Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng cổ Phước Tích-Phong Hòa Phong Điền-Thừa Thiên Huế Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến những bước phát triển mạnh mẽ của quá trình khu vực hóa, toàn...
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT KHOA NGỮ VĂN & VĂN HÓA HỌC
NGÀNH VĂN HÓA HỌC
- -
VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA LÀNG CỔ PHƯỚC TÍCH – PHONG HÒA
PHONG ĐIỀN – THỪA THIÊN HUẾ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC K32
GVHD : Th.S Võ Thị Thùy Dung SVTH : Trần Văn Huy
Đà Lạt, tháng 5 năm 2012
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, cũng như trong quá trình học tập tại
trường Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới :
- Ban giám hiệu Trường Đại Học Đà Lạt
- Quý thầy cô khoa Ngữ Văn & Văn hóa Học đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
- Thư viện tổng hợp tỉnh Thừa Thiên Huế
- UBND huyện Phong Điền, Phòng Văn hóa thông tin huyện
- UBND xã Phong Hòa, Ông Nguyễn Thế, Phó phòng văn hóa thông tin Huyện, Trưởng ban quản lý làng cổ Phước Tích, Bác Hoàng Tấn Minh, trưởng thôn Phước Phú cùng toàn thể bà con dân làng Phước Tích đã cho tôi nhiều tư liệu quý báu để hoàn thành khóa luận
Nhân đây, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình người thân và bạn bè đã quan tâm, động viên tôi trong quá trình học tập cũng như làm khóa luận
Đặc biệt tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc tới Th.S Võ Thị Thùy Dung đã tận
tình giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này
Đà Lạt, ngày 25 tháng 5 năm 2012
Tác giả
Trần Văn Huy
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những kết quả và số liệu trong khóa luận là trung thực và chưa được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước khoa và nhà trường về lời cam
đoan này
Đà Lạt, ngày 25 tháng 5 năm 2012
Tác giả
Trần Văn Huy
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của khóa luận 7
7 Bố cục của khóa luận 7
CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN VÀ NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH LÀNG PHƯỚC TÍCH 8
1.1 Điều kiện tự nhiên 8
1.1.1 Vị trí địa lý hành chính 8
1.1.2 Đặc điểm khí hậu 9
1.1.3 Hệ thống giao thông 10
1.1.4 Hệ thống sông ngòi, ao hồ 11
1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 13
1.2.1 Dân số 13
1.2.2 Tình hình kinh tế 14
1.2.3 Tình hình xã hội 14
1.3 Nguồn gốc hình thành làng Phước Tích 15
1.3.1 Lịch sử hình thành làng Phước Tích 15
1.3.2 Ngài khai canh làng Phước Tích 17
CHƯƠNG 2 VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG LÀNG CỔ PHƯỚC TÍCH 20
2.1 Văn hóa vật chất 20
2.1.1 Văn hóa cảnh quan kiến trúc của làng 20
2.1.2 Văn hóa vật thể đình, chùa, đền miếu, nhà rường cổ 21
2.2 Văn hóa tinh thần 22
2.2.1 Tín ngưỡng 22
2.2.2 Tôn giáo 38
2.2.3 Phong tục tập quán 39
Trang 52.2.4 Lễ hội 49
2.2.5 Trò chơi dân gian 52
2.3 Văn hóa xã hội 56
2.3.1 Dòng họ 56
2.3.2 Văn hóa dòng họ, xóm, phe 56
2.4 Văn hóa làng nghề truyền thống 57
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG, GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
GIÁ TRỊ VĂN HÓA LÀNG PHƯỚC TÍCH 59
3.1 Vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa làng cổ Phước Tích 59
3.1.1 Những thành tựu của việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa 59
3.1.2 Những hạn chế của việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa 60
3.1.3 Nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém trong bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa 63
3.2 Những giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa làng cổ .64
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến những bước phát triển mạnh mẽ của quá trình khu vực hóa, toàn cầu hóa Sự phát triển mới trong quan hệ giao lưu quốc tế đòi hỏi mỗi quốc gia, dân tộc phải khẳng định tính độc lập tự chủ của mình Nhân tố quan trọng nhất để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện của mỗi nước chính là sức mạnh văn hóa Chính vì vậy, vấn đề gìn giữ và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống không còn là vấn đề của từng quốc gia riêng rẽ mà đã mang tính toàn cầu và khu vực
Phước Tích là một làng cổ của tỉnh Thừa Thiên Huế có nền văn hóa lâu đời Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử dân làng vẫn giữ gìn và tiếp tục phát huy những tinh hoa trong vốn văn hóa truyền thống của làng mình Tuy nhiên, dưới tác động của quá trình đô thị hóa, sự giao lưu văn hóa phần nào đã làm mai một dần văn hóa truyền thống Những năm gần đây, xu hướng mở cửa đã thúc đẩy nền kinh tế, xã hội của tỉnh Thừa Thiên Huế phát triển và tăng trưởng nhanh, đó là dấu hiệu đáng mừng
ở một tỉnh mà đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn Tuy nhiên trong một chừng mực nhất định, những tác động không thuận lợi của cơ chế thị trường nếu chúng ta không có những định hướng, giải pháp kịp thời thì hậu quả thật khó lường, bởi tác động đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến không gian lịch sử, văn hóa, cảnh quan truyền thống của các di tích lịch sử - văn hóa, không chỉ riêng ở thành phố Huế, mà còn có thể xảy ra ở nhiều địa phương khác Làng cổ Phước Tích cũng không phải là một ngoại lệ
Trong tinh thần hướng về cội nguồn, hướng về văn hóa làng xã - nơi nuôi dưỡng văn hóa dân tộc - việc tìm hiểu các giá trị văn hóa truyền thống của ngôi làng
cổ Phước Tích để từng bước bảo tồn và tiến hành phục dựng các giá trị văn hóa là một việc làm vô cùng cấp thiết
Bên cạnh đó, việc bảo tồn - phát huy các giá trị văn hóa truyền thống làng Phước Tích hiện nay còn nhiều hạn chế do các điều kiện kinh tế, xã hội và sự nhận thức của con người còn nhiều bất cập so với yêu cầu đặt ra Vì vậy, vấn đề bảo tồn
Trang 7và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống ở làng hiện nay cần được nghiên cứu cả trên bình diện lý luận lẫn thực tiễn
Chính vì những lý do trên mà chúng tôi đã chọn đề tài “Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng cổ Phước Tích – Phong Hòa – Phong Điền – Thừa Thiên Huế” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình Hy vọng qua đó có thể góp
một phần công sức trong việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc nói chung cũng như cho sự phát triển của làng cổ Phước Tích nói riêng
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài khảo sát, thu thập tư liệu về tình hình văn hóa – xã hội truyền thống của làng từ lúc hình thành cho đến nay, qua đó cho thấy khả năng bảo tồn và phát huy trong tương lai Bởi bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Việc điều tra sưu tầm, nghiên cứu văn hóa của làng cổ Phước Tích (Phong Hòa – Thừa Thiên Huế) cũng không ngoài mục tiêu đó
Thông qua việc nghiên cứu, những giá trị văn hóa của làng cổ sẽ được khắc họa Trên cơ sở đó, người nghiên cứu sẽ đề xuất những biện pháp khôi phục lại những vẻ đẹp truyền thống, phục dựng lại nghề gốm cổ truyền, các công trình mang sắc thái văn hóa của địa phương
(Nxb Chính trị quốc gia, 2004) Đây được xem là những công trình tiêu biểu, có đóng góp to lớn trong việc tìm hiểu, nghiên cứu văn hóa làng của người Việt Đồng thời, đây cũng là những công trình đóng vai trò gợi mở, định hướng cho người
nghiên cứu trong quá trình thực hiện khóa luận
Trang 8Nghiên cứu văn hóa Huế nói chung và làng cổ Phước Tích nói riêng đã thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu văn hóa Được biết đến sớm nhất
là bản chép tay Nghề gốm Phước Tích, (1971) của cụ Nghè Lê Trọng Ngữ (người
làng Phước Tích) Cuốn sách đã ghi chép lại lịch sử hình thành nghề gốm, vùng đất chọn làm gốm, cách thức cũng như quy trình sản xuất gốm Tuy nhiên, tác giả chỉ dừng lại ở việc viết về nghề gốm truyền thống của làng mà chưa đi sâu vào các giá trị văn hóa khác của làng như : nhà rường cổ, đền miếu…
Bản chép tay Nghề gốm Phước Tích của Lê Trọng Ngữ đã làm tiền đề cho các
nhà nghiên cứu đi sau tìm hiểu về làng cổ này Dựa vào những tư liệu của người đi
trước, tác giả Nguyễn Hữu Thông đã công bố công trình Huế - Nghề và làng nghề thủ công truyền thống, (Nxb Thuận Hóa, 1994) Cũng giống như Lê Trọng Ngữ,
tác giả cũng chỉ mới đề cập đến phương diện nghề gốm truyền thống của làng mà chưa nêu lên được các giá trị văn hóa khác
Năm 2004, hội Kiến trúc sư Việt Nam - Sở Văn hoá Thông tin Thừa Thiên
Huế - Ủy ban nhân dân huyện Phong Điền đã xuất bản công trình Làng di sản Phước Tích Điều đáng ghi nhận là công trình đã đề cập khá toàn diện về những giá
trị truyền thống của làng
Gần đây nhà nghiên cứu văn hóa Huế Nguyễn Hữu Thông (chủ biên) đã công
bố công trình Từ Kẻ Đôộc đến Phước Tích – chân dung ngôi làng gốm cổ bên dòng
Ô Lâu do Nxb Thuận Hóa ấn hành năm 2011 Trong cuốn sách này, ông đã chỉ ra
cho chúng ta thấy bức tranh văn hóa khá toàn diện về làng Phước Tích Tuy nhiên cũng chỉ mới dừng lại ở những nét văn hóa tiêu biểu của làng như nghề gốm truyền thống, kiến trúc, tín ngưỡng tâm linh, mà chưa đưa ra những biện pháp, cũng như định hướng để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của làng
Ngoài những công trình nghiên cứu kể trên, cũng có khá nhiều bài viết tìm
hiểu về văn hóa làng Phước Tích như GS.TS.KTS Hoàng Đạo Kính có bài “Làng
cổ Phước Tích – thử nhìn nhận các giá trị và đề xuất hướng phát triển nối tiếp” (in trong Kỷ yếu Làng di sản Phước Tích, 2004) đã cho chúng ta biết được những giá
trị văn hóa đặc sắc của làng như nhà rường, nhà vườn, nghề gốm…và cũng đã đề xuất được các hướng phát triển cho làng Phước Tích Tuy nhiên, vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng chưa được ông quan tâm chú trọng
Trang 9Cũng trong Kỷ yếu Làng di sản Phước Tích, tác giả Nguyễn Phước Bảo Đàn với bài viết “Làng gốm Phước Tích – thực trạng và triển vọng” đã đưa ra nhiều
thông tin thú vị về nghề gốm truyền thống của làng cùng những thuận lợi và khó khăn mà làng gốm đang gặp phải và những triển vọng phát triển trong tương lai Nhìn chung, các nhà nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu một cách tổng quan hoặc đề cập đến làng Phước Tích ở một vài khía cạnh đơn lẻ Chưa có một công trình nào đi sâu tìm hiểu vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng
cổ
Kế thừa những thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước, cùng quá trình điền
dã tại làng, chúng tôi mạnh dạn chọn vấn đề này làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình Hy vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ bé vào công cuộc bảo tồn và phát huy các giá trị của nền văn hóa dân tộc nói chung cũng như văn hóa truyền thống làng Phước Tích nói riêng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu các giá trị văn hóa của làng cổ Phước Tích với những biểu hiện phong phú, đa dạng mà phức tạp của nó, để qua đó tìm ra giải pháp bảo tồn và phát huy
Phạm vi nghiên cứu của khóa luận là toàn bộ các giá trị văn hóa truyền thống như: phong tục tập quán, lễ hội, tôn giáo tín ngưỡng, nghề thủ công truyền thống, các công trình văn hóa…, của làng Phước Tích còn tồn tại đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chủ yếu được chúng tôi sử dụng trong quá trình thực hiện khóa luận là phương pháp điền dã dân tộc học Trong quá trình điền dã chúng tôi đã sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu, quan sát, tham dự…nhằm ghi nhận đầy đủ các thông tin và nội dung phù hợp với đề tài
Phương pháp phân tích, tổng hợp là phương pháp quan trọng được sử dụng trên cơ sở các nguồn tư liệu thu thập được Nhằm đem lại những kết luận khoa học
và khách quan nhất Ngoài ra, chúng tôi còn vận dụng các phương pháp như liên ngành Văn hóa – Xã hội học, phương pháp định tính…, một cách phù hợp nhất đáp ứng mục tiêu của đề tài
Trang 106 Đóng góp của khóa luận
Thực hiện khóa luận, chúng tôi mong muốn góp phần mang đến cái nhìn đầy
đủ, toàn diện về văn hóa truyền thống của làng Phước Tích Qua đó chỉ ra những thuận lợi và khó khăn trong công tác bảo tồn để đề xuất giải pháp cho việc phục hồi, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của làng cổ Phước Tích – Phong Hòa – Thừa Thiên Huế
Ngoài ra, khóa luận sẽ góp phần vào việc làm sáng tỏ thêm một mảng trong bức tranh văn hóa đa màu của dân tộc mà Phước Tích là vùng đất điển hình
7 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận được triển khai trong 3 chương :
Chương 1 Tổng quan về địa bàn và nguồn gốc hình thành làng Phước Tích Chương 2 Văn hóa truyền thống làng cổ Phước Tích
Chương 3 Thực trạng, giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng Phước Tích
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN VÀ NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH
Không những vậy, làng còn có hàng loạt hệ giá trị văn hóa được xem là đầy
đủ, độc đáo và hiếm hoi Cụ thể như: hệ thống thiết chế kiến trúc văn hóa tín ngưỡng như đình, chùa, hệ thống nhà thờ họ, đền, miếu, am cảnh quan thiên nhiên
và cảnh quan xóm làng nhuần nhị, xanh tươi ngút ngàn Đặc biệt là không gian và văn hóa sống cộng đồng đặc trưng, thuần khiết của làng quê Việt còn được tiếp tục bảo tồn, duy trì tại làng
Làng Phước Tích xưa thuộc tổng Phò Trạch, Phủ Thừa Thiên, đến năm 1945 thuộc xã Phong Lâu, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Sau này khi sáp nhập huyện và tỉnh thì đổi là xã Phong Hòa, huyện Hương Điền (Phong Điền + Hương Điền), tỉnh Bình - Trị - Thiên (Quảng Bình + Quảng Trị + Thừa Thiên), nay lại phân chia lại theo địa lý như cũ: thôn Phước Phú thuộc xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế
Về địa lý, làng Phước Tích nằm ở vị trí 16035' độ vĩ Bắc và 107005' độ kinh Đông, có diện tích khoảng 1km2
Địa thế khá đặc biệt : Sông Ô Lâu bao bọc quanh làng trừ lối thông ra ngoài tại Cống (Trước đây gọi là Cống ông Khóa Thạo) ở phía chính Bắc và cầu Phước Tích ở phía Tây - Tây Nam, phía Bắc và Đông Bắc giáp
Trang 12các làng Phú Xuân, Mỹ Xuyên, Mỹ Cang, đi về Ưu Điềm (thị trấn - huyện lỵ cũ của huyện Phong Điền) khoảng 4 km theo hướng Đông Bắc
Phía Tây Nam là làng Mỹ Chánh, chợ và ga Mỹ Chánh, từ ga Mỹ Chánh theo đường sắt vào cố đô Huế là 40 km và theo đường Quốc lộ 1 thì từ cầu Mỹ Chánh ra Quảng Trị là 19 km Phía Nam là làng Hội Kỳ - nơi có mộ phần ngài Thủy tổ của
họ Lê Trọng ở Phước Tích Làng Phước Tích bao gồm cả Hà Cát xứ ở hữu ngạn sông Ô Lâu dành làm nghĩa trang, nơi để mộ phần của những người quá cố Đây vốn là một doi cồn cát Phía Tây Bắc làng có một cái hà (hồ) rộng khoảng 2 mẫu, theo truyền thuyết thì doi cồn cát là cây bút còn cái hồ là nghiên mực.[15,56]
Có lẽ do vậy mà người làng Phước Tích thường theo nghiệp bút nghiên và có tiếng là làng hiếu học, nhiều người đỗ đạt, ở thời kỳ nào của lịch sử cũng có người
đỗ đạt cao, làm những chức quan to cả văn lẫn võ, có công với triều đình, nhà nước
và xã hội Trong làng còn có 1 đền văn miếu tồn tại cho đến bây giờ, có những cây
cổ thụ tuổi thọ đến trên 600 năm như cây Thị ở "miếu Cây Thị" (có bộng rỗng có
thể chứa cả 1 tiểu đội du kích trong kháng chiến) hay cây Bàng trước từ đường họ
Hồ, cây Cừa (Si) ở Bến cây Cừa cũng có tuổi thọ khoảng 400 năm Bến cây Cừa là nơi đông người qua lại, người trong làng hay xuống bến gánh nước hoặc xuống tắm, đây cũng là một trong những nơi đưa người quá cố qua Hà Cát xứ bằng thuyền, năm Đinh Tỵ - 1977 do bão lụt nên cây Cừa đã đổ, hiện nay đã có một số gốc Cừa con mọc lại
1.1.2 Đặc điểm khí hậu
Phước Tích nằm trong vùng khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa, nhiệt
độ trung bình cao Số ngày nắng kéo dài trong mùa hạ, thường có gió nồm (Đông Bắc) đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của gió Lào (Tây Nam) loại gió này mang tính chất "phơn" rất nóng và khô cho nhiệt độ càng tăng cao Dẫn đến làm cho thời kỳ khô nắng kéo dài ảnh hưởng trực tiếp đến công việc sản xuất trong làng
Vào mùa đông nhiệt độ thường xuống thấp thất thường, hay chịu tác động của những đợt áp thấp nhiệt đới dẫn đến mưa lớn kéo dài gây nên bão tố, lũ lụt, xói mòn
Trang 13Bao quanh Phước Tích là dòng Ô Lâu, đây là ưu đãi của thiên nhiên dành cho mảnh đất này Dòng sông đã mang lại nguồn lợi lớn cho nhân dân Phước Tích từ bao thế kỷ nay Do chịu ảnh hưởng chung của địa hình miền Trung nên sông ngắn,
độ dốc chênh lệch lớn, vào mùa nắng nước sông xuống thấp, mùa mưa nước dâng lên cao gây lũ lụt Tuy nhiên dòng sông là nơi có nguồn thủy sản, rong rêu mang giá trị lớn về mặt kinh tế cũng như đời sống sinh hoạt của cư dân làng
1.1.3 Hệ thống giao thông
Về phương diện giao thông, từ xưa Phước Tích đã có nhiều thuận lợi về đường thủy lẫn đường bộ Dòng Ô Lâu và chi nhánh của nó chảy xuyên qua hầu hết địa phận cư trú của các làng từ Phước Tích, Phú Xuân, Mỹ Xuyên đến Ưu Điềm Đây
là tuyến giao thông đường thủy quan trọng vào bậc nhất không riêng gì đối với làng
mà cả đối với nhân dân các xã trong vùng Từ Phước Tích, người dân có thể sử dụng thuyền để lên rừng khai thác lâm thổ sản, ra đầm phá đến cửa biển vào Thanh
Hà - Phú Xuân - Huế để giao lưu kinh tế, văn hóa
Phước Tích cách quốc lộ 1A khoảng 2km nằm trên đường quốc lộ 49B có vị trí thuận lợi cho việc đi lại vận chuyển, khai thác nguyên vật liệu, lưu thông hàng hóa, dễ dàng cho việc đón nhận, tiếp xúc những luồng văn hóa, tư tưởng từ nơi khác tới
Với vị trí giao thông thuận lợi, Phước Tích ngày càng được mở rộng và hoàn chỉnh thêm, góp phần thích đáng cho sự giao lưu kinh tế - văn hóa - xã hội
Điều kiện tự nhiên thuận lợi như vậy tạo đã cho Phước Tích nhiều ưu thế để phát triển một nền kinh tế toàn diện, tác động đến quá trình định cư lập nghiệp, phát triển kinh tế của mỗi người dân ngay từ buổi đầu
Tuy nhiên, do có sông Ô Lâu bao quanh, Phước Tích bị bó lại trong một tổng thể không thể thoát ra được, đất đai không có khả năng mở rộng ra, sự giao lưu bên ngoài bị hạn chế, người dân có cuộc sống khép kín, hướng nội
Điều kiện tự nhiên đã mang lại thuận lợi cùng với khó khăn đến cho nhân dân Phước Tích Để tồn tại và phát triển cho đến ngày nay người dân Phước Tích phải sống trên những thách thức và trở ngại, phải biết tận dụng những ưu đãi để vượt qua các chướng ngại vật phục vụ cho cuộc sống
Trang 141.1.4 Hệ thống sông ngòi, ao hồ
- Sông Ô Lâu
Phước Tích không những có giá trị vật thể do bàn tay con người tạo dựng mà
có cả những di sản do thiên nhiên ban tặng, hòa quyện, đan xen, tạo cho ngôi làng
có được cái giá trị quý hiếm toàn diện Trong đó phải kể đến dòng sông Ô Lâu, một dòng sông đẹp
Dòng sông được khởi nguồn từ những khe suối của dãy Trường Sơn hùng vĩ, nguồn sông cao hơn mặt nước biển ước khoảng 500 mét, chảy ngang qua địa phận Khe Trăng, Khe Trái, Huỳnh Trúc, Huỳnh Liên, thôn Hòa Mỹ, Phong Thu, Mè, Mỹ Xuyên (phía thượng nguồn) rồi chầm chậm chảy qua dãy đá giăng vào địa phận làng Phước Tích, nương theo đôi bờ, uốn lượn, bao quanh từ phía đầu làng nơi có miếu thờ ngài Khai Canh đến tận phía cuối làng nơi có chùa Phước Bửu
Dòng sông trong xanh ấy đã tưới mát cho những vườn quả, hoa viên, nhờ vậy cây trái trong vườn quanh năm tươi tốt Những ngày trời quang mây tạnh, dòng sông Ô Lâu trôi chảy êm đềm, mặt sông trong vắt, in rõ hình núi xanh, mây trắng với lũy tre làng, cây Bàng, lò gốm trông thật dịu dàng nhưng cũng có lúc giận hờn, trách móc
Dòng sông thật gần gũi, gắn bó với dân làng từ những niềm vui với người còn sống tại Cồn Dương đến nỗi buồn khi phải tiễn đưa người mất về với nghĩa trang
Hà Cát
Minh hoạ cho sự gắn bó, gần gũi giữa dòng sông với đời người, ông Nguyễn
Duy Mai, người làng Phước Tích có bài thơ "Có Không"
“Đời người sáng có, chiều không
Ra đi để lại nỗi lòng nhớ thương Sinh thời ở chốn Cồn Dương Chết về Hà Cát, tây phương ngút ngàn
Phù du tiền của trần gian
Đi rồi cũng để hai bàn tay không
Trang 15Xác thân phủ kín ở trong
Thuyền tang một chuyến sang sông không về
Ô Lâu nặng với tình quê Thuyền tang mấy chuyến đi rồi hở sông?
Ô Lâu vẫn mãi dòng sông
Đời người sao lại có không thế này?”
Từ thượng nguồn dòng sông chảy quanh co, uốn khúc rồi hợp lưu với dòng thác mang nước đổ về phá Tam Giang
Từ thượng nguồn đến phá Tam Giang dài khoảng 30km, uốn lượn nhiều đoạn, một trong những đoạn đẹp nhất của nó là đoạn bao bọc xứ Cồn Dương (Phước Tích) dòng chảy êm đềm, phẳng lặng rất phù hợp cho sự phát triển nghề gốm Địa hình của Phước Tích nhìn từ đầu đến cuối làng trông như cái nan quạt xòe ra
Vì vậy làng được xây dựng trên một phương vụ hướng về chính Nam, lấy Ô Lâu làm yếu tố minh đường Theo thuật phong thủy "khí là cha, nước là mẹ" khí là bản thể của nước, nước là cái khí hữu hình, nơi có nước chứng tỏ nơi ấy có khí Dòng nước quanh co, uốn khúc chảy ngang qua rồi vòng trở lại bao bọc lấy làng, dòng chảy du dương êm đềm bồi lắng mặt bờ thì phúc lộc cho làng càng lớn
- Hà (hồ) sen Hà Trì
Hà Sen cũng là một trong số những di sản của làng, hà nằm ở vị trí Trung Tâm, phía trên là phần đất xóm Thượng Hòa, phần dưới là phần đất xóm Hạ Hòa mang đậm nét triết lý phong thủy, có hình dạng trông như một chiếc túi lớn (phần dưới phình rộng, phía trên nhỏ dần, chỗ nhỏ nhất co thắt là nơi đặt chiếc cống xây bằng gạch vồ cuốn tròn, kiểu dáng như một số cống ở Huế vào Đại Nội) Đây là chiếc cống đi lại nằm trên tuyến đường liên thôn (nơi đây biểu tượng cho điểm thắt buộc chiếc túi)
Từ đây đến chỗ tiếp giáp với dòng nước của sông Ô Lâu khoảng 100 mét, phía bên này là phần đất làng Phước Tích, bờ bên kia là đất làng Mỹ Xuyên Hàng năm đến mùa mưa lũ, nước sông Ô Lâu dâng cao đưa nước từ thượng nguồn chảy vào cung cấp cho hà, các loại cá cũng như theo đường này vào sinh sống
Trang 16Trước đây, dưới triều Nguyễn, hà được giao cho chùa quản lý, sử dụng vào việc hương khói, lễ lược
Để có nguồn thu, chùa chia hà ra làm 2 khu vực, khu vực trên thế đất cao (gọi khu vực trốt hà) dùng trồng lúa 1 vụ, khu vực phía dưới thấp trũng, dùng trồng sen, nuôi cá, nên hà có tên gọi "Tam Bảo Hà Điền" nhờ nguồn thu nhập này, chùa mới
có nguồn quỹ để chi dùng hương khói, lễ lược hàng năm
Ngoài ra, một số bộ phận dân làng ở gần khu vực hà cũng được hưởng lợi bằng cách nuôi cá, bắt chim Mùa hè gần đến ngày Phật Đản, sen hồng, sen trắng
nở đầy khoe sắc đưa hương Phật tử cắt hoa dâng lên cúng Phật
Chung quanh hà là những hàng mưng trải dài quanh năm tỏa bóng Nơi đây cũng là nơi hội tụ lý tưởng của nhiều loại chim như : cò, vạc, le le, vịt nước đến săn mồi, làm tổ ngày một nhiều
Diễn tả vẻ đẹp của hà, cụ Đoàn Văn Nghệ có bài thơ mang tự đề "Phước Tích quê ta ơi" (Trích 3 câu trong bài thơ nói về hà) :
Tiếng chim cu gáy bâng khuâng trưa hè
Hà Sen soi bóng le le Tung tăng cá quẫy bên đìa hàng mưng
Cạnh hà có một cồn Trèng khá lớn, nơi đây là nơi đổ các phế phẩm hư hỏng sau mỗi phiên ra lò Cồn Trèng là nơi minh chứng cho sự ra đời và phát triển của nghề gốm Bởi nhờ nghề gốm mà dân làng có được cuộc sống ấm no, sung túc, có của ăn, của để
Hà có hình là một cái túi rút đựng tiền của, phải chăng tiền nhân chọn vị trí cạnh hà để đổ phế phẩm gốm (Hà biểu tượng cái túi, cồn Trèng biểu tượng cho tiền của vậy)
1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội
Trang 17nguyên vật liệu hiện đại Chính vì thế mà ngôi làng trước đây, dân số rất đông có lúc lên đến 1.900 người Nhưng đến năm 1981, dân số giảm xuống còn 651 người Đến năm 2003, dân số của làng chỉ còn 452 người/125 hộ Theo số liệu thống kê gần đây của thôn thì tính đến năm 2010 chỉ còn 320 người Đặc biệt là trong đó, lại
có đến trên dưới 40% là người già Như vậy chúng ta có thể nhận thấy từ khi nghề gốm của làng mất vai trò, không còn là nghề chủ đạo trong phát triển kinh tế chung của các hộ gia đình thì dân số đã giảm xuống một cách rõ rệt
Sở dĩ làng có sự giảm dân số như vậy là do những thanh niên trong làng đã vào Nam ra Bắc để lập nghiệp, cho nên chỉ trong vòng mấy năm dân số của làng đã
giảm một cách đáng báo động
1.2.2 Tình hình kinh tế
Nền kinh tế của làng trước kia chủ yếu dựa vào nghề làm gốm truyền thống, gốm của làng Phước Tích nổi tiếng một thời, được nhiều nơi biết đến Không những tạo ra những sản phẩm trong sinh hoạt hằng ngày như : om, tréc, lu, độôc[1],… mà còn có những sản phẩm đạt đến độ tinh xảo, thẩm mỹ cao Có một số sản phẩm được dùng trong triều Nguyễn xưa Vì thế có câu :
“Om Phước Tích ngon cơm hoàng đế Sen Hà Trì quý thể Phú Xuân”
Hiện nay thì nghề gốm đang đứng trước nguy cơ bị mai một, nên người dân trong làng chỉ còn biết làm nghề khác để sinh sống, trong làng ngoài nghề gốm ra còn có nghề ép dầu chuồn, nghề làm bột (bột nấu cháo bánh canh), nghề thợ xây (thợ nề), nghề dạy học, trong làng số lượng thầy cô giáo khá đông bởi vì đây là một làng có truyền thống hiếu học, nhiều người học hành đỗ đạt cao
1.2.3 Tình hình xã hội
Mô hình làng Phước Tích cũng giống hầu hết mô hình làng miền Bắc, cũng khép kín và có cổng làng, dân cư thì sống san sát nhau Điều này tạo điều kiện cho quan hệ hàng xóm láng giềng ngày càng gắn bó khăng khít Các gia đình ở làng này hầu hết là gia đình mở rộng, 3-4 thế hệ cùng chung sống với nhau, bao gồm ông bà,
1
Om là nồi đất hay còn gọi là niêu, Lu là vật dụng để đựng gạo…
Trang 18cha mẹ và con cái Thường thì người con trai trưởng có trách nhiệm thờ cúng ông
bà, cha mẹ, nên phải đứng ra phụng dưỡng cha mẹ Làng trước kia được tổ chức theo các ngõ xóm: xóm Thượng Hòa (xóm ngoài), xóm Trung Hòa (xóm giữa), xóm
Hạ Hòa (xóm cuối)
Trong đó, xóm Giữa (xóm Lò bây giờ) cồn đất nổi cao thuận lợi cho việc dựng các lò gốm, nên dân cư của xóm này có đời sống khá giả hơn các xóm khác; vì thế, dân làng thường truyền tụng câu ca:
“Xóm giữa nhiều bạc, nhiều chì Nhiều o con gái, nhiều dì hẳn hoi”
Đứng đầu mỗi xóm có trưởng xóm, ông được dân bầu lên để lo việc quản lý, điều hành công việc của xóm như tu sửa đường sá, bến nước, lo tang ma, cưới xin Ngoài ra ở Phước Tích còn có các tổ chức tự quản, như xâu, phe Xâu là tổ chức nghề nghiệp của những người cùng chung một lò gốm (thường 5 đến 7 nhà tập hợp nhau lại làm một xâu) Còn phe là một tổ chức tự quản của những người cùng địa vực cư trú (nó gần giống với tổ chức giáp theo địa vực) Ở Phước Tích có 2 phe: phe đông và phe tây Đứng đầu mỗi phe có trưởng phe; ông có nhiệm vụ tập hợp những người trong phe để lo gách vác việc chung của làng
1.3 Nguồn gốc hình thành làng Phước Tích
1.3.1 Lịch sử hình thành làng Phước Tích
Năm Hưng Long thứ 14 (1306) thời nhà Trần, Vua Chiêm Thành là Chế Mân dâng sính lễ là hai châu Ô, Rí, để xin cưới công chúa Huyền Trân Năm 1307 vua Trần Anh Tông đổi tên thành Châu Thuận (phía Nam Quảng Trị) và Châu Hóa (toàn Thừa Thiên Huế ngày nay) Sau khi Chế Mân mất, Chế Bồng Nga lên nối ngôi thường hay đem quân sang đánh phá đòi lại đất hai châu Thuận Hóa
Năm 1470 hiệu Hồng Đức nguyên niên, vua Chiêm là Bàn La Trà Toàn đem mười vạn quân thuỷ bộ sang đánh Châu Hoá Tướng Trấn giữ là Phạm Văn Hiển bỏ chạy, được tin cấp báo vua Lê Thánh Tông thân hành dẫn binh đánh đuổi giặc Chiêm Chiến dịch thắng lợi Đã đưa biên giới Đại Việt vào đến đèo Đại Lãnh
Trang 19Ngài Hoàng Minh Hùng theo chiếu vua Lê, bình Chiêm thắng lợi được triều đình phong tặng Đặc Tấn phụ quốc thượng Tướng quân, Cẩm y vệ Đô chỉ huy sứ,
Ty chỉ huy sứ, quản trị phó tướng Hoàng Minh Hùng - người quê gốc làng Cảm Quyết - huyện Quỳnh Lưu - tỉnh Nghệ An Theo chủ trương của triều đình, chiêu
mộ dân vào vùng đất mới để định cư lập nghiệp, Ngài Hoàng Minh Hùng cùng với mười một ngài thuỷ tổ của 11 dòng họ đều là quê hương Cảm Quyết[2]
Tất cả là 12 dòng họ đầu tiên vào xứ Cồn Dương khai hoang lập ấp xây dựng nên Làng Phước Tích ngày nay
Theo sách Ô Châu Cận Lục, vào năm 1553, tên của làng là Dõng Quyết
Trước Thế kỷ XVI, thời (Lê Mạc) thuộc Kim Tòa – Châu Hóa Sau đổi là Cồn Dương (Giàng) xã Hiệu Phước Giang Triều Tây Sơn năm 1778 đổi là Hoàng Giang
- Năm 1802 Vua Gia Long đổi tên là Phước Tích
- Năm 1835 Phước Tích thuộc Tổng Phò Trạch
- Năm 1945 Phước Tích thuộc xã Phong Lâu (tên được đặt do xã có vị trí cạnh sông Ô Lâu)
- Năm 1958 xã đổi tên Phong Hoà, thuộc huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế Dưới thời Nguyễn, ngoài việc đổi tên làng, năm 1802 Gia Long lên ngôi đặt kinh đô ở Phú Xuân, theo lệnh, làng Phú Xuân gốc ở Tả Ngạn sông Hương phải giải tỏa đi tìm nơi định cư mới Một bộ phận dân làng Phú Xuân khoảng 15 hộ đã đến dải đất phù sa của làng Phước Tích, nơi dùng trồng thuốc lá (gọi là phường thuốc)
để ở, và lấy tên gốc là Phú Xuân.[3]
Như vậy, trên xứ Cồn Dương từ đầu triều Nguyễn có thêm làng Phú Xuân
Tại làng Phước Tích, sau 12 dòng họ đầu tiên đến khai hoang lập làng, tiếp đến Thế kỷ 19 có thêm 2 họ Lê Văn và Lương Á (Vĩnh) Việc nhập làng của 2 họ này phải trải qua một thời gian phấn đấu, có công xung phong đi lính cho làng, nạp
đủ thuế đinh, thuế điền; chấp hành tốt quy ước, luật lệ của làng… Đến đầu thế kỷ
20, có thêm 3 họ Nguyễn Đình, họ Lâm Văn và họ Hoàng Văn được nhập làng Đến
2
Gia phả họ Hoàng lưu tại nhà bác Hoàng Bang ở Phước Tích
3 Theo Dương Văn An, Ô Châu Cận Lục, 1955
Trang 20đầu thế kỷ 21, xét họ Nguyễn Đức đến sinh sống tại làng đã 7 đời, có dân đinh, có nhà thờ họ, có gia phổ lý lịch rõ ràng, con cháu của họ từ trước đến nay đều sinh hoạt, chấp hành khá tốt hương ước, nên ngày 05 tháng 11 Mậu Tý, tức là ngày 1 tháng 12 năm 2008, Hội đồng tộc trưởng làng Phước Tích đồng ý cho họ Nguyễn Đức được nhập làng Như vậy tính đến nay, đã có 18 dòng họ có từ đường và một
số bà con đến nhập cư Tất cả trước sau đều hết lòng chung lo xây dựng quê hương làng xóm Lúc đầu làng chia ra 3 xóm (Tam Hòa) Đến năm Thành Thái thứ hai (1890) lập thêm Xóm Hội, Xuân Viên nhưng vẫn quen tên gọi xóm, mỗi xóm đều
có xóm trưởng, xóm phó Để điều hành công việc của xóm như tế lễ, quan hôn, tang chế…
Đến nay thì làng đã có 6 xóm : xóm Hội, xóm Cừa, xóm Thị, xóm Lò, xóm Đình, xóm Dưới Mỗi xóm chia ra kiệt, cuối mỗi kiệt đều có xây dựng bến nước dọc theo bờ sông Ô Lâu để sinh hoạt tắm giặt, gánh nước tưới cây Nhờ vậy cây trái vườn quanh năm tươi tốt Trong làng có tất cả 12 bến, mỗi bến có tên gọi riêng như bến Hội, bến Lò, bến Cừa, bến Cây Bàng, bến Đình, bến Cạn, bến Cây Thị, bến Vạn, bến Miếu Vua, bến Cầu, bến Cạn 2, bến Chùa
1.3.2 Ngài khai canh làng Phước Tích
Ngài khai canh làng Phước Tích, xã Phong Hòa, huyện Phong Ðiền, Thừa Thiên Huế là Hoàng Minh Hùng, tục gọi là Nồi Ngài theo vua Lê vào bình Chiêm thắng lợi, được triều đình phong tặng "Ðặc tấn phụ Quốc thượng tướng quân, Cẩm y vệ, Ðô chỉ huy sứ ty, Chỉ huy sứ Quảng Trị, Phó tướng Hùng Minh Hầu" Khi trở về, ngài chiêu mộ dân binh vào Nam Thấy vùng Cồn Dương phù hợp với
dự tính lâu dài của mình là nghề gốm Ngài trở về cố hương, là làng Cảm Quyết (Dũng Quyết), huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An, chiêu tập thêm 11 họ nữa vào đất Cồn Dương khai khẩn lập làng Ðó là các họ Phan, Ðoàn, Hoàng, Hồ, Lê Ngọc, Nguyễn Bá, Nguyễn Duy, Trần, Trương, Nguyễn Phước, Lê Trọng và Lương Thanh
Trang 21Miếu Đôi thờ ngài Khai Canh và Bổn Nghệ
Vì có công khai canh lập làng, lại truyền nghề cho dân làng nên ngài Hoàng Minh Hùng được nhân dân trong làng hết sức ngưỡng mộ, kính trọng Trên câu đối ghi trước Miếu Ðôi, nơi thờ tổ nghề có ghi:
Thương thương dĩ chế khí Tùy vật nhi phú hình
Dịch là:
(Theo dạng chế thành khí Tùy vật nắn ra hình)
để ghi nhớ công ơn truyền thụ nghề nghiệp của Ngài
Một câu thơ khác trong gia phả họ Hoàng ở làng Phước Tích còn ghi:
"Nhất thiên vi lô tạo hoá công Nhất bàn luân chuyển, chuyển vô cùng Tùy vật đại tiểu hình giai phó
Ðào tạo đô quy thủ đoạn trung"
Dịch là:
“Thợ tạo lò trời sẵn có đôi Một bàn xoay mãi, mãi không thôi Vật tùy lớn nhỏ, tùy theo dáng Ðều bởi bàn tay khéo nặn nhồi”
Trang 22Ðó là những câu thơ nói lên lòng tự hào, sự mãn nguyện của nghề nghiệp mình do ngài Hoàng Minh Hùng truyền dạy Ngài không những được triều Lê
phong tặng mà triều Nguyễn cũng sắc phong Dực Bảo trung hưng linh phi tôn thần,
ghi nhận công lao khai khẩn đất đai và truyền thụ nghề nghiệp cho dân chúng của Ngài
Trang 23CHƯƠNG 2
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG LÀNG CỔ PHƯỚC TÍCH
2.1 Văn hóa vật chất
2.1.1 Văn hóa cảnh quan kiến trúc của làng
Trước hết phải nói đến ngôi làng Phước Tích được dựng trên một địa hình mang đậm triết lý phong thủy phương Đông Phước Tích hay còn gọi là xứ Cồn Dương, là một cồn đất rộng khoảng 21 ha được bao bọc bởi dòng sông Ô Lâu xanh mát
Từ thượng nguồn, dòng sông Ô Lâu chảy quanh co uốn khúc rồi hợp lưu với dòng Thác Ma mang nước đổ về phá Tam Giang Chính sự hợp lưu của hai dòng sông trước khi hòa nguồn nước về phá Tam Giang nên dòng chảy không mạnh mẽ, hung dữ mà hiền hòa và lắng đọng phù sa bồi tụ nên Cồn Dương Bởi vậy, ba mặt Đông - Nam - Tây của làng đều được bao bọc bởi dòng Ô Lâu Cái đẹp của địa thế làng Phước Tích còn thể hiện ở chỗ, mặt trước của làng hướng về phía Nam, dòng sông Ô Lâu hiền hòa chảy bao từ phía Đông vòng ngang phía Nam chảy sang phía Tây
Ở chỗ vùng uốn lượn phía Nam, Cồn Dương phình rộng ra và càng về cuối làng ở phía Tây, nơi tiếp giáp với làng chạm khắc mộc Mỹ Xuyên, địa hình của Phước Tích co hẹp lại Như vậy, làng Phước Tích được xây dựng trên một phương
vị hướng về chính Nam, lấy sông Ô Lâu làm yếu tố minh đường Theo thuật phong thủy, khí là cha, mẹ là nước, khí là bản thể của nước, nước là cái khí hữu hình, nơi
có nước chứng tỏ nơi ấy có khí, dòng nước sâu, nguồn dài xa là khí vượng Vì vậy, làng được xây dựng trên cồn đất cao, bằng phẳng, có dòng sông chảy qua trước mặt
là làng có vượng khí Nhưng dòng nước nông, nguồn gần thì phúc lộc ngắn, dòng nước chảy quanh co, uốn khúc, chảy ngang qua và quay vòng trở lại, bao bọc lấy làng, chảy du dương, êm đềm, bồi lắng mặt bờ thì phúc lộc cho làng càng lớn Từ thượng nguồn đến phá Tam Giang, dòng Ô Lâu dài khoảng trên dưới 30km nhưng uốn lượn mềm mại nhiều đoạn, một trong những đoạn đẹp nhất của nó là gần 7km bao bọc vùng Cồn Dương thuộc địa phận làng Phước Tích Ở đây dòng chảy rất êm
Trang 24đềm, mặt nước xanh phẳng như tấm gương phản chiếu những lũy tre xanh, những hàng cây chè tàu bao quanh nhà cửa những cây đa, cây thị, cây me có hàng trăm năm tuổi cùng các công trình đình, miếu, nhà cửa của làng Hơn nữa địa hình làng Phước Tích rất phù hợp phát triển nghề gốm: trên một gò đất cao, thoáng mát, ba mặt của làng đều tiếp giáp với sông nước, rất thuận lợi cho việc đưa tàu lên rừng xuống biển để khai thác đất, củi đốt, lưu thông buôn bán
2.1.2 Văn hóa vật thể đình, chùa, đền miếu, nhà rường cổ
Rất hiếm có làng nào ở miền Trung chiến tranh bom đạn cày xới cả một thời gian dài nhưng lại giữ được nét cổ kính về các công trình kiến trúc nhà cửa, đền miếu, cây cối như ngôi làng Phước Tích GS.TS.KTS Hoàng Đạo Kính có lý khi nói
rằng: "Người ta cứ quen nghĩ những gì cổ kính, xa xưa phải nằm ở đất Bắc Đến Phước Tích tôi thật sự sửng sốt Nó là một cái làng cổ của người Việt có từ thế kỷ XV"[4]
Làng Phước Tích đến nay vẫn còn lưu giữ một di sản văn hóa vật thể cổ kính rất đồ sộ Trong tổng số 117 nóc nhà của làng hiện vẫn còn 27 ngôi nhà cổ, đa số là nhà rường 3 gian 2 chái: 12 ngôi nhà thuộc loại có giá trị đặc biệt, 11 ngôi nhà có giá trị loại hai và 5 ngôi nhà đã hư hỏng nhiều Điều lý thú là các ngôi nhà rường cổ
ở Phước Tích nằm liền nhau, chỉ cách nhau bằng những khu vườn rộng với những hàng chè tàu xanh thẳng Các ngôi nhà đều có tuổi thọ trên dưới 100 năm, thậm chí
có vài ba ngôi nhà đã tồn tại trên dưới 200 năm
Ngoài ra, ở đây còn có 10 ngôi nhà thờ cổ được dựng theo kiểu nhà rường 3 gian 2 chái và có hàng chục các đình, miếu, đền, chùa như đình làng Trung, chùa Phước Bửu Tự, miếu Cây Thị, miếu Đôi cũ, miếu Đôi mới, miếu Quảng Tế (thờ Yoni và Linga của người Chàm), miếu thờ bà Liễu Hạnh, miếu Âm Hồn, miếu con Cọp, miếu bà Giang (thờ người Chàm), đền Văn Thánh, Cồn Trèng và hàng chục phế tích, lò gốm khác nhau
Điều đặc biệt là những công trình kiến trúc cổ kính ở ngôi làng Phước Tích không bị bao bọc bởi những tường gạch hun hút như ở miền Bắc, mà được hòa
4
Dẫn theo Hoàng Thái Lộc, làng cổ Phước Tích là một phát hiện lớn - Báo Thừa Thiên Huế, ngày 17/5/2003.
Trang 25mình vào cảnh vật thiên nhiên thơ mộng: dòng sông hiền hòa như dải lụa đào uốn lượn quanh làng, cây cối xanh tươi với những hàng chè tàu, những rặng tre, những cây cổ thụ có tuổi đời gắn với tuổi của làng
Có thể còn nêu lên nhiều giá trị văn hóa khác của ngôi làng nhỏ Phước Tích như cổng làng, giếng làng, bến nước làng nhưng chỉ những điều chúng tôi đề cập
ở trên cũng đủ để chứng minh rằng, Phước Tích là một ngôi làng cổ, điển hình của người Việt ở miền Trung
2.2 Văn hóa tinh thần
2.2.1 Tín ngưỡng
Tôn giáo tín ngưỡng, nói như Mác nói đó là “ thuốc phiện của nhân dân”.[5]
Nó có chức năng an ủi, che chở, bảo vệ nhân dân – đồng thời nó có một chức năng lớn khác nữa là giảm bớt nỗi đau về tinh thần cho con người khi con người cảm thấy trong tâm hồn mình có sự đau đớn, mất mát Trong quá trình tồn tại và phát triển, tôn giáo tín ngưỡng đã ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống chính trị, văn hóa
xã hội, đến tâm lý, đạo đức, lối sống và phong tục tập quán của nhiều dân tộc, nhiều quốc gia Bản thân tôn giáo tín ngưỡng chứa đựng nội dung phong phú về lịch sử,
tư tưởng, triết học, đạo đức, văn hóa, chính trị,…Nó thực sự là nhu cầu của con người, nhu cầu của xã hội, và một khi nhu cầu ấy chưa được thõa mãn thì đối với một số tầng lớp xã hội, tôn giáo tín ngưỡng vẫn là nguồn gốc của giá trị đạo đức, niềm an ủi, sự nâng đỡ về tinh thần tâm lý,
Tín ngưỡng được hiểu là sự ngưỡng mộ của con người vào một niềm tin nào
đó, những niềm tin mang tính trừu tượng, vô hình, nhưng lại có một sức mạnh tác động đến đời sống tâm linh con người
Tại làng Phước Tích xưa, trong quá trình tồn tại và phát triển đã có một số hình thức tôn giáo tín ngưỡng sau :
* Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
5 “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân.” C.Mác, lời nói đầu của “Phê phán triết học pháp
quyền của Heghen” 1843-1844, NXB Sự Thật Hà Nội, 1962, trang 5-7.
Trang 26Tục thờ cúng tổ tiên là bổn phận, nhiệm vụ trọng đại đặc thù của người Việt Nam Thờ ông bà tổ tiên là một trách nhiệm luân lý, không có tính cách thần thánh hóa, xuất phát từ tấm lòng của người sống, của thế hệ sau đối với thế hệ trước Thờ thì phải có lễ và có cúng bái, hành động tỏ lòng tôn kính và nhớ thương Dân tộc
Việt Nam có tục thờ cúng ông bà vì họ tin rằng “ cây có cội, nước có nguồn” Ai ai
cũng tưởng nhớ tới nguồn gốc sinh thành ra mình, đây là bài học làm người đầu tiên của dân tộc ta:
“ Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn Nuớc có nguồn mới bể rộng sông sâu Người ta nguồn gốc từ đâu?
Có cha mẹ rồi sau đó có mình”
Ở làng Phước Tích tục thờ cúng tổ tiên là hình thức tín ngưỡng phổ biến, sâu sắc nhất và bền vững nhất Việc thờ cúng ông bà tổ tiên luôn luôn thể hiện tình nghĩa và lòng biết ơn của con cháu đối với tổ tiên, các bậc sinh thành
Người dân Phước Tích coi những bậc đã quá cố đều là những bậc tiên tổ Nhưng các vị tổ tiên chỉ tính được năm đời : cha, ông, cố(cụ), can, kỵ Để phụng thờ tổ tiên các gia đình thường lập một bàn thờ gọi là bàn thờ gia tiên Bàn thờ gia tiên là một tấm ván gác đậu đậu trên bờ vách nếu là gia đình khó khăn Còn ở gia đình bậc trung trở lên bao giờ bàn thờ gia tiên cũng được sắp đặt cẩn thận
Thường thì bàn thờ gia tiên chiếm hẳn một gian nhà Có thể là gian giữa cũng
có thể là gian cuối cùng của ngôi nhà theo thứ tự từ bên trái khi đứng từ ngoài sân nhìn vào
Thông thường người dân làng Phước Tích chia gian thờ ra làm ba lớp:
- Lớp ngoài cùng là chiếc phản để mọi người lên đó làm lễ Không có phản thì
để trống nền nhà, để khi cần thiết có thể bày bàn ghế hoặc trải chiếu
- Lớp thứ hai là một cái hương án trên mặt có đồ tam sự hay ngũ sự, lư hương cọc sáp bằng đồng, (hoặc 5 cái hoặc 3 cái), lọ độc bình, đèn… Những nhà khá giả còn có đôi hạc bằng đồng
Trang 27Hương án này là nơi khi có cúng bái, người ta mời các vị thần trong gia đình
về ngự Thông thường gồm có các vị thần : Long quân chúa mạch, Nhị vị thần môn, Đông trù tư mệnh, Táo phủ quần thần…
- Lớp trong cùng mới thực sự là bàn thờ tổ tiên Thường là một cái bàn dài, trên đặt ba bộ đồ thờ : phía bên trái (đứng ngoài nhìn vào) là một cái khám sơn son, kín ba mặt (tả, hữu và mặt sau), mặt trước có làm cửa nhỏ, có thể khép mở, trong cùng đặt bài vị của vị thần tổ được coi là vị khai sáng ra dòng họ mình Vị này đã được thờ ở nhà thờ họ, nhưng các gia đình đều thờ riêng Ở giữa là một cái ngai (hoặc một cái ỷ) tượng trưng cho ông vải Chiếc ngai sơn son thiếp vàng, hai tay ngai mang hình đầu rồng, đầu ngai nhô lên như hình tròn giống như mặt nguyệt Phía bên phải là một số bài vị không có khám che chắn, chỉ bày lên bàn, cũng không theo một thứ tự nào Nơi đây là đề thỉnh tổ tiên của gia đình thuộc nhiều chi khác : các bà vợ các vị tổ tiên, các bác, chú, cô
Ngoài bàn thờ ba lớp này, người làng Phước Tích còn treo một chiếc màn gọi
là ỷ môn Khi cúng lễ xong, màn ấy phải bỏ xuống để che khuất cả bàn thờ, để một
lúc sau mới hạ cỗ bàn Ý nghĩa của hành động này là “sự tử cũng như sự sinh, sự vong cũng như sự tồn” Mời được các vị tổ tiên về, cầu khẩn, báo cáo xong rồi thì
để cho các vị ăn uống Khi các ngài ăn uống phải che màn đề người ngoài không nhìn thấy được
Trường hợp các gia đình khá giả ở làng Phước Tích, gian thờ được trang hoàng bằng hoành phi câu đối Hoành phi là một tấm biển gỗ nằm ngang trên xà nhà chiếu xuống bàn thờ Biển được sơn son khắc chữ Hai bên gian thờ còn treo câu đối Câu đối là những biển gỗ dài được sơn son thiếp vàng treo dọc hai bên bàn thờ
* Ngày lễ thờ cúng gia tiên gọi là ngày giỗ (kỵ) Ngày giỗ được người dân Phước Tích gọi là ngày kỵ, là ngày kỷ niệm người mất trong gia đình Có giỗ lớn và giỗ mọn Nếu là cha hay mẹ thì có những ngày kỷ niệm sau (làm sau khi mất) :
- Cúng ba ngày
- Cúng thất tuần, sau khi người chết được 49 ngày
Hai ngày trên không gọi là giỗ mà gọi là ngày lễ
Trang 28- Ngày tiểu tường: tức ngày giỗ đầu, một năm sau khi mất
- Ngày đại tường: giỗ năm thứ hai sau khi người mất qua đời
- Ngày trừ phục: giỗ hết khó
- Giỗ cát kỵ: là giỗ lành, ngày giỗ chính hàng năm
Trước ngày giỗ thường có lễ cúng tiên thường, làm vào lúc chiều tối Ngày giỗ cha mẹ, người con trưởng phải chủ trì, các em đều phải làm mâm mang đến hoặc góp giỗ từ hôm trước Những nhà có vai vế trong làng, nhà thầy học khi có giỗ, người quen cũng mang cau, rượu, vàng, hương đến lễ
mộ (nếu là mộ gạch)
Vượt lên trên tất cả khía cạnh tín ngưỡng tôn giáo, tín ngưỡng thờ cúng Tổ
tiên thấm đượm đạo lý uống nước nhớ nguồn, và vì “cây có gốc mới nở cành xanh ngọn”, “nước có nguồn mới bể rộng sông sâu”, đó là một lối ứng xử cộng đồng gia
đình, dòng họ ở làng Phước Tích và mở rộng cực đại tới cộng đồng dân tộc quốc gia Nó trở thành một chuẩn mực, khuôn mẫu trong ứng xử của con người Việt Nam Bởi vậy, Đạo thờ Tổ tiên vừa tiếp nhận nguồn cội xa xưa của tín ngưỡng nguyên thủy (totem giáo) vừa có sức sống trường tồn và có sức vươn tới tiếp cận với đời sống hiện đại
* Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng
Tục thờ cúng thành Hoàng làng ở Huế là sự nối tiếp truyền thống từ các làng
cổ ở Bắc và Trung Bộ Thành hoàng làng ở Huế cũng được thờ trong những ngôi đình cổ kính Tuy nhiên, những đặc điểm riêng về điều kiện địa lý là mảnh đất được khai phá muộn, nhất là vùng này sau khi khai phá không lâu đã trở thành nơi đế đô,
Trang 29việc thờ cúng thành hoàng ở Huế có những biến thể không giống như ở nơi mà nó phát tích Thành hoàng làng ở Huế không còn giữ được chất uy linh và quyền lực lớn lao trong đời sống tinh thần của mọi người trong làng như đất Bắc
Ðình làng Huế cùng chung một công năng với đình Bắc: vừa là nơi sinh hoạt của cộng đồng làng xã, vừa là nơi thờ cúng thành hoàng làng Ðình làng Huế không nhiều Ngay từ trước Cách mạng tháng Tám, vị trí xã hội của ngôi đình Huế đã nhạt
đi nhiều so với đình Bắc Vì thế mà đình làng Huế, xét về chức năng thế tục, lại có phần “trội” hơn Vào đầu thế kỷ này, đình của làng đã được sử dụng làm nơi dạy học cho các thầy đồ, một hiện tượng chưa hề nghe nói ở đình làng nơi đất Bắc Làng thờ Thành hoàng là thờ vị thần có công đối với dân làng, với đất nước Thành hoàng được nhân dân Việt từ bao đời nay coi là vị thần bản mệnh cho bản thân của cộng đồng Con người từ khi sinh ra cho đến khi chết đều có vị thần cho bản thân mình Vị thần này gắn chặt với cuộc sống trần gian của từng người, không bao giờ siêu thoát khỏi thể xác Chỉ đến lúc cuộc sống của con người chấm dứt lúc
đó vị thần bản mệnh ấy mới siêu thoát, và tan biến cùng sự vận động của vũ trụ Việc thờ thần tiên hiền như trên chính là sự thể hiện của đạo lý “ uống nước nhớ nguồn”- một đạo lý nhân bản tốt đẹp của dân tộc ta
Ở làng Phước Tích, vị thần bản mệnh cho cộng đồng đó là Ngài Hoàng Minh Hùng (tục gọi là Nồi) vị khai canh ra làng Phước Tích đồng thời cũng là người truyền nghề gốm cho dân làng
Thành hoàng được thờ ở Đình làng Ngoài ra trong làng còn có Miếu Đôi thờ ngài Khai Canh và Bổn Nghệ, nhưng mỗi lần tổ chức lễ bái, họ đều rước Thành hoàng ra đình Vì Thành Hoàng là vị thần trụ trì giám sát và bảo hộ một làng, nên
dù ông thuộc vào loại thần gì (Thượng đẳng, Trung đẳng hay Hạ đẳng) cũng vẫn đứng đầu làng Các vị thần khác vào những ngày lễ hội làng vẫn phải về và đứng sau Thành Hoàng
Hàng năm trong làng nếu có tổ chức các ngày lễ như: Lễ Kỳ Yên, lễ Khai Hạ,
lễ Hạ Điền…, thì Thành Hoàng là vị thần trước nhất được mời về chứng kiến cho dân làng
Lễ thờ cúng Thành Hoàng được tổ chức trang nghiêm ở đình làng Các vị Hương chức đều phải mặc áo gấm thụng, đội mũ ra làm lễ, có phân công nhiệm vụ
Trang 30Tiến tửu (dâng rượu), độc chúc (đọc văn khấn) Các phường Bát Âm phục vụ nghi
lễ bài bản Có làng tổ chức vui chơi giữa cuộc tế lễ hoặc ngay sau đó Vui chơi giữa cuộc có hát Cửa đình, vui chơi sau đó là các trò đập om, kéo co, đua thuyền
Ở làng trước đây thờ nhiều vị thần, thánh nhưng đối với dân làng quan trọng
và thiêng liêng nhất vẫn là thần Thành Hoàng Họ luôn luôn có ý thức đề cao, tôn vinh và bảo vệ thần Thành Hoàng làng của mình
Ngạn ngữ có câu:
“Trống làng nào làng ấy đánh Thánh làng nào làng ấy thờ”
Ngoài các tín ngưỡng nói trên, ở làng Phước Tích còn có tín ngưỡng thờ Mẫu, tuy ở làng có miếu thờ bà Liễu Hạnh, Miếu thờ Dương Phu Nhân hay còn gọi là Miếu Bà Giàng, nhưng lại không có tổ chức hệ thống con nhang đệ tử Dân làng không mấy mặn mà với tín ngưỡng này Miếu bà Liễu Hạnh được xây dựng vào khoảng thế kỷ XIX, cũng có diễn ra các buổi lễ cúng nhưng không được chú trọng lắm Bên cạnh tín ngưỡng thờ Mẫu, còn có tín ngưỡng phồn thực thờ sinh thực khí Linga, Yoni ở Miếu Quảng Tế…Tuy nhiên, hiện nay đã phần nào bị mai một dần Những tín ngưỡng này đã chỉ ra sự giao thoa giữa văn hóa Việt – Chăm ở làng Phước Tích từ những ngày đầu thành lập làng
* Hệ thống thiết chế kiến trúc văn hóa tín ngưỡng
- Miếu Cây Thị
Miếu nằm ở vị trí xóm Trung Hoà (xóm giữa) bên cạnh ngôi miếu là Cây Thị
cổ có tuổi đời ước chừng khoảng trên 600 năm Tức là trước khi các ngài Tiên Tổ làng Phước Tích đặt chân đến khai phá, tiếp quản vùng đất Cồn Dương năm 1470,
đã có cây thị cành nhánh sum suê tỏa bóng
Miếu được xây bằng loại gạch vồ xưa, có tường thành bao bọc, phía trước có bình phong trang trí hình chim phụng gắn mẻ sành, hai bên có cửa vòm cũng xây bằng gạch vồ cuốn tròn dùng lối ra vào
Các nhà khảo cổ cho rằng đây là ngôi miếu thờ Ponagar của người Chăm đã được Việt hóa trong quá trình chung sống và kế thừa dòng tín ngưỡng Chăm
Trang 31Các câu đối chữ Hán ghi trước miếu, trên các trụ lâu ngày đã bị bào mòn không khảo cứu được, nên thời điểm xây dựng miếu lần đầu không rõ năm nào ? nhưng theo lời các cụ trong làng kể lại, miếu được tu sửa lại dưới thời Tự Đức Ngôi miếu và cây thị, nơi đây vào những năm 1950 “Tiền khởi nghĩa”, các xóm : Thượng Hòa, và xóm Hạ Hòa thường bị quân Pháp ở đồn Mỹ Chánh qua lùng bắt thanh niên đi lính, bắt dân làm phu….nên đại bộ phận dân hai xóm này đến đây
cư trú
Bởi trong xóm có nhiều người làm quan trong triều, giỏi tiếng Pháp như cụ tri huyện Hồ Đình Lan, cụ Hồng lô tự Khanh, hàn lâm Viện thi giảng học sĩ Lương Thanh Hướng…nên Pháp ít để ý Và cũng nhờ vậy các tổ chức cơ sở Việt Minh dễ
bề hoạt động
Một số thanh niên vào ẩn nấp trong lòng bộng cây thị để trốn lính và làm chỗ cảnh giới, báo động mỗi khi phát hiện quân Pháp sang lùng
- Miếu thờ dị vật “đá đôi”
Miếu nằm bên trái khuôn viên nhà thờ họ Lê Trọng (xóm Cừa) Ngôi miếu đã
bị đổ nát, chỉ còn lại phần nền Phía trước miếu có dựng 2 tảng đá hình chóp cao 0,80 m so với mặt đất, rộng 0,45m, dày 0,15m
Hai phiến đá lớn (có thể là bia đá) đã qua bàn tay chế tác của con người, nhưng chưa kịp khắc văn tự Theo các nhà nghiên cứu khảo cổ cho rằng đây là một trong những di tích tín ngưỡng nguyên thủy về ý niệm “Vạn vật hữu linh” của cư
dân Việt
- Miếu Quảng Tế và ngẫu tượng Linga – Yoni
Miếu nằm trong khuôn viên một nhà thờ chồi của họ Lê Trọng tại xóm Lò Đây là Miếu thờ Dương Phu Nhân hay còn gọi là Miếu Bà Giàng, là biểu tượng thờ Mẫu trong tín ngưỡng của người Chăm
Phía trước miếu thiết trí một bộ Linga-Yoni độc đáo.Yoni 3 tầng Tầng trên tạo khe rãnh đặt Linga gồm 3 hòn đá hình quả cầu, kích cỡ như nhau, nhưng hoa văn hai hòn giống nhau, hòn thứ 3 thì hoa văn và màu sắc khác hẳn
Đây là hình thức tín ngưỡng thờ : “Sinh thực khí của người Chăm”
Trang 32Theo các bô lão ở làng Phước Tích, thì bộ Linga-Yoni này có nguồn gốc từ cung đình triều Nguyễn Cụ thể là Hoàng thái hậu, mẹ vua Khải Định, từng cho người mang Yoni trong bộ sưu tập di vật Chăm của Bảo tàng Khải Định ra miếu Quảng Tế để cầu đảo Do không còn Linga ( thường thì hình trụ, tượng hình sinh thực khí người nam), nên có người đã bày kế lấy 3 hòn đá ở dưới sông Ô Lâu, đặt trên Yoni để thế Linga
Bên cửa miếu còn hai câu đối bằng chữ Hán khắc trong lòng trụ với nội dung:
“ Anh linh biệt chiếm cư Dương Thổ Công đức quang huy tận Hoá Châu”
Nghĩa là:
“Anh Linh riêng chiếm xứ Cồn Dương Công đức sáng rực hết vùng Châu Hóa”
Từ ngôi miếu cổ Quảng Tế và câu chuyện về Linga Phước Tích, cho thấy các
vị tiền bối khai canh đã sống hòa hợp với người dân bản địa và dung hòa tín ngưỡng phồn thực Việt – Chăm của các thế hệ đời sau
- Miếu Bà Liễu Hạnh
Miếu nằm tại vị trí xóm Hạ Hòa (xóm Cầu) một bên là nhà thờ họ Nguyễn Phước Đình bên kia là nhà thờ họ Nguyễn Bá Mặt quay ra hướng hợp lưu của hai dòng sông Ô Lâu và Thác Ma Miếu có lối kiến trúc thế kỷ 19 Bên cạnh miếu đoàn
khảo sát phát hiện một số dị vật Chăm
- Miếu Ngũ Hành
Miếu xây dựng tại vị trí xóm Hạ Hòa, quay mặt về hướng Tây Bắc , cạnh nhà thờ họ Đoàn, phía trước là Hà Sen
Không biết miếu xây dựng lần đầu vào năm nào Đến năm 2007, “khi tiến
hành tôn tạo thì thấy phía sau gần móng có ghi năm 1903”, không rõ năm 1903 là
năm xây dựng hay là lần tôn tạo trước đây?[6]
6
Theo lời kể của Bác Hoàng Tấn Minh, trưởng thôn Phước Phú
Trang 33Phía trước miếu ghi 3 chữ Ngũ Hành Miếu và 2 câu đối bằng chữ Hán có nội dung :
“Bảo lê dân huệ cố miên trường Thành vạn vật thiên linh ứng tại”
số ngôi miếu cổ khác, phần lai lịch, gốc tích không có mà chỉ truyền miệng cho nhau từ thế hệ này qua thế hệ khác
Một trong những giả thuyết được nhiều người kể lại là : Miếu được khởi dựng vào những năm cuối thế kỷ 19 để thờ Vua Hàm Nghi (Theo tư liệu Lương Thanh Như) Vua Hàm Nghi lãnh đạo phong trào chống Pháp Đêm 22 rạng 23 tháng 5 năm Ất Dậu (1885) khởi binh đánh Tòa Khâm Sứ bất thành Tôn Thất Thuyết tập hợp một đội quân ở cửa Chương Đức đánh vào Đại Nội giải vây và rước Vua Hàm Nghi ra Quảng Trị Khi đoàn đạo ngự ra đến ranh giới 2 tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, phía bên này sông Ô Lâu thì trời xế chiều, đạo ngự dừng chân nghỉ qua đêm tại làng Phước Tích (trên khu đất dựng miếu) Rạng sáng ngày 24 tháng 5 năm
Ất Dậu, đoàn tiếp tục lên đường ra Tuyên Hóa - Quảng Bình lập căn cứ tại Tân Sở, đến ngày 26 tháng 9 năm Mậu Thìn (1888) bị Trương Quang Ngọc chỉ điểm, bắt nạp cho Pháp, vua Hàm Nghi bị bắt đày sang đảo Alge’rie Vua Hàm Nghi là vị vua
vì nước, vì dân, không tham danh lợi, cam tâm chịu cảnh tù đày, không chịu làm nô
Trang 34lệ, đáng được lưu danh Có lẽ vì sự kính mến một vị vua yêu nước đã dừng chân nghỉ lại trên quê hương mình mà lập miếu thờ mang tên Miếu Vua chăng? Năm
1975, sau khi đất nước thống nhất, ở giai đoạn đầu, một số người chưa nắm rõ chủ trương chính sách, được giao nhiệm vụ tiếp quản, đã vội vã ra lệnh đập phá ngôi miếu này
Vị trí ngôi miếu, nay là ngôi nhà thờ họ Trần Ngọc, họ Trần Ngọc là một trong
số 12 dòng họ đầu tiên có công đến lập làng, nhưng hiện tại không có đất để xây nhà thờ Bởi ngôi nhà thờ cũ của họ Trần Ngọc trước đây nằm trong lộ giới Quốc lộ
49, thuộc diện giải tỏa
Họ Trần Ngọc phải làm đơn xin làng chỗ đất này để xây dựng Nhà thờ họ, và được Hội đồng Tộc trưởng chấp thuận
- Miếu Cô Hồn
Ngoài công việc chăm lo phần mộ cho những người đã qua đời, không rõ họ hàng, không người nối tự, không ai chăm nom tại nghĩa trang Hà Cát Làng còn chăm lo hương khói, tổ chức làm giỗ cho các vong hồn khi còn sống không nơi nương tựa, ăn chợ ngủ đường, lúc chết chẳng người khói hương
Ngoài ra, làng còn lập miếu để thờ Lúc đầu miếu được xây tại xóm Thượng Hoà (gần Cồn Trèng)
Năm 1878, miếu được dời về xây dựng trong khuôn viên chùa Phước Bửu Hy vọng nhờ lời kinh tiếng mõ vong hồn những người xấu số bớt cảnh cô đơn mà siêu sanh lạc quốc
- Miếu Ông Cọp
Miếu được xây dựng tại xóm Thượng Hoà, cách Cồn Trèng khoảng 50m, mặt hướng ra hồ Sen Hiện nay, miếu đã đổ nát, chỉ còn lại phần nền và bức bình phong rạn nứt, phía trước bức bình phong có đắp hình con cọp gắn mẻ sành “biểu tượng
ngôi miếu”
Khi tìm hiểu lai lịch thì sử liệu không có mà chỉ dựa vào truyền khẩu Căn cứ theo khẩu truyền thời gian vào khoảng các năm cuối thế kỷ 18, một số nơi trong làng vẫn còn hoang vắng, đất đai chưa khai phá hết, cây cối rậm rạp như khu vực Cồn Trèng, miếu Cây Thị, miếu Đôi xưa…Các loài thú dữ thường hay tới lui săn
Trang 35mồi, nhiều người đã thấy tận mắt một con cọp rằn to lớn hay lai vãng khu vực quanh miếu Cây Thị Họ truyền miệng cho nhau, nên hễ trời vừa mới tối không ai dám bén mảng đến khu vực này Trong khi đó lại có 2 người đàn ông (một người khoảng 25 -30 tuổi vóc dáng mạnh khỏe đó là ông Lê Trọng Quê, người kia khoảng trên dưới 50 tuổi (không rõ tên) đều ở Xóm Lò, đêm đêm vào ngủ trông giữ vật liệu chuẩn bị làm nhà tại xóm Cây Thị Thấy vậy, có người đến báo tin và khuyên ông nên cảnh giác, đề phòng Nghe vậy, ông cười và nói đùa “Tôi cũng đang muốn gặp
hổ thi đấu một trận thử tài” Vợ ông nghe vậy thì tỏ ra lo lắng nhưng vì trách nhiệm
và hiểu tính chồng không dám cản ngăn!
Hôm ấy…như thường lệ, ông để người kia vào nằm trong lán trại, còn ông một mình ra nằm tận phía ngoài cổng, vật hộ thân thường dùng chỉ là một đoạn tre dài khoảng 3-4 mét với cây đèn thắp bằng loại dầu chuồn, khi tỏ khi mờ Đến khoảng canh tư, lúc này mọi người đang yên giấc, bỗng nghe tiếng động từ phía cổng rào Lập tức, ông vùng dậy thì thấy ngay trước mặt ông, một con hổ rằn to lớn nhe nanh, há miệng nhắm hướng ông bước tới, từng bước, từng bước đến gần Ông nhanh tay nắm lấy đoạn tre, lưng tựa vào một gốc thân cây gần đó, không
để cho cọp có được khoảng trống tạo đà nhảy, ông đưa gậy tre lên chống trả quyết liệt Cuộc chiến giữa người và cọp kéo dài 30 phút Cuối cùng sức người có hạn, gậy tre bị gãy, ông lách người cúi xuống thì lập tức cọp nhảy tới vồ ông ngay Khi
vồ được ông, cọp rống kêu 3 tiếng rung chuyển cả một vùng rồi mang xác ông đi, khi đến địa điểm gần Cồn Trèng để xác ông xuống, cọp cũng kêu 3 tiếng rồi bỏ đi
Từ đó không ai còn thấy bóng dáng con cọp rằn này nữa Dân làng khi nghe tiếng cọp kêu, mọi người đều thức giấc đến địa điểm Cây Thị, không thấy ông bèn huy động nhau đi tìm, từ Miếu Cây Thị theo dấu vết lần ra đến Cồn Trèng thì phát hiện thi thể ông nằm cách Cồn Trèng khoảng 50m, thân xác nguyên vẹn chỉ thấy vết bầm tím ở cổ Ông nằm duỗi chân tay, đầu hướng ra Hà Sen như đang nằm ngủ, một giấc ngủ thoải mái ở nhà
Có lẽ vì những điều lạ khác thường ấy mà suy luận cho là Cọp Thần … rồi lập miếu thờ mang tên miếu Ông Cọp
- Miếu Đôi
Trang 36Miếu Đôi được dân làng xây dựng để thờ ngài Khai Canh và ngài Bổn Nghệ
với đạo lý “uống nước nhớ nguồn, ăn trái nhớ người trồng cây”, tưởng nhớ đến
công lao khai canh, khai khẩn truyền dạy nghề nghiệp, đem lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho dân làng Dân làng lập miếu thờ để tỏ lòng tri ân miếu xưa được xây dựng tại xóm Hạ Hòa, mặt hướng ra nơi giao điểm của 2 dòng sông Ô Lâu - Thác
Ma từ thượng nguồn chảy về Song thời ấy ở đây cây cối còn rậm rạp, dân cư thưa thớt, các loại thú dữ thường hay xuất hiện Vì vậy, việc lui tới khói hương bị ít nhiều ảnh hưởng Hơn nữa, hằng năm, hễ gần đến ngày kỵ ngài khai canh (ngày mồng 5 tháng 11 âm lịch), trong làng thường xảy ra những vụ hỏa hoạn liên tiếp 3 năm liền toàn ở khu vực xóm Hạ Hoà gần miếu, cùng lúc các vị bô lão trong xóm
và vị tiên chỉ của làng đều nằm mộng thấy một vị thần mặc sắc phục màu đỏ, râu dài đến ngực, tóc trắng như tơ tới lui quở trách, bảo phải di dời miếu lên phía đầu
Quy cách vẫn giống như ngôi miếu xưa tại xóm Hạ Hòa Đến năm 1950 –
1951 chiến tranh lan rộng, người Pháp đến đây đập phá 2 ngôi miếu để làm pháo đài quan sát, phòng thủ tuyến đường từ Mỹ Chánh về Hoà Ấp, Ưu Điềm
Năm 1955 sau hiệp định Giơnevơ, Miếu Đôi được dân làng tái thiết, kiểu dáng
và kích cỡ đổi khác nhưng vị trí 2 miếu vẫn xây sát cánh bên nhau, mặt quay về hướng Tây nhìn thẳng ra dòng sông Ô Lâu từ thượng nguồn chảy về Khoảng giữa 2 ngôi miếu dựng tấm bia lớn khắc ghi công đức của ngài Khai Canh, Bổn Nghệ và đầy đủ tên 12 dòng họ đầu tiên đến lập làng
Điều đó cho thấy vị trí quan trọng của ngài Bổn nghệ trong đời sống Tuy nhiên sự tích của ngài không thấy đề lại mà chỉ căn cứ theo gia phả của một số họ ghi vắn tắt liên quan đến nghề gốm như : họ Hoàng, họ Phan, họ Nguyễn Duy và họ
Lê Ngọc
* Họ Hoàng ghi : Ngài Thuỷ Tổ có công tìm thấy chỗ lấy vật liệu để mở lò gốm
Trang 37* Họ Phan chép : Thời các tiên tổ tới xứ Cồn Dương bày nghề làm gốm
* Họ Nguyễn Duy ghi : Họ chúng ta, Ngài Thủy Tổ từ Nghệ An vào canh khẩn xứ Cồn Dương theo nghiệp Hà Tân làm gốm
* Họ Lê Ngọc chép : …mở mang nghề nghiệp Hà Tân để làm ăn Với công lao của ngài Khai Canh, khai khẩn không những con dân làng Phước Tích tỏ bày sự tri ân mà cả các triều vua, đặc biết là các vị vua Triều Nguyễn đều ghi nhận công lao của các ngài, ban tặng sắc phong
* Sắc phong ngài Bổn Thổ Khai Canh ngày mồng 8 tháng 10 năm Duy Tân thứ 7 (1913)
* Sắc phong 11 ngài Khai Khẩn ngày 27 tháng 5 năm Khải Định thứ 9 (1924)
- Miếu Văn Thánh
Văn Thánh miếu là nơi thờ Khổng Tử và các hiền nhân của làng
Người Phước Tích luôn quan tâm đến việc học hành, đặc biệt dưới thời Nguyễn Dĩ nhiên khi có nhiều người theo nghiệp khoa cử, đỗ đạt làm quan thì việc khuyến học, đào tạo nhân tài là điều tất yếu
Việc xây dựng Đền Văn Thánh thờ Khổng Tử và Thánh hiền nho giáo thể hiện lòng tôn kính cũng như khẳng định truyền thống “ Tôn sư trọng đạo”
Trước đây, (trong thời Nguyễn) nếu ai được ghi danh tham dự các kỳ thi, khoa thi do Triều đình tổ chức; tuy không đỗ đạt được bổ đi làm quan, cũng được gọi chức “Khoá”, được tham gia công việc tại địa phương Nếu đỗ đạt bổ dụng đi làm quan, thì được làng tổ chức nghinh đón, có cờ lọng, trống nhạc, kiệu hoa rước về làm lễ vinh qui bái tổ tại Văn Thánh, đình làng nhà thờ họ tộc, trước khi đáo nhậm triều đình
Ngày nay tuy không được làng đón rước kiệu lọng như xưa, nhưng mỗi khi trong làng có tổ chức lễ hội lớn, ngài tiên chỉ cao tuổi nhất vào dâng hương khai lễ xong, người có học hàm học vị cao nhất, đại diện cho giới trí thức mặc lễ phục (áo rộng khăn điều) vào dâng lễ bái, được mời ngồi ở hàng ghế danh dự với các bậc lão thành, chức sắc của làng
Hàng năm vào dịp Tết cổ truyền làng có tổ chức lễ phát thưởng cho những học
sinh, sinh viên có thành tích học tập tốt “vượt khó học giỏi”, thi đỗ vào các trường
Trang 38Đại học, cao đẳng….Phần thưởng tuy chỉ vài tập vở, ít quyển sách, tờ giấy khen hay bữa tiệc mừng, nhưng có mời phụ huynh đến dự để động viên khích lệ
Ngày 20 tháng 11 (ngày nhà giáo) hằng năm, các thầy, cô giáo trong làng của nhiều thế hệ (đang công tác hoặc đã nghỉ hưu) tổ chức liên hoan họp mặt, trao đổi kinh nghiệm, ôn lại truyền thống giáo dục của làng
- Đình Làng
Đình là nơi thờ các ngài khai khẩn, các bậc tiền bối có nhiều công lao đóng góp xây dựng làng, Đình còn là nơi hội họp, sinh hoạt Đình trước đây xây dựng 2 nơi Đình Đại : Xây dựng tại xóm Hạ Hòa (gần Miếu Đôi xưa) chuyên để thờ tự, tế
lễ các ngài khai khẩn Đình Trung : Xây dựng tại xóm Trung Hòa (xóm Đình) thờ các bậc tiền nhân có công lớn với làng, và là nơi hội họp, sinh hoạt định kỳ Đình Trung và Đình Đại đều có chung dáng dấp, kiến trúc theo phong cách Á đông thời
cổ Thời điểm xây dựng đầu tiên không rõ năm nào? Gia phả họ Nguyễn Bá có ghi vắn tắt : Đình Trung và Đình Đại được tái thiết tôn tạo vào năm 1825 thời Tự Đức
do ông Nguyễn Bá Mạo làm thợ cả thi công
Năm 1945, mặt trận Việt minh ra đời, cuộc chiến Pháp - Việt bắt đầu bùng nổ Đình Đại, Đình Trung, Văn Thánh, Chùa làng, nhà thờ họ và nhiều công trình có giá trị khác cùng lúc bị thiêu hủy, triệt hạ Toàn bộ nhà cửa vườn tược, cây cối từ Miếu Vua về đến Chùa đều bị tàn phá tạo nên một vùng đất trắng, dân phải di tản lên ở các xóm trên – Mãi đến năm 1955, sau hiệp định đình chiến Giơneve (20 tháng 7 năm 1954), Đình Trung mới được xây lại, vị trí vẫn nằm trên nền đình cũ, nhưng thu hẹp nhỏ hơn Mặt vẫn quay ra hướng Tây Nam, phía trước là dòng sông
Ô Lâu chảy ngang qua (lần này chỉ xây hậu chẩm) mãi đến năm 1999 mới xây thêm tiền đường, cổng Tam quan, đúc sân, lót gạch
Còn vị trí Đình Đại sau này xây trường Tiểu học, trước cửa Tam Quan, tiền đường và trong nội điện có các câu đối bằng chữ Hán khắc trong lòng trụ với nội dung nói về truyền thống uống nước nhớ nguồn, ca ngợi phong cảnh Phước Tích như :
“ Dân dục chỉ trí Phong Điền lý nhật tinh Thần hưởng dáng chi phúc tích súc tuế tăng”
Nghĩa :
Trang 39“Đời sống ấm no, ruộng đất ngày càng rộng lớn Phúc lành ban xuống tích chứa trải dồi dào”
“ Phúc hậu chi sanh nhân vi cơ nghĩa vi chỉ
Đích tứ kỳ đại duy dĩ lập”
Nghĩa :
“ Phúc hậu, nhân nghĩa làm nền tảng
Đại cuộc cương kỷ là quy mô”
“ Bối hậu Hà trì quan cổ nguyệt Diện tiền Ô thuỷ đãi lương phong”
Nghĩa :
“Sau lưng Ao Sen ngắm trăng xưa, Trước mặt Sông Ô đời gió lành”
- Chùa Làng
Chùa được xây dựng tại xóm Hạ Hòa, gần đình làng Phú Xuân Hiện vẫn chưa
rõ thời điểm xây dựng Theo gia phả họ Lê Trọng và họ Nguyễn Bá, đoạn ghi công đức, có ghi : Triều vua Minh Mạng (1820-1840), hai cụ Lê Trọng Hiệp và Nguyễn
Bá Lương làm thợ cả, thi công tu sửa ngôi chùa làng lần thứ nhất Như vậy có thể phỏng đoán thời điểm xây dựng vào những thập niên giữa thế kỷ thứ 18
Năm 1945, do chiến tranh, chùa bị thiêu hủy hoàn toàn Năm 1952, để có nơi thờ tự, tu học, Chùa được dựng tạm thời bằng tranh tre nứa lá trong khuôn viên vườn nhà cụ Lê Trọng Khác tại Xóm Cừa Đoàn Đồng Ấu, tiền than của Gia Đình Phật Tử Phước Phú được hình thành tại thời điểm này
Năm 1957, Chùa được trùng tu trên nền chùa cũ, vẫn mang tên Phước Bửu Tự như lúc nguyên khai Tiền điện Chùa hướng ra nơi hợp lưu của 2 dòng Ô Lâu và Thác Ma Mặt nước lấp lánh, cảnh sắc tươi vui,; thuyền bè tấp nập, dưới sông, trên
bờ khách thập phương qua lại, hết lòng sùng kính
Từ đó đến nay,Chùa luôn được tôn tạo và xây mới thêm nhiều hạng mục như Đài Quan Âm, tường thành Cổng Tam Quan, công trình phụ…
Trang 40Trước cổng tam quan, tiền đường, nội điện đều có những câu đối bằng chữ Hán, khắc vào tường, vào lòng trụ với những nội dung sau:
“ Nhất trần bất đáo Bồ Đề địa Vạn thiện đòng quy Bát Nhã môn”
“Đất Phước phía trước chào sông Ô Lâu Sau nơi đặt Kinh Chùa Bửu là hồ sen Hà Trì”
“Phúc địa cựu Thiền môn cửu phẩm Thanh hương truyền thế đại
Bửu kinh tòng thiếu lĩnh Tam Quy
Hệ tụng lịch tinh sương”
Dịch nghĩa :
“Cửa Thiền cổ trên đất phước Hương thơm cửu phẩm truyền đời đời Bửu kinh truyền từ đất Phật
Tam quy mãi tụng trải năm tháng”
”Phước địa đãi phước nhân Phạm vũ huy hoàng trang tự cổ Bửu đài y Bửu chẩm