Với những lý do vừa mang tính thời sự học viên đã lựa chọn đề tài: “Tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức của chính quyền địa phương cấp tỉnh – từ thực tiễn tỉnh Lạng Sơn”để ngh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
ĐẶNG VĂN HÙNG
TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA
PHƯƠNG – TỪ THỰC TIỄN TỈNH LẠNG SƠN
Chuyên ngành : Quản lý công
Mã số : 8 34 04 03
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI - NĂM 2021
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Quốc Sửu
Phản biện 1: TS Nguyễn Thị Vân Hà
Phản biện 2: PGS.TS Hồ Hữu Hải
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia
Địa điểm: Phòng nhà A, Hội trường bảo vệ luận văn thạc sĩ Học viện Hành chính Quốc gia
Số: 77 - Đường Nguyễn Chí Thanh - Quận Đống Đa - TP Hà Nội
Thời gian: vào hồi giờ phút ngày tháng năm 2021
Có thể tìm hiểu luận văn tại Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia hoặc trên trang Web Khoa Sau đại học, Học viện Hành chính Quốc gia
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức để đáp ứng các yêu cầu trong bối cảnh mới là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng và có tính chất quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Để thực hiện được điều đó, một trong những giải pháp trọng tâm là đẩy mạnh việc tổ chức thực hiện các quy định pháp luật cán bộ, công chức
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn chú trọng, quan tâm đến công tác tổ chức cán bộ Người coi cán bộ là “những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Vì vậy, cán bộ là cái gốc của mọi công việc” do đó “muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”
Thực tiễn chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay chưa đảm bảo yêu cầu quản lý, dẫn đến chất lượng thực thi công vụ chưa hiệu quả Hệ thống pháp luật cán bộ, công chức còn một số bất cập, thiếu tính đồng bộ, chưa hoàn thiện Việc thực hiện pháp luật cán bộ, công chức của nước ta vẫn còn tồn tại một số hạn chế Tình trạng “không ít cán bộ, công chức vừa kém về đạo đức, phẩm chất, vừa yếu về năng lực, trình độ chuyên môn và kỹ năng nghiệp vụ”, rơi vào căn bệnh mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra là “tự tư tự lợi” đã làm giảm niềm tin của nhân dân Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã xác định rõ: “thực hiện nghiêm Luật Cán bộ, công chức và các văn bản pháp luật có liên quan đến công tác cán bộ” nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Với những lý do vừa mang tính thời sự học viên đã
lựa chọn đề tài: “Tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức của chính quyền địa
phương cấp tỉnh – từ thực tiễn tỉnh Lạng Sơn”để nghiên cứu và làm luận văn Thạc sĩ
chuyên ngành Quản lý công
2 Tình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức cho các đối tượng khác nhau là một lĩnh vực quan trọng nên từ lâu đã thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Các công trình nghiên cứu khoa học của các tác giả: Nguyễn Quốc Sửu, Nguyễn Thị Hồng Hải, Hoàng Mai, Trần Nghị là những tài liệu quan trọng liên quan đến đề tài nghiên cứu của học viên
“Nâng cao trách nhiệm cán bộ, công chức trong thực thi công vụ bằng kỷ luật công vụ” của
tác giả Nguyễn Quốc Sửu đã nêu mối quan hệ giữa trách nhiệm công vụ với kết quả hoạt động công vụ
“Quản lý nguồn nhân lực trong khu vực công: Lý luận và kinh nghiệm một số nước” của tác giả
Nguyễn Thị Hồng Hải (chủ biên) và các cộng sự đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận về quản lý nguồn nhân lực trong khu vực công
“Phân cấp quản lý nhân sự hành chính Nhà nước ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Hoàng
Mai (chủ biên) đã giải quyết những vấn đề về mặt lý luận cũng như thực tiễn phân cấp quản lý nhân sự hành chính nhà nước
“Trách nhiệm của công chức trong thực thi công vụ đáp ứng yêu cầu cải cách nền hành
chính nhà nước” của tác giả Trần Nghị là cuốn sách viết sâu về những nội dung cơ bản của
trách nhiệm công chức trong thực thi công vụ; thực trạng trách nhiệm trong thực thi công vụ của công chức
“Đổi mới, nâng cao chất lượng quản lý cán bộ, công chức nhà nước trong thời kỳ mới” của tác
giả Trần Đình Thắng và Nguyễn Phương Thuý đã nêu một số nội dung đổi mới, nâng cao chất
Trang 4lượng quản lý công chức nhà nước, phân tích về việc phải nhận thức đúng về vị trí, tầm quan trọng của công chức trong hoạt động công vụ và công tác quản lý cán bộ, công chức của Đảng, Nhà nước
“Một số mô hình quản lý thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức” của tác giả
Ngô Thành Can đã trình bày quá trình quản lý thực hiện nhiệm vụ; quản lý theo mục tiêu; quản lý theo quá trình và quản lý theo kết quả của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ở Việt Nam hiện nay
“Định biên đối với công chức lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan hành chính nhà nước” của
tác giả Nguyễn Thanh Tùng đã trình bày về vấn đề định biên đối với công chức lãnh đạo quản
lý hiện nay; xây dựng vị trí việc làm của công chức lãnh đạo quản lý trong các cơ quan hành chính nhà nước; các bước tiến hành xây dựng vị trí việc làm
“Thực hiện pháp luật về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị của nhà
nước trong công tác quản lý cán bộ, công chức thuộc quyền và một số kiến nghị” của tác giả
Hoàng Minh Hội đã tập trung phân tích thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức và kiến nghị một số giải pháp tiếp tục bảo đảm thực hiện pháp luật về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan nhà nước trong công tác cán bộ, quản lý cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật và bài học vận
dụng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” của tác
giả Trương Thị Hồng Hà đã phân tích và làm sáng tỏ tư tưởng Hồ Chí Minh về sự cần thiết phải kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật; phương pháp; chủ thể; trách nhiệm; thái độ, uy tín của người kiểm tra, giám sát thực hiện pháp luật
“Vai trò của công tác thực hiện pháp luật về quản lý công chức” của tác giả Đặng Thị Mai
Hương
Những công trình nghiên cứu nêu trên đã có những đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn đối với đề tài luận văn thạc sĩ của học viên Tuy nhiên, chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về
tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn Chính vì
vậy, học viên chọn nghiên cứu đề tài: “Tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức của
chính quyền địa phương cấp tỉnh – từ thực tiễn tỉnh Lạng Sơn” Đây là một đề tài mới,
không trùng lặp với các công trình nghiên cứu
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích:
Trên cơ sở phân tích làm rõ một số vấn đề về lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật cán bộ, công chức, tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức, mục đích của luận văn là đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh để đề xuất những quan điểm cơ bản, phương hướng và hệ thống giải pháp nhằm bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
3.2 Nhiệm vụ:
Từ mục đích nghiên cứu trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước có liên quan đến đề tài luận văn, đánh giá chung những vấn đề đã được nghiên cứu và mức độ nghiên cứu của các công trình, qua đó xác định rõ những vấn đề có thể kế thừa, những vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu của luận văn
Trang 5- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận thực hiện pháp luật cán bộ, công chức; tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức
- Phân tích các yếu tố tác động đến việc tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức
- Khảo sát, đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn từ đó rút ra nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế và bài học kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
- Phân tích, luận chứng các quan điểm, phương hướng và đề xuất hệ thống các giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức của chính quyền địa phương tỉnh Lạng sơn
4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
- Phạm vi nội dung: trên cơ sở lý luận chung về tổ chức thực hiện pháp luật, luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận về tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức, đánh giá thực trạng pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức và đề xuất, kiến nghị các giải pháp đảm bảo tổ chức thực hiện pháp luật, cán bộ, công chức của chính quyền địa phương cấp tỉnh – từ thực tiễn tỉnh Lạng Sơn
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: luận văn nghiên cứu về những vấn đề lý luận, thực tiễn
về tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức ở tỉnh Lạng sơn
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: việc đánh giá thực trạng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và các số liệu được sử dụng để nghiên cứu trong luận văn chủ yếu từ 2017 đến 2020
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện theo phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật, luật chính quyền địa phương, luật cán bộ, công chức
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu:
Đây là phương pháp được sử dụng cơ bản trong các nghiên Do đó, các tài liệu, số liệu của luận văn được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau và được sử lý trong phòng, số liệu thứ cấp Các thông tin, tài liệu, số liệu được thu thập từ: các đơn vị có liên quan ở tỉnh Lạng Sơn, các đề tài, công trình khoa học được lưu trong hệ thống thư viện, sách báo, tạp chí, internet
- Phương pháp khảo sát điều tra thực địa:
Bên cạnh việc sử dụng các số liệu thứ cấp, học viên cũng sử dụng phương pháp khảo sát, điều tra thực địa để có được những số liệu sơ cấp, những thông tin thu thập trong phòng Việc điều tra thực địa giúp các nhà nghiên cứu tránh được quyết định chủ quan, vội vàng, phiến diện, thiếu cơ sở thực tế
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
6.1 Ý nghĩa khoa học
Luận văn góp phần vào việc làm rõ những vấn đề lý luận về tổ chức thực hiện pháp luật cán
bộ, công chức của chính quyền địa phương hiên nay
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trang 6- Nghiên cứu chỉ ra những vấn đề được quan tâm giải quyết đối với vấn đề tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức của chính quyền địa phương cấp tỉnh
- Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan có liên quan đến việc
tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức Đồng thời đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu giảng dạy, học tập, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức trong các chương trình đào tạo, bồi dưỡng tại trường chính trị tỉnh Lạng Sơn
7 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn bao gồm
3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức của chính
quyền địa phương cấp tỉnh – từ thực tiễn tỉnh Lạng Sơn
Chương 2: Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức của chính quyền địa
phương cấp tỉnh – từ thực tiễn tỉnh Lạng Sơn
Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường, nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức
thực hiện pháp luật cán bộ, công chức của tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay
Trang 7CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 1.1 Khái niệm, đặc điểm, chủ thể tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức
1.1.1 Khái niệm công chức và tổ chức thực hiện pháp luật về cán bộ, công chức
1.1.1.1 Khái niệm công chức
Công chức là những người được Nhà nước tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên, làm việc liên tục trong cơ quan nhà nước (hoặc cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân hay công an nhân dân), được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, đơn vị sự nghiệp, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
1.1.1.2 Khái niệm tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức
Khái niệm thực hiện pháp luật:
Thực hiện pháp luật cán bộ, công chức là hoạt động, quá trình có mục đích làm cho những quy định của pháp luật cán bộ, công chức đi vào cuộc sống thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng hoạt động công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu quản lý của Nhà nước
Tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức là hoạt động sắp xếp, định hướng một cách có tổ chức, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch và thường xuyên, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện làm cho pháp luật cán bộ, công chức được triển khai trong thực tiễn
1.1.2 Đặc điểm tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức
Thứ nhất, tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức là hoạt động sắp xếp, có định
hướng nhằm đưa pháp luật cán bộ, công chức thực hiện trên thực tế Tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức là hoạt động nhằm đưa pháp luật cán bộ, công chức vào cơ quan nhà nước, trở thành ý thức và thói quen xử sự trong cơ quan nhà nước Hoạt động này được thực hiện một cách có chủ định, có tổ chức, có định hướng và có kế hoạch cụ thể Thông qua hoạt động thực hiện pháp luật, mục đích của chủ thể tác động nhằm hình thành ở các đối tượng được tác động những tri thức, thói quen xử sự phù hợp với quy định của pháp luật cán bộ, công chức để mọi đối tượng tự giác tuân thủ pháp luật, có ý thức pháp luật cao
Thứ hai, tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức là hoạt động được thực hiện bởi
các chủ thể nhất định ví dụ như các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
Thứ ba, tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức là một chuỗi các hoạt động từ phổ
biến, giáo dục pháp luật cán bộ, công chức, ban hành văn bản pháp luật nhằm triển khai pháp luật cán bộ, công chức Đồng thời, bảo đảm các điều kiện cơ sở vật chất để thực thi pháp luật cán bộ, công chức và kiểm tra, đánh gia, tổng kết công tác thi hành pháp luật cán bộ, công chức trong thực tế
1.1.3 Chủ thể tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức
Tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức là hoạt động có sự tham gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tác động tới các đối tượng là cán bộ, công chức nhà nước nhằm đạt được mục đích của cơ quan nhà nước Do vậy, có thể nói, tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức là hoạt động có định hướng, có chủ định của các cơ quan nhà nước
Trang 8Bộ Nội vụ là cơ quan có thẩm quyền giúp Chính phủ thực hiện quản lý thống nhất trong
cả nước về công tác tổ chức Các nội dung quản lý nhà nước về cán bộ, công chức còn được phân cấp cho các Bộ và cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Uỷ ban nhân dân cấp xã và đơn vị sử dụng cán bộ, công chức Cán bộ, công chức làm việc trong nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau theo quy định của pháp luật vì vậy tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức sẽ do các cơ quan, tổ chức này triển khai thực hiện
1.2 Nội dung tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức
1.2.1 Tổ chức, phổ biến, tuyên truyền pháp luật cán bộ, công chức
Tổ chức phổ biến, tuyên truyền pháp luật cán bộ, công chức là một trong những nội dung quan trọng của công tác tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức nhằm giúp cán
bộ, công chức không tiến hành những hoạt động mà pháp luật cán bộ, công chức cấm
Tuyên truyền miệng về pháp luật là một hình thức tuyên truyền khá phổ biến mà người nói trực tiếp nói với người nghe về lĩnh vực pháp luật trong đó chủ yếu là các văn bản pháp luật nhằm nâng cao nhận thức về pháp luật, niềm tin vào pháp luật và ý thức pháp luật
cho người nghe và kích thích người nghe hành động theo các chuẩn mực pháp luật
Ngoài ra, để pháp luật cán bộ, công chức trở nên gần gũi và trở thành nhận thức trong hoạt động quản lý nhà nước, việc tuyên truyền phổ biến pháp luật còn có thể thực hiện thông qua tổ chức cuộc thi tìm hiểu pháp luật; thông qua hoạt động thực thi pháp luật; thông qua việc thực hiện cam kết không vi phạm pháp luật
1.2.2 Bảo đảm cán bộ, công chức thực thi đúng các quyền và nghĩa vụ đối với
cán bộ, công chức
Về nghĩa vụ, Điều 8 Luật cán bộ, công chức quy định nghĩa vụ của công chức đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân bao gồm: trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia; tôn trọng nhân dân, tận tuỵ phục vụ nhân dân; liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Trong thi hành công vụ, căn cứ Điều 9 của Luật, người công chức phải thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao; có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước; chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao; chấp hành quyết định của cấp trên; người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình
Về quyền, việc thực hiện pháp luật cán bộ, công chức phải đảm bảo đầy đủ quyền của cán
bộ, công chức theo quy định của pháp luật bao gồm:
- Quyền được bảo đảm các điều kiện thi hành công vụ (Điều 11)
- Quyền được hưởng lương và các chế độ liên quan đến tiền lương (Điều 12)
- Quyền được nghỉ ngơi (Điều 13)
- Các quyền khác của công chức (Điều 14)
1.2.3 Bảo đảm hoạt động quản lý cán bộ, công chức
Căn cứ Điều 5 Luật cán bộ, công chức, việc tổ chức quản lý cán bộ, công chức phải đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý của Nhà nước; kết hợp giữa tiêu
Trang 9chuẩn chức danh, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ trách nhiệm cá nhân và phân công, phân cấp rõ ràng; việc sử dụng, đánh gia, phân loại cán bộ, công chức phải dựa trên phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực thi hành công vụ; thực hiện bình đẳng giới Nội dung của hoạt động quản lý cán bộ, công chức gồm: tuyển dụng; phân công công tác, sử dụng, đánh gia, phân loại công chức
Ngoài những quy định trên, công chức lãnh đạo, quản lý còn được đánh giá theo các nội dung: kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo, quản lý; năng lực lãnh đạo, quản lý; năng lực tập hợp, đoàn kết công chức Việc đánh giá công chức được thực hiện hàng năm, trước khi bổ nhiệm, quy hoạch, điều động, đào tạo, bồi dưỡng, khi kết thúc thời gian luân chuyển, biệt phái
1.2.4.Thanh tra, kiểm tra việc tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức
Tổ chức giám sát và đánh giá việc tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức thông qua các hình thức thanh tra, kiểm tra là một trong những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao
ý thức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức Giám sát và đánh giá chính là cơ chế hữu hiệu để điều chỉnh và xử lý những sai sót nhằm đạt được các mục tiêu đề ra
Việc tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức cũng như các lĩnh vực pháp lý khác luôn đảm bảo hai giai đoạn: giai đoạn xây dựng cơ sở pháp lý cán bộ, công chức để hình thành quan hệ pháp luật giữa cán bộ, công chức với đơn vị công tác và các chủ thể khác của xã hội,
và giai đoạn mỗi cán bộm công chức, cá nhân và tổ chức liên quan tham gia quan hệ pháp luật
và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo luật
1.3 Các yếu tố bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức
1.3.1 Yếu tố pháp luật
Yếu tố pháp luật là yếu tố quan trọng đầu tiên tác động đến tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức Vì các quy định của pháp luật cán bộ, công chức là cơ sở pháp lý cho quá trình tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức để các cơ quan nhà nước và công chức tuân thủ trong quá trình thực thi công vụ
1.3.2 Yếu tố kinh tế - xã hội
Điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước có ảnh hưởng rất lớn tới việc hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật cán bộ, công chức nói riêng Mức độ hoàn thiện tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức phản chiếu tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Trong bất kỳ một xã hội, một quốc gia nào, thể chế quản lý cán bộ, công chức thường phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Kinh tế - xã hội càng phát triển, sẽ thúc đẩy cán bộ, công chức phát triển và ngược lại
1.3.3 Yếu tố năng lực của cán bộ, công chức
Năng lực của cán bộ, công chức nói chung luôn gắn với mục đích tổng thể, với chiến lược phát triển của tổ chức và phải gắn với lĩnh vực, điều kiện cụ thể Năng lực liên qua chặt chẽ đến quá trình làm việc, phương pháp làm việc hiệu quả và khoa học công nghệ Yêu cầu năng lực sẽ thay đổi khi tình hình công việc và nhiệm vụ thay đổi Vì vậy, năng lực làm việc của cán bộ, công chức hay còn gọi là năng lực thực thi trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước của cán bộ, công chức là khả năng của cán bộ, công chức để hoàn thành nhiệm vụ được giao trong điều kiện, hoàn cảnh nhất định
1.3.4 Truyền thống, văn hoá, phong tục, tập quán
Trang 10Văn hoá truyền thống dân tộc, nơi mà các tổ chức đang tồn tại và hoạt động có ảnh hưởng quan trọng đối với văn hoá của tổ chức đó Lối suy nghĩ của người Việt Nam phần lớn chịu ảnh hưởng của phương thức sản xuất nông nghiệp, nét văn hoá cộng đồng, vùng miền, văn hoá làng đã tạo nên ý thức cộng đồng cao, trọng tập thể
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CỦA TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP TỈNH –
TỪ THỰC TIỄN TỈNH LẠNG SƠN 2.1 Đặc điểm tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của tỉnh Lạng Sơn
2.1.1 Về vị tri địa lý, địa hình, đất đai
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi, biên giới, thuộc vùng Đông Bắc với diện tích tự nhiên 8.310,09 km2 Lạng Sơn nằm ở vị trí đường quốc lộ 1A, 1B, 4A, 4B, 279 đi qua, là điểm nút giao lưu kinh tế với các tỉnh phía Tây là Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Kạn, phía Đông là tỉnh Quảng Ninh, phía Nam là Bắc Giang và phía Bắc tiếp giáp với Khu tự trị dân tộc Choang, Quảng Tây, Trung Quốc, với 2 cửa khẩu quốc tế (cửa khẩu đường bộ Hữu Nghị và cửa khẩu đường sắt Đồng Đăng), 1 cửa khẩu chính Chi Ma và 9 cửa khẩu phụ
2.1.2 Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên rừng: Có diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 512.559 ha, chiếm 61,6% diện tích đất tự nhiên Tài nguyên khoáng sản không nhiều, trữ lượng các mỏ nhỏ, chủ yếu là
mỏ đá vôi với khoảng 40 mỏ đang khai thác có tổng trữ lượng 405 triệu m3 để làm vật liệu xây dựng
2.1.3 Dân số, đơn vị hành chính
Dân số của tỉnh năm 2019 là 782.811 người, chủ yếu sinh sống ở khu vực nông thôn (chiếm 79,54%) Tỉnh Lạng Sơn có 07 dân tộc, chủ yếu là: Nùng chiếm 41,91%, Tày 35,43%, Kinh 16,99%, Dao 3,5%, Hoa 0,29%, Sán chay 0,6%, Mông 0,17%, dân tộc khác 0,11%
2.1.4 Về kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm giai đoạn 2011 - 2017 đạt 8 - 9%, trong đó ngành nông, lâm nghiệp tăng 3 - 4%; công nghiệp - xây dựng tăng 9 - 11%; dịch vụ tăng 10 - 12% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông lâm nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ Nông lâm nghiệp chiếm 20,30%, công nghiệp - xây dựng 19,68%, dịch vụ 49,78%, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 10,24% Thu nhập bình quân đầu người năm 2018 đạt 38,4 triệu đồng
2.1.5 Về văn hoá – xã hội
- Tỷ lệ thôn, khối phố có nhà văn hóa đến năm 2018 đạt 96%
- Số trường đạt chuẩn quốc gia đến năm 2018 là 192 trường trên tổng số 694 trường
Trang 11- Đến hết năm 2018, tổng số xã đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế là 114 xã, chiếm 50,4%
số xã Có 10,5 bác sỹ/vạn dân, 28,3 giường bệnh/vạn dân, Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 95,5%
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2018 đạt 50%, lao động được giải quyết việc làm hàng năm trên 14.600 người
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo hàng năm đều giảm trên 3%, năm 2017 giảm 3,3%, năm 2018 giảm 3,24% Hiện còn 30.583 hộ nghèo, chiếm 15,83%; 21.267 hộ cận nghèo, chiếm 11,01%
2.2 Những thành tựu đạt được trong công tác tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công
chức của cấp tỉnh Lạng Sơn
2.2.1 Về kết quả sắp xếp tổ chức bộ máy
Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, UBND tỉnh Lạng Sơn đã chỉ đạo thực hiện 03 đợt sắp xếp
tổ chức bộ máy vào các năm 2017, 2019 và 2020 Kết quả thực hiện đến nay cụ thể như sau:
Về tổ chức hành chính
* Cấp tỉnh:
- Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Số lượng Sở, ngành thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ở Lạng Sơn không thay đổi từ thời điểm ngày 30 tháng 4 năm 2015 đến thời điểm ngày 30 tháng 6 năm 2020 Số lượng các Sở, ngành ở tỉnh Lạng Sơn có tính ổn định, không bị gây xáo trộn trong việc chia tách hay sáp nhập các đơn vị tổ chức
- Tổ chức hành chính khác ở cấp tỉnh (Văn phòng HĐND tỉnh, Ban Quản lý KKTCK Đồng Đăng -
Lạng Sơn): Số lượng đơn vị hành chính khác cấp tỉnh không thay đổi trong giai đoạn từ
30/4/2015 đến 30/6/2020 Tính ổn định của đơn vị hành chính vẫn được duy trì
- Các tổ chức và tương đương thuộc cơ cấu tổ chức của Sở, ngành: Phòng và tương đương: Thời điểm 30/4/2015 có 155 phòng; Thời điểm 30/6/2020 có 102 phòng, giảm 53 phòng, tỷ
lệ giảm 34,19% Số lượng phòng và tương đương thuộc cơ cấu tổ chức của Sở, ngành đã giảm một tỷ lệ đáng kể, thực hiện được chủ trương cắt giảm đầu mối
- Chi cục và tương đương: Thời điểm 30/4/2015 có 15 chi cục và tương đương; thời điểm 30/6/2020 có 12 chi cục và tương đương; thực hiện giảm 03 chi cục và tương đương, tỷ lệ giảm 20% Số lượng chi cục và tương đương giảm, thực hiện được chủ trương giảm bớt đầu mối các đơn vị, tổ chức
- Phòng thuộc cơ cấu tổ chức của chi cục và tương đương thuộc Sở: Thời điểm 30/4/2015 có
66 phòng; thời điểm 30/6/2020 có 50 phòng, giảm 16 phòng, tỷ lệ giảm 24,24% Số lượng phòng thuộc cơ cấu tổ chức của chi cục và tương đương thuộc Sở đã được giảm, thực hiện được kế hoạch và chủ trương giảm số lượng đơn vị, tổ chức
- Văn phòng, phòng, ban thuộc cơ cấu tổ chức của tổ chức hành chính khác ở cấp tỉnh: Thời điểm 30/4/2015 có 09 phòng; thời điểm 30/6/2020 có 06 phòng, giảm 03 phòng, tỷ lệ giảm 33,33%
Về biên chế và tinh giản biên chế
Về quản lý biên chế:
a) Về biên chế trong cơ quan, tổ chức hành chính:
- Số biên chế công chức được giao:
Trang 12Số biên chế công chức hành chính đã thực hiện giao giảm 315/2.398 biên chế công chức của tỉnh Lạng Sơn được giao năm 2015, tỷ lệ giảm 13,13% (bao gồm có 108 biên chế quản lý thị trường chuyển về Tổng cục Quản lý thị trường, Bộ Công Thương quản lý) Việc giảm số lượng biên chế công chức được giao đã giảm bớt được gánh nặng cho ngân sách Nhà nước trong việc trả lương cho công chức Đồng thời giúp cho bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương bớt cồng kềnh
- Số công chức có mặt tại thời điểm 30/6/2020 là 1.891/2.083 biên chế; số biên chế công chức chưa sử dụng là 192/2.083 biên chế Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn chưa sử dụng hết
số lượng biên chế công chức được giao là 192 người trong tổng số chỉ tiêu được giao 2.083 Việc chưa sử dụng hết số lượng biên chế công chức được giao tại thời điểm 30/6/2020 đã thực hiện được việc cắt giảm chi phí hành chính cho ngân sách Nhà nước
b) Về số lượng người làm việc:
- Số lượng người làm việc được giao: Số lượng người làm việc được giao năm 2015 là 24.102 người đến năm 2020 số lượng người làm việc được giao giảm đi còn 22.438 người, số lượng người giảm là: 1.876/24.314 người, tỷ lệ giảm 7,72% Việc giảm số lượng người làm việc đảm bảo được việc cắt giảm chi phí cho ngân sách Nhà nước
- Số lượng người làm việc có mặt tại thời điểm 30/6/2020 là 21.231/22.438 người; số lượng người làm việc chưa thực hiện là 1.207 người Việc chưa thực hiện được số lượng người làm việc là 1.207 đã giảm được chi phí hành chính cho ngân sách Nhà nước
c) Hợp đồng lao động theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 161/2018/NĐ-CP):
* HĐLĐ 68 trong cơ quan hành chính:
- Số giao: Năm 2015 giao 258 hợp đồng lao động 68; Năm 2020 thực hiện giao 281 hợp đồng lao động 68 Số lượng lao động hợp đồng lao động 68 được tăng từ 258 (năm 2015) lên 281 (năm 2020) số lượng tăng lên là 23 người
- Số có mặt tại thời điểm 30/6/2020 là 271/281 người; số hợp đồng lao động chưa sử dụng là
10 hợp đồng Việc chưa sử dụng hết số hợp đồng lao động được giao cũng là một trong những
hình thức để cắt giảm chi phí chi tiêu hành chính của Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn, góp phần vào việc tiết kiệm cho ngân sách Nhà nước
* HĐLĐ 68 trong các đơn vị sự nghiệp công lập:
- Số giao: Năm 2015: Tỉnh Lạng Sơn chưa thực hiện giao hợp đồng lao động, số hợp đồng lao động có mặt của các đơn vị sự nghiệp công lập tại thời điểm 30/4/2015 là 1.100 hợp đồng lao động; Năm 2020: thực hiện giao 2.048 hợp đồng lao động Số hợp đồng lao động có mặt thời điểm 30/6/2020 là 2.015/2.048 người; số chưa thực hiện là 33/2.048 người Lý do chưa thực hiện: Một số hợp đồng lao động nghỉ thôi việc nhưng chưa kịp thực hiện Một số đơn vị chưa thực hiện được do không có người để thực hiện hợp đồng
Về tinh giản biên chế:
a) Về xây dựng kế hoạch, đề án tinh giản biên chế:
Triển khai Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ công chức và Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế; UBND tỉnh Lạng Sơn đã ban hành Kế hoạch số 59/KH-UBND ngày 19/6/2015 triển khai thực hiện; đồng thời, phê duyệt Đề án tinh giản biên chế giai đoạn 2015-2021 đối với 38 cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh, trong đó xác định số lượng tinh giản
Trang 13biên chế cho từng năm và tỷ lệ tinh giản biên chế đến năm 2021 (07 năm) tối thiểu là 10% so
với biên chế được giao năm 2015 (bao gồm cả biên chế công chức và biên chế sự nghiệp)
b) Về kết quả thực hiện:
- Từ năm 2015 đến 30/6/2020, tỉnh Lạng Sơn đã được Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính kiểm tra đối
tượng và kinh phí thực hiện 2.143 đối tượng, cụ thể chia theo từng lĩnh vực như sau:
- Về kinh phí thực hiện: Tổng kinh phí đã thực hiện để chi trả cho 2.143 đối tượng là
203.430.246.000 đồng Việc thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo Nghị định số
108/2014/NĐ-CP, Nghị định số 113/2018/NĐ-CP được UBND tỉnh quan tâm chỉ đạo thực hiện 02 kỳ/năm theo quy định Ngoài ra, tỉnh còn thực hiện các kỳ chuyên đề cho các đối tượng dôi dư do sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã, do thực hiện Đề án công an xã chính quy
Do đó, đảm bảo thực hiện tốt chế độ tinh giản biên chế đối với cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh
Về vị trí việc làm
- Về vị trí việc làm trong cơ quan, tổ chức hành chính:
Thực hiện Quyết định số 2047/QĐ-BNV ngày 31/12/2015 và Quyết định số 2705/QĐ-BNV ngày 26/10/2017 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về phê duyệt danh mục vị trí việc làm, phê duyệt bổ sung danh mục vị trí việc làm trong các cơ quan, tổ chức hành chính trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn; Uỷ ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh thực hiện rà soát, hoàn thiện bản mô tả công việc và khung năng lực của từng vị trí việc làm
đã được Bộ Nội vụ phê duyệt Đến nay, 100% các cơ quan, đơn vị đã được UBND tỉnh phê duyệt bản mô tả công việc và khung năng lực, cụ thể:
+ Phê duyệt bản mô tả công việc và khung năng lực vị trí việc làm của các cơ quan hành chính thuộc UBND cấp huyện và thành phố Lạng Sơn;
+ Phê duyệt bản mô tả công việc và khung năng lực vị trí việc làm của 21/21 cơ quan, đơn vị hành chính cấp tỉnh (19/19 cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh và 02/02 đơn vị hành chính khác cấp tỉnh)
- Về vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập: Thực hiện Nghị định số 41/2012/NĐ-CP ngày 08/5/2012 của Chính phủ về vị trí việc làm trong các đơn vị sự nghiệp công lập; Thông
tư số 14/2012/TT-BNV ngày 18/12/2012 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định số 41/2012/NĐ-CP; UBND tỉnh Lạng Sơn đã xây dựng Đề án số 06/ĐA-UBND ngày 31/12/2014 về vị trí việc làm trong các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn Tuy nhiên, đến ngày 10/10/2016, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 89/NQ-CP về Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9 năm 2016 Theo đó, Chính phủ phân cấp thẩm quyền quyết định
vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập nhằm đẩy mạnh việc thực hiện cơ chế tự chủ, tạo điều kiện cho các đơn vị sự nghiệp công lập hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao
Tuy nhiên, hiện nay Nghị định và Thông tư hướng dẫn thực hiện vị trí việc làm đối với đơn vị sự nghiệp công lập chưa được sửa đổi, bổ sung Do đó, hiện nay, tỉnh Lạng Sơn vẫn đang tiếp tục nghiên cứu để triển khai thực hiện việc phê duyệt vị trí việc làm đối với các đơn
vị sự nghiệp công lập
2.2.2 Kết quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức tỉnh Lạng Sơn
năm 2020; kết quả 05 năm thực hiện Quyết định số 163/QĐ-TTg
Kết quả đào tạo, bồi dưỡng năm 2020
Về chỉ tiêu, số lượng
Trang 14Năm 2020 tỉnh Lạng Sơn tổ chức đào tạo, bồi dưỡng được 43.246 lượt người đạt 99%
so với ke hoạch, tăng 3,4% so với năm 2019 trong đó: đào tạo, boi dưỡng cán bộ, công chức ở trong nước: 15.553 chı̉ tiêu, đạt 103,7 % so với ke hoạch; đào tạo, boi dưỡng viên chức ở trong nước: 24.783 chı̉ tiêu, đạt 98,5 % so với ke hoạch; đào tạo, boi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý ở trong nước: 2.910 chı̉ tiêu, đạt 92,6% so với ke hoạch; boi dưỡng đại bieu Hội đong nhân dân các cap: năm cuối nhiệm kỳ không tổ chức bồi dưỡng kỹ năng hoạt động của Đại biểu HĐND; đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài: do tình hình dịch bệnh Covid 19 diễn biến phức tạp nên trong năm 2020 tỉnh không cử cán bộ, công chức, viên chức
ra nước ngoài bồi dưỡng
Về kinh phí thực hiện
Kinh phí từ ngân sách tỉnh giao thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức theo kế hoạch năm 2020: khối cơ quan Đảng, đoàn thể: 7.386 triệu đồng; khối
cơ quan quản lý nhà nước: 13.723 triệu đồng
- Kinh phí cấp cho của các cơ quan, đơn vị thực hiện công tác bồi dưỡng, tập huấn theo chức năng, nhiệm vụ, vị trí việc làm: 2.900 triệu đồng
- Kinh phí chương trình Mục tiêu quốc gia: 398 triệu đồng
Đánh giá kết quả thực hiện 05 năm thực hiện Quyết định 163/QĐ-TTg
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2016 -
2020 được tổ chức triển khai thực hiện theo đúng kế hoạch; các cơ quan, đơn vị đã quan tâm lựa chọn cử cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng đủ điều kiện, tiêu chuẩn đi đào tạo, bồi dưỡng theo quy định, trong đó ưu tiên đào tạo lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý
và nguồn quy hoạch, trước khi bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý, bồi dưỡng đáp ứng tiêu chuẩn ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức, bồi dưỡng cập nhật kiến thức, nghiệp vụ chuyên ngành theo vị trí việc làm
a) Đối với cán bộ, công chức cấp tỉnh
Căn cứ kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, các Sở, ban ngành đã thực hiện có hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức Đến năm 2020, 100% cán bộ, công chức của tỉnh đáp ứng các yêu cầu tiêu chuẩn quy định trước khi bổ nhiệm ngạch, bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý và 80% cán bộ, công chức được cập nhật kiến thức pháp luật, được bồi dưỡng về đạo đức công vụ; 70% được bồi dưỡng cập nhật kiến thức, kỹ năng, phương pháp thực thi công vụ
b) Đối với bồi dưỡng đại biểu HĐND các cấp
Để kịp thời trang bị kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ và phương pháp hoạt động đối với đại biểu HĐND các cấp của tỉnh, trong năm 2016 và 2017 UBND tỉnh Lạng Sơn ban hành kế hoạch
và tổ chức bồi dưỡng cho 5.868 đại biểu HĐND 03 cấp (cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã), kết quả 100% đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 được bồi dưỡng kiến thức pháp luật; kiến thức, kỹ năng và phương pháp hoạt động hoàn thành mục tiêu của Đề án c) Giai đoạn 2016 - 2020 thực hiện một số chương trình hợp tác quốc tế về công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực thông qua việc cử cán bộ, công chức, viên chức tham gia các chương trình đào tạo, bồi dưỡng tại nước ngoài (Pháp, Canada, Trung Quốc, New Zealand, Hàn Quốc) đối với 713 người và phối hợp với cơ sở đào tạo nước ngoài tổ chức mở lớp bồi dưỡng tại tỉnh (khóa bồi dưỡng nâng cao năng lực cán bộ do tỉnh phối hợp với Học viện LOGODI, Hàn Quốc tổ chức tại Lạng Sơn với 60 học viên tham gia) Trong năm 2020 tỉnh đã ban hành đề án đào tạo, bồi dưỡng trung hạn và ngắn hạn tại nước ngoài tuy nhiên việc lựa