Tuy nhiên trong khuôn khổ của luận án này, NCS chọn một biểu hiện rõ nét của quá trình đô thị hóa nơi làng quê này chính là sự xuất hiện của Khu đô thị mới Đặng Xá, một thực thể chiếm lĩ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Lê Việt Liên
BIẾN ĐỔI KHÔNG GIAN LÀNG VEN ĐÔ TRONG QUÁ TRÌNH
ĐÔ THỊ HÓA (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP LÀNG KIM ÂU VÀKHU ĐÔ THỊ MỚI ĐẶNG XÁ, GIA LÂM, HÀ NỘI)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HOÁ HỌC
Hà Nội – 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Lê Việt Liên
BIẾN ĐỔI KHÔNG GIAN LÀNG VEN ĐÔ TRONG QUÁ TRÌNH
ĐÔ THỊ HÓA (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP LÀNG KIM ÂU
VÀ KHU ĐÔ THỊ MỚI ĐẶNG XÁ, GIA LÂM, HÀ NỘI)
Chuyên ngành: Văn hoá học
Mã số: 9229040
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HOÁ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS Nguyễn Thị Bích Hà
Hà Nội – 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ Biến đổi không gian làng ven đô trong
quá trình đô thị hóa (Nghiên cứu trường hợp làng Kim Âu và Khu đô thị mới Đặng Xá,Gia Lâm, Hà Nội)là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Mọi
tài liệu, số liệu trích dẫn, tham khảo đều trích nguồn rõ ràng, đúng quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Nghiên cứu sinh
Lê Việt Liên
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 11
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 11
1.1.1 Nghiên cứu cơ bản về văn hóa làng 11
1.1.2.Nghiên cứu về biến đổi không gian làng ven đô 14
1.1.3 Nghiên cứu về Khu đô thị mới 27
1.2 Cơ sở lý luận 28
1.2.1 Các quan niệm về không gian, không gian làng ven đô, biến đổi không gian làng ven đô, tương tác xã hội 28
1.2.2 Lý thuyết kiến tạo không gian của Henri Lefebvre 43
1.2.3 Một số khái niệm liên quan khác 47
Tiểu kết 50
Chương 2: KHÔNG GIAN LÀNG KIM ÂU TRUYỀN THỐNGVÀ QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA DIỄN RA TẠI LÀNG 52
2.1 Không gian làng theo chiều thời gian 52
2.2.Chính sách mở rộng thành phố và việc xây dựng các Khu đô thị mới 65
2.3.Quá trình hình thành KĐTM Đặng Xá tại làng Kim Âu 70
Tiểu kết 76
Chương 3: KHÔNG GIAN LÀNG TRONG SỰ TƯƠNG TÁCVỚI KHU ĐÔ THỊ MỚI 78
3.1 Không gian cảnh quan gắn với hoạt động sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt và cư trú 78
3.2 Tái tạo không gian thiêng của làng trong bối cảnh mới 87
3.2.1 Sáng tạo truyền thống trong không gian di tích 87
3.2.2 Không gian lễ hội tại di tích và sự ảnh hưởng, tương tác của nó đến cư dân khu đô thị 97
3.3.Từ làng ra phố và từ phố về làng: Hành trình “con lắc đơn”của người dân trong bối cảnh không gian sinh kế mới 109
3.3.1 Người nông dân cũ, người tiểu thương mới 111
3.3.2 Đa dạng hóa công việc trong không gian mới: Câu chuyện của những người trẻ 114
Trang 5Tiểu kết 120
Chương 4: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TỪ QUÁ TRÌNH TƯƠNG TÁCKHÔNG GIAN LÀNG VEN ĐÔ VÀ KHU ĐÔ THỊ MỚI 122
4.1.Nhìn nhận lại trường hợp nghiên cứu với vấn đề lý thuyết đặt ra 122
4.2 Những vấn đề đặt ra thông qua trường hợp nghiên cứu 126
4.2.1 Chủ thể tự quyết trong các không gian tương tác 126
4.2.2.Mối liên hệ tương tác giữa làng và khu đô thị mới trong không gian vùng ven đô 137
4.3 Những thách thức và cơ hội tại không gian vùng ven đô 148
Tiểu kết 156
KẾT LUẬN 159
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 163
TÀI LIỆU THAM KHẢO 164
PHỤ LỤC 177
Trang 7MỞ ĐẦU
“Không một thứ ưu điểm, nhược điểm nào của sự vật hiện tượng lại không trở nên rõ ràng một khi đã được đặt trong hoàn cảnh cụ thể về thời gian
và không gian." (Trích "Bàn về văn minh" -
Các nghiên cứu nói chung về làng thường tiếp cận theo hướng lịch sử (mang tính thời gian) với những đặc trưng làng qua các thời kì, nhằm chỉ ra những đặc điểm truyền thống của làng, những vấn đề của làng hiện nay so với truyền thống Tuy nhiên theo Chris Barker [3] thì kể từ những năm 1970 thì mối quan tâm đến không gian và địa điểm ngày càng trở nên rõ nét Điều này khác với trước kia khi mà các nghiên cứu chỉ quan tâm đến thời gian, coi nó như một lĩnh vực chuyển động của sự thay đổi xã hội và không gian bị coi là
đã chết, cố định và không chuyển động Trong bối cảnh mới, thuật ngữ
“Spatial turn” (biến đổi không gian, chuyển đổi không gian) trong khoa học
xã hội nhân văn được hiểu ở khía cạnh bản thể luận và nhận thức luận, do đó
nó vượt lên trên những hiểu biết về không gian thông thường như trong kiến trúc và địa lý Trong sự chuyển đổi, biến đổi của không gian dẫn đến chuyển đổi, biến đổi xã hội Không gian đi cùng chiều với thời gian và hoạt động của con người được phân bố trong không gian là nền tảng cho việc phân tích về đời sống xã hội và văn hóa “Biến đổi không gian” được coi là một trong
Trang 8những xu hướng phát triển đương đại của các lý thuyết xã hội, và nó phát triển theo hai hướng Một mặt, các nhà lý thuyết xã hội hiện đại, bao gồm Giddens, Boudieu và Lefebvre… đang xem xét trong khuôn khổ hiện đại tầm quan trọng của các mối tương tác giữa không gian và xã hội để nghiên cứu các cấu trúc xã hội và các quá trình xã hội; mặt khác, một số nhà lý thuyết xã hội hậu hiện đại đang sử dụng các khái niệm địa lý và phép ẩn dụ để hiểu thế giới xã hội ngày càng phức tạp và khác biệt này Trong đề tài luận án này, NCS tìm hiểu lý thuyết này ở hướng thứ nhất trong khuôn khổ xem xét “biến đổi không gian” theo quan điểm của Henri Lefebrve
Làng ven đô là một không gian năng động hội tụ đầy đủ những đặc điểm của bối cảnh giao động giữa nông thôn và thành thị, là nơi chứng kiến sâu đậm nhất của các quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như là toàn cầu hóa Đó là một không gian văn hóa xã hội được “kiến tạo”, được “sản xuất” bởi các mối quan hệ giữa con người với con người trong những mạng lưới xã hội đan cài phức hợp Ở nhiều làng ven đô hiện nay xuất hiện thêm một thực thể mới, đó là các khu đô thị mới Khu đô thị mới là chủ
đề rất quan trọng trong quá trình đô thị hóa Tại vùng ven đô, nó là một thực thể mới, chiếm hữu và làm biến đổi không những không gian vật chất, địa lý
mà còn là không gian của đời sống xã hội của con người nơi đây
Ở luận án này, NCSthực hiện nghiên cứu của mình ở một làng ven đô dưới góc độ không gian chuyển đổi Không gian làng ven đô được tìm hiểu ở đây là làng Kim Âu và khu đô thị mới Đặng Xá thuộc xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, Hà Nội Sự lựa chọn này mang tính cá nhân vì khu vực này là nơi NCS sinh sống Qua sự tương tác giữa 2 thực thể này trong 1 quần thể không gian làng ven đô, NCS hướng tới tìm hiểu các thực hành trong đời sống của người dân làng trong bối cảnh mới
Làng Kim Âu là một làng ven đô thuộc xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm,
Trang 9Hà Nội Cũng như bao làng quê khác, làng cũng đang trong quá trình chuyển mình dưới tác động của đô thị hóa một cách sâu sắc Và một biểu hiện rõ nét của quá trình đô thị hóa là việc xây dựng các Khu đô thị mới ở ven đô Đây là chủ trương mở rộng quy hoạch xây dựng của nhà nước, giải quyết tình trạngthiếu hụt nhà ở nội đô Làng Kim Âu nằm trong diện qui hoạch phần lớn đất đai để xây dựng Khu đô thị mới Đặng Xá Trên thực tế, Khu đô thị mới Đặng Xá có mối quan hệ tương tác ở các mức độ khác nhau trên các mặt kinh
tế, chính trị, xã hội, văn hóa với địa bàn cũ Và người dân ở mảnh đất cũ luôn
có những chiến lược ứng phó dù chủ động hay bị độngtrong những không gian của mình với bối cảnh mới diễn ra.Sự phát triển của các Khu đô thị mới bên cạnh các làng xóm đã kiến tạo ra một “không gian chung” mới tồn tại bên cạnh “không gian bản địa” mà con người là chủ thể theo như Terry Mc Gee, nhà nghiên cứu đô thị học nhận xét [75, tr 180]
Chính vì vậy, NCS đã chọn đề tài Biến đổi không gian làng ven đô
trong quá trình đô thị hóa (Nghiên cứu trường hợp làng Kim Âu và Khu đô thị mới Đặng Xá, Gia Lâm, Hà Nội) cho luận án của mình Sự biến đổi không
gian làng quê chịu ảnh hưởng tác động của nhiều chiều cạnh kinh tế-chính văn hóa khác nhau Tuy nhiên trong khuôn khổ của luận án này, NCS chọn một biểu hiện rõ nét của quá trình đô thị hóa nơi làng quê này chính là sự xuất hiện của Khu đô thị mới Đặng Xá, một thực thể chiếm lĩnh phần lớn không gian địa lý cũ của làng, để tìm hiểu, quan sát, phân tích về sự biến đổi một số không gian làng trong bối cảnh mới Không gian mà NCS lựa chọn làcác không gian gắn với hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng như nơi sinh hoạt
trị-cư trú hàng ngày, không gian gắn với hoạt động sinh kế và không gian sinh
hoạt tôn giáo tín ngưỡng.Đây không phải hoàn toàn là những không gian
mang tính địa lý thuộc về làng mà là những không gian văn hóa mang tính chất giao thoa, tương tác với Khu đô thị mới của người dân làng thực hành trong đó
Trang 102 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án áp dụng các khái niệm, lý thuyết, phương pháp nghiên cứu để nhận diện những thực hành văn hóa của người dân làng Kim Âu trong những không gian tương tác với Khu đô thị mới Đặng Xá Qua những thực hành văn hóa này, luận án muốn chứng minh đây là một trong những động năng quan trọng trong việc kiến tạo không gian làng trong bối cảnh mới, sự biến đổi không gian làng phụ thuộc vào những hoạt động văn hóa của con người trong
đó Từ trường hợp nghiên cứu, NCS quan tâm tới sự phát triển bền vững, tăng trưởng xanh, hài hòa giữa phát triển và giữ gìn bản sắc làng xóm, khỏa lấp khoảng cách giữa nông thôn và đô thị ở khu vực ven đô trong tương lai
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
2.2.1 Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về không gian, biến đổi không gian làng, tương tác xã hội cũng như là cách thức sử dụng lý thuyết Kiến tạo không gian của Henri Lefebvre trong trường hợp nghiên cứu Thông qua đó, NCS hướng tới việc luận bàn lại những vấn đề lý luận, lý thuyết mà mình đặt ra so với thực tiễn nghiên cứu
2.2.2 Đi sâu vào các không gian cụ thể có mối liên hệ tương tác với Khu đô thị mới, đó là Không gian gắn với hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng như nơi sinh hoạt cư trú hàng ngày, Không gian gắn với hoạt động sinh
kế và Không gian sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng Ở các không gian này, NCS tìm hiểu, phân tích thực hành văn hóa của dân làng trong không gian tương tác với bối cảnh mới Đây là một trong những động năng quan trọng làm biến đổi không gian làng, làm nên không gian kiến tạo bởi những tư duy, thực hành văn hóa thường ngày của người dân
2.2.3 Trên cơ sở lý thuyết của Henri Lefebvre làm điểm tựa, cũng với một số quan điểm lý thuyết có liên quan, NCS đi tới tìm hiểu phương thức kiến tạo không gian làng ven đô từ các động năng của các bên liên quan từ
Trang 11cấp độ địa phương đến toàn cầu Từ đó, NCS xem xét lại các vấn đề đặt ra từ quá trình đô thị hóa làng ven đô, mà một trong những biểu hiện cụ thể của việc đô thị hóa đó là là việc xuất hiện của các Khu đô thị mới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu đặt ra như đã trình bày, đối tượng mà luận án nghiên cứu là sự biến đổi của các không gian làng trong mối tương tác với khu đô thị mới, trong đó khách thể nghiên cứu là các nhóm dân làng với các lứa tuổi khác nhau, nhóm cư dân của Khu đô thị mới, các cấp chính quyền
thôn, xã, ban quản trị Khu đô thị…
Phạm vi nghiên cứu tiến hành chính ở làng Kim Âu và Khu đô thị
Đặng Xá ở huyện Gia Lâm, Hà Nội
4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
Từ những lí do, nhiệm vụ, và đối tượng nghiên cứu trên, NCS đặt ra
câu hỏi nghiên cứu là:
Trước sự hình thành và phát triển của các khu đô thị mới ven đô, các không gian làng đã biến đổi như thế nào? Người dân làng và người dân khu
đô thị đã có những thích ứng sinh hoạt thực hành gì trong bối cảnh chuyển đổi đó? Từ sự tương tác giữa các không gian đó cho thấy những vấn đề gì của văn
hóa Việt Nam đương đại trong bối cảnh đô thị hóa?
4.2 Giả thuyết nghiên cứu
Từ câu hỏi nghiên cứu, NCS đặt ra những giả thuyết nghiên cứu:
Quá trình tương tác không gian giữa làng quê và khu đô thị mới đã kiến tạo nên một không gian chung Tại đó, có những mối quan hệ đan xen phức hợp giữa nông thôn và thành thị không thể tách rời Tại không gian này, không thể nghiên cứu lưỡng phân về nông thôn hay thành thị mà phải xem đây là không gian xã hội được kiến tạo bởi nhiều nguồn lực khác nhau, nhiều chiều cạnh khác nhau từ phía nhà nước, doanh nghiệp và cả người dân Phát
Trang 12triển đô thị ở Việt Nam cần được đặt trong bối cảnh đổi mới về kinh tế và
chính trị mang màu sắc kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận án này, NCS sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học và phương pháp phân tích tài liệu Phương pháp điền dã dân tộc học được tiến hành ở trong luận án bao gồm Quan sát tham dự, Phỏng vấn sâu trong đó cóPhỏng vấn bán cấu trúc, Phỏng vấn phi cấu trúc Trong bối cảnh truyền thông đại chúng, các phương thức phỏng vấn trực tuyến cũng được các nhà nghiên cứu tận dụng tối đa Đặc biệt, trong tình trạng giãn cách xã hội khi mà đại dịch Covid 19 hoành hành, việc phỏng vấn online trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.Nguồn tư liệu thực địa được thu thập trong suốt quá trình thực
hiện luận án
5.1 Điền dã dân tộc học
NCS sinh sống ở khu đô thị Đặng Xá từ năm 2012 cho đến nay Trong quá trình sinh sống, NCS đã gặp và làm quen được với rất nhiều người là dân làng lân cận vào buôn bán ở chợ tạm tại Khu đô thị Đó là những mối “duyên” ban đầu khiến NCS muốn tìm hiểu về cuộc sống của dân làng kể từ khi KĐTM được xây dựng
Ban đầu NCS vào làng với tư cách là khách hàng quen thuộc của một
cô bán rau trong dịp lễ hội Tại đây, NCS đã được làm quen với gia đình cô,
họ hàng, và những người hàng xóm ăn hội làng Họ râm ran kể những câu chuyện về làm ăn, về hội lễ, về cảnh quan làng mạc ra sao trong đời sống mới
Kể từ đó, với mục đích là làm công việc liên quan đến nghiên cứu văn hóa, NCS đã thường xuyên vào làng nhiều hơn, quan sát nhiều hơn và có nhiều cuộc trò chuyện nhiều hơn với dân làng tại các địa điểm bình dân như quán nước, quán cắt tóc gội đầu, tiệm tạp hóa… NCS xác định nghiên cứu này là nghiên cứu định tính, tập trung vào quan sát, thâm nhập và thấu hiểu, thấu cảm cuộc sống dân làng bằng những câu chuyện cuộc đời của họ Những kĩ
Trang 13thuật phỏng vấn bán cấu trúc với những câu hỏi mở tùy thuộc vào bối cảnh và đặc điểm của người được phỏng vấn Phỏng vấn phi cấu trúc được tiến hành qua những câu chuyện, những cuộc trò chuyện thông thường với người dân làng nhưng vẫn nằm trong sự “tính toán” của người viết khi muốn hướng đến chủ đề mà mình quan tâm Phỏng vấn phi cấu trúc được NCS sử dụng trong những hoàn cảnh và bối cảnh khác nhau.Những lát cắt của cuộc sống dù đương đại hay quá khứ đều hiện lên qua những câu chuyện cuộc đời trải nghiệm của mỗi nhóm cư dân, mỗi nhóm lứa tuổi khác nhau để từ đó tái hiện bức tranh cuộc sống muôn màu trong bối cảnh đô thị hóa tại làng ven đô Khi
đã gần như thâm nhập với cuộc sống của dân làng, NCS đã có cơ hội để trò chuyện sâu hơn với từng nhóm tùy theo mỗi không gian mà mình nghiên cứu
và đôi khi phải hóa thân thành nhiều vai trò khác nhau
Khi tìm hiểu về không gian cảnh quan và không gian sinh kế, NCS đã đến các cửa hàng, quán ăn tại làng cũng như trong KĐT Tại một quán nước mía đầu làng, NCS tiếp xúc và trò chuyện về công việc đồng áng của gia đình,
lý do tại sao cô mở hàng nước và tạp hóa Tại chợ KĐT, NCS đã theo chân một số tiểu thương từ làng vào KĐT và ngược lại để hiểu qua trình di chuyển sinh kế giữa hai không gian đó như thế nào, lí do gì thúc đẩy họ làm việc đó Tại một số siêu thị, nhà xe, nhà trẻ, nhà hàng trong KĐT… NCS cũng tiếp xúc với những nhân viên là người làng làm việc ở đây và tiến hành những câu chuyện hết sức cởi mở và đời thường, thân thiện NCS cũng trực tiếp tham gia thực hành tín ngưỡng tại ngồi đền mới được xây nằm trong KĐT và lễ hội của làng Một phần của lễ hội diễn ra tại ngôi đền này Lễ hội của làng được NCS quan sát từ trước khi làm luận án Đó là khi bảng tin của KĐT dán thông báo
về việc tổ chức lễ hội làng, NCS tự đặt câu hỏi là tại sao lễ hội này không liên quan đến khu đô thị mà phải thông báo đến khu đô thị Các năm tiếp theo, NCS tiếp tục để ý đến ngày tổ chức lễ hội này và xem những động thái diễn ra tiếp theo là gì Nếu như năm 2013 chỉ là một bản tin thông báo, thì năm 2014,
Trang 14lễ hội đã bắt đầu có cuộc “trình diễn” tại khu đô thị với đoàn lễ rước, trống hội rất tưng bừng rộn rã và gây được hiệu ứng tích cực từ phía cư dân khu đô thị Và kể từ đó đến nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng (bảng tin khu đô thị, loa xã đặt ở khu vực giáp ranh với khu đô thị và làng Kim Âu, trên facebook nhóm Cư dân khu đô thị Đặng Xá) hàng năm đều có thông báo về lịch trình tổ chức lễ hội Sự tái tạo không gian thiêng về mặt di tích dẫn đến
sự tái tạo không gian thiêng về mặt lễ hội Ở đây đã có sự tái tạo, sáng tạo hay
là sáng chế truyền thống của địa phương thành lễ hội chung cho khu đô thị Vấn đề đặt ra là ai là người sáng chế ra lễ hội đó, để làm gì, và người dân của
cả thôn làng được gì và người dân của khu đô thị tiếp nhận truyền thống văn hóa mới ấy ra sao.Có mâu thuẫn gì không khi mà lễ hội được mở rộng, hướng tới những nhóm cư dân mới
Bên cạnh việc tiếp cận dân làng là đối tượng chính, thì cư dân trong KĐT cũng là những người mà NCS quan tâm, xem là họ có mối quan hệ gì, nhu cầu gì với dân trong làng, xem xét những động thái của cư dân khi tiếp nhận nét văn hóa tại vùng đất mới
Song song với đó, NCS cũng đã tiến hành phỏng vấn một số vị lãnh đạo của Ban quản lý di tích, Ban quản lý khu đô thị, ban quản lý thôn Họ rất thoải mái khi nói về các công việc chung liên quan đến những mặt tích cực, những thành tích nổi bật trong mối quan hệ làng xã và KĐT
Nghiên cứu dân tộc học với phương pháp định tính nhằm khám phá ra các đặc điểm, tính chất, tâm tư, tình cảm, nguyện vọng, hành vi v.v… không thể lượng hóa được, chính vì vậy ở đây NCS không dùng các kĩ thuật của phương pháp định lượng Trong việc lấy mẫu phỏng vấn, việc chọn mẫu lấy theo phương pháp tới hạn, nghĩa là sau khi tìm hiểu đối tượng, thấy rằng các câu chuyện có nội dung gần giống nhau, không phát triển thêm tình tiết mới thì sẽ dừng việc lấy mẫu Chính vì vậy mà mẫu nghiên cứu của luận án là cỡ mẫu nhỏ, mỗi nhóm đối tượng NCS chỉ có thể khai thác trên dưới 10 người
Trang 15Một số khó khăn trong quá trình làm luận án Đó là việc NCS muốn tiếp cận thông tin sâu hơn như về diện tích đất đai, tài chính của lễ hội, quy trình xây dựng ngôi đền v.v… Trong bối cảnh nhạy cảm về đất đai khi tin đồn
về Gia Lâm sắp lên quận, mọi sự khai thác thông tin từ các cấp chính quyền là khó khăn đối với người làm nghiên cứu Trong quá trình chỉnh sửa để đi đến những bước cuối cùng hoàn thiện luận án lại đúng vào dịp đại dịch Covid 19 hoành hành trên thế giới và Việt Nam Do vậy mà việc khai thác thêm tài liệu
từ các cấp chính quyền cũng như từ người dân làng cũng như người dân một cách trực tiếp trong khu đô thị rất khó khăn bởi sự giãn cách xã hội Chính vì vậy NCS cũng đã cố gắng tiến hành khảo sát, phỏng vấn online thông qua gọi điện thoại, nhắn tin và sử dụng các ứng dụng mạng xã hội như zalo, facebook, email v.v… để các dữ kiện của luận án thêm phong phú
Khi rời hiện trường điền dã, cũng như phỏng vấn trực tuyến, NCS đã tiến hành các bước ghi chép lại Sau đó NCS cũng quay trở lại nhiều lần hiện trường điền dã nhằm kiểm tra lại những nhận định mà mình đã viết
5.2 Phân tích tài liệu
Bên cạnh tư liệu điền dã, NCS cũng tiến hành thu thập và phân tích tài liệu từ sách, công trình chuyên khảo, tham khảo, tạp chí đã xuất bản, luận văn, luận án liên quan đến đề tài Nghiên cứu phân tích tư liệu giúp cho NCS xác định phương pháp nghiên cứu, tìm ra lý thuyết định hướng cho luận án, lập kế hoạch cho các cuộc điền dã, chọn đối tượng phỏng vấn, lên danh mục câu hỏi phỏng vấn, so sánh đối chiếu với nguồn thư liệu đã khảo sát thực địa,
hệ thống hóa tài liệu
Trang 16theo cách truyền thống
- Một số nghiên cứu cho rằng Hà Nội, vùng đô thị trong tương lai, có thể chấm dứt hòa nhập với xóm làng- [75] Nhận định trên là có thể đúng với nhiều khu vực nhưng không phải đúng với tất cả mọi nơi Trong nghiên cứu trường hợp của mình, NCS nhận thấy tính liên tục của nông thôn và thành thị vẫn luôn được tiếp diễn và không thể tách rời, làng xóm một mặt hết sức tự trị trong việc giữ gìn bản sắc của mình, mặt khác lại rất linh hoạt trong quá trình tương tác với đô thị
6.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
Thông qua việc nghiên cứu trong trường hợp của mình, NCShướng đến
sự khỏa lấp những khoảng trống ngăn cách giữa KĐTM và xóm làng, tạo ra sự kết gắn, bình đẳng, phát triển bền vững môi trường con người và xã hội ở khu vực ven đô Nghiên cứu này cũng có thể là một sự tham khảo cho các cơ quan chức năng về quy hoạch đô thị ở Việt Nam nhìn nhận đúng thực trạng vấn đề,
để từ đó có những chiến lược, chính sách tốt hơn nhằm kết nối các dự án này vào các khu vực ven đô dựa trên những phản hồi thực tế của cộng đồng cư dân
và cơ quan ban ngành đóng trên địa bàn Lắng nghe tiếng nói của người trong cuộc là một cách để thu hẹp khoảng cách giữa qui hoạch và thực tiễn
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu (10 trang),Kết luận (3 trang), Tài liệu tham khảo (13 trang), Phụ lục (28 trang),luận án được cấu trúc thành 4 chương, bao gồm:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận (40 trang) Chương 2: Không gian làng Kim Âu truyền thống và quá trình đô thị hóa diễn ra tại làng (26 trang)
Chương 3:Không gian làng trong sự tương tác với Khu đô thị mới (44 trang)
Chương 4: Những vấn đề đặt ra trong quá trình tương tác không gian làng ven đô và khu đô thị mới (37 trang)
Trang 17Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Tổng quan này được chia làm các phần: Tổng quan các nghiên cứu vềvăn hóa làng, Tổng quan về không gian văn hóa làng ven đô tiếp cận dưới góc độ cả nông thôn và đô thị, và một phần nhỏ tổng quan về những nghiên cứu về khu đô thị mới
1.1.1 Nghiên cứu cơ bảnvề văn hóa làng
Làng Việt là đối tượng nghiên cứu hấp dẫn của giới học giả từ nhiều khía cạnh khác nhau Trước những năm 1945, học giả người Pháp là Pierre Gourou đã miêu tả làng Việt dưới chế độ thực dân thông qua cuốn “Người nông dân ở Châu thổ Bắc Kì”.Có thể nói đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về văn hóa làng Sách chia làm 3 phần: Môi trường vật chất, Cư dân nông thôn, Phương tiện sống của nông dân Bắc Kỳ Mỗi phần có nhiều chương phân tích cặn kẽ về đất và người Bắc Bộ như địa hình, khí hậu châu thổ, lịch
sử di dân và sự vận động của dân số, nông nghiệp, công nghiệp, làng xã Mặc dù được đề cập từ rất sớm, nhưng đến nay, một số vấn đề của làng xã được phản ánh trong cuốn sách vẫn còn nguyên tính thời sự Nhiều nhận định của ông đã là từ khóa, là tài liệu tham chiếu cho các nghiên cứu về làng sau này Ông nhận thấy rằng những người nông dân vùng châu thổ Bắc kì này tuy sống trong nghèo khổ nhưng không hề tuyệt vọng mà có tinh thần rất lạc quan Những người nông dân nghèo túng đã biết dệt quanh mình bằng một môi trường địa lý nhân văn với các mối quan hệ, mạng lưới chằng chịt của gia đình, họ hàng, làng xóm Trái ngược với những nhận định của phương Tây về một nền văn hóa lạc hậu trì trệ nơi đây, G Gourous đề cao những giá trị văn hóa truyền thống cổ xưa hài hòa giữa con người và thiên nhiên, tạo nên một môi trường hết sức nhân văn Mặc dù vậy, ông vẫn nhận ra sự biến đổi của
Trang 18làng Việt trong bối cảnh mới Những tác động, can thiệp của văn minh phương Tây, sự cải tạo nông thôn một cách vụng về đã dần làm phôi pha nét truyền thống trước đó Ông cũng cho rằng nếu có tinh thần yêu nước thì phải dành tất cả tâm huyết vào giữ gìn sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người vì
đó là vấn đề quan trọng chi phối các vấn đề khác như kinh tế, chính trị [65] Khi có độ lùi về thời gian, trải qua những biến đổi của làng xã trong những thập kỉ gần đây, nhất là trong phong trào xây dựng nông thôn mới, chúng ta mới thấy những nhận định của Gourou thật là sâu sắc Những yếu tố gọi là
“truyền thống” qua mỗi thời kì dường như mờ đi, và muốn gọi được tên nó, chúng ta phải “hồi cố”, phải định ra các mốc thời gian của quá khứ Dường như đối với mỗi nhà nghiên cứu về làng, trong mỗi thời điểm đều nhận thấy rằng làng có sự thay đổi so với trước Và vì thế cái gọi là “truyền thống” có vẻ như càng ngày càng khó nắm bắt hơn vì cái hiện đại của ngày hôm nay cũng
có thể trở thành cái “truyền thống” của ngày mai Cuộc sống con người luôn biến đổi theo thời gian và làng cũng vậy bởi con người là chủ thể của làng
Cũng vào thập niên 30 của thế kỉ trước, các nghiên cứu về làng cũng
thu hút các trí thức Tây học bản địa như Phạm Quỳnh với Người nông dân
Bắc Kì qua tiếng nói bình dân (1929), của Nguyễn Văn Vĩnh với loạt bài trên
báo An Nam mới như “Làng với người An Nam”; “Chơi họ-một hình thức kinh doanh tài chính của người Việt”; “Ruộng đất, cơ sở tài sản của người An Nam, Tình hình lúa gạo” [41]… Đây là những bài tiểu luận tiếp cận dưới góc dân tộc chí sâu sắc Năm 1943, Nguyễn Văn Huyên công bố công trình được
thoát thai từ luận án tiến sĩ mà ông bảo vệ ở Pháp là Hát đối của nam nữ
thanh niên Việt Nam[41] Đây là một tài liệu tham khảo quý giá được giới
khoahọc phương Tây đánh giá cao khi muốn tìm hiểu về văn hóa Việt Nam Bên cạnh những giá trị văn hóa tinh thần tốt đẹp, ông cũng nhìn thẳng vào thực trạng dân sinh, dân trí hiện thời để đưa ra nhận định rằng con người làng
Trang 19xã, tự nó, là một thách thức không nên giản đơn hóa một cách tham chiếu
Sau chiến tranh, từ những năm 80 của thế kỉ trước trở đi, có nhiều nhà khoa học nước ngoài chọn làng làm đối tượng nghiên cứu và đã có những thành công nhất định Theo nhà nhân học John Kleinen, cũng là tác giả của
cuốn Làng Việt- đối diện quá khứ hồi sinh tương lai (1999), thì các nghiên
cứu làng Việt giai đoạn này khắc phục được sự chênh lệch học thuật trước đó khi điều kiện thực địa điền dã và cách thức thu thập thông tin không còn bị ảnh hưởng bới chiến tranh Các nghiên cứu làng Việt nhanh chóng nổi lên trên diễn đàn học thuật quốc tế với Lương Văn Hy (vùng Sơn Dương, Vĩnh Phúc), Nguyễn Tùng và Nell Krowosky (làng Mông Phụ, Hà Tây cũ), Shaun KingslayMalarney (làng Thịnh Liệt, Hà Nội), John Klenen (làng Tơ, Hà Tây cũ), Terry Rambo (làng Nguyên Xá, Thái Bình) [41]
Các nghiên cứu về làng Việt của giới tri thức Việt Nam cũng nở rộ từ sau năm 1986 Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về làng xã thời kì này
có thể kể đến như Về một số làng buôn ở đồng bằng Bắc Bộ thế kỷ XVIII,
XIX, Nông thôn và đô thị Việt Nam: Lịch sử, thực trạng và xu hướng biến đổi
của Nguyễn Quang Ngọc, Một làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ của Nguyễn Hải Kế, Tìm hiểu làng Việt do Diệp Đình Hoan chủ biên, Làng xã
Việt Nam, một số vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội; Từ làng đến nước một cách tiếp cận lịch sử của Phan Đại Doãn [41]v.v… Cùng với những công trình
tổng hợp thì có một số công trình khảo tả cụ thể về từng làng, đem đến cái
nhìn đa dạng về làng xã như Làng Chương Dương qua di sản Hán Nôm của Chu Huy, Cung Khắc Lược, Nguyễn Trọng Hải, Hành trình về làng Việt cổ
của Bùi Xuân Đính chủ biên [41] Theo thống kê của Tống Văn Lợi và Phan Đức Anh năm 2006 với 449 công trình nghiên cứu về làng xã thì có đến 416/449 là của các học giả Việt Nam “Các vấn đề được quan tâm rất đa dạng trên các lĩnh vực như ruộng đất (78/449 công trình, chiếm 17,3%), văn hóa
Trang 20làng xã (54/499, chiếm 12%), quản lí làng xã (32/449 chiếm 7,1%)… cho thấy sức hấp dẫn của đề tài [40, tr 26] Nghiên cứu làng Việt trong xu hướng
biến đổi thể hiện trong các chương trình trọng điểm như Làng xã ở đồng bằng
sông Hồng (1996-1999) do Viện Viễn đông bác cổ tại Hà Nội phối hợp với
Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn (nay là Viện Hàn lâm khoa học xã hội
Việt Nam), đề tài cấp bộ Văn hóa nông thôn trong phát triển (Viện Văn hóa
thông tin- Bộ Văn hóa thông tin, 2000) v.v… Những nghiên cứu này xem xét làng Việt trong các chiều hướng biến đổi kinh tế, xã hội, văn hóa ở mức độ vĩ
mô từ đó đặt ra các vấn đề chính sách, chiến lược phát triển cho từng vùng Tuy nhiên mỗi vùng quê, mỗi làng xã lại có những đặc thù riêng, vì vậy đã có những công trình nghiên cứu chuyên sâu hơn, không chỉ là khảo tả mà đã đi vào phân tích cụ thể, lý giải dưới góc độ lý thuyết thuyết phục hơn Đó là
những công trình như của Nguyễn Thị Phương Châm trong Biến đổi văn hóa
ở các làng quê hiện nay (2009) nghiên cứu về sự biến đổi văn hóa ở các làng
Bắc Ninh [5], Lâm Minh Châu trong Đổi mới, kinh tế thị trường và hiện đại
hóa (2017) nghiên cứu về một làng ở Thái Bình [7], Nguyễn Công Thảo với Tìm phố trong làng, tâm tư của người cao tuổi (2020) nghiên cứu một làng ở
Đông Anh, Hà Nội [79]…Đây là những công trình nghiên cứu theo hướng khoa học mới, đặt trong bối cảnh tranh luận chung của học thuật thế giới, có tính vấn đề hóa cao để từ đó bàn luận về làng Việt một cách sâu sắc, đa dạng
Sẽ còn có rất nhiều công trình nghiên cứu làng Việt khác nhưng trên đây là những công trình có giá trị về nghiên cứu về làng Việt Bắc Bộ mà NCS cho là có giá trị thực tiễn và lý luận Để tìm hiểu về làng và không gian làng ven đô thì việc tìm hiểu làng Việt nói chung là một bước đệm cần thiết
1.1.2.Nghiên cứu về biến đổi không gian làng ven đô
Khu vực ven đô là một nơi hội tụ đầy đủ những đặc điểm của bối cảnh giao động giữa nông thôn và thành thị, là nơi chứng kiến sâu đậm nhất của
Trang 21các quá trình đô thị hóa, công nghiêp hóa, hiện đại hóa cũng như là toàn cầu hóa Do vậy, đây là một không gian vô cùng sôi động thu hút nhiều sự quan tâm các học giả thế giới cũng như trong nước
Đầu tiên phải kể đến bài viết của Micheal Leaf (2009) về “Những biên giới đô thị mới: Quá trình đô thị hóa vùng ven đô và (tái) lãnh thổ vùng Đông Nam Á” Đối với khu vực ven đô ở Đông Nam Á, theo ông, đó là một vùng
có cảnh quan năng động, hỗn độn, chắp vá và liên tục biến đổi Tính quá độ này tạo nên những đặc điểm của quá trình đô thị hóa ở khu vực ven đô, đó là
sự chuyển tiếp giữa nông thôn và thành phố, giữa nội thành và ngoại thành và
là một khu vực có sự biến đổi năng động và không ngừng Quá trình này ở mỗi quốc gia, mỗi địa phương lại mang những nét đặc thù riêng chứ không phải là một quá trình đồng nhất Ở vùng này, còn có thể coi là địa giới về mặt không gian lãnh thổ theo ít nhất 3 nghĩa Thứ nhất “vùng ven đô là những địa giới của sự đô thị hóa theo nghĩa rộng nhất của từ này, bắt nguồn từ sự mở rộng ra bên ngoài của cái thường được gọi là những chức năng đô thị trên khắp các khu vực với đà gia tăng không ngừng, người ta cần phải phân tách
đô thị thành các bộ phận nhỏ hơn để hiểu được những hàm ý của vùng ven đô với tư cách là địa giới của đô thị” [46,tr 425]; thứ hai, “Vùng ven đô cũng có thể là biên giới của sự toàn cầu hóa, ý kiến này thường được nhắc đi nhắc lại trong các tài liệu nhấn mạnh ảnh hưởng của dòng chảy toàn cầu hóa đến khu vực này, nhất là dòng chảy đầu tư trực tiếp từ nước ngoài” [46, tr 425]; thứ
ba, “vùng ven đô là đường ranh giới mà tôi gọi là địa giới hành chính Đây là kết quả của quá trình tái lãnh thổ hóa do nhà nước thực hiện, thường là thông qua chính quyền địa phương Tuy nhiên quan điểm cho rằng vùng ven đô là địa giới hành chính thể hiện quá trình tái lãnh thổ hóa không đơn thuần là việc
vẽ lại đường ranh giới Ẩn bên trong các khuynh hướng này còn là sự biểu thị nội tại của quyền lực điều chỉnh rất có thể bao hàm sự tranh cãi ở các cấp độ
Trang 22cư dân khu vực cũng như định hình những trụ cột có vai trò ra quyết định của
“Tình trạng đô thị hóa hàng ngày” Như vậy, sự tái lãnh thổ hóa được nói đến
ở đây không đơn thuần chỉ là vấn đề hành chính, mà nó còn là vấn đề quyền lợi bất động sản có được đảm bảo bởi các cấp quản lý của nhà nước hay không và thậm chí còn là vấn đề nhà nước có khả năng sử dụng thích đáng quyền lực điều chỉnh của mình hay không để vượt qua những áp lực hoặc từ những hoạt động phân phối đất địa phương hoặc từ sự phát triển công nghiệp
từ đô thị” [46,tr 426] Như vậy bằng khả năng khái quát cao, ông đã đề cập đến không gian của vùng ven đô với tư cách là biên giới của đô thị hóa, của toàn cầu hóa và địa giới hành chính với những mâu thuẫn, xung đột, dòng chảy ẩn trong nó Từ góc độ tiếp cận này, tác giả đã áp dụng trong nghiên cứu vùng ven đô thành phố Hồ Chí Minh Điều đáng chú ý là bài viết đã đề cập đến việc xây dựng Khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng trong dự án Nam Sài gòn, là những gợi ý hữu ích đối với NCS khi nghĩ về trường hợp nghiên cứu của mình Theo ông, việc kinh doanh bất động sản đã phát triển quá nhanh trong thời kì đổi mới ở nước ta “Ở mức độ nào đó, điều này nảy sinh do nhu cầu cấp bách và các cấp độ quyền lợi riêng tư, nếu không muốn nói là cá nhân, mặc dù đây cũng là một ngành công nghiệp được sự ủng hộ mạnh mẽ của chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh với tư cách là một hoạt động tạo thu nhập cho thành phố” [46,tr 430] Tuy nhiên ông cũng cảnh tỉnh rằng, khu vực ven đô là một không gian dễ bị tổn thương, nhiều âu lo, bất ổn bởi đây là lằn ranh của toàn cầu hóa, nơi nhập nhằng giữa quyền lực nhà nước và địa phương, là phép thử của nền kinh tế thị trường trong giai đoạn quá độ
Cùng hướng quan tâm đến không gian vùng ven đô tại các nước đang phát triển khu vực Đông Nam Á, và một số nước Châu Á, một học giả xuất sắc khác là Terry McGee, Giáo sư đến từ đại học Columbia,ông đã có không
ít công trình nghiên cứu, biên soạn liên quan đến vấn đề này Cuốn
Trang 23Theextended metropolis: Settlement transition in Asia (Thành phố mở rộng:
chuyển đổi mô hình định cư ở Châu Á) đồng biên soạn bởi Norton Ginsburg, Bruce được coi là một trong những nghiên cứu tiên phong về đô thị hóa ở Châu Á [108] Những vấn đề học thuật lẫn thực tiễn về nông thôn, đô thị, quản trị khu vực đã được đề cập trong công trình này Mở rộng thành phố, làm thay đổi cảnh quan, không gian cả vùng đô thị lẫn vùng nông thôn ven đô
là tiền đề lý thuyết cho những nghiên cứu ở một số nước như Trung Quốc, Ấn
Độ, Nhật Bản và Indonexia Đô thị hóa ở Châu Á đã bước vào những giai đoạn chuyển đổi quan trọng và có những mô hình mới xuất hiện Ranh giới giữa nông thôn và đô thị dường như bị xóa nhòa nhường chỗ cho cho một mô hình kinh tế xã hội chẳng phải nông thôn cũng chẳng phải đô thị nhưng lại bảo tồn những yếu tố cần thiết của cả hai Đáng chú ý trong cuốn này là các bài viết như “Extended Metropolitan Regions in Asia: A new spatial paradigm” (Mở rộng khu vực đại đô thị ở Châu Á: Một mô hình không gian mới) của tác giả Nortan Ginsburg, tác giả này cho rằng việc mở rộng thành phố đã tạo ra một mẫu hình không gian mới, chứa đựng những vấn đề kinh tế chính trị đan xen quyền lực hết sức phức tạp Bài viết “Distinctive urbanization in the peri-urban region of East and Southeast Asia: Renewing the debate” (Đặc điểm đô thị hóa ở vùng ven khu vực Đông và Đông Nam Á: xem xét lại cuộc tranh luận) nhằm tổng kết lại và bàn luận lại từ những thảo luận sôi nổi với các vấn đề đô thị hóa ở vùng ven đô ở khu vực Đông và Đông Nam Á qua cuốn sách kể trên trong vòng 20 năm
Đồng tác giả trong một cuốn sách khác China’s urban space:
Development under market socialism (Không gian đô thị của Trung Quốc: Sự
phát triển trong thị trường chủ nghĩa xã hội), ông cùng các cộng sự đã đánh giá lại quá trình đô thị hóa ở Trung Quốc và nhấn mạnh rằng, quá trình đô thị hóa ở Trung quốc đương đại là yếu tố tất nhiên tuân theo dòng chảy của quá
Trang 24trình toàn cầu hóa, là một sự phát triển theo quy luật phát triển bền vững Trung Quốc không thể tách mình ra khỏi thế giới và quỹ đạo của dòng chảy
đô thị hóa là một nấc quan trọng của các thang bậc toàn cầu hóa Do đã nghiên cứu kĩ mô hình toàn cầu hóa của Trung Quốc nên ông đã có một bài viết so sánh quá trình đô thị hóa ở Trung Quốc và Việt Nam là “Interrogating the produce of urban spacein China and VietNam under market socialist” (Thẩm vấn sự kiến tạo không gian đô thị ở Trung Quốc và Việt Nam trong nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa) Bài viết này tìm hiểu hai vấn đề Đầu tiên, tập trung vào câu hỏi khung lý thuyết phù hợp nhất cho nghiên cứu quá trình đô thị hóa ở Trung Quốc và Việt Nam trong 30 năm qua là gì? Terry McGee cho rằng lý thuyết "sản xuất không gian" hay “kiến tạo không gian” (Produce of space) của Henri Lefebvre đưa ra cách tiếp cận khả thể vì nền kinh tế chính trịmà bài viết tiếp cậngiúp cho việc xác định được các động lực chính trong quá trình đô thị hóa trong các xã hội xã hội chủ nghĩa trước đây Vấn đề thứ hai liên quan đến việc điều tra sự khác biệt và tương đồng trong quá trình đô thị hóa ở hai quốc gia đang tham gia vào các quá trình chuyển đổi kinh tế với cấu trúc tương tự Kết luận cho thấy rằng bất chấp sự khác biệt
về lịch sử và văn hóa giữa Việt Nam và Trung Quốc, quá trình đô thị hóa ở cả hai quốc gia đang thể hiện các đặc điểm hội tụ khi cả hai nước đang áp dụng một hình thức “đô thị hóa hỗn hợp” liên quan đến sự kết hợp giữa kinh tế xã hội chủ nghĩa và nền kinh tế thị trường, và không liên quan đến phong trào tất yếu của chủ nghĩa tư bản [111] Bài viết này gợi ý cho NCS cách tiếp cận lý thuyết không gian của Henri Lefebvre trong trường hợp nghiên cứu của mình Bài “Đánh giá lại các thách thức trong quá trình đại đô thị hóa của Đông Nam Á” tìm hiểu những thách thức lớn mà sự tăng trưởng của đô thị hóa tại khu vực Đông Nam Á đặt ra cho chính sách, trong đó ông có đặt ra câu hỏi về các đặc điểm không gian chính của vùng đại đô thị là gì Để phục vụ điều đó, ông
Trang 25dựa trên quá trình của việc tăng trưởng dân số, theo hướng nhân khẩu học Với các dữ liệu thống kê điều tra dân số, ông xem xem tỉ lệ người sinh sống tại các khu vực trung tâm, vùng nội vi, ngoại vi ra sao dưới sự hình thành của vùng đô thị nới rộng Lập luận quan trọng của bài viết cho rằng dân số đô thị ngày càng gia tăng ở vùng ven đô “Mức độ đô thị hóa của Đông Nam Á sẽ tăng từ 37% lên đến 56% vào năm 2030 Cho nên, nếu xu hướng mở rộng đô thị cứ tiếp tục do được thúc đẩy bởi việc phát triển công nghệ xe hơi trong mấy thập kỷ qua thì hầu hết mức tăng dân số đô thị sẽ diễn ra ở vùng ven của các khu đô thị Đông Nam Á” [117] Như vậy cấu trúc không gian sẽ phụ thuộc vào dân số ở những vùng không gian trung tâm thành phố, vùng nội vi
và ngoại vi của đại đô thị mở rộng và từ đó xem xét các chính sách liên quan đến sự phân loại nông thôn và thành thị về mặt không gian Để kết luận, Terry McGee nhấn mạnh đến tầm quan trọng của vùng ven đô thị trong sự hình thành các vùng đô thị cực lớn và tầm quan trọng của các vùng ven trong đô thị hóa trong tương lai cũng như cần xem xét các đặc điểm không gian nội tại của nó Ông bác bỏ quan điểm phổ biến hiện nay cho rằng đô thị hóa được thúc đẩy bởi toàn cầu hóa, vì thực ra quá trình hình thành các vùng đô thị là một quá trình tương tác giữa các cấp địa phương, vùng, và quốc gia Bên cạnh
đó thì vùng ven cũng là vùng dễ bị tổn thương nhất bởi các tác động toàn cầu [117] Nhận định về tương lai đô thị Việt Nam trong “Urban future of Vietnam” (Tương lai đô thị Việt Nam), Terry McGee cho rằng đô thị hóa ở Việt Nam đã tăng nhanh chóng từ những năm thập niên 90, ở các thành phố lớn (Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Biên Hòa ) Các yếu tố như dân số, nhà cửa, di dân, công ăn việc làm là những áp lực
mở rộng thành phố Điểm qua lịch sử của quá trình đô thị hóa ở Việt Nam, ông vẫn cho rằng cần có chính sách quan tâm đến vùng ven đô, nhấn mạnh mối liên kết giữa nông thôn và thành thị, quan tâm đến lực lượng lao động và
Trang 26các giải pháp nhà ở Thêm vào đó, Việt Nam vẫn đang ở trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi đô thị hóa Vì vậy việc đi tắt đón đầu và học hỏi kinh nghiệm từ các nước khác trong khối Đông Nam Á là điều khả thi và giúp ích rất nhiều Một điều dễ nhận thấy là trong các công trình nghiên cứu của Terry Mc Gee, nổi lên vấn đề cần tranh luận về khái niệm nông thôn, đô thị,
về cái gọi là vùng ven đô, và cho rằng ở vùng ven, khái niệm nông thôn và đô thị hoàn toàn biến mất đề từ đó đề xuất ra những mô hình, triển vọng, tương lai, gợi ý về mặt chính sách, giải pháp cho vùng đất nhạy cảm này Quan điểm này đã thể hiện từ ngay từ rất sớm như một định hướng mà ông theo đuổi từ bài viết năm 1964 “The Rural-Urban continuum debate: The preindustrial city and Rural-Urban migration” (Tranh luận tính nông thôn thành thị: thành phố tiền công nghiệp và di cư nông thôn đô thị) Bài viết điểm lại cuộc tranh luận
về nông thôn- đô thị và cung cấp thêm những khung lý thuyết cần thiết cho nghiên cứu về di dân nông thôn đô thị
Trong Future Asia Space: Projecting the Urban Space of New East
Asia (Tương lai không gian Châu Á: hướng tới xây dựng không gian đô thị
của Đông Á mới),do nhà xuất bản Đại học Quốc gia Singapore ấn hành gồm
15 bài với 15 tác giả đến từ các chuyên ngành khác nhau đã tìm hiểu các khái niệm rộng lớn liên quan đến việc tạo và tái tạo "không gian châu Á" và bản sắc châu Á đương đại [104] Việc kết nối các địa điểm và phương pháp nghiên cứu khác nhau của họ đã làm nổi bật những khó khăn trong việc xác định chính xác châu Á là gì, hoặc tương lai của nó ra sao Rõ ràng, những thay đổi nhanh chóng về công nghệ, kinh tế, xã hội và văn hóa đang làm thay đổi ý tưởng về “không gian châu Á” Với sự chuyển đổi sang nền kinh tế toàn cầu và bùng nổ dân số đô thị, các thành phố châu Á đã trở thành trụ cột của sự tiến bộ, niềm tự hào dân tộc, bản sắc và định vị trên sân khấu toàn cầu Thiết
kế và quy hoạch phù hợp của các thành phố là một yếu tố quan trọng trong
Trang 27việc xây dựng một tương lai bền vững và đối phó với các vấn đề môi trường,
xã hội và văn hóa “Không gian châu Á tương lai” được viết lên để kích thích
sự quan tâm và thu hút các cuộc thảo luận về thành phố châu Á, mặc dù trọng tâm của nó tập trung vào kiến trúc và đô thị, nhưng kết luận của các tác giả sẽ gây tò mò cho bất kỳ ai quan tâm đến tương lai của các thành phố và đời sống
đô thị ở châu Á thông qua không gian
Trên đây là một số học giả quốc tế nghiên cứu về không gian vùng ven
đô ở vùng Đông Nam Á và một số nước khu vực Châu Á
Ở Việt Nam, đô thị hóa phát triển một cách nhanh chóng, đặc biệt là các thành phố lớn Trong cùng một mẫu hình phát triển, đô thị hóa khiến cho thành phố cần được mở rộng, và vùng ven đô trở thành điểm đến lý tưởng Không gian vùng ven đô là nơi giao hòa các yếu tố thành thị, nông thôn, tạo
ra những biến chuyển sâu sắc trên tất cả các mặt kinh tế xã hội, văn hóa, chính trị v.v… Nghiên cứu không gian vùng ven đô thực sự là mối quan tâm của không ít học giả Có thể đặt nghiên cứu không gian làng ven đô trong bối cảnh chung của biến đổi văn hóa làng trong quá trình đô thị hóa
Các công trình nghiên cứu về sự biến đổi văn hóa kinh tế xã hội của làng ven đô Hà Nội trong bối cảnh đô thị hóa cũng khá phong phú Có thể kể
đếnBiến đổi kinh tế-xã hội ở vùng ven đô Hà Nội trong quá trình đô thị hóa
của tác giả Nguyễn Hữu Minh và các cộng sự [47] đã đề cập đến chuyển đổi nghề nghiệp, cơ cấu nguồn thu nhập, mức sống, cơ sở hạ tầng, hôn nhân, giáo dục văn hóa của các xã ven đô và chỉ ra rằng sự gia tăng về đời sống vật chất chưa đủ xung lực để làm biến đổi mạnh mẽ đời sống văn hóa; Trần Đức Ngôn
với Văn hóa truyền thống làng xã ngoại thành Hà Nội dưới tác động của nền
kinh tế thị trường [59] công trình này đã khảo sát sự biến đổi văn hóa truyền
thống theo phương pháp xã hội học, tìm ra các xu hướng biến đổi tích cực và tiêu cực đang tồn tạo ở các làng xã ngoại thành Hà Nội; Ngô Văn Giá (chủ
Trang 28biên) với Những biến đổi về giá trị văn hóa truyền thống ở các làng ven đô
Hà Nội trong thời kì đổi mới [22] quan tâm đến sự tác động đô thị hóa đến các
giá trị văn hóa truyền thống và đặt ra yêu cầu cho việc định hướng và xây
dựng lại hệ giá trị cho các làng quê này; Phan Thị Mai Hương với Những biến
đổi về tâm lý của cư dân vùng ven đô trong quá trình đô thị hóa [5] chỉ ra
những thay đổi về nhu cầu, nhận thức xã hội, quan hệ xã hội và sự lựa chọn của người dân trong bối cảnh mới, từ đó đưa ra những kiến nghị về chính sách
cho phù hợp với làng ven đô; Lương Hồng Quang với Câu chuyện làng Giang
[66] quan tâm lý giải về các hệ giá trị, chuẩn mực và khuôn mẫu văn hóa khi
bị đô thị hóa; Nguyễn Văn Sửu vớiCông nghiệp hóa, đô thị hóa và biến đổi
sinh kế ở ven đô Hà Nội [73], khi bàn đến sự biến đổi sinh kế của hai làng ở
ven đô đã chỉ những cơ hội và thách thức khi chuyển đổi sinh kế như gia tăng thu nhập, tăng giá trị đất đai nhưng kèm theo đó cũng có những hệ quả về việc mất đất nông nghiệp, áp lực việc làm Nguyễn Thị Phương Châm, Đỗ
Lan Phương với Làng ven đô và sự biến đổi văn hóa-Trường hợp làng Xuân
Đỉnh, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội [5] đã quan tâm đến vai trò của chủ
thể tự quyết trong sự lựa chọn, thích nghi, sáng tạo với những thay đổi trong quá trình đô thị hóa làng, những xu hướng biến đổi, tâm lý thái độ của dân làng với những góc nhìn đa diện Các tác giả cũng có đề cập đến sự hình thành của khu đô thị mới Nam Thăng Long trong quần thể xã Xuân Đỉnh nhưng đây không phải là đối tượng trọng tâm được nghiên cứu đến Và có rất nhiều các luận án, luận văn, các bài viết từ các ngành Khoa học xã hội khác nhau bàn về vấn đề biến đổi của làng ven đô trong những trường hợp cụ thể Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về biến đổi làng xã đều có xu hướng khẳng định rằng chính bối cảnh đô thị hoá, công nghiệp hóa và hiện đại hóa đã làm thay đổi đời sống của người dân ven đô và người dân thì sẽ có những ứng phó với bối cảnh mới
Trang 29Tuy nhiên trong các công trình kể trên, rất ít công trình nghiên cứu kĩ
về không gian của làng ven đô, không gian chỉ là một từ chung để nhắc đến
chứ chưa được thao tác hóa khái niệm Trong Làng ven đô và sự biến đổi văn
hóa, nghiên cứu trường hợp làng Xuân Đỉnh, Từ Liêm, Hà Nội có phần đề cập
đến “không gian và cảnh quan làng” [5, tr.106] Không gian và cảnh quan ở đây là không gian sống nói chung gắn với không gian sản xuất, không gian cư trú, không gian công cộng không gian định hướng Đông Tây Nam Bắc (trước kia) và không gian hành chính (hiện nay) với đường làng ngõ xóm, và sự xuất hiện thêm của không gian dành cho kinh doanh, thương mại, dịch vụ hòa trộn với không gian sinh sống và sản xuất Các tác giả nhận ra rằng: “Có lẽ sự biến đổi không gian và cảnh quan của làng rõ rệt nất là sự thu hẹp của đất nông nghiệp, đất ở và đất chưa sử dụng của làng” [5, tr.110] và “Không gian và cảnh quan hiện tại của Xuân Đỉnh có sự đan xen giữa phố và làng, phố trong làng, làng vươn ra phố và hòa nhập vào phố, sự biến đổi của không gian và cảnh quan này liên quan đến sự biến đổi của nhiều yếu tố văn hóa khác” [5, tr.115] Mặc dù không đi cụ thể vào không gian nào, nhưng những nhận định
về không gian cảnh quan của một xã vùng ven đô này hết sức xác đáng và là những gợi ý hết sức quan trọng trong việc quan sát sự biến đổi không gian của một làng ven đô khác mà luận án tập trung
Một công trình đáng chú ý khi nghiên cứu không gian làng ven đô là
Công nghiệp hóa, đô thị hóa và biến đổi sinh kế ở ven đô Hà Nội của Nguyễn
Văn Sửu Mặc dù tiêu đề của cuốn sách không đề cập đến vấn đề không gian nhưng toàn bộ cuốn sách đã đặt sự biến đổi sinh kế dưới lăng kính của không gian, và không gian làng Lý thuyết và cách phân chia (tương đối) các loại không gian được tác giả tổng hợp từ nhiều học giả uy tín nước ngoài như Setha M.Low, Denise Lawrence-Zuniga, Liza Bondi, Lisa B.W.Drummond , Mandy Thomas, Ajy M.Garde, Georges Condominass… Các học giả trong
Trang 30nước quan tâm đến vấn đề không gian như Ngô Đức Thịnh (Lý thuyết “trung tâm và ngoại vi” trong nghiên cứu không gian văn hóa), Chu Xuân Diên (Con người và không gian (Một cách tiếp cận văn hóa học), Nguyễn Tùng (Về không gian làng), Nguyễn Thanh Tuấn (Văn hóa nghệ thuật đồng bằng Bắc
Bộ Không gian và thời gian biến đổi) cũng được đề cập Từ việc điểm luận
và phân tích về không gian làng từ góc độ thực tiễn và lý thuyết, Nguyễn Văn Sửu đặt ra bốn vấn đề cần thảo luận: 1 Liệt kê và phân biệt một cách tương đối một số không gian trong làng (không gian cư trú, không gian kiến trúc, không gian xã hội, không gian thiêng, không gian canh tác sản xuất, không gian chung, riêng ); 2 Các không gian này được tổ chức và sắp xếp thế nào;
3 Xác định biên giới không gian (hữu hình, vô hình, đóng, mở?); 4 Từ đó qua phân tích cụ thể hai làng ven đô tìm hiểu xem sự biến đổi không gian ở khu vực ven đô Hà Nội diễn ra như thế nào, và trong sự biến đổi không gian
đó, người dân đã có những cách thức gì để duy trì sinh kế của họ [73] Đây quả thực là một cuốn sách hữu ích cho NCS về mặt lý thuyết không gian để
áp dụng cho nghiên cứu của mình
Cùng trong mạch cảm hứng quan tâm nghiên cứu đến không gian làng,Nguyễn Văn Sửu có bài viết chung với Nguyễn Thu Hường “Hướng tiếp cận không gian làng trong nghiên cứu làng Việt: Nghiên cứu trường hợp làng Đồng Kỵ, Bắc Ninh” Theo các tác giả, có ba hướng tiếp cận làng là: từ góc
độ lịch sử, từ góc độ chủ thể và từ góc độ không gian Từ góc độ không gian,
họ nhấn mạnh đến các phân tích và lý giải không gian như một sản phẩm được kiến tạo bởi các chủ thể Trong bài viết, các tác giả có nhắc đến hướng
tiếp cận không gian một cách tỉ mỉ trong cuốn Làng ở vùng Châu thổ sông
Hồng: Những vấn đề còn bỏ ngỏcụ thể trong đó là bài “Không gian làng” của
Nguyễn Tùng và bài “Xây dựng và gọi tên không gian làng: Lịch sử và tập quán văn hóa ở một làng trung du (tỉnh Phú Thọ)” Nguyễn Tùng quan tâm
Trang 31đến không gian làng qua việc tìm hiểu khái niệm làng, và các không gian hành chính, không gian cư trú, không gian canh tác cũng như mối quan hệ của không gian làng với không gian quốc gia dân tộc Olivier Tessier thì tìm hiểu
về không gian cư trú và không gian canh tác trong mối quan hệ “hỗn canh, hỗn cư” Đây là những công trình công phu, có tiếng vang và phù hợp với bối cảnh nông thôn lúc bấy giờ Tuy nhiên, sau nhiều năm đổi mới, không gian làng Việt đã có những thay đổi chóng vánh không chỉ về mặt thực thể địa lý, khiến cho các nhà nghiên cứu phải đặt lại vấn đề trong cách tiếp cận của mình Không gian không chỉ nhìn nhận như một “cái thùng” chứa đựng, mà còn cần được nghiên cứu xem cách thức mà con người thao tác, thực hành đời sống thường nhật như thế nào trong cái không gian ấy Trong bối cảnh hiện đại hóa, đô thị hóa, không gian làng đã biến đổi ra sao, các cá nhân tham gia vào thực hành không gian thường ngày thực sự liên quan nhiều hơn đến những mối quan hệ đàm phán, thỏa hiệp, cũng như kháng cự [74]
Luận văn thạc sĩ của Ngô Thị Chang, Đô thị hóa và biến đổi không
gian làng Ngọc Than, xã Ngọc Mỹ, huyện Quốc Oai, Hà Nội cũng đã khẳng
định với tác động của đô thị hóa, sự biến đổi không gian mới thực sự mạnh
mẽ và phức tạp với nhiều yếu tố tác động, từ yếu tố nội tại của cá nhân, của cộng đồng đến các yếu tố bên ngoài như chính sách nhà nước, các chương trình, dự án thực hiện tại địa phương [6]
Từ hướng tiếp cận sinh thái học lịch sử (historical ecology) đối với các làng quê ở đồng bằng Bắc Bộ, Nguyễn Công Thảo nhận định cảnh quan làng
đã có sự biến đổi mạnh mẽ theo từng giai đoạn lịch sử dưới tác động của cả các nhân tố khách quan và chủ quan, thể hiện sự thay đổi trong lối sống và quan điểm sống của người dân theo từng nhóm xã hội và những giai đoạn lịch sử khác nhau Từ sự biến đổi của không gian, nhiều vấn đề của nông thôn được đặt ra như quan hệ cộng đồng trong làng, thậm chí quan hệ giữa các thế hệ
Trang 32trong làng, quan hệ liên làng và siêu làng, tính đóng/mở của nông thôn nên được nhìn nhận như thế nào trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới [79]…Ở một bài viết cụ thể hơn là “Sự biến mất của những bóng ma và quá trình tái tạo không gian thiêng: Sinh thái học tín ngưỡng về sự chuyển đổi không gian ở một làng Việt tiếp cận dưới cái nhìn nhân học sinh thái” tác giả cho rằng trong bối cảnh đô thị hóa thì những không gian như không gian thiêng đã có sự “giải thiêng” nhất định Quá trình chuyển đổi đó đã có tác động đáng kể đến người già và họ đã tái dựng lại một số không gian thiêng như một cách ứng phó nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của họ [78] Tuy nhiên, đó là từ cách tiếp cận của tác giả từ góc độ người già, còn việc tái tạo không gian thiêng liên quan nhiều hơn thế nữa ở các góc độ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội phức tạp khác nhau mà trong luận án, qua một trường hợp cụ thể sẽ phân tích
Một cuốn sách vừa ra gần đây là Biến đổi không gian văn hóa buôn
làng Ê Đê ở Buôn Ma Thuột từ sau năm 1975 đến nay của tác giả Đặng
Hoàng Giang trên cơ sở luận án tiến sĩ cùng tên Cuốn sách trình bày những
cơ sở lý luận và thực tiễn về không gian văn hóa buôn làng, tìm hiểu sự vận động cấu thành cũng như sự biến các không gian văn hóa đó qua các thời kì
và nhìn nhận đánh giá thực trạng, đưa ra giải pháp Khảo sát qua bốn không gian là không gian sản xuất, không gian cư trú, không gian sinh hoạt cộng đồng và không gian sinh hoạt tín ngưỡng, tác giả cho thấy hai xu hướng là giải thể các không gian truyền thống và xu hướng khác song song tồn tại là xu hướng phục hồi chúng ở góc độ tái tạo, tạo dựng, cấp ý nghĩa mới cho chúng
Từ đó đặt ra các vấn đề như nhu cầu bảo tồn văn hóa, sự cần thiết phải quy hoạch không gian văn hóa buôn làng trước các biến đổi, tầm quan trọng của các bên liên quan trong việc bảo tồn và vấn đề sinh kế của người dân Đây là một công trình có cách tiếp cận bao quát, hướng đến xây dựng chính sách vùng từ góc độ không gian [21]
Trang 331.1.3 Nghiên cứu về Khu đô thị mới
Trong khoa học xã hội, mới chỉ có một số ít nghiên cứu về KĐTM nhưng chủ yếu nghiên cứu nội bộ đời sống của người dân sống trong KĐTM,
luận án của Đinh Đức Thiện (2018) -Quản lý đời sống văn hóa trong các Khu
đô thị mới ở Hà Nội (Trường hợp Khu đô thị Trung Hòa Nhân Chính và Khu
đô thị Nam Thăng Long) trình bày về đời sống văn hóa nói chung, những mặt
tích cực và tiêu cực trong lối sống ở hai khu đô thị này và đưa ra giải pháp,
Nguyễn Hồng Hà (2013), Nếp sống gia đình ở Khu đô thị mới, bàn về nếp
sống của cư dân khu đô thị Trung Hòa Nhân Chính dưới góc nhìn của xã hội
học ), Trịnh Duy Luân (2013) Sống ở khu đô thị mới, tiến tới cộng đồng đô
thị bền vững, khảo sát hai khu đô thị là Việt Hưng và Ciputra để từ đó đề xuất
khái niệm xây dựng cộng đồng đô thị bền vững; Khánh Hồng (2009), Nhà
chung cư cao tầng ở các khu đô thị mới của Hà Nội hiện naykhảo sát lối sống
của các cư dântại một số chung cư và đưa ra những kiến nghị, giải pháp cho những bất cập tại đó Như vậy, các nghiên cứu về KĐTM chủ yếu nghiên cứu về nội bộ cuộc sống của cư dân trong đó, nêu ra những bất cập và giải pháp chứ chưa chú ý bối cảnh tương tác với làng xóm lân cận-là những thực thể cũ của KĐTM
Trải qua quá trình lịch sử, Hà Nội có sự tích hợp của các làng xã nông
thôn trong sự lan tỏa và mở rộng của nó Trong một cuốn sách mới ra là Hà
Nội tương lai, chấm dứt hòa nhập xóm làng, có nói về nỗi đau đáu về sự đứt
gãy giữa một Hà Nội sang trọng với những KĐTM đẳng cấp xa hoa, tách biệt đời sống với xóm làng cũ [75] Hoặc nghiên cứu của nhà nhân học Mỹ là Erik
Harms về KĐTM Phú Mỹ Hưng và KĐTM Thủ Thiêm trong cuốn Luxury
and Rubble: Civility an Dispossession in the New Saigon (Hoành tráng và đổ nát: Văn minh và mất mát ở Sài Gòn thời mới) [100] nói về khoảng cách
giữa văn minh của những KĐTM và những đổ vỡ thua thiệt của người dân khi
hiến đất cho KĐTM Tuy nhiên thì mối quan hệ giữa KĐTM và làng xóm lân
Trang 34cận là không thuần nhất mà có những sự khác biệt ở mỗi khu vực khác nhau Bên cạnh đó thì vẫn còn những KĐTM bình dân, và mối quan hệ với xóm làng lân cận vẫn còn có những tiếp nối, không hoàn toàn đứt đoạn Kể cả những
khu đô thị sang trọng, khu đô thị khép kín, theo nhận định của NCS là không
có sự tách biệt hoàn toàn với thực thể cũ là xóm làng lân cận Có thể về mặt không gian địa lý hình thể là tách biệt, song vẫn tồn tại “không gian chung”
mà trong đó con người là yếu tố then chốt tạo nên nó Trên thực tế, những khu
đô thị cho dù “luxury” (đẳng cấp) này vẫn có sự tương tác với không gian môi trường xung quanh để đáp ứng những nhu cầu của cuộc sống hàng ngày như nguồn lương thực, hệ thống dịch vụ (vệ sinh, bán hàng, người giúp việc v.v )
Như vậy, qua quá trình tổng luận các tài liệu liên quan đến biến đổi không gian làng quê ven đô cũng như các tài liệu liên quan đến Khu đô thị mới trên địa bàn Hà Nội, NCS đã tiếp thu được rất luận điểm cũng như tư liệu hữu ích cho luận án của mình Một điểm nhấn quan trọng trong tiến trình đô thị hóa
là việc mở rộng thành phố bằng cách xây dựng những khu đô thị mới vùng ven
đô Những khu đô thị này thường được xây dựng trên đất nông nghiệp hoặc đất của làng xóm cũ Điều này đã tạo nên một “không gian chung” bên cạnh
“không gian bản địa” như nhận định của Terry McGee [75, tr.180] Tuy nhiên việc nghiên cứu sự biến đổi của cái “không gian bản địa” trong bối cảnh tương tác với khu đô thị mới và những thực hành, thao tác của người dân vùng ven đô trong cái không gian “nửa cũ nửa mới” hay như trên đã nói là “không gian chung” bên cạnh “không gian bản địa” ấy như thế nào, người dân thích ứng ra sao thì chưa được nhiều nghiên cứu đề cập kĩ Chính vì vậy, đây là “khoảng trống” nhỏ hẹp mà ở luận án này mà NCS muốn tìm hiểu
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Các quan niệm về không gian, không gian làng ven đô, biến đổi không gian làng ven đô, tương tác xã hội
Trang 351.2.1.1 Các quan niệm về không gian
Trong nhận thức của mỗi người, không gian là một cái gì đó luôn được nói đến, nhắc đến một cách đương nhiên, tất nhiên mà dường như ít hoặc không cần được định nghĩa, thao tác Người ta thường quan tâm nhiều hơn đến thực thể bên trong không gian đó được diễn ra như thế nào chứ ít quan tâm đến cái không gian chứa đựng chi phối đến thực thể đó Từ góc độ vật lý thì không gian là một sự mở rộng ba chiều không biên giới trong đó các vật thể và sự kiện có vị trí và hướng Không gian vật lý còn được xem cùng với thời gian là chiều không thời gian khi tìm hiểu về các tính chất vật lý và quá trình của vũ trụ Tuy nhiên khái niệm về không gian trở nên phức tạp hơn trong nghiên cứu khoa học xã hội, mà bắt nguồn từ triết học khi băn khoăn về cái gọi là không gian là một thực thể, là mối liên hệ giữa các thực thể hay một khái niệm trong khuôn khổ của nhận thức, ý thức
Trong nghiên cứu khoa học xã hội, không gian từ lâu đã vượt qua giới hạn của hệ thống kiến thức hình học Euclid hay hệ tọa độ De Cartes, kể cả cách gọi trạm không gian trên vũ trụ Trung tâm văn hóa Pháp tại Hà Nội gọi tòa nhà của mình đơn giản là “Không gian- l’Espace” Giống như nhiều thuật ngữ khác có sức hút đối với giới hàn lâm, thuật ngữ “không gian” có tính chất khó nắm bắt Chính vì thế, nó là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều học giả
từ các góc độ khác nhau Trong cuốn Key Thinkers on Space and Place
(Những nhà nghiên cứu hàng đầu về không gian và địa điểm) biên tập bởi Phil Hubbard và Rob Kitchin đã cung cấp cho chúng ta đầy đủ những nhận xét về cuộc đời và những công trình tiêu biểu của hơn 65 tác gia nghiên cứu
về không gian và địa điểm, những ảnh hưởng của họ trong bối cảnh đương đại của “spatial turn” (chuyển đổi không gian) trong ngành khoa học xã hội Những ý tưởng khác nhau về vai trò của không gian và địa điểm trong đời sống văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội, hay của mỗi cá nhân cũng như những
Trang 36Những cái tên nổi danh như Benedict Anderson, Pierre Bourdieu, Manuel Castell, Michel De Certeau, Micheal Dear, Arturo Escoba, Micheal Foucaul, Anthony Gidden, Stuart Hall, David Harvey, Henri Lefebrve, Doreen Massey, Edward Wadie Said, Edward W Soja, Yi-Fu Tuan, Raymond William v.v… đều góp mặt trong cuốn sách này chứng tỏ rằng, không gian là một đối tượng
vô cùng quan trọng mà khi tìm hiểu về đời sống con người không thể không
đề cập đến nó[113]
Gyoseitrong bài “Nhận thức không gian” đề cập rằng không gian trong nghiên cứu xã hội là không gian cụ thể của bề mặt trái đất nơi lấp đầy các sự vật Nếu như các khái niệm như nhận thức khu vực, nhận thức địa điểm quan tâm đến nội dung của bên trong không gian thì khái niệm nhận thức không gian lại chú trọng đến cái khung (cơ cấu) của bên trong không gian và sự phân bố hơn là nội dung của không gian Mặc dù tách bạch ra như vậy song trong nhiều trường hợp các khái niệm như nhận thức không gian, nhận thức khu vực, nhận thức địa điểm được dùng với nghĩa như nhau Tác giả lấy ví dụ
về nhận thức không gian Đông Nam Á thường được nghĩ là bao gồm cả nhận thức về nội dung của Đông Nam Á (nhận thức Đông Nam Á, hình ảnh Đông Nam Á) và nhận thức về cơ cấu (cái khung) không gian của Đông Nam Á (hình ảnh) Nhận thức không gian hiện thực như vậy được coi là phương diện thứ nhất Tách biệt với nó cũng có trường hợp nhận thức không gian được chỉ
ra với ý nghĩa là nhận thức về khái niệm cơ bản mang tính không gian như vị trí, cự li hoặc là tư duy, năng lực không gian, được coi là phương diện thứ hai
Từ nhận thức về không gian, một loạt các công trình nghiên cứu của các học giả người Nhật đã ra đời như Teramoto Ketsu (1988), Iwamoto Hiromi (1989) nghiên cứu phân tích bản đồ vẽ tay, Tsuchita Keiko (1987) nghiên cứu về không gian của các đô đạo phủ tỉnh với chỉ dấu là công nghiệp truyền thống,
về không gian lãnh thổ, Miyahara Hiroshi (1995) đã khảo sát từ tri thức địa
Trang 37danh, và Yamatuchi (1987) đã xem xét phân tích tính hướng Đông của nhận thức không gian lãnh tổ và khảo sát đặc trưng hình ảnh không gian lãnh thổ (Yamaguchi, 1989), về không gian thế giới, Yamaguchi (1990) đã làm rõ xu hướng phát triển đa diện từ cả hai phương diện là trí tuệ và tình cảm [121]
Rõ ràng, nhận thức về không gian cũng giúp về cách thức tư duy địa lý nhân văn, tìm ra những biểu hiện địa lý liên quan đến nhận thức về không gian địa phương mình Đây là một luận điểm quan trọng đối với NCS trong khi tiến hành làm nghiên cứu
Chris Barker trong Nghiên cứu văn hóa, lý thuyết và thực hành ở
chương 12 “Không gian văn hóa và địa điểm thành thị” tổng kết rằng từ những năm 1970 thì mối quan tâm đến không gian và địa điểm ngày càng trở nên rõ nét Đối lập với trước kia khi mà lý thuyết hiện đại chỉ quan tâm đến thời gian, coi nó như một lĩnh vực chuyển động của sự thay đổi xã hội và không gian bị coi là đã chết, cố định và không chuyển động Trong chương này, các ý nghĩa của không gian và địa điểm được xem xét theo ý nghĩa chúng được cấu thành bởi các mối liên hệ của quyền lực Không gian và địa điểm trong lý thuyết đương đại được nhìn nhận qua các lập luận của những nhà nghiên cứu như Gidden “hoạt động của con người được phân bố trong không gian là nền tảng cho việc phân tích về đời sống xã hội và văn hóa” [3, tr.514]; Hagerstrand quan tâm đến thời gian địa lí qua việc “lập lược đồ những chuyển động và con đuờng của con người qua những môi trường vật chất” [3, tr.515]; theo thuyết tương đối của Einstein thì không gian và thời gian gắn bó với nhau chặt chẽ không thể tách rời “Nguyên tắc không gian- thời gian được hình thành về mặt quan hệ thông qua những mối quan hệ qua lại của các hiện vật Điều tiếp theo là không gian xã hội cũng được cấu thành về mặt quan hệ
từ sự cùng tồn tại đồng thời của những mối liên hệ và tương tác xã hội” [3, tr.516] Những quan niệm về không gian từ góc nhìn lý thuyết văn hóa thường
Trang 38ngày có thể được thể hiện trong 5 luận điểm Massey (1994) đề xuất:
Không gian là một sự kiến tạo xã hội
Không gian xã hội được cấu thành từ những mối quan hệ xã hội, vì thế không gian không tĩnh mà luôn động
Những thứ mang tính xã hội được tạo dựng nên về mặt không gian Không gian hàm chứa trong những vấn đề về quyền lực và tính chất biểu trưng
Không gian xã hội hàm ý "tính vô số đồng thời của các không gian: cắt chéo, giao nhau, thẳng hàng với nhau, hay tồn tại trong những mối liên hệ nghịch lý hay tương phản" [3, tr 517]
Theo đó thì thành phố cũng được coi như một không gian địa điểm cần được nghiên cứu
George Condominas là người đưa ra thuật ngữ “không gian xã hội” khi phân tích vùng Đông Nam Á (Không gian xã hội vùng Đông Nam Á) Không gian xã hội được Georges Condominas định nghĩa là “cái không gian được xác định bởi tập hợp các hệ thống quan hệ đặc trưng cho một nhóm người nào đó” [10, tr.16] Các hệ thống ấy bao gồm: những mối liên hệ với không gian (môi trường tự nhiên) và thời gian (nhịp điệu sản xuất, chu kì nghi lễ trong 1 năm), những mối quan hệ về trao đổi của cải, những mối quan hệ về giao tiếp (ngôn ngữ và chữ viết), những mối quan hệ họ hàng và xóm giềng [10, tr.22-55] Đó chính là các hoạt động, các kiểu ứng xử làm nên lối sống của một cộng đồng trong một phạm vi không gian nhất định Đây là điểm tương đồng
về nội hàm giữa hai khái niệm không gian xã hội và không gian văn hóa.Tác giả dùng khái niệm không gian xã hội để mô tả “trường xã hội” Một cộng đồng càng năng động thì “trường xã hội” hay phạm vi tương tác của nó với thế giới bên ngoài càng rộng lớn Vì thế, Georges Condominas đã phân biệt các không gian xã hội bé/không gian xã hội giới hạn (các không gian ở miền
Trang 39núi) với các không gian xã hội lớn (các không gian ở vùng đồng bằng, duyên hải) [10, tr.55-74] Như vậy, bên cạnh mặt tương đồng, giữa khái niệm không gian xã hội và không gian văn hóa vẫn tồn tại một điểm khác biệt: khái niệm không gian xã hội nhấn mạnh đến ý niệm trường xã hội, còn khái niệm không gian văn hóa tập trung vào phương diện lối sống và kiểu loại văn hóa đặc trưng của cộng đồng Chính Georges Condominas đã nói rõ điều này khi ông giải thích lí do không dùng thuật ngữ “văn hóa” (nền văn hóa hoặc không gian văn hóa) mà lại dùng khái niệm không gian xã hội để biểu đạt các hệ thống quan hệ xã hội của người M’Nông Gar [10, tr.55-56]
Khái niệm về không gian thứ ba (Third Space) cũng được NCS quan tâm tìm hiểu Khái niệm không gian thứ ba (Third space) được dùng khởi đầu bởi nghiên cứu của Bhabha khinghiên cứu về mối quan hệ giữa hai nền văn hóa khó tách biệt Sau đó khái niệm này được phát triển bởi các nhà nghiên cứu về khoảng mở ở đường biên giới Theo Vương Xuân Tình, có dẫn lại nghiên cứu của Nail (2016) cho rằng không gian thứ ba có bốn đặc trưng: 1) Người dân vùng biên luôn ứng xử linh hoạt với các chính sách, luật pháp của nhà nước để sao cho mình có lợi nhất; 2) Biên giới thường có sự di động do nhiều nguyên nhân như chiến tranh, thảm họa thiên nhiên, thay đổi tự nhiên ; 3) Việc quản lý dòng người, tư tưởng luôn gặp khó khăn do gặp phải sự biến động; và 4) Không gian này luôn có tính chủ quan về chính trị của cả người dân [86, tr 26) Qua nghiên cứu không gian thứ ba ở vùng biên giới Việt – Trung, Vương Xuân Tình cho rằng, không gian này được hình thành trên cơ
sở thương thuyết về không gian (Spatial negotiations), thương thuyết về thời gian (Temporal negotiations) và thương thuyết về tính chủ quan chính trị (Negotiations of political subjectivities) của cư dân vùng biên [86, tr.24] Trong cái gọi là “không gian thứ ba” này, các mạng lưới xã hội (Social network) được thiết lập từ cấp độ cá nhân, gia đình cho tới cộng đồng trong
Trang 40các hoạt động xuyên biên giới Từ khái niệm này, cho phép NCS nghĩ tới các hoạt động sinh hoạt trong đời sống thường nhật của dân làng lân cận với khu
đô thị mới Mặc dù đây không phải là đường biên giới cấp độ quốc gia như bài viết trên đề cập, nhưng suy nghĩ ở cấp độ vi mô hơn thì khu vực làng mạc tiếp giáp với KĐTM và những hoạt động của dân làng dao động trong cả hai không gian nông thôn và đô thị đó cũng có thể coi là một khoảng “không gian thứ ba”, nơi diễn ra rất nhiều mối tương tác về mặt không gian, thời gian, và thương thuyết giữa các chủ thể
Trong truyền thống nghiên cứu học thuật tại Việt Nam, nghiên cứu không gian mà cụ thể là không gian văn hóa thường gắn với nghiên cứu vùng văn hóa Ngô Đức Thịnh có thể nói là người tiên phong trong nghiên cứu văn hóa vùng và phân vùng văn hóa Việt Nam thể hiện trong cuốn sách cùng tên
[83] Bên cạnh đó là những công trình như Bản sắc văn hóa vùng ở Việt Nam
[85], “Lý thuyết “trung tâm ngoại vi” trong nghiên cứu không gian văn hóa” [84] cũng nghiên cứu theo hướng đó Theo ông, vùng văn hóa là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống ở đó
từ lâu đã có những mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng
về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa họ đã diễn ra những giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại, nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể hiện trong sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân, có thể phân biệt với vùng văn hóa khác [85, tr.99] Bài viết “Những vấn đề lý luận chung của mối quan hệ trung tâm và ngoại vi trên cấp độ không gian văn hóa” của Nguyễn Văn Dân có cách tiếp cận ở góc độ không gian khác với văn hóa vùng của Ngô Đức Thịnh Ông sử dụng chính lý thuyết về không gian xã hội là một sản phẩm xã hội của Henri Lefebvre để phân tích trong bối cảnh toàn cầu hóa văn hóa Không gian văn hóa cũng là một không gian xã hội đặc thù.Mối quan hệ giữa trung tâm và ngoại vi trên cấp độ không gian văn hóa sẽ