1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NHỮNG yếu tố ẢNH HƯỞNG đến sự TƯƠNG TÁC GIỮA GIẢO VIÊN GIẢNG VIÊN và học SINH SINH VIÊN

104 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 222,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên nhiều nghiên cứu, quan sát đã được tiến hành cũng như một số tài liệu ghichép đã thể hiện giá trị của mối quan hệgiữa người lớn và trẻ em - thanh thiếu niên -thanh niên đã cho thấy

Trang 1

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÔNG TRÌNH DỰ THI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 2018

Trang 2

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ “NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ TƯƠNG TÁC GIỮA GIÁO VIÊN - GIẢNG VIÊN VÀ HỌC SINH - SINH

VIÊN” 1

1.1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 1

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Phương pháp nghiên cứu 2

1.4.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận 2

1.4.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 2

1.5 Kết cấu đề tài 2

1.6 Tổng quan nghiên cứu 3

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA MỐI QUAN HỆ TƯƠNG TÁC GIỮA GIÁO VIÊN - GIẢNG VIÊN VÀ HỌC SINH - SINH VIÊN 16

2.1 Khái niệm chung về tương tác 16

2.1.1 Tương tác vật lý 17

2.1.2 Tương tác tâm lý 17

2.1.3 Tương tác xã hội 17

2.1.4 Tương tác hỗn hợp 17

2.1.4.1 Tương tác tâm lý trong mối quan hệ tâm lý - xã hội 18

2.1.4.2 Tương tác xã hội trong môi quan hệ tương tác tâm lý - xã hội 18

2.1.4.3 Tương tác tâm lý - xã hội 19

2.2 Tương tác giữa giáo viên - giảng viên với học sinh - sinh viên 20

2.2.1 Bản chất tương tác giữa giáo viên - giảng viên với học sinh - sinh viên 20

2.2.2 Sự cần thiết trong tương tác giữa giáo viên - giảng viên với học sinh - sinh viên 22

2.2.3 Những cách thức tương tác giữa giáo viên - giảng viên với học sinh - sinh viên 23

2.2.3.1 Tương tác tâm lý giữa giáo viên - giảng viên với học sinh - sinh viên 23

2.2.3.2 Tương tác trực tiếp 25

Trang 3

2.2.4 Biểu hiện của sự tương tác hiệu quả giữa giáo viên - giảng viên và học sinh -

sinh viên 26

2.2.4.1 Mối tương tác tâm lý 26

2.2.4.2 Môi trường tâm lý 26

2.2.4.3 Tâm lý của giáo viên - giảng viên 26

2.2.4.4 Xem xét các quan điểm của học sinh - sinh viên 27

2.2.4.5 Phạm vi của tổ chức lớp học 28

2.2.4.6 Quản lý hành vi hiệu quả 28

2.2.4.7 Quản lý thời gian hiệu quả 28

2.2.4.8 Các định hướng học tập giảng dạy 29

2.2.4.9 Tương tác trong giảng dạy 29

2.2.4.10 Phát triển từ những khái niệm 30

2.2.4.11 Phản hồi, nhận xét về học sinh - sinh viên của giáo viên - giảng viên 31

2.3 Những yếu tố ảnh hưởng tới sự tương tác giữa giáo viên - giảng viên và học sinh - sinh viên 31

2.3.1 Những yếu tố ảnh hưởng tới mức độ tương tác giữa giáo viên - giảng viên và học sinh - sinh viên 32

2.3.1.1 Ảnh hưởng từ phía học sinh - sinh viên 32

2.3.1.2 Ảnh hưởng từ phía giáo viên - giảng viên 32

2.3.2 Những yếu tố ảnh hưởng tới tính hứng thú trong tương tác giữa giáo viên - giảng viên và học sinh - sinh viên 33

2.3.2.1 Thành tích của học sinh - sinh viên 33

2.3.2.2 Năng lực xã hội 33

2.3.3 Những yếu tố ảnh hưởng tới tính ngưỡng mộ trong tương tác giữa giáo viên - giảng viên và học sinh - sinh viên 33

2.3.4 Những yếu tố ảnh hưởng tới tính chia sẻ trong tương tác giữa giáo viên - giảng viên và học sinh - sinh viên 35

2.3.4.1 Tính cách của học sinh - sinh viên 35

2.3.4.2 Tính cách của giáo viên - giảng viên 35

2.3.5 Ảnh hưởng của môi trường đào tạo trong tương tác giữa giáo viên - giảng viên và học sinh - sinh viên 35

Trang 4

2.3.5.2 Ưu điểm của hình thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ 36

2.3.5.3 Nhược điểm của hình thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ 37

2.3.6 Ảnh hưởng của các yếu tố cơ sở vật chất trong tương tác giữa giáo viên - giảng viên và học sinh - sinh viên 38

2.3.6.1 Hình thức tổ chức lớp học 38

2.3.6.2 Quy mô lớp học 38

2.3.6.3 Môi trường học tập trong lớp học 39

2.3.6.4 Tính đồng nhất trong lớp học 39

2.3.7 Ảnh hưởng của nền tảng gia đình trong tương tác giữa giáo viên - giảng viên và học sinh - sinh viên 40

2.3.8 Ảnh hưởng của khác biệt văn hóa vùng miền trong tương tác giữa giáo viên - giảng viên và học sinh - sinh viên 40

CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ, PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 42

3.1 Thiết kế nghiên cứu 42

3.1.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 42

3.1.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 43

3.1.3 Kết hợp cả phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng 44

3.2 Quy trình thực hiện nghiên cứu 45

3.2.1 Phân tích và tóm tắt các nghiên cứu liên quan đến đề tài 45

3.2.2 Nghiên cứu định tính bằng phương pháp phỏng vấn sâu 45

3.2.3 Thiết kế bảng hỏi cho nghiên cứu 47

3.2.4 Thiết kế mẫu nghiên cứu và đối tượng được khảo sát 52

3.2.5 Thực hiện nghiên cứu định tính sơ bộ và thu thập dữ liệu từ bảng hỏi 53

3.2.6 Phân tích số liệu - thực hiện nghiên cứu định lượng 54

3.3 Mô hình và các giả thiết nghiên cứu 54

3.3.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 54

3.3.2 Phân tích nhân tố 55

3.3.2.1 Phân tích tần số các yếu tố nhân trắc học 55

3.3.2.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA 61

3.3.2.3 Đánh giá hệ số Cronbach’s Alpha 64

3.4 Xây dựng mô hình hồi quy 70

Trang 5

3.4.2 Bảng thống kê mô tả các biến 71

3.4.3 Kết quả hồi quy 71

3.5 Mô hình hồi quy đa biến sau khi đã hiệu chỉnh 73

3.6 Kết quả đánh giá các nhân tố ảnh hưởng 74

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP 76

4.1 Kết luận chung 76

4.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao tương tác giữa GV với HS-SV 77

4.2.1 Kiến nghị về phía người học 78

4.2.2 Kiến nghị về phía nhà trường 79

4.2.3 Kiến nghị về phía khoa/viện trường đại học 79

4.2.4 Kiến nghị về phía GV 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

GV Giáo viên, giảng viên

Trang 7

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ “NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ

TƯƠNG TÁC GIỮA GIÁO VIÊN - GIẢNG VIÊN

VÀ HỌC SINH - SINH VIÊN”

1.1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

HS - SV dành ít nhất một phần tư thời gian trong ngày tại trường học - một trongnhững môi trường gây ảnh hưởng lớn nhất đến HS - SV hiện nay Các mối quan hệ vàtương tác của HS-SV với GV tạo ra những thay đổi trong sự phát triển toàn diện củamỗi cá nhân trong lĩnh vực mà họ tham gia, tạo nên những thách thức có ý nghĩa vàcung cấp các sự hỗ trợ xã hội

Theo nghĩa này, tương tác giữa GV và HS - SV phản ánh chất lượng của quá trìnhhọc tập, từ đó mà mối quan hệ tương tác này trở thành chiếc chìa khóa trong việc tiếpthu kiến thức và tích lũy kinh nghiệm của HS - SV Hội đồng nghiên cứu quốc gia(NRC, 2004) đã công bố một sự tái tạo lại các thiết lập về các đặc điểm liên quan đếncác cơ chế phát triển ở thanh thiếu niên một cách tích cực và xúc tiến.Báo cáo củaNRC đã thay đổi các cuộc thảo luận từ các bối cảnh khác nhau (ví dụ như lớp học, câulạc bộ) Từ quan điểm của báo cáo của NRC, các mối quan hệ là một cơ chế, mộtphương tiện thông qua đó các thiết lập, tham gia vào các quá trình phát triển

Trên nhiều nghiên cứu, quan sát đã được tiến hành cũng như một số tài liệu ghichép đã thể hiện giá trị của mối quan hệgiữa người lớn và trẻ em - thanh thiếu niên -thanh niên đã cho thấy tầm quan trọng trong việc nâng cao năng lực tương tác trongthời gian gần đây, chúng tôi bắt tay vào một chương trình nghiên cứu để khái niệmhóa, đo lường và cuối cùng là đề xuất những kiến nghị để nâng cao chất lượng mốiquan hệ giữa GV và HS - SV thông qua tập trung vào các biểu hiện tương tác, trongphạm vi các trường THPT và đại học trên thành phố Hà Nội

1.2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm góp phần làm sáng tỏ cơ sở lí luận và thực tiễn về tương tác trênlớp học giữaGV và SV ở một số trường đại học hiện nay trên địa bàn thành phố HàNội cũng như giữa giáo viên và học sinh ở một số trường THPT Đi sâu vào lí thuyết

và thực tiễn để từ cơ sở đó đề xuất một số biện pháp tác động nhằm cải thiện mức độcũng như chất lượng tương tác giữa người dạy và người học

Trang 8

Từ những phân tích trên ta thấy bằng những lí do chủ quan hay khách quan thì sựtương tác chưa đạt hiệu quả dẫn đến những khó khăn trong giảng dạy và học tập, hiệuquả học tập chưa thật sự cao Sau nghiên cứu này ta có thể thấy rõ những điểm mạnh

và điểm yếu của từng cá nhân cũng như tập thể, đánh giá mức độ tương tác hiện tại đểnâng cao hiệu quả dạy và học Đây là một mục tiêu rất thiết thực để giải quyết thựctrạng hiện nay, khi mà các cơ sở giảng dạy, trường học ngày môt nhiều, kiến thức ngàycàng đa dạng phong phú thì cần chú tâm đến hiệu quả tương tác, nghiên cứu để nângcao nó một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất, đáp ứng nhu cầu thực tiễn

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Nhằm thực hiện được những mục tiêu trên, đề tài cần trả lời được các câu hỏinghiên cứu sau:

 Như thế nào được gọi là một mối quan hệ tương tác?

 Tương tác giữa GV và HS - SV được biểu hiện ra sao?

 Những yếu tố nào ảnh hưởng tới mức độ tương tác giữa GV và HS - SV, mức

độ ảnh hưởng của các yếu tố ấy trong quan hệ tương tác giữa GV và HS - SVnhư thế nào?

1.4 Phương pháp nghiên cứu

1.4.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

Phân tích, khái quát hóa những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước vềtương tác giữa GV và HS - SV ở các trường THPT và đại học

1.4.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp định lượng: Phương pháp thu thập số liệu bằng bảng hỏi; Phươngpháp toán thống kê

Phương pháp định tính: Phương pháp phỏng vấn sâu; phương pháp quan sát

1.5 Kết cấu đề tài

Bài nghiên cứu của chúng tôi dựa theo ba phần chính: đầu tiên là cái nhìn tổngquan về “những ảnh hưởng đến mức độ tương tác giữa người dạy và người học nghiêncứu ở cấp độ phổ thông và đại học”; phần thứ hai nêu ra các cơ sở lý thuyết mà dựavào đó chúng tôi đánh giá mức độ của mối quan hệ tương tác này; chương thứ ba báocáo các kết quả đạt được từ những dữ liệu, số liệu thực tế đã được thu thập và xử lý để

có cái nhìn rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng tới mức độ tương tác giữa GV và HS - SVtrong các trường THPT và đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội; sau cùng là những

Trang 9

kiến nghị và đề xuất dựa trên các cơ sở lý thuyết và các tính toán với mục tiêu tăngcường sự tham gia tương tác trong và ngoài lớp học, từ đó nâng cao chất lượng tươngtác GV và HS - SV.

1.6 Tổng quan nghiên cứu

Hướng tới sự phát triển, mỗi quốc gia trên thế giới đều có những chiến lược riêngcủa mình, song không một quốc gia nào trong sự phát triển lại không có sự đầu tư chogiáo dục Có thể nói, sự đầu tư trong giáo dục một cách quy mô bài bản và có sựnghiên cứu kĩ lưỡng là vô cùng cần thiêt, bao gồm việc định hướng dịch chuyển từ dạyhọc lấy GV làm trung tâm sang lấy HS - SV làm trung tâm Nhiều tư tưởng, chiếnlược, phương pháp dạy học mới ra đời đều xoay quanh vấn đề dạy học tập trung vào

HS - SV để khai thác tiềm năng sẵn có, tìm cách tích cực hóa, làm cho HS - SV năngđộng hơn trong quá trình học tập, trong số đó đáng kể nhất là chiến lược dạy học hợptác, dạy học theo chủ nghĩa hiện sinh, dạy học kiến tạo, dạy học dựa vào vấn đề, dạyhọc dựa vào dự án , dạy học dựa vào tương tác, học phải đi đôi với hành, tránh tìnhtrạng GV đọc HS - SV chép hay hoàn toàn thụ động ở lớp học bởi tất cả chúng ta đềubiết điều đó ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả học tập Những thực trạng gây xôn xao

dư luận xã hội như “thầy giáo bị đâm”, “học sinh gây gổ đánh thầy giáo ngay trên bụcgiảng”, “cô giáo phạt cho trẻ uống nước giẻ lau”, “cô giáo 3 tháng không giảng, chỉviết bài lên bảng” đang hàng ngày được đưa lên báo và các trang mạng xã hội, thể hiện

sự thiếu tính gắn kết giữa người dạy và người học, và đặc biệt hơn, không có một giảipháp rõ rệt nào của các cơ quan chức năng và những người đi đầu, có trách nhiệm

trong ngành đưa ra để giải quyết những vấn đề gây xôn xao dư luận xã hội ấy Do đó,

tìm hiểu về “các yếu tố ảnh hưởng đến sự tương tác giữa GV và HS - SV” được xem là yếu tố quan trọng quyết định chất lượng giáo dục.

Một trong những yếu tố quan trọng nhất với sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân là tương tác tâm lý, hoạt động này diễn ra hàng ngày, chúng ta

sống học tập và làm việc, gặp gỡ rất nhiều người và đều cần tương tác với họ, nếu nhưbiết tiếp thu, học hỏi những điều tích cực thì chắc chắn sẽ phát triển và hoàn thiện hơn.Trái lại, nếu người tiếp nhận không phân biệt được đúng sai, không có kiến thức sẵn

về thực tế, không vận dụng được năng lực của bản thân thì sẽ rất dễ bị tiếp thu những

tư tưởng sai lệch hay thậm chí là sa vào các tệ nạn xã hội Cùng một vấn đề nhưngcách tiếp nhận và giải quyết của những người khác nhau sẽ đem lại hiệu quả khác

Trang 10

nhau Và việc tiếp thu bài giảng trên lớp học cũng vậy, khả năng của mỗi HS-SV làkhác nhau nên cần định hướng cho các em cách tiếp thu, tương tác lẫn nhau, mạnh dạntương tác với thầy cô trong giờ học.

Tương tác trong dạy học là những mối tác động qua lại chủ yếu giữa người dạy, người học và môi trường (hay nói một cách khái quát hơn, đó là sự giao tiếp tích cực

giữa các chủ thể của hoạt động dạy học) nhằm thực hiện chức năng dạy học; đượchoạch định, tổ chức và điều khiển theo hướng sư phạm bởi nhà giáo dục, hướng vàoviệc phát triển nhận thức và năng lực cho người học Người dạy và người học chịu tácđộng của môi trường xung quanh và tương tác lẫn nhau trong quá trình dạy học, việchọc đem lại chất lượng như thế nào phần lớn phụ thuộc vào những tương tác đó

Hiện nay vẫn đề tương tác giữa GV và HS - SV ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả dạy và học trong trường học bởi lượng kiến thức ngày một nhiều và rộng mở hơn, xã

hội ngày càng phát triển khiến ta có thêm nhiều nguồn thông tin và nhiều cách để tìmkiếm thông tin, tiếp cận kiến thức do đó GV và HS - SV cần có sự tương tác hiệu quả

để HS - SV có thể lựa chọn cho mình một hướng đi đúng đắn học tập có phương pháp

và không bị ảnh hưởng bởi những nguồn thông tin sai lệch GV là những người khôngchỉ giỏi về chuyên môn mà còn mang trọng trách to lớn là người truyền ngọn lửa cảmhứng cho các em HS - SV, cập nhật những thay đổi từng ngày để có cách giảng dạyphù hợp và muốn học tập có hiệu quả HS - SV cũng cần có thái độ nghiêm túc, khôngngừng cố gắng cũng như tìm tòi để dần hoàn thiện mình dưới sự hướng dẫn tận tìnhcủa các thầy cô giáo Có rất nhiều nhân tố gây ảnh hưởng tích cực cũng như tiêu cựcđến sự tương tác ấy trong đời sống xã hội ngày nay và do đó ta càng thấy rõ lợi ích củaviệc GV có những tác động sâu đến thế giới tinh thần của trò, thiết lập được mối quan

hệ gắn bó ở trên giảng đường chứ không chỉ là những kiến thức ta cần học qua sáchvở

Ngày nay những mục tiêu về quá khắt khe về điểm số và bằng cấp vô hình tạo

áp lực cho cả GV và HS - SV, thứ nhất là gây ảnh hưởng đến chất lượng của quá

trình dạy và học, việc phân loại đánh giá thành tích là điều không thể thiếu ở mọi cấp

học, nó thúc đẩy sự cố gắng và ý chí của mỗi người nhưng nếu biến nó thành áp lực,một điều bắt buộc phải có như nhiều gia đình yêu cầu con phải luôn đạt loại giỏi đứngtop đầu của trường lớp dù khả năng của con chỉ ở mức khá, đó là điều rất không nên,dẫn đến sự suy giảm hứng thú và mong muốn trao đổi cũng như thể hiện ý kiến cá

Trang 11

nhân ít hơn trong mỗi giờ học Thứ hai GV cũng sẽ rất mất hứng thú giảng dạy nếu

như trong một lớp có nhiều em học theo cách đối phó, học vì điểm số, lấy thành tích dẫn đến nhưng tiêu cực trong học tập, thi cử Và cũng có rất nhiều những giải pháp

đưa ra để cải thiện tác động của môi trường xung quanh đến người dạy và người học(chẳng hạn như trình độ giảng viên, quy mô lớp học, đào tạo chứng chỉ) Tương tự nhưvậy các chương trình giảng dạy khác nhau đã phần nào được thực hiện để cải thiệnthành tích của HS - SV và điều đó cũng giúp ích nhiều hơn cho GV trong giảng dạy,

đề ra những mục tiêu học tập để HS - SV tiến bộ hơn Các bằng chứng nhất quán đãcho thấy rõ, để nâng cao thành tích học tập của HS - SV cũng như phát triển các kĩnăng một cách toàn diện, chúng ta cần tập trung vào nâng cao chất lượng tương tácgiữa GV và HS - SV Trong mọi hoạt động dạy học đều có sự tương tác giữa các thành

tố (người dạy, người học, môi trường học tập, )

Các nghiên cứu trước đây cũng đã chỉ ra nhiều quan điểm về tương tác Điển

hình là tương tác giữa người dạy và người học W-B-Yeats cho rằng “Giáo dục không

nhằm mục tiêu nhồi nhét kiến thức mà là thắp sáng niềm tin” Đây là một quan điểmđúng với mọi thời đại và trong mọi hoàn cảnh, bởi dạy và học không chỉ là học trênsách vở, mà còn là đào tạo tư duy, hướng dẫn để mỗi cá nhân có thể phát triển theocách tốt nhất của bản thân mình, biến nó thành của mình Một người thầy giỏi chuyênmôn và cũng giỏi nắm bắt tâm lý học trò, đem lại nguồn cảm hứng để HS của mìnhcảm thấy hứng thú với giờ học, và tiến bộ lên theo năm tháng Người thầy là ngườicho chiếc cần câu chứ không phải người cho con cá, do vậy mục tiêu của giáo dục dĩnhiên không phải là thành tích, kết quả hay điểm số trên giấy tờ, nó chỉ phần nào phảnảnh được kết quả, quan trọng nhất là mỗi thế hệ HS - SV đã trưởng thành, phát triển tưduy và nhận thức, biết đưa ra ý kiến quan điểm cùng những sáng tạo của riêng mình đểsau này là một con người có ích với chính bản thân, gia đình, xã hội Một ý kiến khác

của Joshua M Englehart: “Bây giờ, bạn có thể đã học được rất nhiều từ giáo viên của

mình, và thấy họ có một tầm hiểu biết rất sâu rộng, nhưng rất có thể đây không phải là

lý do mà người giáo viên này lại để lại ấn tượng sâu sắc với bạn đến như vậy Có

nhiều khả năng rằng sự thành công của giáo viên này dựa vào cách người thầy ấy

tương tác với sinh viên như thế nào Các GV thường vào lớp học với sự đào tạo tươngđương về nội dung và sư phạm Nhưng cách mà GV tương tác với HS - SV của họ làmột yếu tố nổi bật trong việc phân biệt sự khác biệt về ấn tượng đối với mỗi GV của

Trang 12

HS - SV.” Quan điểm này cũng là một đóng góp rất lớn, nói về khía cạnh kĩ năng sưuphạm của GV, tại sao cùng một môn học mà có những GV giảng rất dễ hiểu còn cónhững GV lại khiến học sinh khó cảm thụ được bài, dù cho trình độ chuyên môn của

họ gần như tương đương nhau, đó chính là do cách truyền đạt và khả năng tạo tươngtác trong lớp học, điều này rất cần thiết và để có được cũng cần một sự đầu tư thời giancũng như công sức nhất định, truyền đạt theo cách của mình những kiến thức trongsách vở bằng cách của mình sao cho HS dễ hiểu nhất chứ không đơn thuần chỉ là đưanguyên ra, hay đọc chép những phương pháp đó vô cùng phản tác dụng và lỗi thời ,khi gây được cảm hứng và tăng được cường độ tương tác với HS - SV thì GV cũng sẽthuận tiện hơn trong giảng dạy Thêm một quan điểm về tầm quan trọng của tương tác

tâm lí trên lớp học, theo Arthur, Gordon & Butterfield, 2003 thì “giảng dạy là một

nghề của con người đòi hỏi một thời gian dài được dành cho sự tương tác cá nhân.Tương tác GV và HS - SV tích cực có vai trò rất quan trọng trong việc giảng dạy vàhọc tập có hiệu quả” Nghiên cứu này cũng đã chỉ rõ được tầm quan trọng của tương

tác Theo Krause, Bochner, & Duchesne, 2006: “Có nhiều yếu tố quan trọng bao gồm

dạy dỗ và học tập hiệu quả Tương tác giữa GV và HS - SV có thể được xác định bằng

sự chấp nhận, hiểu biết, tình cảm, thân tình, tin tưởng, tôn trọng, chăm sóc và hợp tácchia sẻ Đây là quan điểm thiên về sự thấu hiểu tâm lý lẫn nhau giữa thầy và trò, 2 bêncần chủ động hợp tác để đưa ra giải pháp tối ưu nhất cho hoạt động dạy - học có hiệu

quả” Theo Barry & King, 1993: “Mối quan hệ giữa GV và HS - SV phụ thuộc rất

nhiều vào nỗ lực của cả hai bên mặc dù GV đóng một vai trò quan trọng và trên thực

tế, trách nhiệm, để bắt đầu sự tương tác tích cực GV thực tế trong việc đại diện, côngnhận, hiểu biết, thân mật, mong đợi, tôn trọng, chăm sóc và hợp tác đối với HS - SVcủa mình không chỉ làm việc trong việc bắt đầu mối quan hệ giữa GV và HS - SV tích

cực mà còn tăng khả năng xây dựng mối quan hệ bền vững thời gian” Theo Pianta,

1999: “Tương tác giữa GV và HS - SV là rất quan trọng vì nhiều lý do Sự tương tác

giữa GV và HS có ảnh hưởng lớn đến khả năng của HS để chuyển sang học đại học,

làm tốt tại trường đại học và liên quan tới các bạn đồng môn” Theo Birch & Ladd,

1997; Klem & Connell, 2004: “Các GV có mối quan hệ tích cực và an toàn với HS

-SV báo cáo rằng HS - -SV của họ ít có khả năng ở xa trường hơn, xuất hiện độc lập,cần được hỗ trợ hơn và bận rộn trong học tập GV nên biết phần nào về những khókhăn mà HS - SV đang gặp phải để có cách dạy học phù hợp, và tránh gây áp lực,

Trang 13

đồng thời dùng sự hiểu biết của mình để giúp đỡ, gắn kết thêm tình thầy trò nếu có

thể” Theo Brazelton & Greenspan, 2000: “Tương tác giữa GV và HS - SV có ảnh

hưởng đến quản lý lớp học và ảnh hưởng đến việc học tập và tăng trưởng Theo quanđiểm phát triển, việc thiết lập một mối quan hệ giữa GV và HS - SV tích cực giúp tăngtrưởng nhận thức, xã hội và tình cảm của HS - SV và nâng cao phúc lợi tinh thần của

họ Quan hệ giữa GV và HS SV ảnh hưởng đến hiệu quả của lòng tự trọng của HS

-SV và nâng cao kỹ năng của họ” Một số ý kiến khác cho rằng: “Mối quan hệ giữa HS

- SV và GV rất quan trọng để phát triển khái niệm tự học của HS - SV và nâng cao sựnhiệt tình và thành công của họ Các trường cao đẳng và đại học hoạt động xúc tiếnviệc liên hệ chặt chẽ và thường xuyên giữa GV và HS - SV của họ có nhiều khả năng

sẽ được hưởng lợi từ các sáng kiến đó Các thành viên của khoa có quan tâm đến tiến

bộ học vấn của HS - SV có thể đóng góp đáng kể cho việc phát triển trí tuệ và chuyên

môn của họ” (Anaya & Cole, 2001, Chickering, 1969, Chickering & Reisser 1993,

Cokley, 2000, Terenzini & Pascarella, 1980) “Bất cứ người học nào nếu cảm thấy

được đề cao năng lực và được quan tâm đều có trách nhiệm hơn với việc học củamình, và khi GV gần gũi thì HS - SV có thể bớt ngại ngần hơn trong việc tham khảo ýkiến thầy cô những vấn đề có liên quan đến học tập, sẵn sàng tương tác và đặt ra câu

hỏi cũng như trả lời trong giờ học Có bằng chứng cho thấy HS - SV thành công trong

việc biết rằng ngay cả một GV có thể cảm thấy hài lòng với công việc ở trường đại học

và vẫn mong muốn đi xa hơn trong sự nghiệp của họ” (Rosenthal và cộng sự, 2000).

“Mặc dù hầu hết sự tương tác giữa GV có xu hướng xảy ra trong lớp học chính thức,nhưng SV trải qua những tương tác không chính thức có xu hướng được động viên,

tham gia và tích cực tham gia vào lớp học”(Thompson, 2001, Woodside, Wong, &

Weist, 1999) “Sự tương tác không chính thức giữa SV và GV đã được xác định là

điểm quan trọng trong văn hóa đại học và có ý nghĩa quan trọng đối với thái độ, sở

thích và giá trị của sinh viên đại học” (Chickering & Reisser, Pascal, 1980b,

Pascarella & Terenzini, 1991, 2005, Thompson, 2001) “Tương tác giữa GV và HS

-SV là một mối quan hệ cá nhân không thể tránh khỏi và các mối quan hệ cá nhân xuất

hiện thông qua các cố vấn và cố vấn cấp cao” (Light, 2001) “Để phản ứng với một số

tín hiệu tiềm ẩn, không nói ra, và không bằng lời nói, học sinh có nhiều khả năngtương tác với các GV cảm thấy thân thiện, thông minh, thể hiện sự lãnh đạo, hỗ trợ và

khách quan” (Babad, Avni-Babad và Rosenthal, 2003 Furnham &

Trang 14

Chamorro-Premuzic, 2005) “Các GV cho phép SV sử dụng tên đầu tiên để được cảm nhận như

sự ấm cúng, khả năng tiếp cận và tôn trọng so với giảng viên” (McDowell & Westman,

2005) “Sự tương tác giữa GV và HS - SV có thể là chính thức hoặc không chính thức,

xảy ra trong hoặc ngoài trường học, với cả hai đóng một vai trò quan trọng trong việc

xác định thành công học vấn của HS - SV” (Jacobi, 1991) “Tương tác thường xuyên

nhất của HS SV khi trao đổi với GV thường bao gồm các tình huống trong đó HS

-SV thường cần thông tin về một khóa học hoặc sau khi đi học” (Kuh & Hu, 2001).

Chính sự khác nhau trong các quan điểm nêu trên nên các hướng nghiên cứu trong tương tác dạy - học cũng rất đa dạng, cụ thể, hướng nghiên cứu tiếp cận mối

quan hệ tương tác giữa thầy - trò - trò cho thấy rằng ngay từ thời cổ đại, Heraclitus

(540 - 480 TCN) nhà hiền triết Hy lạp Cổ đại, Socrate (470 - 399 TCN), Khổng Tử(551 - 479 TCN) nhà giáo dục (Vạn thế sư biểu) của Trung Hoa… đã rất coi trọng vaitrò tích cực, chủ động, độc lập của người học bên cạnh vai trò của người thầy Trongtương tác thầy - trò - trò, người trò vừa là đối tượng, vừa là mục đích của hoạt độngdạy học Từ những thập niên 70, nhất là những năm 90 trở lại đây, dạy học nhấn mạnhmối tương tác giữa người học - người học (dạy học hợp tác) được nghiên cứu nhiều vàrất phổ biến Có thể kể đến các tác giả với các công trình nghiên cứu theo hướng nàynhư E.Aronson; R.E.Slavin; J Cooper; D.W.Johnson & R.T.Johnson E.Aronson(Mỹ) với mô hình lớp học Jigsaw đầu tiên (1978) đã có những đóng góp lớn trong việchoàn thiện các hình thức dạy học hợp tác Người thầy là người truyền lửa, đem đếncảm hứng nhưng phải có sự tiếp nhận từ phía học trò, người học cần có ý thức học tập,cũng như chăm chỉ và nghe theo hướng dẫn của thầy mới đem lại hiệu quả cao Điều

đó lí giải vì sao cũng cùng một lớp học, cùng một người thầy nhưng kết quả của HS SVlại khác nhau, mỗi người nên tìm ra phương pháp học phù hợp với khả năng tiếp

-thu của mình để đem lại hiệu quả tốt nhất có thể Mặt khác, hướng nghiên cứu tiếp cận

mối quan hệ tương tác giữa thầy - trò - môi trường: J A Komenski (1592 - 1670),

Trong tác phẩm của mình, ông đã khẳng định vai trò quan trọng và sự tương tác của bathành tố trong quá trình dạy học: vai trò của người dạy, môi trường, đặc biệt vai tròcủa người học.Từ những thế kỉ XVIII về sau, lý thuyết về dạy học tương tác được đềcậpnhiều ở các nước phương tây Điển hình như; JoSeph Lancaster và AndrewBell(Anh), Fancis Parker và John Deway (Mỹ) là những người ủng hộ đắc lực cho dạy

học tương tác Trong tác phẩm “Nền dân chủ và giáo dục”, John Deway đã chỉ ra rằng

Trang 15

con người bản chất sống cần tương tác, trẻ cần được dạy để biết cảm thông , tôn trọngquyền của người khác, làm việc cùng nhau để giải quyết vấn đề và cần được trảinghiệm những vấn đề đó ngay từ trong nhà trường.Gần đây nhất, tại trung tâm nghiêncứu giáo dục quốc tế (CERI) - Paris, nhóm nghiên cứu của tác giả Jean MarcDenomine và Madeleine Roy đã nghiên cứu và thực nghiệm thành công đường hướng

tổ chức dạy học mới trong hoạt động sư phạm gọi là “Tiến tới một sư phạm tương

tác” Trong nghiên cứu của mình, các tác giả đã xác định cấu trúc hoạt động dạy học

gồm ba thành tố: Người dạy - người học - môi trường, là ba thành tố trung tâm, cơbản, chỉ rõ chức năng, mối quan hệ của các thành tố Các tác giả đã mô tả một cáchlogic hoạt động dạy học trên nền tảng tương tác, mở ra hướng tiếp cận dạy học trênnhiều mặt Người học cần có sự tôn trọng thầy và bạn bè, tạo nên môi trường học tậplành mạnh thân thiện tạo điều kiện tốt nhất cho hoạt động dạy và học Tôn trọng thầykhông nói chuyện riêng trong giờ học và không ảnh hưởng đến việc học của ngườikhác, có ý thức vươn lên để tạo động lực phấn đấu cho bạn bè trong cùng lớp, đó làđiểu HS - SVnào cũng nên làm, tạo một môi trường học tập sôi nổi, kỉ cương nề nếptốt Đó chắc chắn cũng là điều mà bất cứ GV nào đều mong muốn

Bên cạnh những nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, trong nước cũng đã bắt đầu cónhững nghiên cứu về vấn đề tương tác giữa GV và HS-SV trong luận văn tiến sĩ

“Tương tác tâm lí trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học” của

Cao Thị Nga được hoàn thành tại học viện khoa học xã hội Việt Nam năm 2016,nghiên cứu đã chỉ ra được sự cần thiết về vấn đề tương tác giữa giảng viên và sinhviên trong đào tạo đại học, và đặc biệt là đào tạo theo hình thức tín chỉ “ Dạy học đạihọc hiện nay theo phương thức tích lũy tín chỉ, theo đó, đào tạo theo tín chỉ đòi hỏi caotính tích cực làm việc, tương tác tâm lý giữa GV và HS - SV, tương tác tâm lý vừa làyêu cầu, vừa là điều kiện của dạy học theo tín chỉ Thực tiễn đã minh chứng, hiệu quảgiáo dục và đào tạo trong nhà trường (nói chung), trường đại học (nói riêng) phụ thuộcrất lớn vào sự tương tác tâm lý giữa GV và HS - SV” Qua nghiên cứu này chúng ta

phần nào hiểu được cơ sở lý thuyết “dạy học được hiểu là hoạt động của người dạy và

học trong sự tương tác lẫn nhau, đặc biệt tương tác về mặt tâm lý nhằm đạt mục đích dạy học”, khi nói tới hoạt động dạy của người GV, đồng thời nói tới hoạt động học

của người SV, hoạt động dạy học là hoạt động kép” và sự cần thiết để nghiên cứu sâuhơn về đề tài này cũng như thực trạng giáo dục ở mọi cấp bậc ở Việt Nam hiện nay

Trang 16

Quá trình dạy học là một hệ thống gồm nhiều nhân tố với vị trí và chức năng khác nhau Trong đó GV với hoạt động dạy học và HS - SV là 2 nhân tố trung tâm.

Mỗi nhân tố đều phát huy vai trò của mình trong quá trình vận động để hỗ trợ tươngtác lẫn nhau Môi trường dạy học được tổ chức phù hợp đòi hỏi tính tích cực và tự giáccao của người học, người dạy đóng vai trò chủ yếu là người tổ chức môi trường họctập và hỗ trợ, tư vấn cho người học, cho họ một hướng đi đúng đắn và những kiến thứcmới mẻ cũng như rèn luyện tư duy có chiều sâu cho HS - SV của mình Theo như thực

tế hiện nay chúng ta thấy rõ, để đánh giá chất lượng giảng viên phần lớn là về kiếnthức, trình độ chuyên môn, điều đó rất cần nhưng chưa đủ, GV nên có cách để bàigiảng trở nên thú vị và gần gũi nhất với HS - SV cũng như quan tâm sát sao đến nhucầu và khả năng của người học, bởi ở hai tầm tư duy hoàn toàn khác nhau, GV đã códày dặn kinh nghiệm cũng như kiến thức chuyên sâu còn HS - SV chỉ là những ngườimới tìm hiểu, rất bỡ ngỡ với vấn đề đang thảo luận nên rất cần những cách dạy dễ hiểunhất và sự tận tâm từ người thầy Nhưng không chỉ thế, nếu như người GV đó có nềntảng chuyên môn tốt, kĩ năng sưu phạm tốt nhưng HS - SV không hào hứng, đi họckhông có mục đích hay chỉ học để qua môn, sẽ khiến giờ học trở nên vô cùng nhàmchán khi chỉ có sự tác động từ phía thầy mà không có phản hồi từ trò, nó cũng tạo nênnhững cảm xúc tiêu cực, hoặc mất đi hứng thú với người giảng dạy

Vấn đề tương tác giữa GV và HS - SV không chỉ giới hạn ở đối tượng hay vùng miền nào, mà nó diễn ra ở mọi nơi, trên ghế nhà trường, những buổi dạy kĩ năng mềm, kĩ năng sống cho đủ mọi lớp tuổi được mở ra ngày càng nhiều Khi còn bé,

gia đình và nhà trường vô cùng quan trọng trong việc hình thành nhân cách cũng như

tư duy của một trẻ nhỏ, các em mạnh dạn tương tác, thể hiện mình ở trường lớp hayđược tạo điều kiện đẻ nói lên suy nghĩ cảm nhận của mình ở gia đình cùng với sự quantâm sát sao, uốn nắn kịp thời từ phía giáo viên và bố mẹ các em sẽ được đi đúnghướng và tiếp thu rất nhanh, ở bậc tiểu học và THPT tiếp theo đó là đại học, nhân cáchcũng như cá tính mỗi con người dần hoàn thiện cũng như nhiều yếu tố môi trườngxung quanh tác động, tương tác có thể gặp những khó khăn nhất định khi một số emrất chăm chú còn một số em lại không hề hứng thú với bài vở, hay nhiều nhân tố khác,nền tảng giáo dục gia đình cũng là điều khiến HS có cái nhìn khác nhau về tầm quantrọng của việc học, và đó là điều rất khó với GV ở mọi cấp bậc, nhưng nhìn chung,mục tiêu của giáo dục chính là phát triển, vì vậy nắm bắt được từng loại đối tượng HS

Trang 17

- SV để giúp các em biết được vị trí của mình, tương tác với tần suất nhiều hơn là điềumột giảng viên nên làm, bởi vì ai trong chúng ta cũng có những nội lực chưa đượckhai thác hết, nếu như hiểu bản thân mình ở vị trí nào và đi lên đúng hướng, thì kém

cũng có thể cố gắng thành khá, giỏi chắc chắn sẽ trở nên xuất sắc và ưu tú hơn Như

vậy tương tác không chỉ là cách thức của mối quan hệ mà còn là mục tiêu dạy học, người học cần được hình thành các năng lực tương tác, linh hoạt và có trách nhiệm hơn với vấn đề tương tác ngay tại lớp học cũng như lưu lại để trao đổi với giảng viên thêm nếu cần.

Dựa trên một số nghiên cứu, các nỗ lực của GV để đan xen vào hoạt động xã hội vàcảm xúc của HS - SV trong lớp, thông qua việc tạo thuận lợi tích cực cho sự tương táccủa GV và HS - SV, là những yếu tố chính trong thực tiễn lớp học hiệu quả Hai lĩnhvực rộng lớn của lý thuyết phát triển hướng dẫn nhiều công việc hỗ trợ cảm xúc trong

lớp học (Ainsworth, Blehar, Waters, & Wall, 1978, Bowlby, 1969, Pianta, 1999) và lý thuyết tự xác định (Connell & Wellborn, 1991; Ryan & Deci, 2000; Skinner &

Belmont, 1993) Các nhà lý thuyết đính kèm cho rằng khi cha mẹ hỗ trợ tinh thần và

môi trường có thể dự đoán được, nhất quán và an toàn, trẻ em sẽ trở nên tự lập hơn và

có thể liều lĩnh khi khám phá thế giới bởi vì họ biết rằng người lớn sẽ ở đó để giúp đỡ

họ nếu họ cần nó (Ainsworth và cộng sự, 1978, Bowlby, 1969) Lý thuyết này đã được

áp dụng rộng rãi và được chứng thực trong môi trường học tập (Birch & Ladd, 1998,

Hamre & Pianta, 2001, Howes, Hamilton, & Matheson, 1994, Lynch & Cicchetti, 1992; Pianta, 1999) Lý thuyết tự quyết định (hay tự hệ thống) (Connell & Wellborn, 1991; Ryan & Deci, 2000, Skinner & Belmont, 1993) cho thấy trẻ em và thanh thiếu

niên có động lực học hỏi lớn nhất khi người lớn ủng hộ nhu cầu cảm thấy có thẩmquyền, tích cực liên quan cho người khác, và tự trị Trong suốt thời gian học tập,những sinh viên kết nối tình cảm với giáo viên và tỏ ra tích cực về sự phát triển trong

cả lĩnh vực xã hội và học thuật (Hamre & Pianta, 2001; Harter, 1996, Ladd, Birch, &

Buhs, 1999; Pianta và cộng sự, 1995, Roeser và cộng sự, 2000, Ryan, Stiller & Lynch,

1994, Silver, Measelle, Essex & Armstrong, 2005, Wentzel,1998) Trong lĩnh vực này,

họ tập trung vào tương tác hành vi liên quan đến khí hậu cảm xúc, sự nhạy cảm của

GV và quan điểm của SV

Trang 18

Ảnh hưởng của các yếu tố tương tác cũng được đề cập một cách rất đa dạng trongcác nghiên cứu có thể liệt kê ra như (1) yếu tố tâm lí (2) yếu tố giới tính, tình trạngkinh tế xã hội và cấp học (3) yếu tố văn hoá (4) yếu tố môi trường (5) yếu tố con người

Về yếu tố tâm lí các HS trong nghiên cứu của Skinner và Belmont (1993) đã được

tìm thấy để tham gia nhiều hơn vào lớp học trong đó họ nhận thức GV của họ có tìnhcảm hơn (ví dụ: thích và vui chơi với HS), hòa hợp hơn (ví dụ như hiểu biết về tâm lílứa tuổi), dành nhiều thời gian và năng lượng hơn cho HS, và đáng tin cậy hơn (r =0,60 đến 0,65) Furrer and Skinner (2003) đo lường sự liên quan đến GV với các đồvật bằng sự đồng thuận của HS với các câu nói như cảm giác được chấp nhận, không

bỏ qua cũng không quan trọng Họ quan sát thấy rằng, sau khi tính đến số liệu SVbáo cáo liên quan đến cha mẹ và bạn đồng trang, cảm giác liên quan đến GV của HS làmột dự đoán đáng kể về sự tham gia hành vi của họ (β = 0,14 và 0,26 đối với GV và

HS báo cáo, tương ứng), cũng như sự tham gia tình cảm của họ (β = 0,17 và 0,40).Hay, Skinner và Belmont (1993) nhận thấy rằng xếp hạng của GV theo ý thích củahọ,đánh giá cao, và hưởng thụ, cũng như sự hiểu biết, thông cảm và kiến thức của họ

về SV, tương quan với sự tham gia hành vi của SV với GV trong lớp học (r = 0,56)

Từ đó ảnh hưởng lớn đến tần số tương tác giữa GV và HS - SV

Về yếu tố giới tính, tình trạng kinh tế xã hội và cấp lớp, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra

rằng các GV thường cảm thấy gần gũi hơn với bé gái hơn so với các bé trai (Murray &

Murray, 2004; Saft& Pianta, 2001) Ladd, Birch, và Buhs (1999) phát hiện ra rằng trẻ

em có tình trạng kinh tế xã hội kém sẽ có mối quan hệ xa hơn với GV của họ hơn sovới các HS giàu có hơn Cấp học của HS cũng ảnh hưởng đến sự tương tác giữa HS và

GV HS trung học báo cáo các mối tương tác với GV kém hơn trẻ em ở các lớp tiểu

học (Lynch & Cicchetti, 1997) Lynch và Cicchetti đã xác định như các mô hình quan

hệ được đặc trưng bởi mức độ cảm xúc tích cực cao và trung bình đến mức độ gần gũitâm lý cao

Về yếu tố văn hoá n ghiên cứu nhỏ về mối quan hệ giữa GV và HS - SV đã thamgia vào các khía cạnh văn hoá trong quan hệ giữa các cá nhân Sự bỏ sót này là đángbáo động vì các lớp học ngày nay giáo dục những HS - SV từ các nguồn gốc khácnhau, có thể ảnh hưởng đến việc GV hay HS - SV cảm thấy thoải mái trong việc xâydựng mối quan hệ chặt chẽ với nhau như thế nào Ví dụ, các nền văn hoá bị ảnh hưởngnặng nề bởi triết học Khổng giáo, học tập và giáo dục được đánh giá cao, và giáo viên

Trang 19

được coi là những người cao tuổi được tôn trọng (den Brok, Levy, Rodriguez, &

Wubbels, 2002) Trong các nền văn hoá châu Mỹ Latinh và châu Á, HS - SV có thể

không mong muốn trở nên gần gũi với GV của họ bởi ý nghĩ rằng GV chỉ là ngườigiảng dạy chứ không người đáng tin cho việc chia sẻ các vấn đề cá nhân, vì vậy họkhông thể biểu lộ những hành vi gần gũi với GV Thay vào đó, Brok và cộng sự gợi ýrằng so với những người bạn ở Mỹ, những sinh viên này có thể có xu hướng bị ảnhhưởng về mặt văn hoá hơn khi trông mong giáo viên của họ trở nên hùng mạnh hơn,những con người có thẩm quyền (trang 450) Đối với sinh viên châu Á, sự tương tácgiữa sinh viên và giáo viên có thể có nghĩa là có được sự trợ giúp của công cụ giúp họ

thành công trong học tập (Ang, 2005) bởi vì đó là những gì mà một giáo viên giỏi sẽ

phải làm là đầu tư vào học tập của sinh viên Những quan điểm về vai trò của giáoviên có thể ảnh hưởng đến sự tương tác giữa học sinh và giáo viên phương tiện chosinh viên từ các nguồn gốc đa dạng

Về yếu tố môi trường, lí thuyết tương tác ra đời vào những năm 70 của thế kỉ XXvới kết quả nghiên cứu của Guy Brouseau, Claude Comiti,… thuộc Viện Đại học đàotạo Giáo viên ở Gremnoble Các tác giả đã đưa thêm yếu tố môi trường vào trong hoạtđộng dạy học và từ đó cấu trúc hoạt động dạy học gồm bốn nhân tố ra đời: người dạy,người học, nội dung kiến thức và môi trường Những kết quả nghiên cứuđã phân tíchsâu sắc yếu tố người dạy, người học trong môi trường để hướng tới mục tiêu môn họcđồng thời còn chỉ ra cơ chế của sự tác động qua lại giữa các yếu tố thuộc cấu trúc hoạtđộng dạy học Trong tác phẩm “Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác”, hai tác

giả người Canada là Jean Marc Denommé và Madeleine Roy đã mô tả logic của hoạt

động dạy học và mở ra một quan điểm sư phạm tương tác với cấu trúc dạy học là một

“bộ ba” gồm: người học, người dạy và môi trường, còn nội dung kiến thức được coinhư là một yếu tố khách quan mà người dạy muốn hướng người học chiếm lĩnh.Môitrường học tập cũng là yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến kết quả tương tác của giáoviên và sinh viên Môi trường định hướng hoạt động của con người theo một khuônkhổ nhất định, góp phần tạo nên mục đích, động cơ, phương tiện và điều kiện cho hoạtđộng giao lưu cá nhân C.Mác đã viết “Hoàn cảnh đã sáng tạo ra con người, trongchừng mực mà con người đã sáng tạo ra hoàn cảnh” Nhờ được học tập và rèn luyện ởmôi trường đại học mà các em có được kĩ năng sống tốt, hạn chế được những tệ nạn xãhội, những tác động tiêu cực của xã hội Các em có thể noi theo những tấm gương tốt

Trang 20

để vươn lên trong học tập và rèn luyện, một lớp học có nhiều sinh viên giỏi, năng độngtích cực sẽ thúc đẩy tinh thần thi đua giúp kết quả đi lên Nhiều em hăng say phát biểu

ý kiến sẽ nâng cao tương tác đem lại hiệu quả cao trong giờ học, giáo viên cũng cóhứng thú truyền đạt nhiều hơn Tuy nhiên một số trường hợp mà giáo viên cũng nhưbạn bè có những định kiến, thiếu thiện cảm, sử dụng các biện pháp hành chính thái quáhay thiếu khách quan trong đánh giá có thể gây nên sự bất mãn, tự ti trong học tập vàgiao tiếp, khiến những em có tư duy chưa tốt ngày càng trở nên đi xuống trong cả kĩnăng cũng như kiến thức Do đó chúng ta luôn cần nhìn nhận vấn đề một cách tỉnh táo,góp phần tạo nên môi trường học tập văn minh, hiệu quả Trong tương tác tâm lí trênlớp giữa GV và HS - SV, nếu tạo được ảnh hưởng tích cực sẽ có tác dụng tác độngkhông chỉ đến nhận thức mà cả thái độ và hành vi cá nhân Sự ảnh hưởng tâm lý tíchcực làm các cá nhân tăng nhu cầu tăng sự tương tác với nhau, tăng phối hợp tương táctâm lý giúp ích cho quá trình đào tạo đạt được mục tiêu của nó Về phía GV nếu như ít

có tương tác với HS - SV trên lớp chỉ diễn ra quá trình giao tiếp một chiều, mệnh lệnh

và áp đặt GV lên lớp thường xuyên trao đổi trò chuyện với sinh viên mới tạo được sựhăng say và hứng thú Về phía HS - SV nếu như có biểu hiện trốn tránh ngại tương tácvới GV thì trên lớp GV gần như độc thoại và không khí học tập kém sôi nổi.Ngược lạithường xuyên trao đổi tạo cảm giác thích thú và thỏa mãn

Về yếu tố con người, “thái độ và niềm tin mà GV hình thành ảnh hưởng đến cách

họ tương tác với HS - SV từ những nhóm HS - SV được nghiên cứu”(Pianta, 1999).

“GV là người mẫu kiểu mẫu, được mong đợi là có định hướng học tập và cư xử

tốt”(Chang & Demyan, 2007, Chang & Sue, 2003, Rosenbloom & Way, 2004) Theo

Barry & King, 1993: “Mối quan hệ giữa GV và HS - SV phụ thuộc rất nhiều vào nỗ

lực của cả hai bên mặc dù GV đóng một vai trò quan trọng và trên thực tế, trách

nhiệm, để bắt đầu sự tương tác tích cực” Buriel (1983) đã chứng minh rằng HS - SV

học tập tốt hơn trong trường học khi nhận được sự chỉ dẫn tương tác với GV nhiềuhơn Những HS - SV có thành tích học tập tốt cũng sẽ năng nổ hơn, được GV biết đến

và quan tâm nhiều hơn, từ đó có động lực tốt để phát triển , mặt khác, những HS - SVkhông hiểu bài thì không muốn nhận được sự quan tâm chú ý hay mong muốn tươngtác, do vậy kết quả ngày càng giảm sút Trừ khi các HS - SV có khả năng tự học thậttốt thì hầu hết các HS - SV có mật độ tương tác với GV cao là người có thành tích họctập tốt hơn cả

Trang 21

Các nghiên cứu trước đây đã phần nào nói lên được tầm quan trọng trong tương tácgiữa GV và HS - SV, nhưng chưa có một cái nhìn toàn diện về mọi mặt của vấn đề vàđưa ra được giải pháp thiết thực, do vậy nhóm nghiên cứu một phần dựa trên nhữngnền tảng đó cùng với áp dụng vào thực trạng hiện nay để có một nghiên cứu đầy đủ, cụthể hơn Sau đây chúng ta sẽ đi sâu vào tìm hiểu lý thuyết và phương pháp nghiên cứuthực tiễn được áp dụng về đề tài này.

Trang 22

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA MỐI QUAN HỆ TƯƠNG TÁC GIỮA GIÁO VIÊN

-GIẢNG VIÊN VÀ HỌC SINH - SINH VIÊN 2.1 Khái niệm chung về tương tác

Tương tác trong tiếng anh được viết là “Interaction”, được ghép bởi hai từ đơn là

“inter” và “action” Trong đó, “inter” mang nghĩa là kết nối, liên kết các chủ thể

“Action” ở đây là hành động, hoạt động, ứng xử, ảnh hưởng Qua đó, “interaction”được hiểu là sự tác động, tương tác, ảnh hưởng qua lại của các chủ thể

Theo Wikipedia, tương tác là một loại hành động xảy ra khi hai hoặc nhiều đốitượng có ảnh hưởng lên nhau Ý tưởng về hiệu quả hai chiều là rất cần thiết trong kháiniệm tương tác, trái ngược với tác động nguyên nhân một chiều

Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “tương tác” được định nghĩa là sự tác động qua lại lẫnnhau, có mỗi liên hệ trao đổi thông tin với nhau

Theo Từ điển tâm lý, “tương tác” là một khái niệm thuộc về ứng xử Cái này tácđộng lên cái kia, cái kia tác động trở lại cái này, hai cái ảnh hưởng lẫn nhau, chứkhông thể ảnh hưởng một chiều

Ở mức khái quát nhất, “tương tác” chính là sự tác động qua lại tương ứng lẫn nhaugiữa các chủ thể, dẫn tới ảnh hưởng lẫn nhau của các chủ thể đó Sự tương tác giữa cácchủ thể có thể được diễn ra qua sự tương tác của các lực cơ học (tương tác giữa thanhsắt và máy cưa tạo ra tia lửa, tương tác giữa cái búa và đinh, ); sự tác động của nănglượng (năng lượng sinh học, năng lượng cật chất, năng lượng tâm lý, ); sự tác độngcủa thông tin (những con kiến giao tiếp với nhau qua tiếp xúc, sự trao đổi thông tin củacon người, ); sự tác động giữa các biểu tượng của các chủ thể Tuy có sự khác nhau

về hình thái tác động nhưng chúng đều có chung bản chất là sự tác động qua lại tươngứng giữa các chủ thể dẫn đến sự thay đổi của cả hai phía

Dấu hiệu cơ bản để xác định sự tương tác giữa các chủ thể là sự tác động qua lạigiữa chúng Tương tác chỉ có thể xảy ra khi có sự tác động ở cả hai phía Trong trườnghợp chỉ có sự tác động từ một sự vật, hiện tượng này tới một sự vật, hiện tượng kia thìkhông thể coi là tương tác, mà đó là sự tác động, ảnh hưởng một chiều Sự tác độnggiữa các chủ thể diễn ra theo xu thế cân bằng, mất cân bằng và lặp lại Chính sự mấtcân bằng làm cho quá trình tương tác luôn biến đổi và tạo ra đặc tính thứ hai của tươngtác Đó là sự ảnh hưởng lẫn nhau, làm biến đổi cả hai phía

Trang 23

Những nghiên cứu trên cho rằng: Tương tác là quá trình tác động qua lại giữa cácchủ thể với nhau, trong đó diễn ra sự trao đổi, biến đổi và ảnh hưởng lẫn nhau của cácchủ thể.

2.1.1 Tương tác vật lý

Trong vật lý, sự tương tác cơ bản (phụ thuộc vào bản chất của sự tương tác, nócũng có thể được gọi là lực cơ bản) là một quá trình mà các hạt cơ bản tương tác vớinhau Sự tương tác thường được mô tả như là một trường vật lý, và được trung gianbởi sự trao đổi của boson đo giữa các hạt Ví dụ, tương tác giữa các hạt tích điện xảy

ra thông qua sự trung gian của các trường điện từ, trong khi phân rã beta xảy ra bằngcác tương tác yếu Sự tương tác là căn bản khi nó không thể được mô tả bằng cáctương tác khác Có năm tương tác cơ bản được biết đến trong thiên nhiên: Các điện từ,mạnh, yếu, Higgs, và tương tác hấp dẫn Các tương tác yếu và điện từ được thống nhấttrong lý thuyết điện cơ đốt trong, được thống nhất với lực mạnh trong mô hình chuẩn

2.1.2 Tương tác tâm lý

Tương tác tâm lý là sự tiếp xúc, tác động về phương diện tâm lý giữa hai hay nhiều

cá nhân, kết quả là làm thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi, của các cá nhân đó.Tương tác tâm lý là sự tác động về mặt tâm lý giữa các cá nhân với nhau, khác với tácđộng bằng lực hay bằng năng lượng như trong tương tác vật lý, sinh lý Đó là sự tácđộng bằng các thông tin, cảm xúc, hình ảnh tâm lý, giữa các cá thể Tương tác tâm lýkhông chỉ ở mối quan hệ giữa con người mà còn được thể hiện trong các mối quan hệkhác như con người - con vật, con vật - con vật

2.1.3 Tương tác xã hội

Theo quan điểm xã hội học, tương tác là một chuỗi các hành động xã hội năngđộng, thay đổi giữa các cá nhân (hoặc nhóm) đã sửa đổi các hành động và phản ứng docác hành động của (các) đối tác tương tác của họ

Tương tác xã hội là sự tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau giữa con người vớicon người với tư cách là các thành viên xã hội

Các tương tác xã hội có thể được phân biệt thành tình huống ngẫu nhiên, lặp lại,thường xuyên và được quy định Tâm lý, ý thức của con người được hình thành, pháttriển thông qua các tương tác tâm lý và tương tác xã hội Qua đó tạo thành nền tảngcủa các quan hệ xã hội

2.1.4 Tương tác hỗn hợp

Trang 24

2.1.4.1 Tương tác tâm lý trong mối quan hệ tâm lý - xã hội

Như đã phân tích ở trên, tương tác tâm lý là sự tiếp xúc, tác động về phương diệntâm lý giữa hai hay nhiều cá nhân hoặc tương tác giữa những thành phần tâm lý trongmột cá nhân, dẫn đến sự ảnh hưởng và làm biến đổi về mặt tâm lý giữa những cá nhânđó

Tương tác tâm lý có thể được coi là quá trình tác động và hành động đáp lại củamột chủ thể này với một chủ thể khác, là sự tương tác giữa các hiện tượng tâm lý đểtạo ra các hiện tượng tâm lý mới Biểu hiện dễ thấy nhát về sự tương tác tâm lý là sựtiếp xúc cảm xúc giữa người mẹ và trẻ sơ sinh, qua đó tạo cảm giác an toàn cả về phíatrẻ và người mẹ hay sự lây lan nhau về tâm trạng giữa các thành viên trong nhóm cộngđồng trước một sự kiện nào đó Sự tác động tâm lý giữa các cá nhân có thể diễn ra theonhiều cách thức bằng nhiều phương tiện phong phú Qua giao tiếp trực tiếp bằng lờinói, chữ viết hay các phương tiện phi ngôn ngữ, qua trao đổi vật phẩm và thông tin quàtặng, Sự tương tác tâm lý diễn ra hằng ngày trong đời sống của mỗi cá nhân Các cánhân thay đổi các đặc điểm tâm lý của mình nhờ có sự tương tác tâm lý với người khác(tăng vốn hiểu biết về thế giới, thay đổi các nét tính cách, thái độ hay điều chỉnh cáchành vi theo hướng có lợi cho bản thân ) Một phương thức tương tác tâm lý đặctrưng giữa các cá nhân là tương tác liên nhân cách Tương tác liên nhân cách là cáctương tác tâm lý giữa các cá nhân được xét dưới góc độ các quy chiếu giá trị, chuẩnmực của hệ văn hóa - xã hội nhất định, dẫn đến sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các nhâncách Tương tác liên nhân cách thực chất là tương tác tâm lý giữa các cá nhân, trong

đó sự tương tác qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các cá nhân được diễn ra theo cácchuẩn mực, các quy định, các giá trị của nhóm, cộng đồng mà họ tham gia với tư cách

là thành viên Nhiều khi tương tác liên nhân cách được hiểu như là tương tác liên cánhân

Tương tác tâm lý là quá trình tác động qua lại về mặt tâm lý giữa các chủ thể, biểuhiện qua nhu cầu tương tác, sự tương hợp tâm lý, sự phối hợp, qua tần số tương tác và

sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các chủ thể

2.1.4.2 Tương tác xã hội trong môi quan hệ tương tác tâm lý - xã hội

Tương tác xã hội là quá trình tác động qua lại trực tiếp hoặc gián tiếp giữa các chủthể xã hội, từ đó, phát sinh ra các mối liên hệ, quan hệ xã hội gắn kết các con ngườivới nhau

Trang 25

Đặc trưng của tương tác xã hội là sự tương tác của các cá nhân đóng vai trò xã hộikhác nhau (tương tác giữa thủ trưởng và nhân viên, tương tác giữa cha mẹ và con cái,tương tác giữa vợ và chồng, ) Trong các mối tương tác này, diễn ra sự tiếp xúc traođổi và tác động lẫn nhau về phương diện các chuẩn mực, các giá trị, các khuôn mẫu,các quy định xã hội được xã hội gán cho mỗi cá nhân, thông qua các hành vi xã hộitương ứng với vai trò mà các cá nhân đó đang mang Cụ thể, tương tác xã hội là tươngtác của các chủ thể đóng vai trò xã hội khác nhau Trong quá trình này diễn ra sự tácđộng qua lại của caác vai trò xã hội, đồng thời, diễn ra sự thích ứng của chủ thể nàyvới chủ thể khác Trong tương tác giữa các chủ thể với tư cách là tương tác xã hội cóthể diễn ra sự tiếp xúc và tác động tâm lý lẫn nhau giữa các cá nhân, nhưng cũng cóthể chỉ diễn ra sự tiếp xúc và tác động qua lại giữa các vai trò xã hội.

2.1.4.3 Tương tác tâm lý - xã hội

Tương tác tâm lý - xã hội là sự tương tác kép giữa các cá nhân có vai trò xã hộikhác nhau, mà ở đó vừa có sự diễn ra sự tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau vềphương diện tâm lý, vừa có sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các vai trò xã hội của cácchủ thể Tương tác tâm lý - xã hội không phải là sự tác động và phản ứng một chiềucủa các cá nhân với tư cách là cá thể người mang tâm lý mà đó là sự tác động lẫn nhaucủa hai chủ thể có vị thế, vai trò xã hội nhất định Qua đó, họ đạt tới sự hiểu biết nhau

về tình huống, ý nghĩa hành động của nhau Có thể hiểu tương tác tâm lý - xã hội là sựtiếp xúc, tác động qua lại của các chủ thể với tư cách là thành viên có vai trò xã hộikhác nhau trong nhóm, trong cộng đồng, dẫn tới sự ảnh hưởng lẫn nhau về mặt tâm lý

và xã hội giữa các chủ thể

Tương tác tâm lý - xã hội có thể diễn ra thông qua quá trình giao tiếp trực tiếp hàngngày giữa các chủ thể Đây là hình thức tương tác mạnh và đạt hiệu quả cao Vì quátrình giao tiếp mặt đối mặt thường diễn ra theo nguyên tắc “soi gương” -người khác làtấm gương soi của mình “Không có gì tác động lên tâm hồn con trẻ bằng quyền lựccủa sự làm gương Còn giữa muôn vàn tấm gương, không có tấm gương nào gây ấntượng sâu sắc, bền chặt bằng tấm gương ông - bà, cha - mẹ và thầy cô” - trích câu nóicủa N.I.Nô-vi-cốp

Tương tác tâm lý - xã hội cũng có thể diễn ra dưới hình thức thể hiện vai trò xã hộicủa chủ thể với người khác Trong cuộc sống cá nhân tồn tại hai mặt: một mặt luôn

Trang 26

phải đóng vai trò xã hội khác nhau, mặt khác, phải luôn duy trì, thể hiện và phát triểncái tôi, cái bản sắc riêng của mình

Tương tác tâm lý - xã hội cũng có thể diễn ra dưới các hình thức trao đổi như quàtặng hoặc trò chơi Trong tương tác theo hình thức quà tặng thường diễn ra theo xuhướng người cho nhiều có thể nhận được nhiều từ phía người được họ cho nhiều vàngược lại Sự nhận được nhiều là một củng cố tích cực hành vi chia sẻ tiếp theo.Tương tác tâm lý - xã hội thông qua trò chơi một mặt góp phần giúp cá nhân tiếp cận,hình thành và phát triển những khuôn mẫu về nhận thức, thái độ, hành vi ứng xử của

xã hội, mặt khác, nó còn là phương thức phát triển các yếu tố “phi khuôn mẫu” xã hội.Bởi lẽ, trò chơi cũng có các nguyên tắc nhất định, bản chất của trò chơi là sự tự do vàsáng tạo Vì vậy, trò chơi chính là phương thức tốt nhất để cá nhân bổ sung các thànhphần mềm mại, uyển chuyển, tự do và sáng tạo vào cấu trúc tâm lý của mình, bên cạnhcác yếu tố tâm lý khuôn mẫu, tạo thành đời sống tâm hồn phong phú

Trong quá trình thực hiện các vai trò xã hội cá nhân thường cố gắng tạo ra và duytrì các biểu cảm phù hợp với hoàn cảnh cụ thể: luôn phải kiềm chế các biểu cảm củamình Đó chính là quá trình học hỏi cách kiểm soát các biểu cảm và hành vi của cánhân trên cơ sở quan sát và phân tích thái độ và ứng xử của người khác về vai trò củamình

2.2 Tương tác giữa giáo viên - giảng viên với học sinh - sinh viên

2.2.1 Bản chất tương tác giữa giáo viên - giảng viên với học sinh - sinh viên

Hoạt động dạy học là hoạt động được thực hiện theo một chiến lược, chương trình

đã được thiết kế, tác động đến người học nhằm hướng tới mục tiêu hình thành và pháttriển phẩm chất, năng lực của người học Ý kiến của Davydov: “Các hoạt động dạy -học là các hoạt động cùng nhau của thầy và trò” đã chỉ ra sự tương tác trong hoạt độngdạy học mang tính đặc thù Nói là đặc thù vì, thứ nhất, hoạt động dạy học nằm trongchuỗi hoạt động của con người nhưng là hoạt động nghề nghiệp, không phải là hoạtđộng của mọi người Người hoạt động dạy học phải có tiêu chuẩn và năng lực nghềnghiệp mới tham gia được hoạt động này Thứ hai, hoạt động dạy học là hoạt độngtương tác GV tác động vào HS - SV, HS - SV phát triển, GV căn cứ vào sự thay đổi ở

HS - SV để điều chỉnh hoạt động dạy Như vậy, sự tương tác trong hoạt động dạy họckhông phải là sự tương tác giữa các cá nhân hay nhóm xã hội với nhau như trong hoạtđộng kinh tế, chính trị, hay các hoạt động xã hội khác (ở đó sự tương tác giữa các cá

Trang 27

nhân hay nhóm xã hội nhiều khi không cùng mục tiêu, thậm chí trái ngược nhau về lợiích, v.v.) Trong khi đó, hoạt động dạy học là “hoạt động cùng nhau của thầy và trò”.Thầy và trò cùng hướng về một mục tiêu Năng lực của hoạt động dạy của người thầy

và năng lực học của trò được thể hiện ở các mức độ đạt được của mục tiêu chươngtrình giáo dục đề ra Do vậy, hoạt động dạy có kết quả khi nó tác động cùng hướng vớihoạt động học Hoạt động dạy học có tính tương tác ở chỗ, nó phải bắt nhịp cùngngười học, là người tham gia hoạt động học cả về trí tuệ và tình cảm Thứ ba, hoạtđộng dạy học nhìn từ phía hoạt động của người thầy trong tương tác với họat độnghọc của trò là hướng dẫn, tổ chức và điều khiển hoạt động học của HS - SV Trongcuốn Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, các tác giả đã định nghĩa hoạt độngdạy học như sau: “Hoạt động dạy là hoạt động của người lớn tổ chức điều khiển hoạtđộng của trẻ nhằm giúp chúng lĩnh hội nền văn hóa xã hội, tạo ra sự phát triển tâm lý,hình thành nhân cách của chúng”

Hoạt động dạy học là hoạt động tương tác Xem xét hoạt động của thầy đều có liênquan đến hoạt động của trò và ngược lại Nhìn từ góc độ tính chủ thể của hoạt động sưphạm, để hoạt động dạy của giảng viên và hoạt động học của sinh viên được tiến hànhthì không thể thiếu vai trò của chủ thể Trong hoạt động dạy học, chủ thể hoạt động làngười dạy (giáo viên) và người học (sinh viên) Người học là chủ thể của hoạt độnghọc, người dạy là chủ thể của hoạt động dạy Thầy và trò là những chủ thể cùng nhauhoạt động, duy trì, tiếp nối hoạt động Đối tượng của hoạt động học tập là lĩnh hội cáctri thức, kỹ năng, kỹ xảo Mục tiêu của hoạt động dạy học là hình thành và phát triểnnhân cách, năng lực của người học Chính vì hoạt động dạy và học có chung mục tiêucho nên hoạt động dạy và học luôn tương tác trong mối quan hệ “cung - cầu”, “nhân -quả” Không thể nói đơn giản thầy hay trò đóng vai trò “chủ động” hay “thụ động”

Đã là hoạt động thì tính chủ động là thuộc tính của cả hai bên Thầy tích cực, chủ độngtrong hoạt động dạy và trò tích cực, chủ động tham gia hoạt động học Hoạt động dạyhọc của GV mang ý nghĩa là phương tiện, là công cụ hỗ trợ thúc đẩy hoạt động họccủa HS - SV đúng hướng và hiệu quả

Hoạt động dạy học ở đại học là quá trình người GV tổ chức, hướng dẫn SV hoạtđộng (tự học), tổ chức quá trình nhận thức có tính nghiên cứu cho SV, giúp SV chiếmlĩnh đối tượng, đáp ứng mục tiêu đào tạo Hoạt động dạy học về cơ bản là quá trìnhngười dạy tổ chức và điều khiển hoạt động của người học nhằm giúp người học lĩnh

Trang 28

hội nền văn hóa xã hội, tạo ra sự phát triển tâm lý, hình thành 7 nhân cách Về đặcđiểm: Trong hoạt động dạy, GV là chủ thể của hoạt động giảng dạy, người nắm vữngmục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp dạy học, nắm vững quy luật nhận thức,thực hành và năng lực học tập của SV để tổ chức hướng dẫn SV học tập có kết quả Vềchức năng, như trên đã đề cập, trong dạy học truyền thống, chức năng bao trùm củahoạt động dạy, là tổ chức quá trình học cho người học với việc tiếp thu tri thức, kinhnghiệm mà loài người để lại cho thế hệ trẻ, hình thành kĩ năng hành động là mục tiêu,qua đó mà hình thành, phát triển các giá trị, phẩm chất, năng lực phát triển của ngườihọc (hệ quả) Tóm lại, dạy học được hiểu là hoạt động của người dạy và học trong sựtương tác lẫn nhau, đặc biệt tương tác về mặt tâm lý nhằm đạt mục đích dạy học, khinói tới hoạt động dạy của người GV, đồng thời nói tới hoạt động học của người SV,hoạt động dạy học là hoạt động kép Trong hoạt động học tập ở trường đại học, hoạtđộng học của SV ở đại học về bản chất, là quá trình nhận thức độc đáo có tính chấtnghiên cứu Trong hoạt động dạy học, SV vừa tồn tại với tư cách là đối tượng điềukhiển, đối tượng của hoạt động dạy, không ngừng phát huy cao độ tính tích cực nhậnthức, nhằm tiếp thu những tác động của thầy về nội dung tri thức, kĩ năng, kĩ xảo cóliên quan tới nghề nghiệp tương lai (khách thể của hệ thống điều khiển thầy - trò), vừatồn tại với tư cách là chủ thể có ý thức trong hoạt động học tập và rèn luyện Kết quảhọc tập của SV phụ thuộc vào ý thức, thái độ và sự nỗ lực cố gắng của chính bản thân

SV Do vậy, đòi hỏi sinh viên phải không ngừng phát huy vai trò chủ thể, chủ độngtương tác với GV nhằm qua đó thực hiện tốt, có hiệu quả các nhiệm vụ học tập

2.2.2 Sự cần thiết trong tương tác giữa giáo viên - giảng viên với học sinh - sinh viên

Trong khi xã hội ngày càng có sự đa dạng về thông tin và người học cũng có sựnhận thức đa chiều, ở các mức độ khác nhau thì sự tương tác giữa GV và HS - SV làđiều cần thiết trong việc khai thác, làm rõ nội dung bài học Vậy vì sao cần có sựtương tác giữa GV và HS - SV

Khác với phương pháp dạy học truyền thống, người dạy có vai trò chỉ đạo, áp đặtsách vở với người học Đối với phương pháp tương tác, người học ở vị trí trung tâm,tích cực học hỏi Trong đó, người dạy là người định hướng mục đích, phương phápcòn người học chủ động tiếp nhận và tư duy Người dạy sử dụng công nghệ thông tinnhư bảng tương tác thông minh, các phần mềm chuyên môn, powerpoint, hình ảnh,

Trang 29

clip minh họa, khai thác một cách hiệu quả và chuyên nghiệp về bài giảng Bên cạnh

đó, người dạy làm cho ngươi học chủ động tích cực tham gia thiết kế, xây dựng, giảiquyết các vấn đề bài học theo sự hướng dẫn của thầy Thậm chí HS - SV có thể nêunhững quan điểm, những lập luận khác biệt quan điểm của GV nhằm tranh luận trongtập thể để đi đến kết luận thống nhất

Thông qua sự tương tác giữa GV và HS - SV, hoạt động dạy và học sẽ thu lại đượcnhững kết quả nhất định

Thứ nhất, tạo điệu kiện cho GV hoàn thiện hoạt động dạy Một GV giỏi không chỉ

là người nắm chắc kiến thức chuyên ngành mà còn phải có phương pháp truyền đạt,khả năng khơi gợi cảm hứng học tập cho HS - SV Thông qua việc đặt câu hỏi, đưa ratình huống, tổ chức thảo luận nhóm, thu thập ý kiến nhằm đẩy mạnh tư duy củangười học, GV có thể truyền tải được các nội dung của bài học

Thứ hai, mang lại cho GV kinh nghiệm thực tiễn trong dạy học Với mỗi HS - SVhoặc nhóm HS - SV khác nhau thì khả năng tư duy, nhận thức là khác nhau Do đócách thiết lập mối liên hệ qua lại trong trao đổi của GV đối với HS - SV trở nên đadạng, phong phú

Thứ ba, giúp HS - SV phát huy khả năng độc lập và sáng tạo trong nghiên cứu tàiliệu Trên cơ sở định hướng của GV, HS - SV đọc, tìm hiểu các thông tin liên quan tớinội dung bài học và rút ra đánh giá của mình

2.2.3 Những cách thức tương tác giữa giáo viên - giảng viên với học sinh - sinh viên

2.2.3.1 Tương tác tâm lý giữa giáo viên - giảng viên với học sinh - sinh viên

Tương hợp tâm lý trong tương tác tâm lý giữa GV và HS - SV trên lớp học chính làquá trình cả hai trên lớp cùng điều hòa được mối quan hệ trên cơ sở của sự hiểu biết,hiểu thấu về đặc điểm thể chất - tâm lý, tôn trọng, chia sẻ, đồng cảm lẫn nhau giữa GV

và HS - SV từ đó mà tác động ảnh hưởng sâu đến thế giới tinh thần của nhau, tác độngtích cực đến tâm tư, tình cảm, thái độ tương tác của nhau trong hoạt động trên lớp học.Tâm lý của GV biểu hiện ở sự nắm bắt, hiểu biết, hiểu thấu về cảm xúc, về nhucầu, mong muốn, sở thích của HS - SV; Biểu hiện ở sự nắm bắt và hiểu biết về kinhnghiệm, sự hiểu biết, khả năng học tập của HS - SV; Biểu hiện ở sự cùng tương đồng

về quan điểm, suy nghĩ, cảm xúc với HS - SV; Biểu hiện ở sự chấp nhận sự khác biệt,

Trang 30

thân thiện, gần gũi với HS - SV; Biểu hiện ở sự nắm bắt, hiểu biết về điều kiện, hoàncảnh của HS - SV; Biểu hiện ở sự tôn trọng, thông cảm với HS - SV.

Tương tự, tâm lý của HS - SV biểu hiện ở sự nắm bắt, hiểu biết, hiểu thấu về cảmxúc, về nhu cầu, mong muốn, sở thích của GV; Biểu hiện ở sự nắm bắt và hiểu biết vềkinh nghiệm, sự hiểu biết, khả năng chuyên môn của GV; Biểu hiện ở sự cùng tươngđồng về quan điểm, suy nghĩ, cảm xúc với GV; Biểu hiện ở sự chấp nhận sự khác biệt,thân thiện, gần gũi với GV; Biểu hiện ở sự nắm bắt, hiểu biết về điều kiện, hoàn cảnhcủa GV; Biểu hiện ở sự tôn trọng, thông cảm với GV

Tương tác tâm lý giữa GV và HS - SV trên lớp là tương tác giữa cá nhân - cá nhân,

cá nhân - nhóm, với trọng trách thực hiện các nhiệm vụ dạy - học Do vậy, phối hợptrong tương tác tâm lý giữa GV và HS - SVlà quá trình GV và HS - SV sử dụng, thựchiện các kĩ năng trong tương tác với nhau một cách đồng bộ, ăn khớp (ăn ý) như: kĩnăng nói (diễn đạt); kĩ năng nghe (lắng nghe nhau); Kĩ năng bắt đầu một mối quan hệ(thiết lập); Kĩ năng tự chủ bản thân (tự chủ cảm xúc)… để có thể và giúp nhau nắmbắt, hiểu thấu những điều muốn trao đổi, truyền đạt, sẻ chia một cách rõ ràng nhằmđảm bảo quá trình tương tác trên lớp hiệu quả Như vậy, sự phối hợp trong tương táctâm lý trên lớp giữa GV và HS - SV thể hiện ở sự nhanh chóng kết nối được với nhau,nêu cao tinh thần hợp tác, biểu hiện ở kĩ năng biết lắng nghe nhau trong trao đổi, tròchuyện; biết diễn đạt thông tin đến nhau rõ ràng, dễ hiểu; biết đặt cái tôi và thể hiện cáitôi của bản thân đúng lúc, đúng chỗ trong tương tác qua thái độ tôn trọng nhau, chủđộng, nhiệt tình, sẵn sàng chia sẻ hợp tác với nhau trên tinh thần cùng đồng hành Xemxét sự phối hợp trong tương tác tâm lý giữa thầy - trò trên lớp phải dựa trên các kĩnăng mà các cá nhân sử dụng, thực hiện trong tương tác với nhau trên lớp

Biểu hiện qua kĩ năng thiết lập được mối quan hệ thầy - trò thân thiện, gần gũi, cởimở; Biểu hiện qua kĩ năng nghe và lắng nghe nhau trong tương tác; Biểu hiện qua kĩnăng sử dụng ngôn ngữ và diễn đạt ngôn ngữ cho nhau trong tương tác; Biểu hiện qua

kĩ năng bộc lộ, tự chủ, điều chỉnh cảm xúc của bản thân với đối tượng tương tác Trong tương tác tâm lý trên lớp giữa GV và HS - SV, nếu tạo được ảnh hưởng tíchcực sẽ có tác dụng tác động không chỉ đến nhận thức mà cả thái độ và hành vi của bảnthân cá nhân, làm các cá nhân thay đổi bản thân (theo lý thuyết tâm lý là diễn ra quátrình nhập tâm) Không những vậy, sự ảnh hưởng tâm lý tích cực trong tương tác giữa

GV và HS - SV trên lớp còn có tác dụng làm các cá nhân tăng nhu cầu, thay đổi thái

Trang 31

độ tích cực tương tác với nhau, tăng sự tương hợp, tăng sự phối hợp hành động tâm lýcùng nhau trong hoạt động tương tác, giúp quá trình đào tạo nhanh chóng đến đích.Ngược lại, tương tác giữa GV và HS - SV trên lớp nếu không tạo được sự ảnh hưởngtích cực, không có ảnh hưởng, ảnh hưởng âm tính sẽ làm trì hoãn, thậm chí khó có thểtiến hành, thực hiện một quá trình tương tác đúng nghĩa (tương tác là sự tác động qualại)

Ảnh hưởng của tâm lý GV trong tương tác với HS - SV biểu hiện qua sự học tập,hấp dẫn, lôi cuốn; Biểu hiện ở sự thỏa mãn, hài lòng của GV về HS - SV; Biểu hiện ở

sự tin cậy; Sự trân trọng, tự hào; Sự trách nhiệm, nhiệt huyết đối với HS - SV

Ảnh hưởng của tâm lý HS - SV trong tương tác với GV biểu hiện qua sự học tập,hấp dẫn, lôi cuốn; Biểu hiện ở sự thỏa mãn, hài lòng của sinh viên đối với GV; Biểuhiện ở sự tin tưởng; Sự kính trọng, tự hào; Biểu hiện ở sự trưởng thành

2.2.3.2 Tương tác gián tiếp

Ngoài giờ học trên lớp GV có thể dành thời gian để tương tác với HS - SV qua tinnhắn hoặt trao đổi qua internet, cũng như giúp HS - SV tìm hiểu thêm các nguồn tài

Trang 32

liệu bên ngoài vừa nâng cao hiệu quả học tập, giúp HS - SV đi đúng hướng và giải đápđược những thắc mắc mà ở lớp học không có thời gian hay điều kiện để trao đổi GVcũng gây được thiện cảm và gần gũi hơn với HS - SV.

2.2.4 Biểu hiện của sự tương tác hiệu quả giữa giáo viên giảng viên và học sinh sinh viên

-2.2.4.1 Mối tương tác tâm lý

Các nỗ lực của GV để hỗ trợ hoạt động xã hội và tâm lý của HS - SV trong lớp,thông qua việc tạo thuận lợi tích cực cho sự tương tác của GV và HS - SV là nhữngyếu tố chính trong thực tiễn lớp học hiệu quả “Khi cha mẹ hỗ trợ tinh thần và môitrường có thể dự đoán được, nhất quán và an toàn, trẻ em sẽ trở nên tự lập hơn và cóthể liều lĩnh khi khám phá thế giới bởi vì họ biết rằng người trưởng thành sẽ ở đó đểgiúp đỡ họ nếu họ cần nó” - Ainsworth và cộng sự, 1978, Bowlby, 1969 Lý thuyếtnày đã được áp dụng rộng rãi và được chứng thực trong môi trường học tập Trongsuốt thời gian học tập, những HS - SV kết nối tình cảm với GV và bạn cùng lớp tỏ ratích cực về sự phát triển trong cả lĩnh vực xã hội và học thuật

2.2.4.2 Môi trường tâm lý

Môi trường học tập có thể được mô tả theo chiều kích tích cực và tiêu cực Môitrường tích cực bao gồm mức độ mà HS - SV trải qua những mối quan hệ với ngườilớn và bạn đồng trang và tận hưởng thời gian họ ở trong lớp Môi trường tiêu cực lànhững nơi mà HS - SV gặp phải thường xuyên hét lên, sỉ nhục, hoặc kích thích trongcác tương tác với GV và bạn bè Khía cạnh môi trường đã được nghiên cứu nhiều nhấttrong 10 năm qua là tính chất và chất lượng của mối quan hệ tương tác giữa các GV và

HS - SV Có bằng chứng mạnh mẽ cho sự thành công của các mối quan hệ giữa GV và

HS - SV là một ngữ cảnh quan trọng cho sự phát triển của con người; mối quan hệgiữa GV và HS - SVcó liên quan đến năng lực của bạn bè và các quỹ đạo cho thànhcông học vấn hay thất bại Có bằng chứng cho thấy các GV nhất định có khuynhhướng phát triển mối quan hệ tích cực hơn, trên nhiều HS - SV trong lớp học của họ,hơn những người khác HS - SV trong các lớp học với mức hỗ trợ GV cao hơn có mức

độ chấp nhận đồng đẳng và tham gia lớp học cao hơn so với các bạn cùng lớp trongcác lớp học ít hỗ trợ hơn, thậm chí sau khi kiểm soát từng cấp độ hỗ trợ GV

2.2.4.3 Tâm lý của giáo viên - giảng viên

Trang 33

GV phải được hòa hợp và đáp ứng với những gợi ý cá nhân và nhu cầu của HS

-SV trong lớp học của họ, một chiều hướng giảng dạy được nhắc tới ở đây là sự nhạycảm của GV Các GV có độ nhạy cảm cao, thông qua các tương tác nhất quán, kịp thời

và đáp ứng của họ, giúp HS -SV xem giáo viên làm tài nguyên và tạo môi trường trong

đó HS - SV cảm thấy an toàn và tự do khám phá và tìm hiểu Giáo dục nhạy cảm đòihỏi GV phải tham gia, xử lý và phản hồi rất nhiều thông tin đồng thời Ví dụ, trongsuốt quá trình giảng dạy, một GV tâm lý có thể nhận thấy một số HS - SV không chútâm hay ghi nhận được thái độ tích cực của một sinh viên khi trả lời đúng một câu hỏi

GV tâm lý không chỉ thông báo những tín hiệu tinh tế của HS - SV, mà còn biết các

HS - SV của mình đủ mạnh để đáp ứng những cách giúp giảm bớt các vấn đề của họ.Chẳng hạn, GV có thể thay đổi giọng điệu để gây chú ý đối những HS - SV khôngtham gia, dành một chút thời gian để lặp lại câu hỏi bằng ngôn ngữ đơn giản và ghinhớ để kiểm tra cùng với HS - SV Ngược lại, một GV vô cảm hoàn toàn có thể bỏ lỡnhững tín hiệu tinh tế hoặc phản ứng bằng cách làm trầm trọng hơn là giảm bớt cácvấn đề của HS - SV HS - SV trong lớp học với các GV tâm lý sẽ tham gia nhiều hơn

và tự lực trong lớp học Việc giảng dạy nhạy cảm là điều quan trọng không chỉ đối vớikết quả xã hội, mà còn cho kết quả học tập Thời gian nhạy cảm và đáp ứng với nhữnggợi ý của HS - SV, có lẽ là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của sự tươngtác liên quan đến sự tham gia vì những hành vi này của GV có nghĩa đen là mức độhiệu chuẩn trong việc tạo cho HS - SV cơ hội

2.2.4.4 Xem xét các quan điểm của học sinh - sinh viên

Mảng cuối cùng của hỗ trợ tâm lý là cấp độ của lớp học và mức độ tương tác đượchình thành xung quanh sở thích và động lực của GV, dưới cái nhìn của HS - SV.Trong một số lớp học, GV thường hỏi ý kiến và ý tưởng của HS - SV, theo dõi sự dẫndắt của HS - SV, và tạo cơ hội cho HS - SV đóng vai trò thiết yếu trong lớp học Trongnhững lớp học này, HS - SV không chỉ được phép nói chuyện mà còn được khuyếnkhích để nói chuyện với nhau Ở những lớp học truyền thống, GV chỉ tuân theo các kếhoạch kịch bản trong ngày, ít quan tâm hay phản ứng lại với mong muốn và nhu cầucủa HS - SV, và cung cấp ít cơ hội cho HS - SV bày tỏ suy nghĩ của mình hoặc chịutrách nhiệm cho các hoạt động trong lớp học HS - SV thường báo cáo những trảinghiệm, cảm xúc tích cực hơn về trường học, về GV khi mà GV tiếp động lực và thamgia hướng dẫn tập trung vào HS - SV

Trang 34

- SV tích cực tham gia các hoạt động trong lớp học Do đó, mức độ tương tác giữa GV

và HS - SV được phản ánh trong phạm vi của tổ chức lớp học bao gồm quản lý hành vihiệu quả, năng suất và các định dạng học tập

2.2.4.6 Quản lý hành vi hiệu quả

Quản lý hành vi là một thuật ngữ thường được áp dụng cho nhiều chiến lược quản

lý lớp học, bao gồm khả năng của GV để thu hút HS - SV Quản lý hành vi được địnhnghĩa hẹp hơn là các tương tác GV có chủ ý để thúc đẩy hành vi tích cực và ngăn ngừahoặc chấm dứt hành vi sai trái trong lớp học Có một sự nhất trí chung chung về mộttập hợp các thực tiễn liên quan đến hành vi tích cực của HS - SV, bao gồm: cung cấp

kỳ vọng hành vi rõ ràng và nhất quán; giám sát lớp học về các vấn đề tiềm ẩn và chủđộng ngăn ngừa các vấn đề hơn là phản ứng; chuyển hướng hành vi tiêu cực khiến chochúng nhỏ hơn trước khi leo thang; sử dụng các chiến lược tích cực, chủ động như cangợi hành vi tích cực hơn là nhấn mạnh đến hành vi sai; dành một khoảng thời gian tốithiểu cho các vấn đề quản lý hành vi Hầu hết các nghiên cứu về quản lý hành vi đượcthực hiện bởi các nhà nghiên cứu về sản phẩm trong thập kỷ 70 và 80 với các nghiêncứu liên quan đến 17 mối quan hệ giữa GV và HS - SV cho thấy rằng các lớp học cóquản lý hành vi tích cực có xu hướng có những HS - SV tiến bộ hơn trong học tập Cácnghiên cứu cho thấy các GV có những phương pháp quản lý hành vi tích cực thườngđạt được nhiều hiệu quả hơn GV trong các nhóm kiểm soát, mệnh lệnh để HS - SVtham gia và học tập Tuy nhiên các nhà nghiên cứu vẫn chưa xem xét mức độ mànhững chiến lược hành vi cụ thể này gắn liền với khái niệm mới hơn về hành vi họctập tự điều chỉnh, mặc dù các nghiên cứu trước đây đều cho thấy mối liên hệ rõ ràng

2.2.4.7 Quản lý thời gian hiệu quả

Trong các lớp học hiệu quả, giáo viên không chỉ là nhà quản lý hành vi có hiệuquả, mà còn được tổ chức tốt, dành ít thời gian cho các hoạt động quản lý cơ bản như

đi học hoặc đi chơi, thu thập bài tập về nhà và chuẩn bị cho các hoạt động giảng dạy

Trang 35

để ít mất thời gian trong quá trình chuyển đổi Các lớp học hiệu suất cao có thể giốngvới một "chiếc máy dầu mỡ", trong đó tất cả mọi người trong lớp dường như biếtnhững gì họ mong đợi và làm thế nào để thực hiện nó Ngược lại, khi GV không quản

lý thời gian một cách hiệu quả, HS - SV có thể dành thời gian bất thường để tìm kiếmtài liệu, chờ đợi cho các hoạt động tiếp theo, hoặc chỉ đơn giản ngồi xung quanh Cácnhà nghiên cứu đã tập trung chú ý vào tầm quan trọng của việc quản lý thời gian, cungcấp bằng chứng nhất quán cho thấy HS - SV tham gia nhiều nhất vào các lớp học hiệuquả, và sự tham gia này lần lượt liên quan trực tiếp đến việc học của HS - SV Một sốnghiên cứu gần đây cho thấy các GV quan sát việc thúc đẩy các lớp học hiệu quả dànhnhiều thời gian hơn để tạo ra các hoạt động hiệu quả vào đầu năm học và đầu tư sớmnày sẽ mang lại cho HS - SV và GV bằng cách cho phép họ dành ít thời gian hơn choquá trình chuyển đổi và nhiều thời gian hơn các hoạt động được quản lý HS - SV

2.2.4.8 Các định hướng học tập giảng dạy

Mô hình định hướng học tập hướng về tương tác trực tiếp tập trung vào mức độ

GV cung cấp các hoạt động thú vị, hướng dẫn, cung cấp tài liệu và tạo điều kiện thuậnlợi cho các sinh hoạt này để HS - SV tích cực tham gia qua các phương thức khácnhau Phù hợp với các lý thuyết xây dựng cũng như các quan điểm xử lý thông tin vềhọc tập và nhận thức (các quy tắc hướng dẫn nên khuyến khích sự tham gia tích cựcvào một cơ hội học tập cụ thể như vậy HS - SV không chỉ tham gia hành vi mà còntham gia vào nhận thức Trong lớp học hạn chế về khía cạnh này, GV thường dựa vàomột định dạng, thường là thuyết trình, và không định hướng, hướng dẫn hoặc cung cấp

cơ hội tương tác thúc đẩy sự tham gia của HS - SV Một lần nữa, định hướng pháttriển không chỉ phụ thuộc vào loại chỉ dẫn hoặc số lượng tài liệu mà GV sử dụng mà làhiệu quả của GV tương tác với việc giảng dạy và tài liệu để thu hút HS - SV

2.2.4.9 Tương tác trong giảng dạy

Các phương pháp giảng dạy đã được chú ý nhiều trong những năm gần đây, khinhấn mạnh đến việc dịch thuật khoa học nhận thức, học tập và nghiên cứu phát triểnsang môi trường giáo dục Cơ sở lý thuyết cho việc khái niệm hóa các hỗ trợ giảng dạychủ yếu là từ nghiên cứu về phát triển nhận thức và ngôn ngữ Nghiên cứu này làm nổibật sự khác biệt giữa chỉ đơn giản là việc học theo chương trình và đạt được “kiến thức

có thể sử dụng được”, được xây dựng dựa trên việc học được kết nối với nhau như thếnào, được tổ chức và có điều kiện với nhau như thế nào Sự phát triển ngôn ngữ và

Trang 36

nhận thức của HS - SV phụ thuộc vào những cơ hội mà người lớn cung cấp để thể hiệnnhững kỹ năng hiện có và những điều kiện phức tạp hơn Sự phát triển của kỹ năng

"siêu nhận thức", hoặc nhận thức và hiểu biết về các quá trình tư duy của một người

cũng rất quan trọng Nghiên cứu của Donovan & Bransford (2005) tóm tắt các nghiên

cứu trên nhiều lĩnh vực để nhấn mạnh các chiến lược giảng dạy cụ thể như thế nào cóthể thúc đẩy sự phát triển của sinh viên và áp dụng các kỹ năng tư duy cốt lõi này.Tương tác giữa GV và HS - SV không chỉ thúc đẩy sự tham gia mà còn là kết quả họctập của HS - SV

2.2.4.10 Phát triển từ những khái niệm

Thông qua các hoạt động giảng dạy, các cuộc trò chuyện, GV thúc đẩy sự pháttriển của HS - SV về các khái niệm và các kỹ năng tư duy bậc cao Trong một phần

mở rộng của Taxonomy của Bloom (Bloom, Engelhart, Furst, Hill, và Krathwohl,

1956), Mayer (2002) cung cấp một mô tả hữu ích về các phương pháp giảng dạy và

học tập liên quan đến sự phát triển của các kỹ năng nhận thức Theo Mayer, học hỏiđòi hỏi không chỉ việc thu nhận kiến thức (duy trì), mà còn khả năng tiếp cận và ápdụng kiến thức này trong các tình huống mới (chuyển giao) GV có thể tạo điều kiệnthuận lợi cho quá trình chuyển tiếp này bằng cách cung cấp cho HS - SV những cơ hộiđể: hiểu - xây dựng kết nối giữa kiến thức mới và kiến thức trước; áp dụng - sử dụngthủ tục và kiến thức để giúp giải quyết những vấn đề mới; phân tích - chia tách thôngtin thành các phần có ý nghĩa; đánh giá - đưa ra các kết luận dựa trên tiêu chí hoặc tiêuchuẩn; và tạo ra những mảng kiến thức liên quan để tạo ra những ý tưởng mới Nhữngđặc điểm này của sự tham gia nhận thức của HS - SV được thúc đẩy trực tiếp thôngqua các tương tác giữa GV và HS - SV Ở góc độ cao của chiều hướng này, GV lànhững người tạo ra cơ hội, không chỉ lên kế hoạch theo những cách mà sẽ kích thích tưduy bậc cao, mà họ tận dụng những cơ hội trong tương tác hằng ngày để thúc đẩy HS -

SV theo đuổi suy nghĩ chuyên sâu hơn Ngược lại, trong lớp học hạn chế về phát triểnkhái niệm, sự tương tác giữa GV và HS - SV tập trung vào việc ghi nhớ các sự kiệnhoặc các tác vụ đơn giản mà chúng phải nhận biết hoặc thu hồi thông tin Các tươngtác kích thích sự phát triển khái niệm sẽ tạo ra thành công lớn hơn cho HS - SV Theo

Brophy (1986), điều này không đòi hỏi tất cả các câu hỏi của GV là những câu hỏi

chuyên sâu, nhưng có sự cân bằng trong đó khiGV sử dụng các câu hỏi sâu để giúp tậptrung sự chú ý của HS - SV vào quá trình học hơn là chỉ duy nhất là truyền đạt Trong

Trang 37

một nghiên cứu gần đây, Taylor và các đồng nghiệp (2003) đã kiểm tra vai trò của các

phương pháp này trong 88 lớp học trên Hoa Kỳ Họ đã quan sát trong suốt một năm vàkiểm tra sự tăng trưởng của 9 học sinh được chọn ngẫu nhiên trong mỗi lớp học Cácquan sát của họ bao gồm các phương pháp hỗn hợp, trong đó họ thu thập thông tinđịnh lượng về các loại và tần suất các câu hỏi được sử dụng bởi GV, cũng như thôngtin chi tiết về thực hành của GV Kết quả cho thấy trẻ em trong lớp học mà trong đó

GV nhấn mạnh các kỹ năng tư duy bậc cao, thông qua các câu hỏi và các hoạt động,cho thấy sự tăng trưởng cao trong suốt các năm học

2.2.4.11 Phản hồi, nhận xét về học sinh - sinh viên của giáo viên - giảng viên

Để nhận được nhiều lợi ích nhất từ các cơ hội giảng dạy được mô tả ở trên, HS

-SV cần phản hồi về việc học của mình Thông tin phản hồi đề cập đến một loạt các sựtương tác của GV và HS - SV trong đó GV cung cấp một số thông tin cho HS - SV vềhiệu suất hoặc nỗ lực của họ Nghiên cứu về phản hồi thông thường tập trung vào việckhen ngợi, phản hồi về hành vi hoặc phản hồi về ý kiến, trong đó GV đưa ra lời nhậnxét cho HS - SV về kết quả học tập của họ Trọng tâm của việc phản hồi là cung cấpcho HS - SV thông tin cụ thể về nội dung hoặc quá trình học tập Thông tin phản hồiđược xem là chất lượng cao được mô tả như là sự truyền đạt của GV cung cấp cho HS

- SV những thông tin cụ thể không chỉ là có hay không, đúng hay sai, mà về cách họ

có thể tìm được câu trả lời đúng, làm thế nào họ có thể thực hiện ở mức cao hơn Các

GV cung cấp phản hồi thường xuyên hoặc trao đổi luân hồi, trong đó một GV trả lờinhận xét ban đầu của sinh viên bằng cách tham gia với HS - SV, hoặc nhóm HS - SV,với sự nỗ lực bền vững để đạt được sự kết quả tốt hơn

2.3 Những yếu tố ảnh hưởng tới sự tương tác giữa giáo viên - giảng viên và học sinh - sinh viên

Tầm quan trọng của việc nghiên cứu sự tương tác giữa một cá nhân và môi trườngcủa họ khi điều tra các hiện tượng phát triển đòi hỏi cách tiếp cận phân tích đa phươngthức Nói cách khác, để định tính mối quan hệ giữa GV và HS - SV phải sử dụng nhiềuphương pháp đo lường Các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa GV và HS - SV

đã nhấn mạnh đặc điểm của HS - SV là các dự đoán, với sự thiếu tập trung vào các đặcđiểm của GV ảnh hưởng đến mức độ gần gũi trong các mối quan hệ này Ví dụ, địnhhướng học tập của HS - SV, các hành vi trong lớp và năng lực xã hội là những điểmnghiên cứu điều tra sự thay đổi trong quan hệ giữa GV và HS - SV Mặc dù HS - SV

Trang 38

ảnh hưởng rất lớn mối quan hệ giữa GV và HS - SV, nhưng các đặc điểm của GVcũng ảnh hưởng đến mối liên kết này Nghiên cứu này tập trung vào sự tương tác giữa

HS - SV và GV bằng cách xem xét từ hai phía: HS - SV và GV

2.3.1 Những yếu tố ảnh hưởng tới mức độ tương tác giữa giáo viên - giảng viên

và học sinh - sinh viên

2.3.1.1 Ảnh hưởng từ phía học sinh - sinh viên

a Giới tính

Nhiều nghiên cứu tại Mỹ ở các trường mẫu giáo, tiểu học hay trung học cho thấycác giáo viên cảm thấy gần gũi hơn với bé gái hơn so với các bé trai Ở các cấp họcnhỏ, bé trai thường hiếu động và mạnh mẽ hơn so với các bé gái - nhẹ nhàng, haykhóc, chính vì thế, bé gái thường gần gũi với các cô giáo hơn Lên các cấp học caohơn, sự chênh lệch đã được giảm bớt do sự lớn lên về nhận thức, ý thức của học sinh

Cụ thể ở đây là cấp THPT và cấp đại học, nhìn chung tất cả các HS - SV trong một lớpluôn bình đẳng với nhau trong các mối quan hệ với các GV, nhưng xét trên phươngdiện giới tính thì vẫn có sự khác biệt do đặc thù của hai giới tính, dẫn tới những sựkhác nhau về mối quan hệ tương tác giữa GV và HS - SV của hai giới tính này

b Tình trạng kinh tế xã hội

Theo nghiên cứu tại Mỹ của Ladd, Birch và Buhs (1999) nhận thấy rằng trẻ em cótình trạng kinh tế xã hội thấp hơn có mối quan hệ ít gần gũi với giáo viên hơn nhữngngười bạn giàu có khác Mối quan hệ tương tác của GV và HS - SV mang bản chất làmột tương tác xã hội, chính vì vậy, hoàn cảnh gia đình nói riêng và tình trạng kinh tế

xã hội nói chung của mỗi HS - SV khác nhau cũng sẽ dẫn tới sự khác nhau của cácmối quan hệ

Trang 39

giống như sinh viên, GV nữ và GV nam cũng có những điểm khác nhau trong sinh họcdẫn tới sự khác nhau về phương thức giảng dạy và tiếp cận với SV.

b Độ tuổi

Tuổi tác có ảnh hưởng rất lớn trong các mối tương tác xã hội nói chung Ở các độtuổi khác nhau hình thành các quan niệm sống, các suy nghĩ khác nhau Việc khácnhau về độ tuổi hay thế hệ của các GV tạo nên sự khác nhau trong cách thức tương tácvới HS - SV Số năm kinh nghiệm cũng có tác động lớn tới quan điểm và hành vitương tác với HS - SV của GV

2.3.2 Những yếu tố ảnh hưởng tới tính hứng thú trong tương tác giữa giáo viên giảng viên và học sinh - sinh viên

-2.3.2.1 Thành tích của học sinh - sinh viên

Qua nhiều nghiên cứu, thành tích của HS - SV có tương quan trái chiều với sự chỉtrích của GV Nói cách khác, HS - SV giỏi trong trường học nhận được ít lời chỉ tríchcủa GV hơn những người bạn kém hiệu quả hơn Ở cấp đại học, SV với nhiều thànhtích sẽ có sự tương tác tích cực với GV hơn các SV khác Điều này hình thành từ chínhhành vi, thói quen của các SV khiến cho họ đạt được nhiều thành tích Hơn nữa, sựtích cực của mối quan hệ này còn ảnh hưởng bởi phía tâm lý chủ quan GV

2.3.2.2 Năng lực xã hội

Nghiên cứu Pianta và Stuhlman (2004) cho thấy SV có năng lực xã hội cao sẽ có

nhu cầu tương tác với GV nhiều hơn so với sinh viên có năng lực xã hội kém hơn.Điều này liên quan đến khả năng diễn đạt cũng như kĩ năng mềm của HS - SV.Những người có trong mình sự tự tin, biết bày tỏ ý kiến và kiến thức xã hội tốt sẽ cónhu cầu tranh luận, trao đổi nhiều hơn Còn những người khép kín rụt rè chưa hẳn đãkém hơn nhưng sẽ ít hứng thú với hoạt động tương tác hơn Tốt hơn hết, chúng ta nêntrau dồi và tích luỹ kĩ năng, tri thức cho bản thân về mọi mặt, phát triển một cách toàndiện giúp ta giải quyết được khó khăn trong học tập và làm việc trên mọi lĩnh vực

2.3.3 Những yếu tố ảnh hưởng tới tính ngưỡng mộ trong tương tác giữa giáo viên

- giảng viên và học sinh - sinh viên

“Không thầy đố mày làm nên” - thầy cô giáo luôn đóng một vai trò hết sức quantrọng trong sự nghiệp giáo dục Vai trò ấy là không thể thay thế, cho dù ngày nay,nhiều phương tiện, trang thiết bị hiện đại đã được áp dụng để hỗ trợ quá trình dạy học

Trang 40

Trong môi trường giáo dục, tìm hiểu về một khái niệm cụ thể của một đối tượngbất kỳ là một công việc rất dễ dàng, nhưng nó sẽ là rất khó khăn khi phải trình bày,giảng giải như thế nào đó để cho học sinh có thể hiểu Nói như vậy có nghĩa là, côngviệc của giáo viên là phải đơn giản hóa các chủ đề của giáo dục bằng khả năng giảngdạy của mình Để dạy một đứa trẻ chưa hề có một hình dung và một sự hiểu biết nhấtđịnh nào là một nhiệm vụ rất khó khăn Tìm hiểu tầm quan trọng của giáo viên chính

là đề cập đến những vấn đề cốt lõi của giáo dục trong ý nghĩa thực sự của từ này Mộttrong những phẩm chất đầu tiên mà giáo viên cần phải có được đó là tạo được tâm lýthoải mái trong khi giao tiếp với sinh viên Truyền thông cần được thực hiện từ cả haiphía, nếu chỉ xuất phát một chiều, nó sẽ không được gọi là tương tác lành mạnh Sửdụng các phương pháp giảng dạy để cải thiện sự tương tác giữa giáo viên - sinh viêncũng là một biện pháp hữu ích, làm cho kiến thức được luân chuyển Nói chuyện vớihọc sinh và sau đó làm cho họ cảm thấy thoải mái khi trò chuyện là một phẩm chất cần

có của một giáo viên Một giáo viên giỏi có thể làm cho sinh viên tự tin và giúp họ cóđược tính cách mạnh mẽ Dạy học sinh quản lý thời gian cũng như những điều quantrọng khác trong cuộc sống là một phần công việc của giáo viên Với kỹ thuật quản lýlớp học đặc biệt, việc giảng dạy cũng như môi trường học tập lành mạnh, sự tin tưởng,tôn trọng của sinh viên dành cho giáo viên ngày càng tăng lên Khi có sự tôn trọng đốigiáo viên của mình, các sinh viên sẽ dễ dàng nghe lời họ Và không thể phủ nhận rằng,giáo viên có ảnh hưởng lớn thứ hai trong cuộc sống của chúng ta, sau bố mẹ

Trong đời sống hàng ngày, khi cuộc sống của chúng ta gặp khó khăn, nếu không cóđộng lực thúc đẩy, bạn sẽ khó có thể vượt qua Đối với học sinh, những khó khăn vànhững thay đổi về tâm sinh lý sẽ làm cuộc sống của họ bị đảo lộn, họ luôn cần sự giúp

đỡ Đôi khi, cha mẹ không hiểu rõ nhu cầu cụ thể của con em mình và nảy sinh mâuthuẫn Do đó, một trong những chiến lược giảng dạy hiệu quả là tổ chức các lớp họctheo kiểu trao đổi, đối thoại Qua đó, học sinh có thể cởi mở với giáo viên những khúcmắc về cuộc sống cá nhân cũng như những vấn đề về học tập Có một số giáo viêngiúp đỡ học sinh của mình thông qua việc tư vấn cho phụ huynh, giải thích những vấn

đề chúng gặp phải, có như thế mới giúp cha mẹ chúng hiểu thêm về con cái của mình.Một giáo viên có thể là nguồn cảm hứng cho hàng triệu người mà họ không hề haybiết Với cách giảng dạy, kết nối và đưa ra sản phẩm tốt nhất, giáo viên đóng vai tròquan trọng trong việc tạo ra cảm hứng cho học sinh Và trên thực tế, đã có rất nhiều

Ngày đăng: 30/12/2021, 15:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w