http://www.ipcs.vn/vn/bien-doi-khi-hau-va-tang-có tác động lan tỏa đến các thành phần kinh tế khác của nền kinh tế, khơi dậy các nguồnlực đầu tư các nước; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, t
Trang 1GVHD: TS THI NGỌC BẢO DUNG
HỌC VIÊN: NGUYỄN TẤN VIỆT MSHV: 196012052
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Năm 2020
Trang 2Câu 1 (4 điểm): Anh/chị hãy trình bày hiểu biết của mình về mối tương quan
giữa xu hướng phát triển kinh tế của loài người ảnh hưởng đến môi trường sinh thái vàcác yếu tố của biến đổi khí hậu trong giai đoạn 1750 đến 2010
I Các yếu tố kinh tế ảnh hưởng đến môi trường sinh thái và biến đổi khí hậu
xã Lượng chất thải tăng cùng với sự gia tăng dân số.1
2 Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế thế giới trong giai đoạn từ năm 1750 đến năm 1950 chậm.Nhưng từ năm 1950 đến năm 2010 kinh tế thế giới tăng trưởng nhanh Sự tăng trưởngkinh tế quá nóng từ năm 1950 cho đến năm 2010, đặt biệt là giai đoạn cuộc cách mạngcông nghiệp lần thứ 3 bất đầu từ cuối năm 1969, đã dẫn đến những tác động đến môitrường Để tồn tại, phát triển và tăng trưởng kinh tế con người đã, đang và sẽ lấy đi nhiềutài nguyên quý giá, gây mất cân bằng hệ sinh thái Điều này con người phải trả giá nhưgặp phải: Thiên tai, bão lũ, sóng thần, hạn hán, động đất, dịch bệnh…Môi trường toàncầu tiếp tục trở nên tồi tệ Suy giảm đa dạng sinh học tiếp diễn, trữ lượng cá tiếp tụcgiảm sút, sa mạc hoá cướp đi ngày càng nhiều đất đai màu mỡ, tác động tiêu cực củabiến đổi khí hậu đã hiển hiện rõ ràng Thiên tai ngày càng nhiều và ngày càng khốc liệt.Các nước đang phát triển trở nên dễ bị tổn hại hơn Ô nhiễm không khí, nước và biểntiếp tục lấy đi cuộc sống thanh bình của hàng triệu người
3 Đầu tư nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI) là hìnhthức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập
cơ sở sản xuất, kinh doanh; cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ
sở sản xuất kinh doanh này Nguồn FDI đã có những đóng góp tích cực cho nền kinh tế,
1 Tú Anh, Dân số sức ép lên môi trường, truong-kinh-te-W1516.htm
Trang 3http://www.ipcs.vn/vn/bien-doi-khi-hau-va-tang-có tác động lan tỏa đến các thành phần kinh tế khác của nền kinh tế, khơi dậy các nguồnlực đầu tư các nước; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, nâng cao chất lượngnguồn nhân lực và thay đổi cơ cấu lao động; góp phần quan trọng hội nhập sâu rộng vàođời sống kinh tế quốc tế, mở rộng quan hệ đối ngoại… Sự phát triển của đầu tư nướcngoài từ năm 1950 cho đến nay có sự phát triển không đồng đều qua các năm Tuy nhiên,cũng có tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái, một số dự án đã và đang gây ranhững sự cố môi trường nghiêm trọng như:
Nhiều doanh nghiệp FDI chưa tuân thủ nghiêm các quy định về bảo vệ môitrường khi đầu tư sản xuất, kinh doanh Nhiều khu công nghiệp đi vào hoạt động chưathực hiện tốt việc xử lý nước thải cục bộ hoặc có xử lý nhưng đảm bảo tiêu chuẩn xả thải
ra môi trường
Một số doanh nghiệp FDI đã gây ra sự cố môi trường nghiêm trọng, làm biến đổi
hệ sinh thái, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, an sinh xã hội trên địa bàn và gây bức xúctrong dư luận nhân dân Các khu công nghiệp mở rộng làm diện tích rừng bị thu hẹp,cuộc sống, nơi cư trú của các động vật hoang dã, thực vật đã bị xáo trộn, phá hủy, ảnhhưởng xấu đến đa dạng sinh học, tài nguyên nước, thuỷ sản, biến đổi khí hậu và gia tăng
ô nhiễm các lưu vực sông… gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, thiệt hại to lớn vềkinh tế – xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, đời sống, tư tưởng của nhân dân, gâybức xúc dư luận và nhận được sự quan tâm lớn của tất cả người dân
Một số dự án nhập khẩu máy móc, thiết bị lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường không
được phát hiện kịp thời Có chiều hướng dịch chuyển dòng đầu tư nước ngoài tiêu tốnnăng lượng và tài nguyên, nhân lực, không thân thiện với môi trường vào nhưng nhiềuđịa phương không có cơ chế kiểm soát về môi trường Một số dự án chiếm giữ đất lớnnhưng không triển khai gây lãng phí tài nguyên.2
4 Sử dụng nhiên liệu hóa thạch
Để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống và phát triển kinh tế, con người đốt quá nhiềunhiên liệu hóa thạch đã khiến lượng oxy (O2) trong bầu khí quyển suy giảm mạnh Việcđốt nhiên liệu hóa thạch tạo ra các axit như sulfuric, cacbonic và nitric, các chất có nhiềukhả năng tạo thành mưa axit và ảnh hưởng đến các vùng tự nhiên và hủy hoại môitrường
Đặc biệt, việc khai thác, xử lý và phân phối nhiên liệu hóa thạch cũng gây ra cácmối quan tâm về môi trường Việc khai thác than đặc biệt là khai thác lộ thiên bốc lớpphủ của các đỉnh núi và khai thác từ trên xuống và khai thác dạng dải cũng gây nhữngảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, và các hoạt động khai thác dầu khí ngoài khơi cũng
là hiểm họa đối với sinh vật thủy sinh
Các nhà máy lọc dầu cũng có những tác động tiêu cực đến môi trường như ônhiễm nước và không khí Nhất là quá trình chuyển gây ô nhiễm, nhất là những vụ tràndầu Có thể nói, nhắc đến biến đổi khí hậu người ta thường là nói đến đốt nhiên liệu hóathạch
Đánh giá khoa học của Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) cho thấy,việc tiêu thụ năng lượng do đốt nhiên liệu hóa thạch trong các ngành sản xuất năng
2Mở cửa thu hút FDI và vấn đề môi trường,
http://www.tapchicongthuong.vn/bai-viet/mo-cua-thu-hut-fdi-va-van-de-moi-truong-67227.htm
Trang 4lượng, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng… đóng góp khoảng một nửa (46%)vào sự nóng lên toàn cầu, phá rừng nhiệt đới đóng góp khoảng 18%, sản xuất nôngnghiệp khoảng 9% các ngành sản xuất hóa chất (CFC, HCFC) khoảng 24%, còn lại (3%)
là từ các hoạt động khác.3
5 Xây dựng các con đập lớn
Việc gia tăng xây dựng các con đập lớn trên thế giới từ từ năm 1950 cho đến năm
2010, chủ yếu là việc xây dựng các đập thủy điện đã tạo ra những lợi ích đối với xã hội
từ việc xây đập (nông nghiệp, nước, phòng chống thiệt hại và điện năng) Tuy nhiên,việc xây dựng các con đập lớn cũng gây ra những tác hại đối với tự nhiên và sinh vậthoang dã, tác động về địa chất của khu vực hoặc thay đổi dòng chảy và các mức độ tănghoặc giảm sự ổn định, và sự gián đoạn đối với cuộc sống con người Các đập lớn có thểlàm mất toàn bộ hệ sinh thái bao gồm các loài nguy cấp và các loài chưa được phát hiệntrong khu vực, và thay thế môi trường nguyên thủy bằng một hồ chứa nước nội địa Các
hồ chứa sau đập ảnh hưởng đến nhiều mặt sinh thái của sông Địa hình và động lực sôngphụ thuộc vào bề rộng của dòng chảy trong khi đoạn sông bên dưới đập thường trải quathời gian dài để đạt đến trạng thái cân bằng dòng chảy mới Nước xả từ các hồ chứa baogồm cả việc đi qua tourbin thường chứa rất ít chất lơ lửng, và điều này đến lượt nó có thểgây ra sự xáo trộn vật liệu trầm tích đáy và bờ sông gây xâm thực Các điều kiện sinhcảnh ở hạ du có thể bị suy giảm do lượng phù sa không còn đủ để cung cấp các chất dinhdưỡng hữu cơ và vô cơ quan trọng cho các loài sinh vật Có thể làm cho hàm lượng oxyhòa tan trong nước thay đổi Các hồ chứa nước lớn sau đập đã cho thấy những ảnhhưởng của chúng đến hoạt động địa chấn, do sự thay đổi tải trọng cột nước lên nền đất tựnhiên Các đập cũng có vai trò làm gia tăng sự ấm lên toàn cầu Mực nước thay đổi trongđập và hồ chứa là một trong những nguồn chính sinh ra khí nhà kính như metan Trongkhi các đập và hồ chứa che phủ chỉ một phần nhỏ bề mặt trái đất, chúng nuôi dưỡng hoạtđộng sinh học mà có thể sinh ra một lượng lớn khí nhà kính.4
6 Sử dụng tài nguyên nước
Tài nguyên nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo nhưng cũng có thể
bị cạn kiệt tùy vào tốc độ khai thác của con người và khả năng tái tạo của môi trường.Ngày nay, sử dụng nước cho mọi hoạt động đã trở nên phổ biến Tuy nhiên, việc sử dụngkhai thác nguồn tài nguyên này gây ra những hậu quả ảnh hưởng nghiêm trọng tới nguồntài nguyên nước
Khi kinh tế phát triển con người bắt đầu trồng trọt, chăn nuôi thì đồng ruộng dầndần phát triển ở miền đồng bằng màu mỡ, kề bên lưu vực các con sông lớn Lúc đầu cưdân còn ít và nước thì đầy ắp trên các sông hồ, đồng ruộng, cho dù có gặp thời gian khôhạn kéo dài thì cũng chỉ cần chuyển cư không xa lắm là tìm được nơi ở mới tốt đẹp hơn
Vì vậy, nước được xem là nguồn tài nguyên vô tận và cứ như thế qua một thời gian dài,vấn đề nước chưa có gì là quan trọng Tình hình thay đổi nhanh chóng khi cuộc cáchmạng công nghiệp xuất hiện và càng ngày càng phát triển như vũ bão Hấp dẫn bởi nềncông nghiệp mới ra đời, từng dòng người từ nông thôn đổ xô vào các thành phố và
3 Nguyên nhân gây ra Biến đổi khí hậu,
http://iasvn.org/tin-tuc/Nguyen-nhan-gay-ra-Bien-doi-khi-hau-3727.html
4 Đập, https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%ADp#%C4%90%C3%A1nhgi
%C3%A1_t%C3%A1c_%C4%91%E1%BB%99ng
Trang 5khuynh hướng này vẫn còn tiếp tục cho đến ngày nay Ðô thị trở thành những nơi tậptrung dân cư quá đông đúc, tình trạng này tác động trực tiếp đến vấn đề về nước càngngày càng trở nên nan giải Nhu cầu nước càng ngày càng tăng theo đà phát triển của nềncông nghiệp, nông nghiệp và sự nâng cao mức sống của con người Theo sự ước tính,bình quân trên toàn thế giới có chừng khoảng 40% lượng nước cung cấp được sử dụngcho công nghiệp, 50% cho nông nghiệp và 10% cho sinh hoạt Nhu cầu nước càng ngàycàng tăng theo đà phát triển của nền công nghiệp, nông nghiệp và sự nâng cao mức sốngcủa con người Phần nước tiêu hao không hoàn lại do sản xuất công nghiệp chiếmkhoảng từ 1 - 2% tổng lượng nước tiêu hao không hoàn lại và lượng nước còn lại sau khi
đã sử dụng được quay về sông hồ dưới dạng nước thải chứa đầy những chất gây ônhiễm.5
7 Tiêu thụ phân bón
Phân bón phục vụ cho ngành trồng trọt trên thế giới Để tăng năng suất cây trồngcon người ngày càng sử dụng nhiều phân bón hóa học Nhu cầu sử dụng phân bón liên
tục tăng từ năm 1950 đến năm 2010 Việc sử dụng phân bón hợp lí là một cách để tăng
độ phì của đất Tuy nhiên việc sử dụng phân bón không hợp lí, dù là phân hữu cơ hay vô
cơ đều gây hại tiềm tàng đến môi trường Một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất làviệc sử dụng chất dinh dưỡng không cân đối làm cho đất bị mất độ phì, giảm năng suấtcây trồng và môi trường bị suy thoái, đặc biệt là làm ô nhiễm nguồn nước Phân bón ảnhhưởng đến môi trường chủ yếu là do con người gây ra: Bón dư thừa các yếu tố dinhdưỡng hoặc bón phân không đúng cách Phân bón gây ô nhiễm môi trường là do lượng
dư thừa các chất dinh dưỡng do cây trồng chưa sử dụng được hoặc do bón không đúngcách… Việc sử dụng phân bón vô cơ và hữu cơ không đúng có thể gây ra những hậu quảnhư sau:
- Với môi trường đất: Phân bón bị rửa trôi theo chiều dọc xuống tầng nước ngầmchủ yếu là phân đạm vì các loại phân lân và kali dễ dàng được giữ lại trong keo đất.Ngoài phân đạm đi vào nguồn nước ngầm còn có các loại hóa chất cải tạo đất như vôi,thạch cao, hợp chất lưu huỳnh, Nếu như phân đạm làm tăng nồng độ nitrat trong nướcngầm thì các loại hóa chất cải tạo đất làm tăng độ mặn, độ cứng nguồn nước Phân bóntrong quá trình bảo quản hoặc bón vãi trên bề mặt gây ô nhiễm không khí do bị nhiệt làmbay hơi khí amoniac có mùi khai, là hợp chất độc hại cho người và động vật Mức độ gây
ô nhiễm không khí trường hợp này nhỏ, hẹp không đáng kể so với mức độ gây ô nhiễmcủa các nhà máy sản xuất phân đạm nếu như không xử lý triệt để
Ảnh hưởng đến môi trường nước: Một lượng lớn phân bón bị rửa trôi từ đất vàonước làm nước bị ô nhiễm gây ô nhiễm môi trường nước Anion NO3- trong phân bón cótính linh động cao nên dễ bị rửa trôi xuống các tầng sâu hoặc xuống các thủy vực, ônhiễm các mạch nước ngầm, thủy vực Từ đó có cơ hội gây bệnh cho người và động vật.Hàm lượng N, P, K thường cao trong phân bón vô cơ nên khi bị rửa trôi vào môi trườngnước hoặc thấm qua các tầng đất tới các mạch nước ngầm làm làm lưu vực đó bị phì
5 Dương Thị Mộng Huyền, Trần Thị TRà My, Nguyễn Thị Liên, Trần Thục Khánh Hậu, Võ Thị
Ngọc Luyến, Nguyễn Hữu Nhân và Huỳnh Phương Thì, Luận văn Tài nguyên nước và hiện
trạng tài nguyên nước, https://data.opendevelopmentmekong
.net/dataset/4cfe18f6-b745-4004-nuoc-va-hien-trang-su-dung-nuoc.pdf
Trang 681fb-2ca84bc4650f/resource/4fd2e485-f104-4745-a8ed-e173fd341e71/download/tai-nguyen-dưỡng, nước ngầm thì bị ô nhiễm và chứa các kim loại nặng Phân bón đi vào nguồnnước mặt gây ảnh hưởng xấu như: Gây phì hóa nước và tăng nồng độ nitrat trong nước
Phân bón vô cơ có thể chứa một số chất gây độc hại cho cây trồng và cho conngười như các kim loại nặng, các chất kích thích sinh trưởng khi vượt quá mức quy định.Các yếu tố vi lượng như Đồng (Cu), Kẽm (Zn)… rất cần thiết cho cây trồng sinh trưởng
và phát triển và có khả năng nâng cao khả năng chống chịu cho cây trồng Tuy nhiên khilạm dụng các yếu tố trên lại trở thành những loại kim loại nặng khi vượt quá mức sửdụng cho phép và gây độc hại cho con người và gia súc
Đối với phân hữu cơ chưa qua xử lý gây ô nhiễm đất nghiêm trọng do trong phân
có chưa một số lượng lớn các vi sinh vật gây bệnh như vi khuẩn E.Coli gây bệnh đườngruột, các ấu trùng sán lá, thương hàn, ký sinh trùng giun, sán,… các kim loại nặng cònđược lưu giữ trong đất nếu đất dược bón phân hữu cơ có nguồn gốc từ các bùn thải hố xí,bùn cống, …Phân hữu cơ sau khi làm ô nhiễm cho môi trường đất thì dễ dàng làm thayđổi tính chất của các hệ mạch nước ngầm, đặc biệt cung cấp cho hệ mạch nước ngầm và
hệ thống nước bề mặt những ấu trùng gây bệnh, hệ vi sinh vật gây nhiễm khuẩn chongười và động vật sử dụng nước ô nhiễm Quá trình phân huỷ các chất hữu cơ trongphân hữu cơ tạo ra các khí nhà kính Các quá trình phân hủy háo khí tạo ra CO2, phânhủy kỵ khí tạo ra các khí như CH4, H2S, NOx, SO2, … đều là những khí nhà kính mạnh.Quá trình phản ứng nitrat hóa biến NO3- trong đất thành NOx, N2, … hoặc khi bón phânvào ngày nắng thì NH4- biến thành NH3 bay vào khí quyển gây mùi hôi thối trong khôngkhí và góp phần giữ nhiệt trên bề mặt trái đất, tham gia vào sự làm nóng lên trên toàncầu một cách tích cực
8 Sản xuất giấy
Ngành công nghiệp sản xuất giấy và bột giấy là một trong những ngành rất quantrọng đối với chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia Công nghiệp giấyđược coi là một trong những ngành mũi nhọn góp phần xóa đói giảm nghèo, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế vùng sâu vùng xa Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực
mà ngành sản xuất giấy mang lại, với đặc điểm của ngành công nghiệp này là sử dụngnhiều năng lượng, nguyên nhiên liệu và hóa chất, có khả năng phát thải độc hại, thì đâycũng là một trong những ngành sản xuất gây ô nhiễm môi trường đáng kể Từ năm 1950đến năm 2010, sản lượng sản xuất giấy ngày càng tăng Việc sản xuất giấy có thể gây ramột số tác động môi trường như:
a) Ô nhiễm môi trường do nước thải
Các nhà máy giấy và bột giấy sinh ra một lượng lớn nước thải từ quá trình sảnxuất, thành phần nước thải của ngành này có độc tính rất cao do chứa các hỗn hợp phứctạo từ dịch chiết trong thân cây như nhựa, axit béo, lignin và một số sản phẩm phân hủycủa lignin đã bị clo hóa có độc tính sinh thái cao, có nguy co gây ung thu và rất khó phânhủy trong môi trường Nếu lượng nước thải này không được xử lý thì có thể ảnh hưởngnghiêm trọng tới chất lượng nguồn tiếp nhận
b) Ô nhiễm môi trường không khí
Từ công nghệ sản xuất có thể thấy, các tác động của hoạt động sản xuất giấy lênmôi trường không khí ở các công nghệ sản xuất, nghiền bột và xeo giấy:
Trang 7- Quá trình sản xuất giấy, bột giấy phát sinh ra các hóa chất, hơi hóa chất như: hơiclo trong quá trình tẩy trắng, hơi xút trong quá trình kiềm hóa v.v.
- Quá trình nghiền và sản xuất nguyên liệu: Bụi sinh ra khi xay, nghiền nguyênliệu gỗ; Các khí có mùi trong quá trình sàng rửa, tẩy trắng, chế biến, khử bọt; khí H2S,hơi mercaptane thoát ra từ nấu bột; tiếng ồn và độ rung do hoạt động của các máynghiền, sàng, các động cơ điện; khí SOx, NOx, v.v thải từ các quá trình đốt nhiên liệucung cấp cho lò hơi
- Quá trình xeo giấy: Trong khâu sấy khô, hơi nước từ các tấm giấy được thổi vàokhông khí kéo theo các hydrocacbon, các chất trong nguyên liệu gỗ, gây ô nhiễm môitrường; Ô nhiễm nhiệt từ các nguồn nhiệt dư (nồi hơi, các máy xeo giấy); Ô nhiễm khóithải nhiên liệu từ lò hơi, máy xeo giấy
- Quá trình xông lưu huỳnh: Gây ô nhiễm không khí bởi khí thải từ lò xông lưuhuỳnh và khí thải do đốt nhiên liệu cung cấp nhiệt năng cho lưu huỳnh bốc hơi
c) Ô nhiễm môi trường do chất thải rắn
Ô nhiễm môi trường do chất thải rắn phát sinh từ sản xuất giấy và bột giấy baogồm: chất thải rắn sinh hoạt (các loại bao bì, giấy các loại, túi nilông, thủy tinh, vỏlon ); chất thải rắn sản xuất (bùn cặn từ bể tự hoại, bùn thải từ trạm xử lý nước thải, tạpchất của giấy phế liệu, xỉ than lò hơi, lò đốt, ); chất thải nguy hại.6
9 Đô thị hóa và sự tập trung dân số ở các đô thị
Quá trình đô thị hoá tương đối nhanh và sự tập trung dân số ở các đô thị đã cónhững ảnh hưởng đáng kể đến môi trường và tài nguyên thiên nhiên, đến sự cân bằngsinh thái: tài nguyên đất bị khai thác triệt để để xây dựng đô thị, làm giảm diện tích câyxanh và mặt nước, gây ra úng ngập, cùng với nhu cầu nước phục vụ sinh hoạt, dịch vụ,sản xuất ngày càng tăng làm suy thoái nguồn tài nguyên nước…Từ năm 1750 đến năm
1900 tốc độ đô thị hóa ở mức ổn định và gần như không tăng đáng kể Từ năm 1900 tốc
độ đô thị hóa bắt đầu tăng dần đến năm 1950, sau năm 1950 đến năm 2000 ‘’bùng nổ đôthị hóa’’ Đô thị hoá với tốc độ nhanh đã gây ra những vấn đề môi trường nan giải Năm
1999, số dân thành thị trên toàn thế giới là 2,8 tỷ người, gấp 4 lần so với năm 1950 Hiệnnay, có tới một nửa dân số thế giới sống ở thành thị, những thách thức về môi trường bắtnguồn một phần từ các đô thị Chính các thành phố đã sản sinh ra 75% lượng CO2 trêntoàn cầu vì sử dụng nhiên liệu hoá thạch và tiêu thụ 3/4 lượng gỗ công nghiệp thế giới.Tốc độ đô thị hoá nhanh, những vấn đề môi trường như ô nhiễm không khí và nước đangtrở nên tồi tệ ở những nơi Chính phủ không đủ năng lực xây dựng và quản lý cơ sở hạtầng về giao thông, nước và xử lý rác thải
Sự chênh lệch về tốc độ phát triển dân số giữa các nước công nghiệp hoá và cácnước đang phát triển gia tăng, dẫn đến sự nghèo đói ở các nước đang phát triển và sự tiêuphí dư thừa ở các nước công nghiệp hoá Sự chênh lệch ngày càng tăng giữa đô thị vànông thôn, giữa các nước phát triển công nghiệp và các nước kém phát triển dẫn đến sự
di dân ở mọi hình thức
6 Võ Thị Cẩm Bình, Các tác động môi trường trong ngành sản xuất Giấy, bột Giấy và đề xuất
giải pháp quản lý,
http://vimluki.vn/cac-tac-dong-moi-truong-trong-nganh-san-xuat-giay-bot-giay-va-de-xuat-giai-phap-quan-ly-6671.html
Trang 8Các chất khí thải, nước, rắn, chất độc hại cho môi trường không phải là cục bộnữa mà là có quy mô rộng lớn Các dòng xả nước thải gây ra ô nhiễm môi trường nướcmặt, nước ngầm, gây ô nhiễm đất Các loại bụi bẩn hóa chất, silic, vụn thép, muội bámtrên lá cây, phủ trên mặt đất, đi theo đường hô hấp vào phổi người, gây hại cho sức khỏecon người.
Đô thị hóa dẫn đến nhiều thay đổi có liên quan trực tiếp đến khí hậu và môitrường Một số thay đổi đó như: thay đổi mô hình sử dụng đất, tăng trưởng mật độ dân
số, tăng sử dụng phương tiện giao thông và năng lượng hoạt động chuyên sâu, tăngtrưởng công nghiệp, tăng cường tiêu dùng và thải loại chất thải
Nếu đô thị hóa không có kế hoạch tăng trưởng dẫn đến gây thiệt hại lan rộng đến
hệ sinh thái hiện tại, nạn phá rừng và mất đất nông nghiệp, ảnh hưởng đến khí hậu vàmôi trường Đường bê tông xi măng, các tòa nhà và đường băng thay đổi các suất phảnchiếu của các đô thị, là giảm dòng chảy tự do của không khí
10 Giao thông
Cùng với sự tăng trưởng kinh tế và phát triển của khoa học kỹ thuật, hệ thốnggiao thông ngày càng được mở rộng và hoàn thiện, nhu cầu sử sử dụng của con ngườicũng vì đó mà tăng cao Bên cạnh mặt tích cực mà nó đem lại như vận chuyển, lưuthông hàng hoá trên thị trường, mở rộng thị trường, giảm thiểu các chi phí và đem lạinhiều cơ hội hợp tác từ bên ngoài, phương tiện đi lại của con người… thì nó cũng gây ranhững tác động xấu đến môi trường, gây nguy hại cho sức khỏe con người và làm suygiảm chất lượng cuộc sống đô thị Quá trình hoạt động của các phương tiện giao thôngthải lượng lớn các chất như: Bụi, CO, NO2, SO2, hơi xăng dầu, bụi chì, benzen… gây ônhiễm môi trường không khí Sự phát thải của các phương tiện cơ giới đường bộ phụthuộc nhiều vào chất lượng các loại xe Đối với ô tô, xe máy qua nhiều năm sử dụng cóchất lượng thấp, hiệu quả sử dụng nhiên liệu thấp, nồng độ chất độc hại, bụi trong khí xảcao… là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Trong đó, xe máy là nguồnđóng góp chính các loại khí ô nhiễm, đặc biệt là khí thải CO Xe tải và xe khách các loạilại thải nhiều NO2.7
11 Mạng lưới viễn thông
“Bùng nổ công nghệ’’ là cụm từ mà nhiều năm trở lại đây đã không còn xa lạ đốivới con người, nó dần thay thế con người trong nhiều hoạt động như liên lạc, vận chuyểnthanh toán, gặp gỡ,…chẳng hạn như thư điện tử (mail), điện thoại, máy fax, nó tưởngchừng như vô hại nhưng tiền ẩn những tác hại vô cùng to lớn
Theo thống kê của tổ chức StEP (Solving the E-Waste Problem - Giải quyết Vấn
đề Rác thải điện tử) thuộc Liên hiệp quốc, có đến 60 nguyên tố bao gồm các chất chốngcháy và những hoá chất độc hại khác trong rác thải từ điện thoại, laptop hay máy tínhbảng,
7 Phạm Thị Huế, Tác động của hoạt giao thông vận tải đến môi trường và đề xuất giải pháp
giảm phát thải khí nhà kính
http://tapchimoitruong.vn/pages/article.aspx?item=T%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%99ng-c%E1%BB%A7a-ho%E1%BA%A1t-giao-th%C3%B4ngv%E1%BA%Adn-t%E1%BA%A3i-%C4%91%E1%BA%BFn-m%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-v%C3%A0-%C4%91%E1%BB%81-xu%E1%BA%A5t-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-gi%E1%BA%A3m-ph%C3%A1t-th%E1%BA%A3i-kh%C3%AD-nh%C3%A0-k%C3%ADnh-47210
Trang 9Mạng Internet với các công cụ ảo được coi như một công nghệ hữu ích góp phầnlàm giảm các hoạt động gây ô nhiễm Chẳng hạn thư điện tử (email) giúp việc liên lạcnhanh hơn và hạn chế giấy thải, các cuộc hội thảo trực tuyến qua mạng giúp giảm cáckhoản đi lại, vận chuyển Hiệu quả của Internet đã làm lu mờ mối bận tâm về mức độ gây ônhiễm của chính nó.
Nhưng thực tế là các trung tâm dữ liệu và các thiết bị phục vụ việc sử dụng mạng lạingốn một lượng năng lượng dữ dội và thải ra một lượng khí CO2 không nhỏ Theo báo cáocủa Công ty nghiên cứu Gartner, khí thải của ngành công nghệ truyền thông và thông tinchiếm khoảng 2% lượng khí thải toàn cầu, tức tương đương với cả ngành hàng không Cáctrung tâm xử lý dữ liệu chiếm 25% lượng khí thải này, trong khi các thiết bị như máy vitính, màn hình chiếm đến 40%
Nếu không tính lượng khí thải từ các hoạt động không nối mạng như soạn thảo vănbản, mạng Internet “đóng góp” khoảng 1% lượng khí thải ô nhiễm toàn cầu Nói cách khác,Internet thải ra khoảng 300 triệu tấn CO2 mỗi năm, nhiều hơn toàn bộ khí thải từ các hoạtđộng đốt dầu, than và khí đốt ở Thổ Nhĩ Kỳ hay Ba Lan cộng lại
Việc tính toán cụ thể từng hoạt động gây ô nhiễm của Internet cũng đã được nhiềunhà khoa học tìm hiểu Báo cáo của các chuyên gia Đại học Harvard năm ngoái cho biếtmỗi cú click chuột vào ô tìm kiếm trên trang Google tạo ra khoảng 7gam CO2 và hai lượttìm kiếm như vậy tương đương lượng khí CO2 thải ra của việc đun sôi một ấm nước Con
số không hề nhỏ nếu nhân với hàng trăm triệu lượt tìm kiếm trên Google mỗi ngày Ngoài
ra, nghiên cứu trên cũng ước tính mỗi giây lướt web trên mạng Internet thải ra khoảng 20miligam CO2.8
12 Du lịch quốc tế
Du lịch tuy được coi là ngành “công nghiệp không khói”, nhưng sự gia tăng dulịch trên thế giới đã gây ô nhiễm khí thông qua phát xả khí thải động cơ xe máy và tàuthuyền, đặc biệt là ở các trọng điểm và trục giao thông chính, gây hại cho cây cối, độngvật hoang dại và các công trình xây dựng bằng đá vôi và bê tông Bụi và các chất gây ônhiễm không khí xuất hiện chủ yếu là do các hoạt động giao thông, do sản xuất và sửdụng năng lượng tăng cường sử dụng giao thông cơ giới là nguyên nhân đáng kể gâynên bụi bặm và ô nhiễm môi trường Trạng thái ồn ào phát sinh do việc tăng cường sửdụng các phương tiện cơ giới như thuyền, phà gắn máy, xe máy…cũng như hoạt độngcủa du khách tại các điểm du lịch tạo nên những hậu quả trước mắt cũng như lâu dài.Các yếu tố ô nhiễm như là rác và nước thải không được xử lí đúng mức sẽ ảnh hưởngtrực tiếp đến các hệ sinh thái ở dưới nước Hoạt động của du khách có tác động lớn đến
hệ sinh thái…các hoạt động du lịch dưới nước như thu nhặt sò, ốc, khai thác san hô làm
đồ lưu niệm và thả neo tại những bãi đá san hô đều làm gia tăng việc huỷ hoại bãi san
hô, nơi sinh sống của các loài động vật ở dưới nước Việc săn bắt chuyên nghiệp cũnggóp phần làm giảm đi nhiều loài sinh vật đang bị đe doạ diệt vong Du lịch kéo theo việcxây dựng kết cấu hạ tầng, khách sạn và công trình dịch vụ du lịch Điều này tất yếu dẫnđến việc xâm lấn những diện tích đất trước đây là những cảnh quan thiên nhiên, nhữngkhu đất trồng trọt và chăn nuôi Hoạt động phát triển các khu du lịch thường dẫn đếnviệc giảm quỹ đất canh tác nông nghiệp Ô nhiễm môi trường sống cùng với việc mất đi
8 Trần Phương, Internet gây ô nhiễm tương đương ngành hàng không,
https://congnghe.tuoitre.vn/internet-gay-o-nhiem-tuong-duong-nganh-hang-khong-395541.htm
Trang 10những cảnh quan thiên nhiên, những khu đất chăn nuôi là những nhân tố làm cho một sốloài thực vật và động vật dần dần bị mất nơi cư trú Việc khai thác và sử dụng đất ngàycàng tăng đang ảnh hưởng đến môi trường sống của hệ động thực vật Nhu cầu của dukhách về hải sản được coi là nguyên nhân chính tác động mạnh đến môi trường của tômhùm và các hải sản có giá trị khác Đối với các hệ sinh thái nước ngọt (sông, hồ) việcđánh bắt cá để đáp ứng nhu cầu của khách cũng là mối đe doạ các động vật có giá trị, đặcbiệt là cá sấu.
13 Đánh bắt cá biển
Với sự phát triển của nền văn minh, con người cần lượng thực phẩm lớn, để đápứng nhu cầu đó con đã đẩy mạnh đánh bắt cá biển Sản lượng đánh bắt cá của thế giớităng đều đặn đến năm 1990, sau đó ổn định ở mức khoảng 90 triệu tấn/năm Nguyênnhân của việc đánh bắt dừng tăng trưởng là sự cạn kiệt trữ lượng cá và động vật khôngxương sống tại các ngư trường truyền thống Những năm gần đây việc đánh bắt buộcphải chuyển sang độ sâu lớn hơn và loài cá ít giá trị hơn, cũng như đến các khu vực mớinhư các vùng biển nhiệt đới Ấn Độ dương và Thái Bình dương Hiện nay mức độ khaithác ổn định trữ lượng cá trên thế giới là quá mức Nhiều quần thể cá có giá trị đánh bắt
bị tổn hại Khoảng 300 con rùa biển được tìm thấy đã chết do vướng vào ngư cụ ngoàikhơi bờ biển Oaxaca, Mexico Cá voi đang mang thai đã được tìm thấy vướng vào thiết
bị đánh cá ngoài khơi bờ biển Orkney, Scotland Thiết bị câu cá bị kẹt trong hàm cá, vàcác nhà khoa học cho biết lưới sẽ làm cho cá voi suy yếu vì khó ăn và di chuyển Từ giữathế kỷ XX đến nay, do khai thác quá mức, gần 30% các loài sinh vật biển có giá trị đánhbắt đã ở trạng thái giảm sút nghiêm trọng (nghĩa là sản lượng đánh bắt được ở dưới 10%của mức tối đa) Ngày nay, trên thế giới sự tăng trưởng của sản xuất thủy sản được đảmbảo chủ yếu nhờ sự gia tăng mạnh mẽ của ngành nuôi trồng thủy sản Sự phát triển nuôitrồng thủy sản tự phát gây tác hại lớn cho các hệ sinh thái nước do ô nhiễm, phú dưỡng
và sự phá vỡ cấu trúc của các quần thể cá cũng như thủy sinh vật tự nhiên khác.9
14 Hoạt động nuôi tôm
Hoạt động nuôi tôm đang đứng trước những thách thức do dịch bệnh và ô nhiễmmôi trường do quy mô nuôi thâm canh ngày càng tăng; trong đó thức ăn dư thừa và các
vi sinh vật có hại đóng vai trò chính gây nên khí nhà kính và dịch bệnh trên tôm nuôi.Lượng thức ăn công nghiệp được sử dụng cho nuôi tôm ngày càng lớn kéo theo sự giatăng chất thải ra môi trường nước Lượng nước thải sinh ra có liên quan đến công nghệsản xuất thức ăn nuôi tôm và quy trình nuôi tôm Nguồn gốc chủ yếu của các chất gây ônhiễm môi trường chính là thức ăn thừa, phân tôm và quá trình chuyển hóa dinh dưỡng.Trong nước thải cũng có dư lượng các chất kháng sinh, thuốc trị bệnh Nước thải mangtheo một lượng lớn hợp chất nitơ, phốtpho và các chất dinh dưỡng khác, tạo nên sự siêudưỡng, làm nở rộ vi khuẩn Sự có mặt của các hợp chất carbonic và chất hữu cơ sẽ làmgiảm oxy hòa tan và tăng BOD, COD, H2S, ammonia và hàm lượng CH4 trong lưu vực tựnhiên Việc xả thải diễn ra liên tục, không có thời gian gián đoạn để môi trường đượcphục hồi, mầm bệnh bị cắt thì mùn bã hữu cơ sẽ tích lũy làm môi trường nước trở nênphú dưỡng, nghề nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh sẽ lại càng chịu rủi ro nhiều hơnnữa Mặt khác, hạ tầng phục vụ các vùng nuôi tôm chưa hoàn chỉnh, hệ thống thủy lợivốn là hệ thống phục vụ cho nhu cầu canh tác nông nghiệp; nhiều khu nuôi tôm chưa có
9 Sự biến đổi đa dạng sinh học do tác động của con người và an ninh sinh thái,
http://trungtamnhietdoivietnga.com.vn/?p=601
Trang 11kênh cấp, kênh xả riêng biệt, thậm chí nhiều đoạn kênh bị bồi lắng, đáy kênh cao hơnđáy ao nuôi tôm Hậu quả là mầm bệnh vẫn tồn lưu trong khu nuôi tôm khi các ao tôm bịbệnh thải nước ra môi trường bên ngoài, nên khả năng lây nhiễm rất cao, làm ô nhiễmnguồn nước trên diện rộng.
II Các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng đến môi trường sinh thái và biến đổi khí hậu từ năm 1750 đến năm 2010
1 Khí Carbon dioxit (CO 2 )
Từ năm 1750 đến năm 1950 lượng khí thải CO2 tăng dần đều qua các năm nhưngkhông đáng kể tuy nhiên tăng đột biến sau năm 1950 kéo dài đến nay Trái đất phản xạnăng lượng vào vũ trụ với tỷ lệ mà Trái đất hấp thụ năng lượng từ mặt trời Năng lượngmặt trời chiếu xuống Trái đất dưới dạng bức xạ sóng ngắn Một phần bức xạ được bề mặttrái đất và khí quyển phản xạ trở lại, còn phần lớn các bức xạ xuyên qua khí quyển vàlàm nóng bề mặt trái đất Trái đất giải phóng các năng lượng này (đưa chúng trở lại vũtrụ) dưới dạng sóng dài - bức xạ hồng ngoại
Những số liệu về hàm lượng khí CO2 trong khí quyển được xác định từ các lõibăng được khoan ở Greenland và Nam cực cho thấy, trong suốt chu kỳ băng hà và tanbăng (khoảng 18.000 năm trước), hàm lượng khí CO2 trong khí quyển chỉ khoảng 180-200ppm (phần triệu), nghĩa là chỉ bằng khoảng 70% so với thời kỳ tiền công nghiệp(280ppm) Từ khoảng năm 1800, hàm lượng khí CO2 bắt đầu tăng lên, vượt con số300ppm và đạt 379ppm vào năm 2005, nghĩa là tăng khoảng 31% so với thời kỳ tiềncông nghiệp, vượt xa mức khí CO2 tự nhiên trong khoảng 650 nghìn năm qua
Hàm lượng các khí nhà kính khác như khí mêtan (CH4), ôxit nitơ (N2O) cũngtăng lần lượt từ 715ppb (phần tỷ) và 270ppb trong thời kỳ tiền công nghiệp lên 1774ppb(151%) và 319ppb (17%) vào năm 2005 Riêng các chất khí chlorofluoro carbon (CFCs)vừa là khí nhà kính với tiềm năng làm nóng lên toàn cầu lớn gấp nhiều lần khí CO2, vừa
là chất phá hủy tầng ôzôn bình lưu, chỉ mới có trong khí quyển do con người sản xuất ra
kể từ khi công nghiệp làm lạnh, hóa mỹ phẩm phát triển
Từ năm 1840 đến 2004, tổng lượng phát thải khí CO2 của các nước giàu chiếm tới70% tổng lượng phát thải khí CO2 toàn cầu, trong đó ở Hoa Kỳ và Anh trung bình mỗingười dân phát thải 1.100 tấn, gấp khoảng 17 lần ở Trung Quốc và 48 lần ở Ấn Độ
Riêng năm 2004, lượng phát thải khí CO2 của Hoa Kỳ là 6 tỷ tấn, bằng khoảng20% tổng lượng phát thải khí CO2 toàn cầu Trung Quốc là nước phát thải lớn thứ 2 với 5
tỷ tấn CO2, tiếp theo là Liên bang Nga 1,5 tỷ tấn, Ấn Độ 1,3 tỷ tấn, Nhật Bản 1,2 tỷ tấn,CHLB Đức 800 triệu tấn, Canada 600 triệu tấn, Vương quốc Anh 580 triệu tấn Các nướcđang phát triển phát thải tổng cộng 12 tỷ tấn CO2, chiếm 42% tổng lượng phát thải toàncầu so với 7 tỷ tấn năm 1990 (29% tổng lượng phát thải toàn cầu), cho thấy tốc độ phátthải khí CO2 của các nước này tăng khá nhanh trong khoảng 15 năm qua
Trong thành phần của khí quyển trái đất, khí nitơ chiếm 78% khối lượng, khí oxychiếm 21%, còn lại khoảng 1% các khí khác như argon, đioxit cacbon, mêtan, ôxit nitơ,nêon, hêli, hyđrô, ôzôn,… và hơi nước Tuy chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, các khí vết này,đặc biệt là khí CO2, CH4, NOx, và CFCs - một loại khí mới chỉ có trong khí quyển từ khicông nghệ làm lạnh phát triển, là những khí có vai trò rất quan trọng đối với sự sống trêntrái đất Trước hết, đó là vì các chất khí nói trên hấp thụ bức xạ hồng ngoại do mặt đấtphát ra, sau đó, một phần lượng bức xạ này lại được các chất khí đó phát xạ trở lại mặt
Trang 12đất, qua đó hạn chế lượng bức xạ hồng ngoại của mặt đất thoát ra ngoài khoảng không
vũ trụ và giữ cho mặt đất khỏi bị lạnh đi quá nhiều, nhất là về ban đêm khi không có bức
xạ mặt trời chiếu tới mặt đất.10
2 Khí Nitơ oxit
NOx ô nhiễm xảy ra khi oxit nitơ được phát hành dưới dạng khí vào khí quyểntrong quá trình đốt nhiệt độ cao của nhiên liệu hóa thạch Nitơ oxit chủ yếu bao gồm haiphân tử, nitric oxide (NO) và nitơ đioxit (NO2 ) Phân tử nitơ có trụ sở khác cũng đượccoi là NOx nhưng xảy ra nồng độ trong thấp hơn nhiều Một phân tử liên quan chặt chẽ,nitơ oxit (N2O), là một đáng kể khí nhà kính đóng vai trò trong sự thay đổi khí hậu toàncầu Khí NOx đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành sương khói, sản xuấtcác đám mây màu nâu thường thấy trên các thành phố, đặc biệt là trong mùa hè Khi tiếpxúc với tia UV trong ánh sáng mặt trời, các phân tử NOx phá vỡ và hình thức ozone(O3) Vấn đề là làm trầm trọng hơn bởi sự hiện diện trong khí quyển của các hợp chấthữu cơ dễ bay hơi (VOC), cũng tương tác với NOx để tạo thành phân tử nguyhiểm Ozone ở tầng trệt là một chất gây ô nhiễm nghiêm trọng, không giống như cáctầng ozone bảo vệ cao hơn nhiều trong tầng bình lưu Có 78% nitơ trong không khíchúng ta hít thở hàng ngày và chúng không kết hợp với oxy ở điều kiện bình thường
nhưng khi ở nhiệt độ cao Nitơ kết hợp với oxy và tạo ra oxit nitơ (NOx) Nitơ oxit hình
thành từ sự kết hợp nitơ và oxy từ các thiết bị hoặt động ở nhiệt độ cao như nồi hơi, lòcao, lò đốt, động cơ xe…Oxit Nitơ từ các nguồn trên bị oxy hóa bởi hơi nước trong khíquyển và biến đổi thành axít sulfuric hoặc axit nitric có tác động tiêu cực đến sinh vậttrên trái đất
Khí Nitơ đioxit (NO2) là nguyên nhân gây ra bệnh khí phế thũng phổi hoặc viêmphế quản, và thông qua hydrocarbon trong khí quyển và ánh sáng mặt trời, nó có thể tạo
ra khói quang hóa ozon (O3), formaldehyde (HCHO); các chất này làm ảnh hưởng đến
cơ thể con người qua mắt hoặc mũi Khí Nitơ monoxit (N2O) gây ra hiệu ứng nhà, vàkhi phản ứng với nước, nó sẽ trở thành axit nitric (HNO3) và có thể gây ra suy giảm tầngôzôn và mưa axit Mưa axit có thể gây ra những tác động gây hại đáng kể cho môitrường Các loài thủy sản bị tổn hai trước tiên bởi mưa axit, sau đó đất sẽ bị ô nhiễm vàgây hại cho cây trồng, tiếp theo cơ thể con người khi ăn vào…
NO2 và NOx tương tác với nước, oxy và các hóa chất khác trong khí quyển để tạothành mưa axit Mưa axit gây hại cho các hệ sinh thái nhạy cảm như hồ và rừng Các hạtnitrat tạo ra từ NOx làm cho không khí trở nên mờ và khó nhìn thấy NOx trong khíquyển góp phần gây ô nhiễm chất dinh dưỡng ở vùng nước ven biển
10 Nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu,
http://iasvn.org/tin-tuc/Nguyen-nhan-gay-ra-Bien-doi-khi-hau-3727.html
Trang 13theo mùa và theo địa lý Tình trạng suy thoái tầng ozone bình lưu xảy ra mạnh mẽ ởnhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là hai cực trái đất Tại Nam cực, kể từ khi phát hiện lỗthủng ozone ở đây vào năm 1985, theo số liệu của các cơ quan nghiên cứu quốc thế, kíchthước lỗ thủng tầng ozone không ngừng tăng lên, đạt 27,2 triệu km2 vào 19/9/1998 và28,3 triệu km2 vào 3/9/2000.
Ozone có nhiều dải hấp thụ từ dải hồng ngoại cho tới cực tím Bức xạ mặt trờikhi xuống mặt mặt đất chia ra làm hai vùng: vùng hoạt động có bước sóng 0,28 – 0,315
µm (cực tím A) và 0,315 – 0,4 µm (cực tím B) Ở nồng độ vừa phải, bức xạ cực tím cótác động tích cực (tạo nên vitamin A), nhưng ở nồng độ cao gây nên bỏng và ung thư da
ở người và giảm tốc độ phát triển của động thực vật Mặc dù cường độ bức xạ mặt trời(UVR) phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng UNEP và WHO ước tính rằng: nếu ozonebình lưu giảm 1% thì sẽ tăng 2% UVR trên bề mặt trái đất và do đó tăng 0,6 – 0,8% cađục thủy tinh thể, 2% ca mắc ung thư da không sắc tố, 0,6% tỷ lệ mắc sắc tố ác tính Nếuozone bình lưu giảm 10% thì ung thư da không sắc tố tăng 24%, nếu suy giảm 30% sẽtăng gấp đôi và khi giảm 50% sẽ tăng gấp 4 lần Đối với mắt, ozone bình lưu suy giảm1% thì sẽ tăng 0,6 - 0,8% số ca đục thủy tinh thể, có nghĩa là từ 100.000 – 150.000 ngườitrên thế giới mắc bệnh mỗi năm Đối với hệ miễn dịch của con người, bức xạ cực tím(UVB) làm xáo trộn các quy tắc của hệ miễn dịch, các kháng thể chống lại bệnh tật vàlàm giảm khả năng của cơ thể chống lại các bênh ung thư da không sắc tố, ung thư dasắc tố, dị ứng…
Trong nhứng năm gần đây, theo dõi sự phát triển của kích thước lỗ thủng tầngozone ở Nam Cực, đã quan sát thấy rằng nồng độ ozone tầng bình lưu đang tiếp tục tăng
và kích thước của lỗ thủng tầng ozone ở Nam Cực đã giảm một nửa kích thước của Hoa
Kỳ lục địa từ năm 2000 đến 2015
4 Nhiệt độ bề mặt
Nhiệt độ bề mặt là nhiệt độ của mặt đất Năng lượng mặt trờiđến mặt đất được chiếu xạ, một phần được phản ánh, một phần đượchấp thụ bởi mặt đất, mức tăng nhiệt từ lòng đất đo nhiệt độ trên mặtđất sau khi nhiệt độ là nhiệt độ bề mặt thu được Bởi nhiệt độ bề mặt
sẽ thay đổi vị trí của môi trường
Nhiệt độ bình quân bề mặt trái đất thay đổi theo hình sóng, thay đổi thất thườngqua các năm nhưng có đặc trưng chính là nhiệt độ cao lên Sự thay đổi của khí hậu bìnhquân năm của bề mặt trái đất là một hiện tượng tự nhiên, cũng là quy luật khách quancủa sự vận hành của khí quyển trái đất Nhiệt độ bình quân hàng năm của bề mặt trái đấtnâng cao, chúng ta gọi đó là ấm dần lên, ngược lại gọi là lạnh dần đi
Sự nóng lên của hệ thống khí hậu trái đất hiện nay là chưa từng có và rất rõ ràng
từ những quan trắc về sự tăng lên của nhiệt độ không khí và đại dương trung bình toàncầu, sự tan chảy của băng và tuyết trên phạm vi rộng lớn và sự dâng lên của mực nướcbiển trung bình toàn cầu
- Xu thế tăng nhiệt độ trong chuỗi số liệu 100 năm (1906 - 2005) là 0,740C, lớnhơn xu thế tăng nhiệt độ 100 năm thời kỳ 1901 - 2000, trong đó riêng ở Bắc cực nhiệt độ
đã tăng 1,50C, gấp đôi tỷ lệ tăng trung bình toàn cầu
Trang 14- Xu thế tăng nhiệt độ trong 50 năm gần đây là 0,130C/thập kỷ, gấp gần 2 lần xuthế tăng nhiệt độ của 100 năm qua Nhiệt độ tăng tổng cộng từ 1850 - 1899 đến 2001 -
- Các báo cáo tại Hội nghị Quốc tế về Biến đổi khí hậu họp ở Brucxen (Bỉ) vừaqua cho biết, trung bình mỗi năm, các núi băng trên cao nguyên Thanh Hải (Trung Quốc)
bị giảm 7% khối lượng và 50 - 60m độ cao, uy hiếp nguồn nước của các sông lớn ởTrung Quốc Trong 30 năm qua, trung bình mỗi năm diện tích lớp băng trên cao nguyênTây Tạng bị tan chảy khoảng 131km2 , chu vi vùng băng tuyết bên sườn cao nguyên mỗinăm giảm 100 - 150m, có nơi tới 350m.11
4 Biển bị axit hóa
Axít hóa đại dương là hiện tượng giảm nồng độ pH liên tục trong các đại dươngtrên Trái Đất do sự hấp thu khí CO2 mà quá trình tác động của con người thải ra khíquyển Giữa năm 1751 và 1994, độ pH ở bề mặt đại dương được ước tính đã giảm từkhoảng 8.25 đến 8.14, tương ứng với việc tăng gần 30% nồng độ axít (nồng độ ion H+)trong các đại dương trên thế giới
Các đại dương lại bị axit hóa do hấp thu nhiều khí CO2, bị ô nhiễm nặng nề donước thải công nghiệp và nông nghiệp Con người lại đang khai thác hải sản quá mứccho phép IPSO khẳng định bộ ba nguy hiểm nóng lên, giảm oxy và axit hóa sẽ hủy diệtcác loài sinh vật biển
Các hoạt động của con người thải ra nhiều khí CO2 ra môi trường Axit hóa đạidương là hậu quả trực tiếp của tăng phát thải CO2 CO2 là một loại khí có tính axit, khihòa tan vào nước biển, nó sẽ làm tính axit của nước biển tăng lên Độ axit trung bình củalớp nước bề mặt đại dương đã tăng khoảng 30% từ cuộc cách mạng công nghiệp Ngoài
ra, các đại dương cũng hấp thụ khoảng 90% lượng nhiệt do Hậu quả là nước biển khóhòa tan oxy hơn Quá trình axit hóa đại dương sẽ ảnh hưởng tới sự sinh sản, tồn tại vànguồn thức ăn của ấu trùng cũng như tốc độ sinh trưởng của sinh vật biển, đặc biệt là cácloài có lớp vỏ ngoài đá vôi (canxi cacbonat).12Axit hóa đại dương cũng được dự báo sẽlàm chậm lại khả năng hấp thụ và lưu giữ cacbon khổng lồ của đại dương, nghĩa làchúng ta đang bước vào một tương lai nhiều cacbon trong bầu khí quyển hơn và “tiếptay” cho biến đổi khí hậu Chúng ta không thể giải quyết được những biến đổi nhanhchóng về hóa học đại dương và hậu quả trực tiếp của nó đối với an ninh nhân loại trong
11 Nguyễn Đức Ngữ, Ngày sáng tạo Việt Nam năm 2020,
http://siteresources.worldbank.org/INTVIETNAMINVIETNAMESE/Resources/TNMTVID2010.pdf
12 Đại dương đang bị axit hóa,
https://oceanology.hcmus.edu.vn/2015/07/06/dai-duong-dang-bi-axit-hoa/