Các luận điểm chính về nhân cách của S.Freud Động lực của nhân cách là các thôi thúc bản năng; cấu trúc nhân cách gồm xung động bản năng, bản ngã, siêu ngã; các giai đoạn phát triển nhân
Trang 1TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN CAC HỌC THUYÊT TÂM LÝ VỀ NHÂN CACH
CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC
Tp Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 05 năm 2021
Trang 21.1.1 Động lực của nhân cách 1
1.1.2 Cấu trúc nhân cách 1
1.1.3 Các giai đoạn phát triển nhân cách 2
1.1.4 Sự lo âu và cuộc đấu tranh tự vệ 4
1.1.5 Đánh giá 5
1.2 Các luận điểm chính về nhân cách của A.Adler 5
1.2.1 Bản chất của nhân cách 5
1.2.2 Động lực thúc đẩy nhân cách 6
1.2.3 Sự phát triển của nhân cách 6
1.2.4 Cảm thức cộng đồng, lối sống, năng lực sáng tạo và thứ tự sinh 7
1.2.5 Đánh giá 9
2 Phân tích trường hợp của nhân vật Guillaume 9
2.1 Chân dung tâm lý của Guillaume 9
2.2 Phân tích dựa trên quan điểm của Freud 10
2.3 Phân tích dựa trên quan điểm của Adler 12
3 Bài học kinh nghiệm cho hoạt động nghề nghiệp 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 31 Phân tích các luận điểm về nhân cách của S.Freud và A.Adler
1.1 Các luận điểm chính về nhân cách của S.Freud
Động lực của nhân cách là các thôi thúc bản năng; cấu trúc nhân cách gồm xung động bản năng, bản ngã, siêu ngã; các giai đoạn phát triển nhân cách (5 giai đoạn phát triển tâm tính dục); sự lo âu và cuộc đấu tranh tự vệ
1.1.1 Động lực của nhân cách
Động lực của sự phát triển nhân cách xuất phát từ các nhu cầu động cơ mang tính sinh học các nhu cầu cơ thể mà trước hết và cơ bản là nhu cầu, bản năng tính dục là động lực chính (Phạm Minh Hạc, 2004)
1.1.2 Cấu trúc nhân cách
Các cấp độ của nhân cách
Ban đầu Freud chia nhân cách thành ba cấp độ: ý thức, tiền ý thức và vô thức
Ý thức bao gồm tất cả những cảm giác và trải nghiệm mà chúng ta nhận thức được tại bất kỳ thời điểm nào Ý thức là phần nổi của tảng băng trôi Theo Freud, điều quan trọng hơn là vô thức, phần lớn hơn, vô hình bên dưới bề mặt Đây là trọng tâm của lý thuyết phân tâm học Chiều sâu rộng lớn và tăm tối của nó là nơi trú ngụ của bản năng, những mong muốn và ao ước định hướng hành vi Vô thức chứa đựng động lực chính đằng sau mọi hành vi và là kho năng lượng không thể nhìn thấy hoặc kiểm soát được Giữa hai cấp độ này là tiền ý thức Đây là kho chứa ký ức, nhận thức và suy nghĩ mà chúng ta không nhận thức được vào lúc này nhưng có thể dễ dàng triệu hồi vào ý thức Chúng ta thường nhận thấy sự chú ý của mình chuyển qua lại từ những trải nghiệm của thời điểm này sang các sự kiện và ký ức trong tiền thức (Schultz , 2012)
Cấu trúc nhân cách
Freud sau đó đã sửa đổi khái niệm về ba cấp độ của nhân cách và đưa ra ba cấu trúc cơ bản trong giải phẫu của nhân cách: bản năng, bản ngã và siêu ngã Bản năng tương ứng với quan niệm trước đó của Freud về vô thức (mặc dù bản ngã và siêu ngã cũng có những khía cạnh vô thức)
- Xung động bản năng (cái ấy): bị kìm nén, là nguồn động lực, là sức mạnh cho những hoạt động; hướng đến sự thỏa mãn bằng cách trực tiếp hay gián tiếp; hướng
Trang 4đến khách thể, thế giới bên ngoài là đối tượng để bản năng thỏa mãn, đòi hỏi khách thể phải thỏa mãn ngay lập tức và trực tiếp; chi phối toàn bộ đời sống hoạt động tâm thần (Phạm Minh Hạc, 2004) Có hai loại bản năng là bản năng sống và bản năng chết (Nguyễn Ngọc Bích, 1998)
- Bản ngã (cái tôi): hình thành do áp lực thực tại bên ngoài, đến toàn bộ khối bản năng; bảo đảm các chức năng tâm lý như chú ý, trí nhớ v.v ; hoạt động theo nguyên tắc thực tại Nhiệm vụ là làm cho cái ấy thỏa mãn mà không làm tổn hại đến cơ thể, làm giảm sự căng thẳng một cách tốt nhất Cái tôi có tính chất tự chủ
- Siêu ngã (siêu tôi): là tổ chức bên trong bao gồm tất cả phạm trù xã hội, đạo đức, nghệ thuật, giáo dục Siêu tôi hoạt động theo nguyên tắc kiểm duyệt
Cả ba khối này theo nguyên tắc chung là ở trạng thái thăng bằng tương đối Con người lúc ấy ở trạng thái bình thường Nhưng cả ba khối này luôn luôn xung đột với nhau, là cơ chế của hoạt động tâm thần Từ đó Freud nêu ra cơ chế hoạt động tâm lý của con người Đó là cơ chế kiểm duyệt, chèn ép, cơ chế biến dạng, cơ chế siêu thăng,
cơ chế suy thoái
Cái siêu tôi xuất hiện từ mối quan hệ đứa trẻ ngay từ những ngày đầu với gia đình Cơ sở của mặt đạo đức này thường được học ở độ tuổi 5 hoặc 6 và ban đầu bao gồm các quy tắc ứng xử do cha mẹ chúng ta đặt ra Thông qua khen ngợi, trừng phạt
và nêu gương, trẻ em học được những hành vi nào mà cha mẹ chúng cho là tốt hay xấu Cơ chế tâm lý của việc hình thành siêu tôi là sự đồng nhất hóa Cá nhân đồng nhất hóa với bên ngoài (cha mẹ và những người giáo dục) Những phẩm chất đạo đức – văn hóa của cha mẹ, người lớn được trẻ em đồng nhất hóa và tạo ra những phẩm chất riêng (Phạm Minh Hạc, 2004)
1.1.3 Các giai đoạn phát triển nhân cách
Một phần nhân cách được hình thành trên cơ sở các mối quan hệ độc đáo mà chúng ta có khi còn nhỏ với nhiều người và đồ vật khác nhau Đứa trẻ cố gắng tối đa hóa niềm vui bằng cách thỏa mãn những yêu cầu của bản thân, trong khi cha mẹ, đại diện của xã hội, cố gắng áp đặt những đòi hỏi của thực tế và đạo đức Freud cho rằng nhân cách trưởng thành được định hình và kết tinh một cách vững chắc lúc năm tuổi
Trang 5- Giai đoạn môi miệng (từ lúc sinh tới 1 tuổi): trẻ tìm thấy khoái lạc với việc mút
vú mẹ và các động tác quanh vú cũng như các hoạt động quanh môi miệng Trẻ có thể dùng ngón tay sờ mó hoặc cho vào miệng để thỏa mãn lạc thú Tất cả những đồ vật quanh nó đều là đối tượng để chúng thỏa mãn lạc thú môi miệng Nếu trong giai đoạn này bố mẹ ngăn cản trẻ mút thì sau này sẽ gây ra tính cách nói nhiều, tham ăn, ỷ lại, thụ động
- Giai đoạn hậu môn (từ 1 đến 3 tuổi): đứa trẻ chú ý tập cho đại tiện đúng phép
Bố mẹ chú ý đến đại tiện của trẻ và bài trừ những tật xấu của trẻ trong khi đại tiện Do đó trẻ chú ý tới hoạt động hậu môn Giai đoạn này trẻ bắt đầu hình thành nhân cách Có mối quan hệ giữa giai đoạn này với một số đặc điểm nhân cách trẻ, kiểu người hậu môn có tính chất là tự yêu, tự mâu thuẫn, khuôn phép, phục tùng, bị ép buộc, kiềm chế quá đáng
- Giai đoạn dương vật (từ 3 đến 6 tuổi) trẻ chú ý đến bộ phận sinh dục, nảy sinh
ra tình cảm lãng mạn đối với cha hoặc mẹ khác giới S Freud gọi hiện tượng này là mặc cảm Oedipe Đây là giai đoạn quan trọng nhất trong việc phát triển nhân cách Xung đột
cơ bản là mong muốn vô thức của đứa trẻ đối với cha mẹ khác giới Đi kèm với điều này
là mong muốn vô thức để thay thế hoặc tiêu diệt cha mẹ cùng giới Trong trường hợp bình thường trẻ sẽ đồng nhất hóa với cha hay mẹ, trẻ trai bắt chước các hành động và tính cách của người cha và ngược lại Quá trình đồng nhất hóa sẽ dẫn tới tập nhiễm văn hóa, là quá trình xã hội hóa đứa trẻ
- Giai đoạn tiềm ẩn (từ 6 đến lúc dậy thì) siêu ngã tiếp tục phát triển, các thôi thúc của bản năng lại bị đàn áp Trẻ hình thành các giá trị, kỹ năng và mối quan hệ xã hội với bạn bè đồng trang lứa và những người lớn khác ngoài gia đình Sự phát triển của bản ngã và siêu ngã góp phần tạo nên sự yên bình cho giai đoạn này Cắm chốt ở giai đoạn này có thể đưa đến sự non nớt và năng lực yếu kém khi hình thành các mối quan hệ hoàn chỉnh khi trưởng thành
- Giai đoạn sinh dục (từ lúc dậy thì đến khi chết) trẻ hình thành một mối quan tâm mạnh mẽ về tình dục với người khác giới Nếu một người hoàn thành các giai đoạn kia thành công, thì ở hiện tại, người này sẽ khá cân bằng, là người ấm áp và biết
Trang 6quan tâm đến người khác Mục tiêu của giai đoạn này là thiết lập một sự cân bằng cho nhiều khía cạnh khác nhau của cuộc sống
Freud tin rằng bản ngã và siêu ngã đã có hình hài đầy đủ và vận hành hoàn chỉnh vào thời điểm này Trẻ nhỏ bị bản năng thống trị, đòi hỏi chúng phải ngay lập tức đáp ứng những đòi hỏi, nhu cầu, và ham muốn cơ bản nhất Thanh thiếu niên trong giai đoạn sinh dục đã có thể cân bằng những ham muốn cơ bản nhất với nhu cầu được hòa hợp, tương thích với thực tế và quy chuẩn xã hội (Phạm Minh Hạc, 2004) (Schultz , 2012)
1.1.4 Sự lo âu và cuộc đấu tranh tự vệ
Lo âu là một trạng thái xúc cảm khó chịu (sợ sệt, mệt mỏi, khiếp nhược, hốt hoảng, sụp đổ ), kết quả của sự dồn nén những cảm xúc, kí ức, mong muốn và trải nghiệm khi chúng trồi lên trên bề mặt nhận thức Nó là một dạng giằng co thúc đẩy chúng ta phải làm gì đó, phát triển từ việc xung đột giữa bản năng, bản ngã và siêu ngã, vượt quá sự điều khiển của năng lượng tinh thần vốn có
Có ba loại lo âu:
- Lo âu có thực (khách quan) liên quan đến nỗi sợ hãi về những nguy hiểm hữu hình trong thế giới thực Ở mặt tích cực, chúng hướng dẫn hành vi của ta để thoát khỏi hoặc bảo vệ bản thân khỏi những nguy hiểm thực tế Tuy nhiên, chúng có thể được đưa đến cực đoan
- Lo âu nhiễu tâm (bên trong) có cơ sở từ thời thơ ấu, trong cuộc xung đột giữa
sự thỏa mãn bản năng và thực tế, nỗi sợ hãi vô thức về việc bị trừng phạt vì bốc đồng thể hiện hành vi bị chi phối bởi bản thân
- Lo âu đạo lý là kết quả của sự xung đột giữa cái ấy và siêu tôi
Lo âu đóng vai trò như một lời cảnh báo cho người đó rằng có điều gì đó không
ổn trong nhân cách, gây ra căng thẳng trong sinh vật và do đó trở thành một động lực
mà cá nhân được thúc đẩy để thỏa mãn Lo âu là một phần quan trọng trong lý thuyết nhân cách, nền tảng cho sự phát triển của hành vi loạn thần (Schultz , 2012)
Cơ chế tự vệ
Cơ chế tự vệ là các chiến lược phi lý tính được thiết kế để bảo vệ bản ngã, sự chống lại lo âu để bảo vệ bản thân, chúng biến đổi sự lo âu thành hình thái mới mẻ
Trang 7khác dễ được chấp nhận và bớt đi sự đe dọa Đặc điểm là chúng phủ nhận hoặc bóp méo thực tế và chúng hoạt động một cách vô thức, ta không nhận thức được chúng, có nghĩa là ở mức độ ý thức, ta nắm giữ những hình ảnh méo mó hoặc không có thực về thế giới
Một số cơ chế tự vệ: Phóng chiếu/gán ghép, hợp lý hóa, thoái lui, dồn nén, thăng hoa, phủ nhận, thay thế, huyễn tưởng, đồng nhất hóa,…(Schultz , 2012)
1.1.5 Đánh giá
Đóng góp to lớn của S Freud là đưa ra giả thuyết về cấu trúc của nhân cách, một
số cơ chế tâm lý như cơ chế tự vệ, dồn nén, các mặc cảm, đồng nhất hóa, các giai đoạn phát triển nhân cách Tuy nhiên, nó tách rời điều kiện xã hội với việc hình thành nhân cách, cho rằng cái sinh vật và vô thức là yếu tố quyết định hình thành nhân cách; tuyệt đối hóa bản năng tình dục của con người, coi sự thỏa mãn tình dục là động lực của hoạt động; giải thích mọi hiện tượng của đời sống xã hội thông qua tình dục; phủ nhận vai trò dạy dỗ giáo dục và vai trò của hoạt động cá nhân (Phạm Minh Hạc, 2004)
1.2 Các luận điểm chính về nhân cách của A.Adler
Nhân cách là một tổng hợp thống nhất; động lực chính là phấn đấu để thành công hoặc vượt trội; những cảm nhận chủ quan định hình nhân cách; cấu trúc nhân cách thống nhất phát triển thành lối sống; khả năng sáng tạo của con người hun đúc nên lối sống; giá trị của mọi hành vi phải được nhìn theo quan điểm lợi ích xã hội
1.2.1 Bản chất của nhân cách
Adler là nhà nghiên cứu tâm lý học cá nhân Theo ông, mỗi người trước hết là một thực thể xã hội Tính cách của chúng ta được hình thành bởi các môi trường xã hội độc đáo và các mối tương tác, không phải bởi nỗ lực để thỏa mãn các nhu cầu sinh học
Ý thức là cốt lõi của nhân cách Thay vì bị thúc đẩy bởi những sức mạnh không thể nhìn thấy và kiểm soát, chúng ta tích cực tham gia vào việc tạo ra bản thân và định hướng tương lai Cái quyết định sự phát triển nhân cách chính là mong muốn “siêu đẳng” nhưng nó có thể không thực hiện được do những khiếm khuyết cơ thể khi mới sinh ra hoặc do những điều kiện sống không thuận lợi Do vậy con người xuất hiện
Trang 8cảm giác thiếu hoàn thiện Để khắc phục được cảm giác đó con người tìm tới phương thức “bù trừ” Sự “bù trừ” này có nhiều mức độ khác nhau, tạo ra những lối sống khác nhau Khi con người cố gắng hoàn thiện bản thân cũng đồng thời mang lại lợi ích cho
xã hội
Adler có cái nhìn nhất nguyên về ý thức và vô thức: Cả hai hài hòa với nhau Ý thức tác động lên vô thức và ngược lại Vô thức là một phần mục tiêu không được định hình và hiểu rõ, vẫn cần được chữa lành để trở nên lành mạnh bằng cách tác động lên
ý thức (Schultz, 2012)
1.2.2 Động lực thúc đẩy nhân cách
Động lực thúc đẩy nhân cách là phấn đấu để vượt trội và phấn đấu để thành công Mỗi cá nhân đều có một mục tiêu sau cùng của cuộc đời được hình thành từ rất sớm (4-5 tuổi), nó chi phối toàn bộ hành vi, người lành mạnh có thể thay đổi mục tiêu của mình Có hai dạng mục tiêu là hướng đến sự thành công, trọn vẹn và hướng đến sự
to lớn, mạnh mẽ:
- Phấn đấu để vượt trội có đặc điểm là bất chấp người khác, bị thúc đẩy bởi chính cảm giác thua kém bị phóng đại, bị ám sợ bởi những mặc cảm thua kém của bản thân nên
hạ bệ người khác
- Phấn đấu để thành công được thúc đẩy bởi mối quan tâm xã hội, nhìn những người xung quanh như là những người cộng tác, có cảm thức rõ nét về bản thân, sự phát triển của xã hội quan trọng hơn danh lợi (Schultz , 2012)
1.2.3 Sự phát triển của nhân cách
Cảm giác tự ti luôn hiện hữu như một động lực thúc đẩy hành vi, là nguồn gốc của tất cả sự phấn đấu của con người Sự phát triển là kết quả từ sự bù trừ, từ những nỗ lực của chúng ta để vượt qua sự kém cỏi thực tế hoặc tưởng tượng Trong suốt cuộc đời, chúng ta được thúc đẩy bởi nhu cầu vượt qua cảm giác tự ti này và phấn đấu để ngày càng có trình độ phát triển cao hơn
Sự thua kém một bộ phận nào đó trên cơ thể là động lực của sự phấn đấu, cảm giác này hình thành từ khi sinh ra nhưng không thuộc về di truyền mà do môi trường
xã hội Cảm thức chủ quan quyết định ý thức của mỗi người về sự thua kém
- Có hai dạng phản ứng:
Trang 9+ Lành mạnh: Bù trừ bằng cách vươn lên, vượt thắng giới hạn bản thân, phấn đấu cho sự vượt trội hoặc sự hoàn hảo
+ Độc hại: Dùng sự yếu kém như cái cớ để từ chối không làm những nhiệm vụ trong cuộc sống dẫn đến mặc cảm tự ti và rối loạn phát triển (Schultz , 2012)
1.2.4 Cảm thức cộng đồng, lối sống, năng lực sáng tạo và thứ tự
sinh a Cảm thức cộng đồng
Người lành mạnh là người có quan tâm đến xã hội, có thái độ tương quan và thấu cảm đối với từng thành viên trong xã hội, hợp tác với người khác vì sự tiến bộ của xã hội Cảm thức cộng đồng là tiềm năng mà ai cũng có, hình thành trong sự tương tác với cha mẹ trong 5 năm đầu đời – sự vô vị lợi và đúng mực của người mẹ, sự quan tâm đúng mức của người cha, là thước đo sức khỏe tâm lý và giá trị con người
Nguồn gốc của cảm thức cộng đồng là tiềm năng trong mỗi người (ai cũng có), chúng phải được phát triển để tạo nên phong cách sống lành mạnh Tiêu chuẩn đo cảm thức cộng đồng là ước muốn đến gần, nên một với người khác
b Lối sống
Lối sống là mục tiêu cá nhân, là hình ảnh bản thân, là cảm xúc về người khác và
là thái độ đối với thế giới, được học từ các tương tác xã hội xảy ra trong những năm đầu đời của trẻ, được hình thành do tương tác, di truyền, giáo dục và sức sáng tạo của mỗi cá nhân, được kết tinh vững chắc ở độ tuổi 4 hoặc 5 nên rất khó để thay đổi sau
đó, trở thành khuôn khổ định hướng cho hành vi sau này Bản chất phụ thuộc vào các tương tác xã hội, đặc biệt là thứ tự sinh của một người trong gia đình và bản chất của mối quan hệ cha mẹ - con cái Có nhiều dạng lối sống, thay đổi phức tạp, linh hoạt hoặc cứng nhắc
Có 4 kiểu lối sống là:
- Lành mạnh, hữu dụng: là hình thái cao nhất, hành động với cảm thức cộng đồng, chủ động phấn đấu giải quyết ba vấn đề căn bản của cuộc sống: quan tâm đến người thân cận, tình yêu lành mạnh, triển nở trong nghề nghiệp; sống ba chức năng chính với sự cộng tác, lòng can đảm, ước muốn đóng góp vào phúc lợi của người khác
Trang 10- Hưởng thụ: sống dựa vào người khác; thụ động; có thể trầm cảm; trẻ con được nuông chiều dễ bị áp lực môi trường dẫn đến lối sống này; tuy nhiên, tác nhân chính vẫn
là chọn lựa tự do của con người chứ không phải môi trường
- Né tránh: tránh đương đầu với các vấn đề để khỏi đối phó với thất bại; dễ trở nên trầm cảm; thường cô lập, lạnh lùng để che dấu mặc cảm yếu kém và mong manh bên trong
- Thống trị: tìm cách thống trị người khác, đối phó với vấn đề cách ích kỷ; có những người thuộc nhóm thống trị có tài và làm việc chăm chỉ nhưng cạnh tranh quá độ
và luôn khẳng định mình trổi vượt bằng cách làm “đạp người khác xuống”
c Năng lực sáng tạo
Chúng ta tạo ra bản thân, tính cách của chúng ta, hoàn toàn được chọn và làm chủ cuộc đời, không bị động định hình bởi những trải nghiệm thời thơ ấu Bản thân những trải nghiệm đó không quan trọng bằng thái độ tỉnh táo của chúng ta đối với chúng Ý chí tự do cho phép mỗi người tạo ra lối sống thích hợp từ những khả năng và kinh nghiệm do thiên phú di truyền và môi trường xã hội của chúng ta mang lại Năng lực sáng tạo quyết định phương thức phấn đấu đạt mục tiêu, đóng góp vào sự phát triển mối quan tâm xã hội
d Thứ tự sinh
Thứ tự sinh là một ảnh hưởng xã hội lớn trong thời thơ ấu, một trong những thứ
mà chúng ta tạo ra lối sống của mình Mặc dù anh chị em có cùng cha mẹ và sống trong cùng một ngôi nhà, nhưng họ không có môi trường xã hội giống nhau
- Con cả có khuynh hướng quan tâm bảo vệ người khác, tổ chức tốt, lo lắng nhiều; cảm thức quyền lực, vượt trội quá đáng; đấu tranh để được chấp nhận, cầu toàn; phải luôn “đúng”, trong khi người khác luôn “sai”; dễ phê phán người khác, không hợp tác
- Con thứ có động lực mạnh, cộng tác, uớc muốn bắt kịp con cả cách lành mạnh, thường cạnh tranh vừa phải, nếu bắt kịp con cả thì có thái độ của người làm cách mạng, nhân cách phần nào định hình bởi cảm nhận về thái độ của anh/chị cả đối với mình