1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận tìm hiểu phật giáo du nhập vào việt nam

10 93 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦUNhư chúng ta đã biết, Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, trong đó có những tôn giáo có tầm ảnh hưởng lớn trên thế giới như: Phật giáo, Kito giáo, Hồi giáo, Ấn độ giáo, Nho giáo,

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO



TIỂU LUẬN TÌM HIỂU QUÁ TRÌNH

DU NHẬP PHẬT GIÁO

VÀO VIỆT NAM

MÔN HỌC: TRIẾT HỌC

……, 12/ 2021

Trang 2

Contents 2

MỞ ĐẦU 3

1 Tổng quan Phật giáo 3

2 Khái quát lịch sử Phật giáo du nhập vào Việt Nam 4

3 Khái quát lịch sử Phật giáo Việt Nam phát triển thăng trầm từ thế kỉ X đến nay 5

a Phật giáo Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XVI 5

b Phật giáo Việt Nam từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XIX 6

c Phật giáo Việt Nam từ thế kỉ XIX đến nay 7

4 Phật giáo – điểm tương đồng với truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam 7

a Tinh thần bất khuất, độc lập 7

b Tinh thần đoàn kết 7

c Lòng bao dung và hiếu kính 8

KẾT LUẬN 8

Trang 3

MỞ ĐẦU

Như chúng ta đã biết, Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, trong đó có những tôn giáo có tầm ảnh hưởng lớn trên thế giới như: Phật giáo, Kito giáo, Hồi giáo, Ấn độ giáo, Nho giáo,…các tôn giáo đó ít nhiều ảnh hưởng đến nền văn hóa dân tộc Việt Nam Các tôn giáo từ bên ngoài du nhập vào Việt Nam nếu muốn tồn tại, phát triển cần phải biến đổi phù hợp điều kiện kinh tế, văn hóa, phong tục tập quán người Việt Nam Phật giáo là tôn giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm những năm đầu CN, tuy nhiên cũng đã trải qua những bước thăng trầm cùng lịch sử dân tộc ta Phật giáo có những ảnh hưởng to lớn đến tinh thần tâm linh, tâm lý, tín ngưỡng và dường như gắn liền với truyền thống, bản sắc dân tộc ta Sự hòa nhịp đồng điệu của Phật giáo với truyền thống dân tộc đã góp phần làm nên nét đặc sắc dân tộc, góp phần phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc khi đất nước đang bước vào thời kì đổi mới như hiện nay Đã có nhiều đề tài nguyên cứu Phật giáo trên thế giới nói chung, tại Việt Nam nói riêng do các nhà nghiên cứu lịch sử, tôn giáo, đã trở thành nguồn tư liệu có giá

trị lớn về văn hóa, tinh thần cho đất nước Để góp một phần nhỏ trong đó, tiểu luận “Tìm hiểu quá trình du nhập Phật giáo vào Việt Nam” được viết với mục đích làm phong phú hơn

cho nguồn tư liệu về tôn giáo, tạo sự thuận lợi cho việc tìm hiểu, nghiên cứu trong tương lai

1 Tổng quan Phật giáo

Phật giáo là hệ thống triết học – tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ thứ 6 TCN

ở bắc Ấn Độ Người sáng lập ra hệ thống triết học – tôn giáo này là Tất-Đạt-Đa-Cồ-Đàm (Siddharta), sinh vào ngày rằm tháng 4 âm lịch năm 624 TCN, tại Lumbini (thuộc bộ tộc Shakya) một gia đình hoàng tộc thuộc dòng Thích-ca Ngài đã từng theo học các tu sĩ Bà-La -Môn từ năm lên bảy, kết hôn năm 16 tuổi với công chúa Da-du-đà-la, mười ba năm sau đó sống trong cuộc đời vương giả, nhưng trong một đêm tháng Hai năm vừa tròn 29 tuổi, đã phát tâm rồi từ biệt hoàng cung đi tìm chân lý Trải qua sáu năm với những phương pháp tu hành theo phương pháp khổ hạnh chưa giác ngộ, nhưng chỉ sau 49 ngày nhập định dưới gốc cây bồ đề, ngài đã giác ngộ hoàn toàn ở tuổi 35 được tôn vinh là Sakyamuni

(Thích-ca-mâu-ni, bậc thánh của bộ tộc Sakya), Tất-Đạt-Đa ngộ rõ căn nguyên sinh thành, biến hóa của vũ trụ, căn nguyên của những khổ đau, và đề ra phương pháp diệt trừ nỗi khổ đó cho chúng sinh, bằng học thuyết “Nhân duyên sinh” và triết lý “Tứ diệu đế”, “Thập nhị nhân duyên”,

“Bát chánh đạo” Với những hệ thống triết học này đã đưa Ngài trở thành đức Phật Thích-ca đầy uy nghiêm tinh thần trong đời sống của người phương Đông hết thế hệ này đến thế hệ khác

Sau khi Thích-ca Mâu-ni nhập niết-bàn thì Phật giáo bắt đầu phân hóa ra thành nhiều nhánh (Nam tông, Bắc tông, Mật tông) và nhiều hệ tư tưởng khác nhau, với nhiều sự khác

Trang 4

biệt mặc dù cùng có xuất phát từ tư tưởng của Phật giáo nguyên thủy như những phân tích tiếp sau đây

Thế giới, vũ trụ, theo quan niệm Phật giáo, là luôn vận động, biến đổi, các biến đổi diễn ra nhanh như chớp mắt, và thế giới thì không có trước, không có sau, vô thủy, vô chung Đó cũng chính là lẽ vô thường, tức không có gì là tồn tại cố định, mà có đó, mất đó Con người cũng thuộc dòng chảy không ngừng đó, nên không gì là bản thân ta cả, tức vô ngã Những biến đổi này, nói theo ngôn ngữ hiện đại, là do tự thân vận động, không xuất phát từ bên ngoài, mà từ lẽ nhân duyên, theo luật nhân quả, nghiệp báo Tùy thuộc vào nghiệp báo mà biến đổi của các sinh linh diễn ra trong cõi phàm và siêu phàm, hoán chuyển

từ cõi này sang cõi kia, đó là luân hồi

Nhân sinh quan Phật giáo xuất phát từ quan niệm cho rằng đời là bể khổ, và nguyên nhân của nó là sinh, lão, bệnh, tử, là những ham muốn nhục dục, xuất phát từ sự che lấp trí tuệ bởi ngũ uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành, thức), làm cho ta cố chấp trong việc phân biệt cái ta

và cái khác ta, dẫn đến thái độ “ngã chấp”, trọng cái ta, khiến con người ta vô minh Muốn thoát khỏi bể khổ thì phải diệt dục, nhẫn nhục, từ bi, hỉ xả, hy sinh, đi theo con đường của bát chánh đạo: chánh kiến, chánh tư duy, chánh nghiệp, chánh ngữ, chánh mệnh, chánh tinh tiến, chánh niệm, chánh định

Những giáo lý mang nặng tính triết lý, đạo đức này đã có một ảnh hưởng sâu rộng lên phong tục, tập quán, văn hóa, văn minh của nhiều dân tộc, trong đó có Việt Nam ta

2 Khái quát lịch sử Phật giáo du nhập vào Việt Nam

Theo các tài liệu được ghi chép hiện nay, Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ hai con đường: từ Ấn Độ qua các đoàn buôn mà người Ấn đem vào nước ta những sinh hoạt và giáo

lý Phật giáo; con đường thứ hai là vào thế kỷ thứ III, do ảnh hưởng của Phật giáo Hán hóa (Phật giáo Đại thừa Trung Hoa) tiến từ phương Bắc xuống

Theo sử sách cổ Trung Hoa có ghi lại rằng, khoảng đầu công nguyên tại Luy Lâu (quận Giao Chỉ - có thể nay thuộc Bắc Ninh) tồn tại một trung tâm Phật giáo phát triển rất rực rỡ Điều đó cho thấy Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam từ rất sớm Trong quá trình mua bán, các tàu buôn từ Ấn Độ qua lại giao thương với vùng đất Giao Chỉ, các tàu buôn này đã mang theo văn hóa, tín ngưỡng, lễ nghi Đồng thời các thương nhân tàu buôn đem theo các tu sĩ, tăng sĩ người Ấn Độ để phục vụ những lễ nghi, tín ngưỡng, văn hóa tâm linh với những tháng ngày lênh đênh trên biển cả, cầu mong sự an bình Mặt khác, thời kỳ này dân cư Giao Chỉ vốn chỉ có tín ngưỡng riêng mình Họ coi trời đất là đấng tối cao, biết rõ mọi việc, giúp đỡ người hiền, trừng phạt kẻ ác Bên cạnh đó, họ cũng thờ Sơn thần, Thủy thần,…họ tin vào nguồn gốc Con Rồng cháu tiên của mình Những tín ngưỡng này có nhiều điểm tương đồng với hệ thống triết học Ấn Độ, do vậy Phật giáo được tiếp nhận một cách

Trang 5

khá thuận lợi khi du nhập vào Việt Nam Khi tiếp nhận Phật giáo người Giao Chỉ cũng bắt đầu nhận ra những quan niệm đầu tiên về nghiệp báo, luân hồi, bất diệt Bắt đầu xuất hiện những tu sĩ khoác áo vàng, đầu cạo trọc, rời bỏ gia đình, của cải, thờ Bụt, đọc kinh Phạn Người Giao Chỉ bắt đầu có khái niệm từ bi, bác ái về công đức Làm công đức cho kiếp sau được tốt đẹp, bố thí cho người nghèo

Con đường du nhập thứ hai vào thế kỷ thứ III, Phật giáo đại thừa từ Trung Hoa, tuy hình thành muộn nhưng phát triển mạnh mẽ và hoàn thiện, bắt đầu ảnh hưởng trở lại Phật giáo tại Luy Lâu Sách sử ghi nhận rằng trong thế kỷ này, các kinh sách về thiền đã được đem từ Lạc Dương xuống và Tăng hội cũng là một người có học thức, được đào tạo, lĩnh hội được tư tưởng Phật giáo Đại thừa Trung Hoa Đại thừa (Mahayana) hoàn toàn không xa rời Phật pháp nhưng về chủ trương nó khác so với Tiểu thừa (Hinayana) vốn xuất phát từ Phật giáo nguyên thủy Có thể nói những quan niệm, chủ trương của Đại thừa – một trong những tông phái lớn nhất của Phật giáo (tông phái lớn khác là Kim Cương thừa) có xuất phát điểm

từ Trung Hoa, đã có sự xâm nhập mạnh mẽ xuống phía nam kể từ thế kỷ thứ 3 trở đi, để lại những dấu ấn phổ biến trong sinh hoạt Phật giáo, cũng như trong tín ngưỡng dân gian Sự thâm nhập Phật giáo từ phương bắc sau đó còn được thể hiện ở việc xuất hiện các thiền sư lớn, những người sáng lập ra những thiền phái có vị trí lớn trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, đều ít nhiều có liên hệ và tiếp thu từ Phật giáo Trung Hoa

Sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam được cho là hoàn tất vào thế kỉ X Phật giáo Việt Nam đã có những nền tảng vững chắc để phát triển rực rỡ trong giai đoạn này, làm tiền

đề cho sự hình thành văn hóa đặc sắc, gắn liền với đời sống tinh thần của dân tộc ta

3 Khái quát lịch sử Phật giáo Việt Nam phát triển thăng trầm từ thế kỉ X đến nay

a Phật giáo Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XVI

Phật giáo giai đoạn này được coi là phát triển mạnh mẽ, rực rỡ nhất dưới thời nhà Lý, nhà Trần Sau khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán (năm 938), chấm dứt một ngàn năm Bắc thuộc, mở ra kỷ nguyên độc lập cho dân tộc ta

Sang đời nhà Đinh, lần đầu tiên trong lịch sử, vua Đinh Tiên Hoàng lập chức Tăng thống Phật giáo (người đứng đầu Giáo hội), và đặt chức quan Tăng lục, nhiều chùa chiềng, thiền viện được xây dựng, kinh sách được thỉnh về đầy đủ

Đời nhà Lý được đánh dấu bằng sự kiện vua Lý Thái Tổ lên ngôi, dời đô từ Hoa Lư

về Thăng Long Sự kiện này, người có công lớn là thiền sư Vạn Hạnh, một vị sư có tài, hiểu biết sâu rộng, có lòng yêu nước, hình ảnh vị quốc sư Vạn Hạnh đại diện cho tu sĩ Phật giáo Việt Nam đóng góp cho quá trình đánh đuổi giặc ngoại xâm Sau khi dời đô về Thăng Long, vua Lý Thái Tổ sai người đi thỉnh đại sư từ Trung Hoa, cho xây dựng hàng loạt ngôi chùa tại

Trang 6

Kinh đô, trong và ngoài thành mà đến nay vẫn còn như: chùa Hưng Phước, Thắng Nghiêm, Vạn Tuế, Cẩm Y, Long Hưng Thánh Thọ, chùa Một Cột, … và nhiều đài kinh các

Dưới thời nhà Lý, ngoài dòng thiền xuất hiện trước đó tồn tại thì cũng ra đời các dòng thiền Thảo đường, xuất hiện các thế hệ truyền thừa chính thức chứ không phải là giới xuất gia như trước mà đa phần là cư sĩ Đây là đặc điểm nổi bậc của Phật giáo phát triển phù hợp tình hình mới của dân tộc Việt Nam

Tuy nhiên, sang thời nhà Trần, Phật giáo mới có sự chuyển biến rõ rệt Sau khi Trần Nhân Tông lên ngôi (1278), vua sáng lập dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, tư tưởng chủ yếu là quan niệm “tức tâm tức Phật” Đặc điểm phương pháp tu hành này dòng thiền này không chỉ Thiền định mà bao gồm cả Tịnh độ, một nét chính của Thiền tông Việt Nam Phật giáo dưới thời nhà Trần là một nền Phật giáo nhập thế, đưa Phật pháp hòa nhập vào đời sống xã hội thành chuẩn mực đạo đức, định hướng cho đời sống nhân dân Như vậy, có thể nói triều đại nhà Trần là một triều đại Phật giáo, cùng với nhân dân tạo nên nhiều chiến công hiển hách,

ba lần đánh tan quân xâm lược Nguyên - Mông và đạt được nhiều thành tựu rực rỡ trong công cuộc xây dựng đất nước

Từ cuối thế kỉ XIV, nhà Trần suy yếu, năm 1400, Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần lập nhà

Hồ, tuy nhiên chính quyền không được lòng dân, nên đã thất bại trước sự xâm lược của nhà Minh Giặc Minh đã tiêu hủy di sản văn hóa dân tộc, thay vào đó chúng áp đặt văn hóa Hán, Phật giáo cũng phải đối mặt với những khó khăn

Năm 1428 cuộc kháng chiến chống Minh cứu nước do Lê Lợi lãnh đạo thành công, lập nên triều đại Hậu Lê Lúc này Phật giáo vẫn chiếm hệ tư tưởng chủ đạo trong đời sống dân tộc Việt Nam Giai đoạn này vẫn kế thừa, tiếp tục phát triển nổi bật với đại diện tiêu biểu là gương mặt Nguyễn Trãi, người đã lấy tư tưởng Phật giáo xây dựng quan niệm nhân nghĩa trong tư tưởng quân sự của mình

Đến cuối thế kỉ XVI, nhà hậu Lê mục nát, đất nước rơi vào thời kì rối ren, phân chia thành Đàng trong, Đàng ngoài, Phật giáo cũng bước sang giai đoạn mới theo ngã rẽ lịch sử

b Phật giáo Việt Nam từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XIX

Giai đoạn này, các dòng thiền từ Trung Quốc được truyền bá vào nước ta và có ảnh hưởng nhất định Thế kỉ XVII dòng thiền Tào động - xuất thân từ Trung Quốc được truyền đến nước ta, ảnh hưởng cả Đàng trong lẫn Đàng ngoài Dòng thiền Tào động phát triển chủ yếu Đàng trong; bên cạnh đó, dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử từ đời nhà Trần phát triển mạnh

mẻ Đàng ngoài

Thế kỉ XVIII, xã hội ta rơi vào cuộc khủng hoảng ý thức hệ trầm trọng, Phật giáo đã

có nhiều nỗ lực nhằm tìm cách xây dựng một hệ ý thức mới phù hợp yêu cầu cả thời đại

Trang 7

phục hồi ý thức hệ Nho giáo cực kì phản động, đưa đất nước đến chỗ bế tắc, dân tộc ta rơi vào nạn ngoại xâm Năm 1858, thực dân Pháp chính thức nổ súng xâm lược nước ta, triều Nguyễn đầu hàng vô điều kiện, khắp nơi diễn ra các cuộc đấu tranh phản kháng, trong đó có những thành viên Phật giáo Điển hình cho các cuộc chống Pháp cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ

XX như các vị sư Nguyễn Văn Quý, Trần Văn Thành, Cao Văn Long,…

c Phật giáo Việt Nam từ thế kỉ XIX đến nay

Phật giáo những năm đầu thế kỉ XX chuyển sang giai đoạn chấn hưng, bắt đầu có sự khởi sắc Tuy nhiên, thực dân Pháp khi cai trị dựa vào đạo Công giáo, gây chèn ép cho Phật giáo, chính vì vậy nhiều phong trào chống kỳ thị và đàn áp Phật giáo, phát động phong trào yêu nước chống đế quốc Pháp xâm lược Do hoàn cảnh lịch sử, nên có sự khác biệt nhất định giữa Phật giáo miền Bắc và Phật giáo miền Nam Nếu như Phật giáo miền Bắc vẫn kế thừa bản chất vốn có của nó, thì Phật giáo miền Nam rất đa dạng không chỉ về hệ phái, cách bố cục trong chùa, về giáo lý mà còn trong sự hòa quyện với các dân tộc khác, hoặc thậm chí xuất hiện đạo mới (đạo Hòa Hảo, Cao Đài, ) Phật giáo đã góp phần vào thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ vĩ đại của dân tộc ta

Năm 1981, sau khi thống nhất đất nước, các tổ chức Phật giáo cả nước đã tổ chức đại hội, thống nhất làm một và lấy tên “Giáo hội Phật giáo Việt Nam” Sau đó, Đại hội thông qua hiến chương, chương trình hành động và bầu ra cơ quan lãnh đạo các cấp Theo thống

kê, hiện nay cả nước có hơn 14.303 ngôi tự viện, trong đó gồm 13.312 tự viện Bắc tông, 469

tự viện Nam tông nguyên thủy và Khmer, 142 tịnh xá khất sĩ, 95 tịnh thất và 185 niệm Phật đường…

Ngoài ra, giáo hội Phật giáo Việt Nam đã thành lập Viện nghiên cứu Phật học tại thành phố HCM và Phân viện nghiên cứu tại Hà Nội, thành lập Hội đồng phiên dịch và ấn hành Đại Tạng Kinh Việt Nam Gần đây, Phật giáo bắt đầu chú ý đến việc nâng cao hiểu biết cho Tăng ni và tín đồ bằng các buổi thuyết giảng, in ấn các loại sách, tham gia vào công tác

xã hội, làm từ thiện, v.v các sư tăng bắt đầu tham gia công việc của nhà nước, chính quyền địa phương với tư cách là đại biểu Quốc hội Phật giáo đang ngày càng góp phần tích cực đời sống tinh thần nhân dân, giữ gìn truyền thống văn hóa, đạo đức của dân tộc và sự phát triển lành mạnh của xã hội

4 Phật giáo – điểm tương đồng với truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam

a Tinh thần bất khuất, độc lập

Dân tộc ta vốn có truyền thống anh hùng, bất khuất của tổ tiên, không chịu cúi đầu làm nô lệ ngoại bang Phật giáo cũng có những tinh thần như vậy, Phật là đấng đại hùng, đại lực, cương quyết đập tan mọi xiềng xích: xiềng xích do chế độ giai cấp đạo Ba-la-môn tại

Ấn Độ; xiềng xích tại bản thân do ngũ dục trói buộc; xiềng xích do nội tâm tham, sân, si Tất

Trang 8

cả mọi xiềng xích đó, Đức Phật không bao giờ chịu khuất phục, cuối cùng ngài đã chiến thắng dưới gốc Bồ-đề và trở thành bậc Đại giác ngộ

b Tinh thần đoàn kết

Phật giáo dạy rằng chúng Tăng phải có bản chất Lục hòa, có hòa thuận mới có tin yêu, đoàn kết Muốn trở thành một tu sĩ Phật giáo trước hết phải đạt thành tựu Lục hòa, cho nên tinh thần đoàn kết là then chốt trong Phật giáo Trước tiên phải có hòa kính, nhân hậu mới có đoàn kết, đoàn kết là một sức mạnh phi thường, không việc gì không làm được Nước Việt Nam ta đã trải qua cả ngàn năm Bắc thuộc, cả trăm năm Pháp thuộc, ba mươi năm chống Mỹ, vận mệnh dân tộc ta lúc nào cũng đối mặt với họa xâm lăng nên tinh thần đoàn kết của dân tộc ta luôn được thể hiện Tinh thần đoàn kết đã thấm sâu trong tim và dòng máu của người Việt Nam, nó luôn được phát huy trong mọi hoàn cảnh để cùng nhau vươn lên

c Lòng bao dung và hiếu kính

Phật giáo luôn đề cao tinh thần bao dung, thừa nhận tất cả chúng sinh đều có Phật tính, lòng bao dung; đã có Phật tính thì các chúng sinh do hành nghiệp bất đồng bị quả báo sai biệt nhưng Phật tính vẫn đầy đủ như nhau Bởi hành nghiệp bất đồng nên chúng sinh chiêu cảm thân thể, ngôn ngữ, tư tưởng, hành động khác nhau Như vậy, chúng ta không thể bắt buộc mọi người đều hiểu biết, hành động như ta được Bởi theo quan điểm này, Phật giáo không bao giờ kỳ thị các tôn giáo khác, trái lại còn bao dung, thân hòa Bằng chứng trong lịch sử Việt Nam, thời nhà Lý và nhà Trần là thời đỉnh cao của Phật giáo, khoa thi Tam giáo vẫn được mở ở đời Lý Nhân Tông và chủ trương Tam giáo Đồng Nguyên thịnh đạt nhất đời Trần Nhân Tông, một vị vua hiểu biết rất nhiều về Phật giáo

Phật giáo đặc biệt chú ý đặc biệt đến lòng hiếu thảo của người làm con Những Kinh điển trong Phật giáo dạy con người hiếu kính cha mẹ như Kinh Báo Phụ Mẫu Ân, Kinh Thai Cốt, Kinh Hiếu Tử, Kinh Đại Tập, Kinh Nhẫn Nhục, Kinh Vu Lan,…cho đến trong Luật Phật liệt tội bất hiếu đứng đầu trong “Ngũ nghịch”, bởi Phật giáo luôn đặt trọng chữ hiếu do vậy Phật giáo phù hợp với tinh thần dân tộc Việt Nam Tinh thần hiếu kính trong Phật giáo

đã gieo mầm và ăn sâu trong tinh thần dân tộc, trở thanh một truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam

KẾT LUẬN

Đất nước ta đang bước vào quá trình đổi mới, hội nhập xu hướng chung của thế giới,

do đó phải đối mặt không ít những khó khăn, thử thách, nguy cơ đánh mất giá trị văn hóa truyền thống Mặt khác, trong nền văn hóa đa tôn giáo như Việt Nam, Phật giáo đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần, góp phần to lớn trong quá trình xây dựng, bảo vệ tổ

Trang 9

Phật giáo, quan tâm tới sự phát triển của tôn giáo nói riêng và Phật giáo nói chung Tinh thần Phật giáo và tinh thần yêu nước của dân tộc ta từ lâu đã gắn bó mật thiết với nhau, việc giữ gìn và phát huy những điểm tích cực trong Phật giáo luôn tạo ra những điểm tích cực đến nền văn hóa và tinh thần dân tộc Như vậy, với sự du nhập Phật giáo vào nước ta, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam đa dạng, tiên tiến, đạm đà bản sắc dân tộc, đưa đất nước Việt Nam vững bước phát triển trên con đường quá độ lên XHCN./

Trang 10

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Lịch sử Phật giáo Việt Nam – Lê Mạnh Phát – NXB Thuận Hóa

2 Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý – Trần – NXB KHXH

3 Phật giáo với văn hóa Việt Nam – Nguyễn Đăng Duy – NXB Hà Nội 1999

Ngày đăng: 31/12/2021, 11:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w