MỤC LỤC1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của con người 5 2.1 Quan điểm của Đảng về phát huy nguồn lực của con người.. Đánh giá về những di sản lý luận vô giá của Người,Văn kiện Đạ
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHÍNH TRỊ - LUẬT
BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜI LIÊN HỆ THỰC TIỄN ĐỂ THẤY VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜI TRONG CHIẾN LƯỢC XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN ĐẤT
NƯỚC HIỆN NAY
Sinh Viên : Lê Thị Ninh
Trang 2BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHÍNH TRỊ - LUẬT
BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜI LIÊN HỆ THỰC TIỄN ĐỂ THẤY VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜI TRONG CHIẾN LƯỢC XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN ĐẤT
NƯỚC HIỆN NAY
Trang 3Lời cam đoan
Chúng em xin cam đoan đề tài số 17: “Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của con người liên hệ thực tiễn để thấy vai trò của con người trong chiến lược xây dựng, phát triển đất nước hiện nay” do các thành viên trong nhóm nghiên cứu và thực hiêṇ
Chúng em đã kiểm tra dữ liệu theo quy định hiện hành
Kết quả bài làm của đề tài này là trung thực và không sao chép từ bất kỳ bài tập củanhóm khác
Các tài liêu được sử dụng trong tiểu luận có nguồn gốc,
xuất xứ rõ ràng
Sinh viênthực hiện
(Ký và ghi
rõ họ tên)
Trang 4Lời cảm ơn
Trong thời gian học tập tại trường, với những kiến thức lý luận đã được các thầy côtruyền đạt, bản thân chúng em đã tiếp thu được những kiến thức cơ bản về bộ môn Tưtưởng Hồ Chí Minh Nhưng do còn ít kinh nghiệm, có thể bài tập không tránh khỏi nhữngthiếu sót trong quá trình tìm hiểu và trình bày Rất kính mong được sự đóng góp ý kiếncủa các thầy, cô để đề tài được hoàn chỉnh hơn Chúng em xin trân trọng cảm ơn sự quantâm giúp đỡ của các thầy, cô giảng viên đã giúp đỡ chúng em trong quá trình nghiên cứu
và thực hiện bài tập này
Xin trân trọng cảm ơn!
Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 09 năm2021
Sinh viên thực hiện
(Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 5MỤC LỤC
1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của con người 5
2.1 Quan điểm của Đảng về phát huy nguồn lực của con người 6
2.1.1 Trong những năm kháng chiến cho đến năm 2000 6
2.2 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực con người hiện nay 8
2.3 Một số giải pháp phát huy nguồn lực con người hiện nay 10
2.3.2 Giải quyết vấn đề đào tạo, bồi dưỡng nhân tài 10
3 KẾT LUẬN CON NGƯỜI LÀ TRUNG TÂM CỦA MỌI CUỘC CÁCH
4 VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜI TRONG CHIẾN LƯỢC XÂY DỰNG, PHÁT
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho cách mạng Việt Nam một giá trị tinh thần vô giá
Đó là một hệ thống quan điểm toàn diện, nhất quán và sâu sắc về những vấn đề cơ bảncủa cách mạng Việt nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ tiến lên cách mạng xã hội chủnghĩa, một cuộc cách mạng thuộc địa từ giải phóng dân tộc đến giải phóng giai cấp, giảiphóng xã hội, giải phóng con người, tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Tư tưởng HồChí Minh có giá trị nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam dẫn đường cho mọi thắng lợi củatoàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta Đánh giá về những di sản lý luận vô giá của Người,Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định:
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề
cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủnghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trịtruyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại Đảng và nhân dân taquyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảngchủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Đây là sự tổng kết chính xác và là sựphát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng ta
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề con người nói chung, giá trị của con người ViệtNam nói riêng là một nội dung quan trọng, vừa là mục tiêu, động lực của sự nghiệp cáchmạng, vừa là mục đích của tư tưởng, sức mạnh của văn hóa và con người Việt Nam lànhân tố làm nên thắng lợi to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc Mặc dùtrong di sản tinh thần của Hồ Chí Minh để lại, không có những tác phẩm chuyên khảo bàn
về hệ giá trị của con người Việt Nam, nhưng được thể hiện ở trong nhiều bài viết, bài nóidưới những hình thức, mức độ khác nhau Đặc biệt được thể hiện rõ trong quá trình thựctiễn lãnh đạo xây dựng, phát triển nền văn hóa mới, con người mới xã hội chủ nghĩa ởViệt Nam Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc xây dựng, phát triển giá trị của conngười Việt Nam, trong Di chúc, Người căn dặn sau khi chiến tranh kết thúc "đầu tiên làcông việc đối với con người"
Trang 7Việt Nam đang thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế vàcuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Cách mạng công nghiệp 4.0) Nhờ có đường lốiđúng đắn, chúng ta đã tiếp thu nhiều giá trị tiến bộ của nhân loại để không ngừng pháttriển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần cho người dân Tuynhiên, mặt trái của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, kinh tế thị trường và Cách mạng côngnghiệp
4.0 đã và đang tác động tiêu cực đến hệ giá trị truyền thống của người Việt Nam; làm chothang giá trị có sự xung đột, chuyển đổi, thậm chí khủng hoảng trong việc lựa chọn giá trịđịnh hướng, nhất là ở thế hệ trẻ Nhiều giá trị truyền thống tốt đẹp vốn có của dân tộcnhư: yêu nước, đoàn kết, nhân ái, nghĩa tình, hiếu học, cần cù… dù vẫn được phần lớnngười dân Việt Nam trân trọng, gìn giữ và phát huy, nhưng cũng đang có biểu hiện maimột, suy thoái, nhất là giá trị đạo đức Thực tế đó đòi hỏi yêu cầu bức thiết cần tìm ranhững giải pháp nhằm phát huy những giá trị tích cực, hạn chế mặt tiêu cực, hướng tớixây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cáchmạng
Với những lý do trên, nhóm chọn “Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của con người Liên hệ thực tiễn để thấy vai trò của con người trong chiến lược xây dựng, phát triển đất nước hiện nay.” làm đề tài nghiên cứu.
2 MỤC ĐÍCH VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu làm sáng tỏ những quan điểm lý luận của Hồ Chí Minh về vai trò củacon người Việt Nam, từ đó liên hệ để thấy vai trò của con người trong chiến lược xâydựng, phát triển đất nước hiện nay
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Trong thực tiễn Cách mạng, cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng ta, dân tộc ta.Chính vì vậy, việc giáo dục Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các cấp nói chung và trong sinhviên nói riêng có vai trò to lớn đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xãhội chủ nghĩa hiện nay
Trang 8Nhận thức đúng đắn về đối tượng môn Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là một trongnhững điều kiện, yêu cầu cơ bản nhất để nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường,
có quan hệ chặt chẽ với việc xác định nội dung, nhiệm vụ, phương pháp giáo dục về họcphần này
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vai trò của con người Việt Nam theo tư tưởng
Hồ Chí Minh và sự thực tiễn trong chiến lược xây dựng, phát triển
3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Về nội dung: Trong di sản tinh thần để lại, Hồ Chí Minh đã đề cập trực tiếp, giántiếp đến nhiều giá trị của con người Việt Nam Có những giá trị chung của dân tộc như:yêu nước, đoàn kết, nhân ái, cần cù, hiếu học…; có giá trị riêng của mỗi giai cấp, tầng lớp
xã hội, ngành nghề: công nhân, nông dân, bộ đội, công an, phụ nữ, thanh niên, thiếu niên,nhi đồng…; có giá trị cá nhân: sức khỏe, các quyền con người… Có những giá trị chínhtrị: độc lập, tự do, hạnh phúc, dân chủ…; có những giá trị đạo đức: trung thực, dũng cảm,liêm khiết, chính trực… Song, trong khuôn khổ của luận án, tác giả chỉ tập trung đi sâunghiên cứu các giá trị: Yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc; đoàn kết; nhân ái; trung thực,trách nhiệm; cần cù, sáng tạo Đây là những giá trị tiêu biểu, cốt lõi nhất, tạo nên bản sắcvăn hóa, con người Việt Nam Từ những giá trị tiêu biểu, cốt lõi mang tính nguyên tắcnày đã sản sinh ra nhiều giá trị quý báu khác của con người Việt Nam
Về thời gian: Từ năm 1998 đến năm 2021, là giai đoạn nước ta bước vào thời kỳđẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; là giai đoạn Đảng,Nhà nước ta đặc biệt coi trọng xây dựng, phát triển văn hóa, con người, đánh dấu bằng sự
ra đời của Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Tiểu luận sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: phân tích và tổnghợp, logic và lịch sử, tổng hợp và khái quát hóa, đối chiếu và so sánh, thống kê,
4.1
Trang 9PHẦN NỘI DUNG
1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI
4.2 Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người
Theo Hồ Chí minh, con người là một chỉnh thể, thống nhất về tâm lực, thể lực, đadạng bởi mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội (quan hệ gia đình dòng tộc, làng xã, quan hệgiai cấp, dân tộc) và các mối quan hệ xã hội (quan hệ chính trị, văn hoá, đạo đức, tôngiáo, …)
Vì xem con người là một thể thống nhất, Hồ Chí Minh luôn xem xét con người trong
sự thống nhất của hai mặt đối lập Mỗi con người sẽ đều có 2 mặt: tính tốt và tính xấu.Con người mà Hồ Chí Minh đề cập đến ở đây là con người cụ thể, con người lịch sử, hiệnlên khách quan Đồng thời, Bác khẳng định bản chất của con người mang tính xã hội, làsản phẩm của xã hội, là tổng hợp các quan hệ xã hội từ rộng đến hẹp
Hồ Chí Minh giải thích “Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bè bạn;nghĩa rộng là đồng bào cả nước; rộng hơn là cả loài người” Bởi vậy, con người khôngphải một cá thể biệt lập, con người luôn là thành viên của xã hội, của một cộng đồng xãhội Quan niệm về con người của Hồ Chí Minh rõ ràng đã được cụ thể hoá, bao hàm cả cánhân, cộng đồng, giai cấp, dân tộc, nhân loại Chỉ có trong quan hệ xã hội, trong hoạtđộng thực tiễn xã hội con người mới lao động, ngôn ngữ, tư duy, chế tạo công cụ laođộng, và trở thành con người đúng nghĩa
Thực tiễn có nhiều chiều quan hệ giữa con người với xã hội:
● Quan hệ với cộng đồng xã hội (là một thành viên)
● Quan hệ với một chế độ xã hội (làm chủ hay bị áp bức)
● Quan hệ với tự nhiên (một bộ phận không tách rời)
Hồ Chí Minh đã nhìn nhận con người lịch sử - cụ thể về giới tính, tuổi tác, nghềnghiệp, chức vụ, vị trí, đảng viên, công dân, … trong từng bối cảnh lịch sử cụ thể
Trang 104.3 Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của con người
Hồ Chí Minh đã khẳng định: Con người là vốn quý nhất – nhân tố quyết định thắnglợi của sự nghiệp cách mạng Người cho rằng: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhândân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng của đoàn kết nhân dân”
Nhận thức được tầm quan trọng, vai trò to lớn của con người, trong hệ thống tưtưởng Hồ Chí Minh, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng
4.3.1 Con người là mục tiêu của cách mạng
Lý luận về con người của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênnin là nền tảng
lý luận cho việc phát huy vai trò của con người trong cách mạng “Bất kỳ sự giải phóngnào cũng bao hàm ở chỗ là nó trả thế giới con người, những quan hệ của con người về vớibản thân con người”, là “giải phóng người lao động thoát khỏi lao động bị tha hoá”
Mục tiêu của cách mạng đều là những giá trị tốt đẹp cho con người cụ thể là: giảiphóng dân tộc – xây dựng chế độ dân chủ nhân dân – tiến dần lên xã hội chủ nghĩa nhằmgiải phóng dân tộc, giải phóng con người Tất cả quan điểm lý luận và phương pháp cáchmạng cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh đều nhằm tới mục tiêu: độc lập, thống nhất cho
Tổ quốc, tự do, dân chủ cho nhân dân, công bằng và hạnh phúc cho mọi người, hoà bình
và hữu nghị cho các dân tộc với sự phát triển các quan hệ văn hoá, nhân văn của thời đại.Bởi những lẽ đó, mục tiêu của mọi cuộc cách mạng đều hướng về con người
4.3.2 Con người là động lực của cách mạng
Theo Hồ Chí Minh, con người là vốn quý nhất, động lực, nhân tố quyết định thànhcông của sự nghiệp cách mạng Người cũng nhấn mạnh rằng “mọi việc đều do người làmra”, trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng sứcmạnh đoàn kết của nhân dân”, “Ý dân là trời”, “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khóvạn lần dân liệu cũng xong”
Lực lượng chính của các cuộc cách mạng là con người là sức mạnh trí óc, sức mạnhthể chất Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Và nhân dân là những người sáng tạo
ra ra lịch sử thông qua những hoạt động thực tiễn cơ bản nhất như lao động sản xuất, đấutranh chính trị - xã hội, sáng tạo ra các giá trị văn hoá Nhắc đến nhân
Trang 11dân và nhắc đến lực lượng, trí tuệ, quyền hành, lòng tốt, niềm tin, đó chính là gốc, là độnglực cách mạng.
Bởi vậy, con người là nhân tố thúc đẩy cách mạng, là nguồn lực hình thành nên cáchmạng, làm chủ cách mạng và đưa cách mạng tới thành công
2 PHÁT HUY NGUỒN LỰC CON NGƯỜI
Phát huy nguồn lực con người là nâng cao vai trò của nguồn lực con người trongmọi mặt: kinh tế, văn hoá, chính trị, từ đó làm gia tăng giá trị của con người Phát huynguồn lực con người là phát huy tất cả khả năng về trí tuệ và tinh thần của con người, lànâng cao vai trò của nguồn lực con người trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, qua
đó làm tăng những giá trị đích thực và ý nghĩa lớn lao của nguồn lực này
2.1 Quan điểm của Đảng về phát huy nguồn lực của con người.
Nhận ra được tầm quan trọng của con người trong công cuộc phát triển và xây dựng
Tổ Quốc, Đảng và nhà nước đã có những chính sách, nghị quyết nhằm phát triển nguồnlực con người
4.3.3 Trong những năm kháng chiến cho đến năm 2000
- Những năm đầu 1960, Bộ chính trị khóa III đề ra Nghị quyết về đào tạo lựclượng cán bộ với mục tiêu chuẩn bị nguồn nhân tài, nhân lực có chất lượng cao, phục vụđất nước trong công cuộc chiến tranh giành lại độc lập từ tay Mỹ lúc bấy giờ
- Kháng chiến thành công, đất nước giành lại được độc lập, tự do, song donhững tác động của chiến tranh, kinh tế bị đình trệ Đất nước vừa khắc phục hậu quảchiến tranh vừa xây dựng, phát triển nền chủ nghĩa xã hội Nhận ra được tình hình đó BộChính trị khóa IV đã đưa ra Nghị quyết số 14-NQ/TW ngày 11/01/1979 về cải cách giáodục, trong đó yêu cầu “Trong hệ thống giáo dục phổ thông cần mở những trường
- lớp phổ thông cho những học sinh có năng khiếu đặc biệt ” nhằm chuẩn bị nguồnnhân lực chất lượng cao, nhân tài cho đất nước
- Ngày 20/4/1981, Bộ Chính trị (khóa IV) đã ban hành Nghị quyết số37-NQ/TW trong đó đã đề cập đến việc phải đảm bảo quyền bình đẳng, quyền lợi về họctập cho
Trang 12toàn dân, về phổ cập giáo dục cho tất cả mọi người, quan tâm đào tạo nhân tài về lĩnh vựckhoa học ký thuật, cũng như những nhân tài trong các lĩnh vực khác.
- Có thể thấy rõ, Đảng vô cùng đúng đắn khi chú trọng đến vấn đề giáo dục, từnhững năm chiến tranh chống Mỹ khốc liệt, cho đến khi giành lại được hòa bình, độc lập.Đảng cũng đã thể hiện rõ quan điểm bằng các Nghị quyết giúp cho tất cả công dân đềuđược tiếp cận với nền giáo dục toàn diện
- Trong Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) có đề cập đếnviệc trọng dụng nhân tài, sử dụng nhân tài đúng lúc, đúng chỗ và khẳng định rằng nhântài phải được phát hiện và được bồi dưỡng một cách công phu, có kế hoạch rõ ràng
- Năm 1991, tại Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VII, Đảng thông quaCương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Trong đó vấn đềchủ chốt là tập trung giáo dục, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài về các lĩnh vực: khoahọc, công nghệ, kinh doanh, quản lý kinh tế, xã hội, đề ra những chính sách giáo dục,đào tạo phù hợp với nền kinh tế, mở rộng đào tạo tay nghề, kỹ thuật cho người lao động,tạo động lực để phát triển kinh tế, xã hội
- Năm 1996, tại
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Đảng khẳng định công cuộc công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước là công cuộc mang tính cách mạng, ảnh hưởng đến tất cả các mặt trongđời sống và chỉ thành công nhờ vào sức lực, trí tuệ của con người – là nguồn lực quyếtđịnh Từ đó Đảng đã đưa ra phương hướng phát triển cho đất nước phải bắt đầu từ việcbồi dưỡng, giáo dục con người, nâng cao dân trí, nâng cao phẩm chất đạo đức của conngười
- Cũng trong Đại hội Đảng toàn quốc khóa VIII, Đảng đã thông qua Nghị quyếtTrung ương 2 khóa VIII Nội dung của Nghị quyết là định hướng chiến lược đào tạo vàgiáo dục trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Thông qua Nghị quyết,Đảng đã một lần nữa thể hiện rõ quan niệm rằng nguồn lực con người là nguồn lực chủchốt, là yếu tố quan trọng trong việc phát triển đất nước bền vững
4.3.4 Từ năm 2000 đến nay
Trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần XI họp tại Hà Nội từ ngày 19-22/4/2001, mộtlần nữa Đảng khẳng định: “Xã hội ta là xã hội vì con người và coi con người luôn
Trang 13giữ vị trí trung tâm của sự phát triển kinh tế xã hội Con người với tiềm năng trí tuệ, tinhthần, đạo đức, là nhân tố quyết định là vốn quý nhất của chúng ta trên con đường xâydựng chủ nghĩa xã hội.” Trong đại hội này, Đảng đã có những chính sách đề ra nhằm hỗtrợ học sinh có năng khiếu, hoàn cảnh gia đình khó khăn một cách đặc biệt, giúp các emđược tiếp nhận nền giáo dục toàn diện, bồi dưỡng ra đội ngũ lao động có trình độ cao,được đào tạo ở các bậc học cao hơn bậc phổ thông.
Cùng với đó, Tại Đại hội lần thứ X, Đảng đã cho thấy rằng: “nhân dân là người sángtạo ra lịch sử” từ đó hoạch định ra chính sách, chủ trương nhằm phát triển nguồn lực gắnvới tạo việc làm, tập trung phát triển khoa học, kỹ thuật, công nghệ cao Đảm bảo nguồnnhân lực có đầy đủ trí tuệ, sức khỏe, phẩm chất đạo đức, có kỹ năng trong công việc vàcuộc sống, có ý thức chấp hành và tuân thủ pháp luật, có lối sống, văn hóa lành mạnh,tầm nhìn chính trị đúng đắn, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước ngàycàng phồn vinh, văn minh, hiện đại
Từ những điều trên, chứng minh được rằng, trong bất kể trong thời kỳ nào, Đảng tavẫn luôn thể hiện rõ lập trường, quan niệm nhất quán về nguồn lực con người Nhận rađược tầm quan trọng, vai trò của con người, là lực lượng chủ đạo trong công cuộc xâydựng đất nước, chủ nghĩa xã hội mang bản sắc dân tộc, phát triển quốc gia ngày càngphồn vinh, lớn mạnh Từ đó tập trung nâng cao trình độ văn hóa, trí tuệ, nâng cao về ýthức, đạo đức, thể chất một cách toàn diện
4.4 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực con người hiện nay
Mặc dù Đảng đã nhận ra được tầm quan trọng của nguồn lực con người từ sớm,cũng đã có những chính sách được đề ra nhằm phát triển và bồi dưỡng nguồn nhân lựcnày Nhưng trên thực tế, để thực hiện được là một giai đoạn tốn rất nhiều thời gian, côngsức, tiền của và cũng hết sức phức tạp nên việc xảy ra những điều bất cập, những điều cònhạn chế là hiển nhiên và không thể tránh khỏi
Để làm rõ hơn về vấn đề trên chúng ta sẽ đi sâu vào phân tích về nguồn lực conngười hiện nay qua từng giai cấp
4.4.1 Nguồn nhân lực từ nông dân
Theo số liệu điều tra dân số vào 12/2010, Việt Nam có khoảng 87 triệu người Trong
đó nông dân chiếm khoảng 62 triệu người, hơn 70% dân số So với những năm
Trang 14đầu 2000, đã có chuyển biến tích cực trong phát triển sản phẩm về nông nghiệp về chấtlượng lẫn số lượng, thế nhưng nguồn lực nông dân ở nước ta vẫn chưa được khai thác mộtcách cụ thể Chưa có tổ chức quản lí hết tất cả nguồn nhân lực trên, kiến thức về nôngsản, trồng trọt và chế biến sau thu hoạch còn hạn chế Các hoạt động trong sản xuất sảnphẩm nông nghiệp vẫn còn diễn ra khá thủ công, vẫn chưa áp dụng tiến bộ khoa học kỹthuật nhằm giảm sức lao động, tăng năng suất Lực lượng có kiến thức đầy đủ và áp dụngcông nghệ vào sản xuất vẫn còn ít nguyên nhân là do nguồn lực kinh tế chưa phát triển.
4.4.2 Nguồn lực từ công nhân
Lực lượng công nhân năm 2010 có khoảng 5 triệu người, chiếm khoảng 6% dân số
cả nước Nguồn nhân công dồi dào nhưng trình độ chưa cao, được đào tạo bài bản còn rất
ít Mặc dù hiện nay lực lượng công nhân được đào tạo chuyên môn đã tăng lên đáng kểnhờ vào các chính sách, tạo điều kiện cho nhân dân được tiếp xúc với nền giáo dục và đàotạo bậc phổ thông, trung cấp nghề, bậc cao đẳng, đại học nhưng vẫn chưa đáp ứng đượcyêu cầu của các doanh nghiệp lớn trong nước và ngoài nước
4.4.3 Nguồn lực trí thức, công chức, viên chức
Nhờ các chính sách khuyến học, xây dựng cơ sở vật chất, trường học của Đảng,cùng với sự quan tâm về chủ đề giáo dục, đào tạo này, lực lượng tri thức được tăng nhanhtheo từng năm Ngày càng có nhiều người tham gia vào đội ngũ trí thức, ngày càng cónhiều thạc sĩ, tiến sĩ giáo sư, góp phần vào công việc giáo dục, nghiên cứu, phát triển đấtnước
Tuy nhiên, nguồn lực tri thức, công chức, viên chức vẫn chưa đủ chất lượng để đápứng các yêu cầu cao hơn, vẫn còn nhiều bất cập trong khâu đào tạo và giáo dục như chấtlượng đào tạo chưa cao, ý thức của người học, trình độ cũng như cái tâm của người truyềnđạt vẫn luôn là vấn đề phức tạp, cần được lưu tâm
Sinh viên ra trường nhưng tỷ lệ thất nghiệp vẫn còn cao, nguyên nhân phần lớn dokhông đáp ứng được yêu cầu của công việc, hoặc nếu được nhận vẫn sẽ mất 1-2 năm đểđào tạo lại Đó là một công đoạn vô cùng tốn thời gian và bất cập, cũng nói lên đượcphương hướng giáo dục, chương trình giáo dục vẫn chưa đáp ứng được các yêu cầu củanhà tuyển dụng