháp luật về dân chủ cơ sở để kiến nghị cơ quan có thẩmquyền sửa đổi bổ sung Vì thế, theo dõi tình hình thi hành pháp luật là một nộidung của thi hành pháp luật

Thứ sáu, để thi hành pháp luật phải xây dựng lực lượng và cơ sở vật

chất vững mạnh để đảm bảo cho việc thi hành pháp luật có hiệu quả

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đếnthi hành pháp luật về dân chủ cơ sở

1.3.1 Yếu tố chính trị

Yếu tố chính trị có thể bao gồm: thể chế, sự lãnh đạo của tổ chức Đảng

cơ sở; quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động của chính quyền cơ sở;vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ở cơ sở; trình độ, năng lực, uytín của đội ngũ cán bộ công chức ở cơsở

Trang 40

- Đảng ủy phường, là hạt nhân chính trị lãnh đạo thực hiện tốt đường lối,chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, trực tiếp đưa Nghị quyết củaĐảng đi vào cuộc sống; lãnh đạo thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước tạiđịa phương, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh Với vị trí, chức năng củamình, Đảng ủy phường có nhiệm vụ lãnh đạo xây dựng và thực hiện dân chủ ở cấp cơ sở,thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”; kiểm tra, giám sátmọi hoạt động của chính quyền địa phương theo đúng đường lối, chủ trương, chính sáchcủa Đảng, pháp luật của Nhà nước Chi bộ khu dân cư là chi bộ trực thuộc Đảng bộphường, là cầu nối để đưa mọi đường lối, chủ trương của Đảng đến được với Nhân dân.Cán bộ, đảng viên của Đảng bộ phường phải gương mẫu thực hiện nhiệm vụ do chi bộgiao và chi bộ thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, đảngviên Với vai trò lãnh đạo toàn diện, Đảng ủy phường phải lãnh đạo các chi bộ trực thuộc,đảng viên, chính quyền, đoàn thể đưa pháp luật dân chủ về cơ sở để thực hiện

tạiphườngthựchiệnmộtcáchđúngđắnphápluậtvềdânchủcơsở.Trướctiên, cán bộ,đảng viên phải là người quán triệt, nhận thức sâu sắc về dân chủ, thực hiện vàtriển khai thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân và tập trung chỉ đạo cụ thểhóa các nghị quyết của Đảng về dân chủ thành các chương trình hành độngcủa địa phương nhằm phát triển kinh tế - xã hội phục vụ cho lợi ích của Nhândân Qua thực tiễn cho thấy, địa phương nào mà tổ chức đảng quan tâmthường xuyên đến việc quán triệt đầy đủ, sâu sắc, xác định đúng đắn vị trí, vaitrò lãnh đạo toàn diện và thực hiện nghiêm túc pháp luật về thực hiện dân chủ

ở cơ sở thì địa phương đó quyền làm chủ của Nhân dân được tôn trọng vàphát huy hiệu quả, tạo sự đồng thuận xã hội cao Ngược lại, ở địa phương nàochi bộ, Đảng bộ yếu kém thì dân chủ bị vi phạm, kỷ

33

Ngày đăng: 01/01/2022, 06:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w