Mục đích nghiên cứu Luận án áp dụng các khái niệm, lý thuyết, phương pháp nghiên cứu để nhận diện những thực hành văn hóa của người dân làng Kim Âu trong những không gian tương tác với
Trang 1Lê Việt Liên
BIẾN ĐỔI KHÔNG GIAN LÀNG VEN ĐÔ
TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP LÀNG KIM ÂU VÀ KHU ĐÔ THỊ MỚI
ĐẶNG XÁ, GIA LÂM, HÀ NỘI)
Chuyên ngành: Văn hoá học
Mã số: 9229040
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HOÁ HỌC
Hà Nội – 2021
Trang 2BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Bích Hà
Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng đánh giá luận án Tiến sĩ cấp Viện
Họp tại: Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam
Số 32, phố Hào Nam, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, Hà Nội
Vào hồi ngày tháng năm 20
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam;
- Thư viện Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Làng Việt là một đối tượng quen thuộc trong nghiên cứu khoa học xã hội Các nghiên cứu nói chung về làng thường tiếp cận theo hướng lịch sử (mang tính thời gian) với những đặc trưng làng qua các thời kì, nhằm chỉ ra những đặc điểm truyền thống của làng, những vấn đề của làng hiện nay so với truyền thống Tuy nhiên thì kể
từ những năm 1970 thì mối quan tâm đến không gian và địa điểm ngày càng trở nên rõ nét Trong bối cảnh mới, thuật ngữ “Spatial turn” (biến đổi không gian, chuyển đổi không gian) trong khoa học
xã hội nhân văn được hiểu ở khía cạnh bản thể luận và nhận thức luận, do đó nó vượt lên trên những hiểu biết về không gian thông thường như trong kiến trúc và địa lý Trong sự chuyển đổi, biến đổi của không gian dẫn đến chuyển đổi, biến đổi xã hội Không gian đi cùng chiều với thời gian và hoạt động của con người được phân bố trong không gian là nền tảng cho việc phân tích về đời sống xã hội và văn hóa
Làng ven đô là một không gian năng động hội tụ đầy đủ những đặc điểm của bối cảnh giao động giữa nông thôn và thành thị, là nơi chứng kiến sâu đậm nhất của các quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như là toàn cầu hóa Đó là một không gian văn hóa xã hội được “kiến tạo”, được “sản xuất” bởi các mối quan hệ giữa con người với con người trong những mạng lưới xã hội đan cài phức hợp Ở nhiều làng ven đô hiện nay xuất hiện thêm một thực thể mới,
đó là các khu đô thị mới Khu đô thị mới là chủ đề rất quan trọng trong quá trình đô thị hóa Tại vùng ven đô, nó là một thực thể mới, chiếm hữu và làm biến đổi không những không gian vật chất, địa lý mà còn
là không gian của đời sống xã hội của con người nơi đây
Ở luận án này, NCS thực hiện nghiên cứu của mình ở một làng ven đô dưới góc độ không gian chuyển đổi Không gian làng ven đô được tìm hiểu ở đây là làng Kim Âu và khu đô thị mới Đặng Xá
Trang 4thuộc xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, Hà Nội Sự lựa chọn này mang tính cá nhân vì khu vực này là nơi NCS sinh sống Qua sự tương tác giữa 2 thực thể này trong 1 quần thể không gian làng ven đô, NCS hướng tới tìm hiểu các thực hành trong đời sống của người dân làng trong bối cảnh mới
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án áp dụng các khái niệm, lý thuyết, phương pháp nghiên cứu để nhận diện những thực hành văn hóa của người dân làng Kim Âu trong những không gian tương tác với Khu đô thị mới Đặng Xá Qua những thực hành văn hóa này, luận án muốn chứng minh đây là một trong những động năng quan trọng trong việc kiến tạo không gian làng trong bối cảnh mới, sự biến đổi không gian làng phụ thuộc vào những hoạt động văn hóa của con người trong đó Từ trường hợp nghiên cứu, NCS quan tâm tới sự phát triển bền vững, tăng trưởng xanh, hài hòa giữa phát triển và giữ gìn bản sắc làng xóm, khỏa lấp khoảng cách giữa nông thôn
và đô thị ở khu vực ven đô trong tương lai
2.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
2.2.1 Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về không gian, biến đổi không gian làng, tương tác xã hội cũng như là cách thức sử dụng lý thuyết Kiến tạo không gian của Henri Lefebvre trong trường hợp nghiên cứu Thông qua đó, NCS hướng tới việc luận bàn lại những vấn đề lý luận, lý thuyết mà mình đặt ra so với thực tiễn nghiên cứu
2.2.2 Đi sâu vào các không gian cụ thể có mối liên hệ tương tác với Khu đô thị mới, đó là Không gian gắn với hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng như nơi sinh hoạt cư trú hàng ngày, Không gian gắn với hoạt động sinh kế và Không gian sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng Ở các không gian này, NCS tìm hiểu, phân tích thực hành văn hóa của dân làng trong không gian tương tác với bối cảnh mới
Trang 5Đây là một trong những động năng quan trọng làm biến đổi không gian làng, làm nên không gian kiến tạo bởi những tư duy, thực hành văn hóa thường ngày của người dân
2.2.3 Trên cơ sở lý thuyết của Henri Lefebvre làm điểm tựa, cũng với một số quan điểm lý thuyết có liên quan, NCS đi tới tìm hiểu phương thức kiến tạo không gian làng ven đô từ các động năng của các bên liên quan từ cấp độ địa phương đến toàn cầu Từ đó, NCS xem xét lại các vấn đề đặt ra từ quá trình đô thị hóa làng ven
đô, mà một trong những biểu hiện cụ thể của việc đô thị hóa đó là là việc xuất hiện của các Khu đô thị mới
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu đặt ra như đã trình bày, đối tượng mà luận án nghiên cứu là sự biến đổi của các không gian làng trong mối tương tác với khu đô thị mới, trong đó khách thể nghiên cưu là các nhóm dân làng với các lứa tuổi khác nhau, nhóm cư dân của Khu đô thị mới, các cấp chính quyền thôn, xã, ban quản trị Khu đô thị… Phạm vi nghiên cứu tiến hành chính ở làng Kim Âu và Khu đô thị Đặng Xá ở huyện Gia Lâm, Hà Nội
4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
Từ những lí do, nhiệm vụ, và đối tượng nghiên cứu trên, NCS đặt ra câu hỏi nghiên cứu là:
Trước sự hình thành và phát triển của các khu đô thị mới ven
đô, các không gian làng đã biến đổi như thế nào? Người dân làng và người dân khu đô thị đã có những thích ứng sinh hoạt thực hành gì trong bối cảnh chuyển đổi đó? Từ sự tương tác giữa các không gian
đó cho thấy những vấn đề gì của văn hóa Việt Nam đương đại trong bối cảnh đô thị hóa?
4.2 Giả thuyết nghiên cứu
Từ câu hỏi nghiên cứu, NCS đặt ra những giả thuyết nghiên cứu: Quá trình tương tác không gian giữa làng quê và khu đô thị mới
Trang 6đã kiến tạo nên một không gian chung Tại đó, có những mối quan hệ đan xen phức hợp giữa nông thôn và thành thị không thể tách rời Tại không gian này, không thể nghiên cứu lưỡng phân về nông thôn hay thành thị mà phải xem đây là không gian xã hội được kiến tạo bởi nhiều nguồn lực khác nhau, nhiều chiều cạnh khác nhau từ phía nhà nước, doanh nghiệp và cả người dân Phát triển đô thị ở Việt Nam cần được đặt trong bối cảnh đổi mới về kinh tế và chính trị mang màu sắc kinh tế thị trường của tư bản nhưng vẫn theo định hướng xã hội chủ nghĩa
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận án này, NCS sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học và phương pháp phân tích tài liệu Phương pháp điền dã dân tộc học được tiến hành ở trong luận án bao gồm Quan sát tham
dự, Phỏng vấn sâu trong đó có Phỏng vấn bán cấu trúc, Phỏng vấn phi cấu trúc Trong bối cảnh truyền thông đại chúng, các phương thức phỏng vấn trực tuyến cũng được các nhà nghiên cứu tận dụng tối đa Đặc biệt, trong tình trạng giãn cách xã hội khi mà đại dịch Covid 19 hoành hành, việc phỏng vấn online trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Nguồn tư liệu thực địa được thu thập trong suốt quá
trình thực hiện luận án
Bên cạnh tư liệu điền dã, NCS cũng tiến hành thu thập và phân tích tài liệu từ sách, công trình chuyên khảo, tham khảo, tạp chí đã xuất bản, luận văn, luận án liên quan đến đề tài
6 Đóng góp khoa học và thực tiễn
6.1 Đóng góp về mặt khoa học
- Trên cơ sở tiếp cận lý thuyết về không gian, cụ thể là áp dụng lý thuyết không gian kiến tạo của Henri Lefebrve khi đặt trong bối cảnh Việt Nam, đã cho phép nhìn nhận ra quá trình đô thị hóa ở vùng ven theo một cách toàn diện hơn so cách tiếp cận nhị nguyên từ góc độ đô thị hay góc độ nông thôn theo cách truyền thống
- Một số nghiên cứu cho rằng Hà Nội, vùng đô thị trong tương
Trang 7lai, có thể chấm dứt hòa nhập với xóm làng Trong nghiên cứu trường hợp của mình, NCS đã phản biện lại nhận định trên và cho rằng tính liên tục của nông thôn và thành thị vẫn luôn được tiếp diễn
và không thể tách rời, các làng xóm một mặt hết sức tự trị trong việc giữ gìn bản sắc của mình, mặt khác lại rất linh hoạt trong quá trình tương tác với đô thị
6.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
Thông qua việc nghiên cứu trong trường hợp của mình, NCShướng đến sự khỏa lấp những khoảng trống ngăn cách giữa KĐTM và xóm làng, tạo ra sự kết gắn, bình đẳng, phát triển bền vững môi trường con người và xã hội Nghiên cứu này cũng có thể là một sự tham khảo cho các cơ quan chức năng về quy hoạch đô thị ở Việt Nam nhìn nhận đúng thực trạng vấn đề, để từ đó có những chiến lược, chính sách tốt hơn nhằm kết nối các dự án này vào các khu vực ven đô dựa trên những phản hồi thực tế của cộng đồng cư dân và cơ quan ban ngành đóng trên địa bàn Lắng nghe tiếng nói của người trong cuộc là một cách để thu hẹp khoảng cách giữa qui hoạch và thực tiễn
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu (10 trang), Kết luận (3 trang), Tài liệu tham khảo (13 trang), Phụ lục (28 trang), luận án được cấu trúc thành 4 chương, bao gồm:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận (40 trang)
Chương 2: Không gian làng Kim Âu truyền thống và quá trình
đô thị hóa diễn ra tại làng (26 trang)
Chương 3: Không gian làng xã trong sự tương tác với Khu đô thị mới (44 trang)
Chương 4: Những vấn đề đặt ra trong quá trình tương tác không gian làng xóm ven đô và khu đô thị mới (37 trang)
Trang 8Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Tổng quan này được chia làm các phần: Tổng quan các nghiên cứu về văn hóa làng, Tổng quan về không gian văn hóa làng ven đô tiếp cận dưới góc độ cả nông thôn và đô thị, và một phần nhỏ tổng quan về những nghiên cứu về khu đô thị mới
Qua quá trình tổng luận các tài liệu liên quan đến biến đổi không gian làng quê ven đô cũng như các tài liệu liên quan đến Khu
đô thị mới trên địa bàn Hà Nội, NCS nhận thấy rằng một điểm nhấn quan trọng trong tiến trình đô thị hóa là việc mở rộng thành phố bằng cách xây dựng những khu đô thị mới vùng ven đô Những khu đô thị này thường được xây dựng trên đất nông nghiệp hoặc đất của làng xóm cũ Điều này đã tạo nên một “không gian chung” bên cạnh
“không gian bản địa” như nhận định của Terry McGee Tuy nhiên việc nghiên cứu sự biến đổi của “không gian bản địa” trong bối cảnh tương tác với khu đô thị mới và những thực hành, thao tác của người dân vùng ven đô trong cái không gian “nửa cũ nửa mới” hay như trên
đã nói là “không gian chung” bên cạnh “không gian bản địa” ấy như thế nào, người dân thích ứng ra sao thì chưa được nhiều nghiên cứu
đề cập kĩ Chính vì vậy, đây là “khoảng trống” nhỏ hẹp mà ở luận án này mà NCS muốn tìm hiểu
1.2 Cơ sở lý luận
2.1.1 Các quan niệm về không gian, không gian làng ven đô, biến đổi không gian làng ven đô
Không gian: Trong khuôn khổ luận án này, NCS hiểu không
gian ở khía cạnh là không gian văn hóa xã hội, là nơi diễn ra các quan hệ văn hóa xã hội của con người, được kiến tạo bởi con người trong một phạm vi địa lý nào đó hoặc có mối quan hệ tương tác bên ngoài phạm vi tùy vào bối cảnh xã hội của không gian đó Không gian cũng có tính quá trình, không gian luôn theo chiều thời gian và
Trang 9luôn luôn biến đổi theo hoạt động của con người ở mỗi giai đoạn lịch
sử khác nhau
Không gian làng ven đô: là không gian văn hóa xã hội của
những người dân ở làng ven đô Bản thân làng hay làng ven đô đã là một không gian, bên trong không gian chung đó có các loại không gian khác nhau, có loại không gian đó có thể trùng lặp và khó tách biệt, sự phân loại các loại không gian chỉ mang tính tương đối
Biến đổi không gian làng ven đô: Biến đổi không gian làng ven
đô liên quan đến khái niệm “Spatial turn” (biến đổi không gian) Đây
là một khái niệm có tính khái quát lớn đề cập đến các xu hướng nghiên cứu về không gian và địa điểm trong khoa học xã hội và nhân văn Nó liên quan chặt chẽ đến các nghiên cứu định tính về lịch sử, văn học, địa lý và các nghiên cứu khác về xã hội, cung cấp dữ liệu quan trọng cho nghiên cứu văn hóa, khu vực, và các địa điểm cụ thể Biến đổi không gian trong khoa học xã hội nhân văn với phải được hiểu ở khía cạnh bản thể luận và nhận thức luận, nó vượt lên trên những hiểu biết về không gian thông thường như trong kiến trúc và địa lý Trong sự chuyển đổi, biến đổi của không gian dẫn đến chuyển đổi, biến đổi xã hội Có thể hiểu cơ bản rằng chuyển đổi biến đổi không gian liên quan đến sự chuyển đổi, biến đổi của đời sống xã hội con người, được xác định bằng bản đồ học (có thể dùng GIS), không gian và địa điểm Tương tự như vậy có thể hiểu biến đổi không gian làng ven đô là biến đổi về mặt địa lý, các thực văn hóa xã hội của không gian làng ven đô
Tương tác xã hội: Tương tác xã hội được hiểu là sự tác động
qua lại giữa cá nhân, nhóm xã hội với tư cách là các chủ thể trong xã hội Các hành động xã hội tạo ra tương tác xã hội, tương tác xã hội liên tục lặp đi lặp lại tạo ra các quan hệ xã hội Trong trường hợp nghiên cứu, tương tác xã hội được nhìn nhận ở cả cấp độ cá nhân lẫn cấp độ nhóm Đó là những cá nhân với nhau trong cộng đồng làng,
cá nhân trong làng với cá nhân ở khu đô thị, là nhóm dân làng tương
Trang 10tác với nhóm cư dân khu đô thị về mặt chính quyền, chính trị, kinh
tế, tôn giáo…khi muốn thương thảo những giá trị lợi ích chung Chính sự tương tác xã hội này là động năng cho sự biến đổi không
gian làng trong bối cảnh đương đại
2.1.2 Lý thuyết kiến tạo không gian của Henri Lefebvre
Henri Lefebvre (16/6/1901-26/6/1991) là một học giả người Pháp, hướng nghiên cứu của ông theo trường phái Tân Mác-xít Ông
là người đặt nền móng xây dựng “khoa học nghiên cứu không gian
xã hội” Dựa vào học thuyết duy vật Mác-xít, ông cho rằng không gian xã hội là do con người tạo ra bởi lực lượng sản xuất, phương tiện sản xuất và thông qua các phương thức sản xuất Vì thế không gian xã hội là một sản phẩm của xã hội Áp dụng bộ ba khái niệm (sản xuất, sản phẩm và lao động) vào nghiên cứu không gian xã hội Henri Lefebvre đã đề cập đến không gian ở các góc độ:
1 Cấp độ thực hành không gian (spatial practice): Bao gồm việc sản xuất lẫn tái sản xuất, cả các địa điểm/vị tí riêng biệt của tập hợp yếu tố không gian đặc trưng cho mỗi sự hình thành không gian Việc thực hành trong không gian sẽ tạo ra không gian xã hội
2 Cấp độ biểu tả không gian (representations of space) liên quan đến các mối quan hệ sản xuất và trật tự mà các mối quan hệ này
áp đặt Nó liên quan đến tri thức, kí hiệu, mã Đây là không gian được khái niệm hóa, không gian của các nhà khoa học Các quan niệm về không gian này có xu hướng hướng tới một hệ thống kí hiệu
từ ngữ
3 Cấp độ không gian biểu tả (representational spaces): Cấp độ này biểu tả những hình tượng phức hợp, được mã hóa, gắn kết đời sống xã hội và nghệ thuật Đây là loại không gian được trải nghiệm thông qua các hình ảnh và biểu tượng
Quan điểm của Henri Lefebvre nằm trong hệ quy chiếu của khái niệm “spatial turn” như phần trên đã đề cập Terry McGee khi phân tích không gian đô thị hóa ở Trung Quốc và Việt Nam đã cho rằng lý
Trang 11thuyết về sản xuất không gian của Henri Lefebvre phù hợp với bối cảnh của các nước theo xã hội chủ nghĩa Ngoài những khái niệm quan trọng, một số khái niệm liên quan khác như Đô thị hóa và đô thị hóa ở ven đô Hà Nội, Khu đô thị mới cũng đã được NCS thao tác trình bày
Tiểu kết
Không gian làng ven đô là một địa vực được thảo luận sôi nổi bởi các học giả trong và ngoài nước bởi tính chất vô cùng phức hợp của nó Nhìn chung các học giả đều cho rằng không gian vùng này đang biến đổi nhanh chóng bởi xu thế đô thị hóa, hiện đại hóa và toàn cầu hóa Thành phố luôn được mở rộng ra vùng ngoại vi tạo nên những vùng đại đô thị lớn Các học giả đều nhấn mạnh đến tầm quan trọng của vùng ven đô thị trong sự hình thành các vùng đô thị cực lớn trong quá trình đô thị hóa tương lai cũng như cần xem xét các đặc điểm không gian nội tại của nó Bên cạnh đó thì vùng ven cũng
là vùng dễ bị tổn thương nhất bởi các tác động toàn cầu
Ở Việt Nam, đô thị hóa cũng phát triển nhanh, đặc biệt là các thành phố lớn Trong cùng một mẫu hình phát triển, đô thị hóa khiến cho thành phố cần được mở rộng, và vùng ven đô trở thành một điểm đến quan trọng Không gian vùng ven đô là nơi giao hòa các yếu tố thành thị, nông thôn, tạo ra những biến chuyển sâu sắc trên tất cả các mặt kinh tế xã hội, văn hóa, chính trị v.v… Nghiên cứu không gian vùng ven đô vì thế cũng là mối quan tâm của không ít học giả Việt Nam Có thể đặt nghiên cứu không gian làng ven đô trong bối cảnh chung của biến đổi văn hóa làng trong quá trình đô thị hóa Tuy nhiên ít thấy nghiên cứu nào nghiên cứu về không gian làng ven đô trong bối cảnh tương tác với khu đô thị mới, mà khu đô thị mới vùng ven đô là một chủ đề hết sức quan trọng trong quá trình đô thị hóa Các công trình nghiên cứu về khu đô thị mới cũng không nhiều đặc biệt là nghiên cứu về KĐTM ở vùng ven đô Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào tình hình nội bộ sinh hoạt văn hóa, nếp sống
Trang 12trong một khu đô thị chứ chưa quan tâm đến sự tương tác bên ngoài KĐT
Về mặt lý luận, luận án đề cập đến các khái niệm, lý thuyết then chốt về không gian, không gian vùng ven đô, biến đổi không gian vùng ven đô Trong khuôn khổ của luận án cũng như là qua quá trình thực tiễn khảo sát, điền dã, NCS đã hướng tới phân loại (typologization) và lựa chọn ra ba loại hình không gian văn hóa xã hội rõ nhất, nổi bật nhất mà người dân làng thực hành trong mối tương tác với KĐT Đặng Xá Đó là không gian cảnh quan gắn với cư trú, sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp, không gian thiêng và không gian sinh kế Ở đây, NCS cũng đã giới thuyết cách hiểu về ba loại không gian này Bên cạnh đó các khái niệm về đô thị hóa, khu đô thị mới cũng được làm sáng rõ Trong luận án, NCS đã chọn lý thuyết không gian kiến tạo của Henri Lefebvre làm điểm tựa cho luận án của mình Đây là quan điểm lý thuyết dựa học thuyết của chủ nghĩa Marx mà Terry McGee cho rằng rất phù hợp để tìm hiểu sự chuyển đổi không gian vùng ven đô ở các nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Quan điểm này cũng nằm trong trường nghiên cứu của
“spatial turn” (chuyển đổi không gian), một xu thế nghiên cứu đáp ứng các nhu cầu mới của thời đại
Chương 2 KHÔNG GIAN LÀNG KIM ÂU TRUYỀN THỐNG
VÀ QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA DIỄN RA TẠI LÀNG
Nội dung phần viết này trình bày về không gian làng Kim Âu trong lịch sử và bối cảnh chuyển đổi của quá trình đô thị hóa mà cụ thể là sự xuất hiện của một khu đô thị mới ngay trên chính mảnh đất của họ
2.1 Không gian làng theo chiều thời gian
Ở phần này NCS trình bày về không gian làng theo dòng lịch sử tính từ trước khi xây dựng khu đô thị Đặng Xá năm 2003 Vị trí địa
lý, đặc trưng kinh tế, văn hóa, cảnh quan nói chung diễn ra trong
Trang 13không gian làng xã cổ truyền được mô tả thông qua phỏng vấn hồi
cố, hình ảnh, bản đồ, và một số dữ liệu của các ban ngành liên quan
2.2 Chính sách mở rộng thành phố và việc xây dựng các Khu đô thị mới
Từ năm 1986, trong không khí đổi mới chung của đất nước, Hà Nội đã đặt ra các mục tiêu lớn trong việc tiếp tục quy hoạch mà mở rộng thủ đô thông qua việc xây dựng các khu đô thị mới Điều này thể hiện qua các văn bản, chính sách của nhà nước
2.3 Quá trình hình thành KĐTM Đặng Xá tại làng Kim Âu
Chính sách đô thị hóa diễn ra tại làng chính là biểu hiện ở việc thu hồi đất đai để tiến hành xây dựng Khu đô thị Đặng Xá “Khi một khu đô thị ra đời” đã góp phần làm cho đời sống của làng Kim Âu cũng như một số làng khác trong xã có những sự thay đổi đáng kể Lịch sử đã cho làng Kim Âu một số phận khác đi so với các làng thôn khác trong xã Đặng Xá khi kề cận khu đô thị Kể từ đây, hình thái không gian làng biến đổi, kéo theo biến đổi trong những không gian sống của người dân
Tiểu kết
Xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, Hà Nội hiện nay là một xã có bề dày truyền thống văn hóa lịch sử nằm trong vùng đất cổ kính của Kinh Bắc xưa kia Xã có những khung cảnh, phong tục tập quán, sinh hoạt mang đậm nét của làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ Để phục vụ cho việc xây dựng Khu đô thị Đặng Xá, xã đã hiến nhiều đất nông nghiệp mà cụ thể nhiều nhất là làng Kim Âu Từ một làng thuần nông, hiện nay Kim Âu
đã là một làng có nhiều thay đổi trong quá trình đô thị hóa sâu sắc Với
tư cách là một làng tiếp giáp với Khu đô thị mới, Kim Âu trở thành một địa bàn thuận lợi để chứng kiến những biến đổi thực hành văn hóa của
họ trong bối cảnh không gian tương tác với một thực thể cụ thể của quá trình đô thị hóa là Khu đô thị mới Ở chương tiếp theo, NCS sẽ đi vào phân tích các không gian văn hóa xã hội được kiến tạo ra sao trong bối
cảnh mới này