Bài báo trình bày kết quả tính toán phân bố dòng chảy dọc bờ do sóng đổ nhào phía ngoài đầm Ô Loan thuộc vùng biển Tuy An, Phú Yên ứng với các đợt gió mùa điển hình cấp 6 (Vnk = 13 m/s, hướng Đông Bắc (NE), Đông (E) và Đông Nam (SE).
Trang 117
Tuyển Tập Nghiên Cứu Biển, 2013, tập 19: 17-26
PHÂN BỐ DÒNG CHẢY DỌC BỜ DO SÓNG ĐỔ NHÀO TRONG CÁC TRƯỜNG GIÓ ĐIỂN HÌNH TẠI VÙNG BIỂN
TUY AN, PHÚ YÊN
Đỗ Như Kiều1, Lê Đình Mầu2
1
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia TP HCM
2
Vi ện Hải dương học, Viện Hàn lâm Khoa học & Công nghệ Việt Nam
Tóm tắt Bài báo trình bày kết quả tính toán phân bố dòng chảy dọc bờ do sóng đổ
nhào phía ngoài đầm Ô Loan thuộc vùng biển Tuy An, Phú Yên ứng với các đợt gió mùa điển hình cấp 6 (Vnk = 13 m/s, hướng Đông Bắc (NE), Đông (E)
và Đông Nam (SE) So sánh độ chính xác của 2 công thức thực nghiệm tính tốc độ dòng chảy dọc bờ do sóng đổ nhào theo qui phạm bảo vệ bờ biển của Hải quân Mỹ (SPM, 1984) và Rattanapitikon – Shibayama (2006) với số liệu thực đo Kết quả tính toán cho thấy công thức Rattanapitikon – Shibayama (2006) khá phù hợp Với sóng hướng NE: dòng có hướng từ bắc xuống nam với vận tốc đạt giá trị cực đại 0,7 m/s tại cửa An Hải và tại vị trí cách cửa An Hải khoảng 2 km về phía nam Với sóng hướng E, nhìn chung dòng có hướng từ nam lên bắc, xuất hiện các điểm hội tụ dòng có vận tốc nhỏ hơn 0,1 m/s Vận tốc dòng đạt giá trị cực đại 0,91 m/s tại cửa An Hải Tại cửa Lễ Thịnh dòng có vận tốc từ 0,25 đến 0,5 m/s Với sóng hướng SE, dòng có hướng từ nam lên bắc và vận tốc dòng lớn hơn so với các trường hợp sóng hướng NE và E Vận tốc dòng cực đại 1,02 m/s tại cửa An Hải Khu vực hội
tụ sóng có vận tốc từ 0,5 đến 0,7 m/s
DISTRIBUTION OF LONGSHORE CURRENT INDUCED BY BREAKING WAVE CORRESPONDING TO TYPICAL WIND CONDITIONS ALONG
TUY AN COAST, PHU YEN PROVINCE
Do Nhu Kieu1, Le Dinh Mau2
1
University of Science, Vietnam National University – Ho Chi Minh City
2
Institute of Oceanography, Vietnam Academy of Science & Technology
Abstract This paper presents the calculated results of wave and longshore current
induced by breaking wave along Tuy An coast, Phu Yen province corresponding to typical wind conditions (Vnk = 13 m/s in NE, E and SE directions) Comparing the accuracy degree between two experimental formulae of SPM (1984) and Rattanapitikon–Shibayama (2006) for calculation of longshore current induced by breaking wave and the practical data Study results show that Rattanapitikon–Shibayama formula is more suitable for calculation of longshore current induced by breaking wave in Tuy An area For NE wave direction, the current flows from north to south The maximum current velocity is 0.7 m/s at An Hai inlet and the position from An Hai inlet about 2 km towards south For E wave direction, the current flows from south to north and appear the convergence points with
Trang 218
small velocity, less than 0.1 m/s The maximum current velocity is 0.91 m/s
at An Hai inlet The current velocity is from 0.25 to 0.5 m/s around Le Thinh inlet For SE wave direction, the current flows from south to north The current velocity attains the highest value in three calculated cases The maximum current velocity is 1.02 m/s at An Hai inlet The velocity in the area where occurs convergent phenomenon is from 0.5 to 0.7 m/s
I MỞ ĐẦU
Việc nghiên cứu cơ chế hình thành cũng
như tính toán phân bố dòng chảy dọc bờ do
sóng đổ nhào đã và đang thực hiện bởi
nhiều tác giả khác nhau Đồng thời, các tác
giả cũng đưa ra một số công thức khác nhau
cho việc tính toán nhưng hầu hết đều là các
công thức thực nghiệm như: Longuet–
Higgins (1970), Komar và Inman
(1970), Galvin (1987), Rattanapitikon và
Shibayama (2006) Các công thức trên được thể hiện ở Bảng 1 Ngoài ra, một số mô hình động lực khác cũng được tích hợp thêm module tính dòng dọc bờ do sóng đổ nhào như: mô hình hoàn lưu ven bờ SYMPHONIE, mô hình động lực ven bờ MORPHODYN hoặc được tính toán dựa trên các phương trình cân bằng năng lượng
và phương trình liên tục
Bảng 1 Một số công thức thực nghiệm tính dòng dọc bờ do sóng đổ nhào
Table 1 Some experimental formulae for calculation of longshore current induced
by breaking wave
1970 Longuet – Higgins L 58 bsin bcos b
f
S
C
π ς
H bs : độ cao sóng vỡ có
nghĩa (m)
S: độ dốc
h b: độ sâu sóng vỡ (m)
γ : chỉ tiêu sóng vỡ
C f: hệ số ma sát kéo
αb: góc sóng vỡ (độ)
H 0 : độ cao sóng nước sâu
(m)
L 0: chiều dài sóng nước sâu (m)
k b: số sóng trong vùng sóng vỡ
T: chu kì sóng (s)
1970 Komar và Inman
/
=
1984 Longuet –Higgins (trong SPM, 1984) v L= 20.7S gH bsin(2 )αb
1999
Pilirczyk
(trong Kamran và
cs., 2012)
sin 2
v =K gH α
L
K = 0.3 ÷ 0.6
2006 Rattanapitikon –
Shibayama
ˆ
0.83 2
0 2
0
ˆ
tanh
b b
b b
u
π
Tại Việt Nam, hiện nay có rất ít nghiên
cứu và tính toán về dòng chảy dọc bờ do
sóng đổ nhào Các tính toán này hầu hết
dựa trên các nghiên cứu, giả thiết của
Longuet–Higgins (trong SPM, 1984) và
phần lớn chỉ mang tính chất định tính vì chỉ
đúng về hướng, riêng độ lớn vận tốc dòng
có sự khác biệt tương đối lớn so với số liệu
thực đo như: “Đặc điểm phân bố các đặc trưng sóng tại vịnh Nha Trang trong các trường gió mùa điển hình” (Lê Đình Mầu
và cs., 2010) “Đặc điểm phân bố các đặc trưng sóng tại vùng biển Lagi (Bình Thuận)
và tác động của chúng đến quá trình xói lở – bồi tụ” (Lê Đình Mầu, 2010) Trong bài báo này, phân bố dòng chảy dọc bờ do sóng
Trang 319
đổ nhào trong các điều kiện gió mùa điển
hình được tính toán theo quy trình như sau:
- Xác định các đặc trưng sóng ngoài khơi
vùng biển Tuy An từ các đặc trưng gió
thống kê tại trạm Tuy Hòa: 1988 – 2007
(Hình 2) bằng mô hình Dolphin (Mandal và
Holthuijsen, 1985)
- Xác định các đặc trưng sóng ven bờ
bằng mô hình SWAN (Holthuijsen và cs.,
2003) với các điều kiện biên là sóng ngoài
khơi, gió địa phương và phân bố độ sâu
vùng nghiên cứu
- Tính vận tốc dòng dọc bờ do sóng đổ
nhào bằng 2 mô hình thực nghiệm:
Longuet–Higgins (trong SPM, 1984) và
Rattanapitikon–Shibayama (2006) Trong
đó, mô hình Longuet–Higgins là một trong
những mô hình đơn giản nhất, được phát
triển sớm nhất là công thức chuẩn để tính
tốc độ dòng dọc bờ do sóng đổ nhào của
Hải quân Mỹ Tuy nhiên, hệ số thực nghiệm
dao động rất lớn, điều này yêu cầu phải có
nhiều số liệu đo đạc thực địa đồng bộ nhằm
xác định chính xác hệ số thực nghiệm này
Mô hình Rattanapitikon–Shibayama mới
hơn, hiện đại hơn, có xét đến nhiều quá
trình có liên quan hơn Thường mô hình Longuet–Higgins phù hợp hơn cho vùng biển thoáng, điều kiện sóng mạnh (bên bờ đại dương) nên nó cho tốc độ dòng lớn hơn thực tế nếu áp dụng tại Việt Nam Trong nghiên cứu này, cả hai mô hình đều được tiến hành tính toán và so sánh với số liệu thực đo Từ đó, chọn công thức phù hợp để tính toán cho khu vực nghiên cứu
Phạm vi tính toán được thể hiện trong Hình 1 Địa hình khu vực nghiên cứu là vùng biển nông ven bờ, có địa hình đáy khá phức tạp Độ dốc giảm dần từ bắc xuống nam Tuy nhiên, do đường bờ có dạng vòng cung và được che chắn bởi mỏm đá phía bắc cửa Lễ Thịnh và đảo Mái Nhà nên năng lượng sóng truyền vào vùng ven bờ phân bố không đồng đều, dẫn đến sự phân bố không đồng đều về vận tốc dòng chảy dọc bờ sinh
ra do sóng đổ nhào Vị trí khu vực tập trung năng lượng sóng tác động vào bờ phụ thuộc vào hướng sóng tới Do khuôn khổ bài báo, chúng tôi chỉ trình bày phân bố dòng chảy dọc bờ do sóng đổ nhào theo các hướng sóng tác động chính: Đông Bắc (NE), Đông (E) và Đông Nam (SE)
Hình 1 Đặc điểm khu vực nghiên cứu Figure 1 Feature of study area
Trang 420
Hình 2 Hoa gió tại trạm Tuy Hòa (1988 – 2007) Figure 2 Wind rose diagram at Tuy Hoa station (1988 – 2007)
II TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
1 Tài liệu
Số liệu gió được thu thập tại trạm Tuy Hòa,
Phú Yên (1988 – 2007) được phân tích,
thống kê từ số liệu lưu trữ của đề tài độc lập
cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ
Việt Nam (VAST): “Đánh giá tác động của
các trường sóng trong gió mùa đến dải ven
biển Nam Trung Bộ từ Phú Yên đến Bình
Thuận và đề xuất các giải pháp giảm nhẹ
thiệt hại phục vụ phát triển bền vững”
(2007-2009)
Độ sâu tại khu vực nghiên cứu được lấy
từ hải đồ tỉ lệ 1/50.000 xuất bản năm 2005
của Bộ Tài nguyên và Môi trường Các đặc
trưng sóng đo bằng máy ALEC AWH –
16M tại điểm 109017’54”E, 13017’28” N
(bờ phía nam cửa An Hải) được sử dụng để
kiểm chứng mô hình SWAN, dòng chảy đo
bằng phương pháp thả phao trôi và gió đo
bằng máy đo gió cầm tay ANEMOMETER
– AVM 01 Các dữ liệu trên được lấy từ đề
tài bảo vệ môi trường: “Áp dụng các mô
hình hiện đại nhằm đánh giá, phòng tránh
và giảm thiểu thiệt hại các tác động môi
trường của hiện tượng đóng/mở các cửa
sông, đầm phá phục vụ chiến lược phát
triển bền vững kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường tại dải ven biển Nam Trung Bộ (Đà Nẵng – Bình Thuận)” do Viện Hải dương
học chủ trì (2010-2014)
2 Phương pháp
2.1 Tính toán các đặc trưng sóng biển sâu
Mô hình số trị tính sóng biển khơi Dolphin (Mandal và Holthuijsen, 1985) tính toán kết hợp sóng gió và sóng lừng
Phương trình cân bằng năng lượng phổ sóng hai chiều:
- Trường hợp sóng gió trên hướng θ:
∫
∞ +
=
0 2 1
dt
dE
θ θ
θ
(1)
Trong đó: E1(θ) là mật độ năng lượng phổ của sóng gió theo hướng θ S1(θ): tốc
độ biến đổi của E1(θ) S2(f, θ) là tốc độ chuyển giao năng lượng sóng lừng 2 chiều
E2 sang sóng gió có cùng tần số f
- Trường hợp sóng lừng từ hướng θ:
11( , ) 2( , ) 3( , )
dt
dE
−
−
−
1 1
Trang 521
Trong đó:
E2(f,θ) là mật độ năng lượng phổ của
sóng lừng với tần số f theo hướngθ S11 là
tốc độ biến đổi của E2 S2 là tốc độ chuyển
giao năng lượng sóng lừng E2 sang sóng
gió có cùng tần số S3 là tốc độ biến đổi
năng lượng sóng lừng gây bởi hiệu ứng
nước nông
Số liệu đầu vào của mô hình: hướng và
tốc độ gió, thời gian gió tác động được
chọn từ việc thống kê số liệu gió nhiều
năm
Số liệu đầu ra của mô hình: độ cao sóng
có nghĩa Hs, chu kỳ đỉnh phổ sóng Tp, độ
phân tán phổ năng lượng DSPR và hướng
sóng θ
2.2 Tính toán các đặc trưng sóng nước
nông ven b ờ
Các đặc trưng sóng tại vùng biển ven bờ
được xác định bằng mô hình SWAN
(Holthuijsen và cs., 2003) trên cơ sở
phương trình cân bằng tác động phổ
σ θ
S N C N C N C y N
C
x
N
∂
∂ +
∂
∂ +
∂
∂ +
∂
∂
+
∂
Trong đó: N là mật độ phổ tác động
(action density); Cx, Cy là tốc độ lan truyền
của N theo không gian x và y; Cσ, Cθ là tốc
độ biến đổi của N theo tần số tương đối σ
và hướng θ; S = S(σ, θ) là hàm nguồn
Mô hình SWAN tính hiệu ứng nước
nông, khúc xạ, tạo sóng do gió địa phương,
sóng bạc đầu, tương tác sóng – sóng, ma sát
đáy, sóng đổ nhào,…Phạm vi áp dụng mô
hình là khu vực vùng biển bên ngoài đầm Ô
Loan với diện tích khoảng 56 km2 Kích
thước mỗi ô lưới là 48 m x 48 m
Số liệu đầu vào của mô hình:
- Các tham số sóng ngoài khơi: Hs, Tp,
DSPR và θ được lấy từ kết quả của mô hình
Dolphin
- Trường gió địa phương ổn định theo
thời gian (V = 10 m/s, hướng NE, E và SE)
- Phân bố độ sâu của vùng nghiên cứu
3 Tính toán dòng chảy dọc bờ do sóng
đổ nhào gây ra
Các đặc trưng sóng đổ nhào (độ cao, hướng, vị trí) được lấy từ kết quả tính sóng của mô hình SWAN và theo tiêu chuẩn
γb =H b h bvới γb được lấy ≥ 0.6 do độ cao sóng sử dụng để tính toán là độ cao sóng có nghĩa và là sóng ngẫu nhiên (SPM, 1984) Vận tốc dòng chảy dọc bờ do sóng đổ nhào gây ra được tính theo công thức của Longuet–Higgins (trong SPM, 1984) và Rattanapitikon – Shibayama (2006) So sánh kết quả tính toán với số liệu đo đạc Chọn công thức tính phù hợp cho khu vực nghiên cứu
+ Longuet – Higgins (trong SPM, 1984):
v = S gH α (4) + Rattanapitikon – Shibayama (2006):
ˆ 2.7 sin cos
v = u α α (5) Với:
0.83 2
0 2
0
ˆ
tanh
b b
b b
u
π
(6)
Trong đó:
vL là vận tốc dòng chảy dọc bờ do sóng
đổ nhào gây ra (m/s) ûb là vận tốc truyền sóng tại vị trí sóng vỡ S là độ dốc bãi biển
kb là số sóng tại vị trí sóng vỡ hb là độ sâu tại vị trí sóng vỡ H0, L0 là độ cao sóng và chiều dài sóng nước sâu αb là hướng sóng tại vị trí sóng vỡ
III KẾT QUẢ
1 Các đặc trưng sóng ngoài khơi vùng biển Tuy An
Kết quả tính toán từ mô hình Dolphin cho các đặc trưng sóng ngoài khơi vùng biển nghiên cứu ứng với trường gió ngoài khơi điển hình Vnk = 13 m/s theo các hướng NE,
E và SE được trình bày trong Bảng 2
2 Các đặc trưng sóng ven bờ và dòng chảy dọc bờ do sóng đổ nhào ứng với các trường sóng tác động tại khu vực nghiên cứu
2.1 So sánh kết quả tính toán dòng chảy
dọc bờ do sóng đổ nhào theo Longuet – Higgins (trong SPM, 1984) và
Rattanapitikon – Shibayama (2006)
Trang 622
Kết quả so sánh cho thấy các giá trị vận tốc
dòng dọc bờ do sóng đổ nhào được tính từ
công thức của Longuet–Higgins (trong
SPM, 1984) quá lớn so với kết quả khảo sát
thực tế sơ bộ Ngược lại, kết quả tính toán
sử dụng công thức của Rattanapitikon–
Shibayama (2006) lại cho các giá trị vận tốc
dòng nhỏ hơn giá trị thực đo nhưng với sai
số nhỏ hơn rất nhiều so với công thức Longuet–Higgins (trong SPM, 1984) Do
đó, công thức Rattanapitikon–Shibayama (2006) được chọn để tính toán dòng chảy dọc bờ do sóng đổ nhào tại khu vực nghiên cứu Những dữ liệu tính toán, so sánh được trình bày tại Bảng 3
Bảng 2 Các đặc trưng sóng ngoài khơi vùng biển Tuy An Table 2 Offshore wave characteristics in Tuy An waters Các đặc trưng sóng vùng khơi Độ lớn
Bảng 3 So sánh vận tốc dòng dọc bờ do sóng đổ nhào đo đạc với kết quả tính toán theo Longuet–
Higgins (trong SPM, 1984) và Rattanapitikon – Shibayama (2006)
Table 3 Comparison between calculated results of longshore current induced by breaking wave
corresponding to Longuet–Higgins (in SPM, 1984) và Rattanapitikon–Shibayama (2006)
Điểm
Tính toán
Longuet – Higgins Rattanapitikon – Shibayama
Hướng
x y Vận tốc (m/s) Hướng Vận tốc (m/s) Vận tốc (m/s)
1 109,295 13,2916 0,2 Bắc xuống Nam 0,41 0,17 Bắc xuống Nam
2 109,2929 13,2961 0,26 Nam lên Bắc 1,03 0,22 Nam lên Bắc
3 109,2896 13,3023 0,22 Nam lên Bắc 0,42 0,18 Nam lên Bắc
4 109,2964 13,2902 0,28 Bắc xuống Nam 0,44 0,24 Bắc xuống Nam
Hình 3 So sánh vận tốc dòng dọc bờ do sóng đổ nhào thực đo với kết quả tính toán theo Longuet –
Higgins (trong SPM, 1984) và Rattanapitikon – Shibayama (2006)
Figure 3 Comparison between calculated results of longshore current induced by breaking wave
corresponding to Longuet –Higgins (in SPM, 1984) và Rattanapitikon – Shibayama (2006)
Trang 723
2.2 Dòng chảy dọc bờ do sóng đổ nhào
+ Trường hợp sóng hướng Đông Bắc (NE):
Kết quả mô phỏng trường sóng cho thấy,
phần hứng sóng của đảo Mái Nhà và mỏm
đá phía bắc cửa Lễ Thịnh là khu vực chịu
tác động mạnh nhất của sóng Tuy nhiên,
đoạn bờ từ cửa An Hải dài khoảng 1,5 km
về phía nam là khu vực đáng chú ý nhất với
đường đẳng độ cao sóng 2 m tiến sát vào
bờ Đoạn bờ tiếp theo đến mỏm đá phía
nam và từ cửa An Hải về phía bắc gần
3 km, sóng đi vào bờ có độ cao khoảng
1,5 m Đoạn bờ dài khoảng 1,5 km gần cửa
Lễ Thịnh có độ cao sóng giảm dần từ 1,0
đến 0,5 m tại cửa (Hình 4a)
Kết quả tính toán dòng chảy dọc bờ do sóng đổ nhào cho thấy, vận tốc phân bố không đều trên toàn khu vực tính toán Các
vị trí có độ dốc thay đổi nhiều thường có vận tốc dòng lớn Vùng bờ gần cửa Lễ Thịnh có vận tốc dòng rất nhỏ do nằm trong vùng được che chắn Vận tốc dòng trung bình trên tổng số điểm sóng vỡ khoảng 0,14 m/s Vận tốc cực đại tại vị trí phía bắc gần cửa An Hải và vị trí phía nam cách cửa
An Hải khoảng 2 km với giá trị 0,7 m/s Tại cửa Lễ Thịnh vận tốc dòng đạt giá trị cực tiểu Các khu vực phía bắc cửa An Hải có vận tốc dòng từ 0,05 đến 0,5 m/s Nhìn chung, dòng có hướng từ bắc xuống nam (Hình 4b)
Hình 4 (a) Trường độ cao sóng hữu hiệu; (b): Trường dòng chảy dọc bờ do sóng đổ nhào Gió
ngoài khơi: Vnk = 13 m/s; Gió ven bờ: Vvb = 10 m/s; Hướng: NE
Figure 4 (a) Pattern of significant wave height; (b): Pattern of longshore current induced
by breaking wave Offshore wind: Vnk = 13 m/s; Nearshore wind: Vvb = 10 m/s; Direction = NE
+ Trường hợp sóng hướng Đông (E):
Trong trường hợp này, gần như toàn khu
vực bờ vùng nghiên cứu chịu tác động
mạnh bởi sóng với độ cao sóng từ 1,5 đến
2,0 m trừ cửa Lễ Thịnh và đoạn bờ 500 m
gần mỏm đá phía nam có độ cao sóng khi
vào bờ khoảng 1,0 m Vùng khuất sóng gần
đảo Mái Nhà có độ cao sóng nằm trong
khoảng 0,5 đến 1,0 m và tăng dần khi càng
ra xa đảo Vùng tập trung năng lượng sóng lớn nhất có chiều dài khoảng 1,5 km, cách cửa An Hải khoảng 500 m về phía bắc (Hình 5a) Nhìn chung, dòng có hướng từ nam lên bắc do đặc trưng địa hình khu vực nghiên cứu có xu hướng dốc về phía bắc và vận tốc dòng phân bố không đồng đều Tuy nhiên, xuất hiện một số vị trí hội tụ dòng, điển hình là khu vực gần cửa Lễ Thịnh và
Trang 824
vị trí cách cửa An Hải khoảng 2 km về phía
nam (được đánh dấu trên hình 5b) Vận tốc
dòng có xu hướng giảm nhanh về các vị trí
dòng hội tụ và có giá trị nhỏ hơn 0,1 m/s
Vận tốc dòng mạnh nhất đạt giá trị 0,91 m/s
gần An Hải Tại khu vực cửa Lễ Thịnh độ lớn vận tốc dòng từ 0,25 đến 0,5 m/s Vận tốc dòng trung bình khoảng 0,142 m/s (Hình 5b)
(a) (b)
Hình 5 (a) Trường độ cao sóng hữu hiệu; (b): Trường dòng chảy dọc bờ do sóng đổ nhào Gió
ngoài khơi: Vnk = 13 m/s; Gió ven bờ: Vvb = 10 m/s; Hướng: E
Figure 5 (a) Pattern of significant wave height; (b): Pattern of longshore current induced
by breaking wave Offshore wind: Vnk = 13 m/s; Nearshore wind: Vvb = 10 m/s;
Direction: E + Trường hợp sóng hướng Đông Nam
(SE):
Sóng tác động vào bờ khu vực nghiên cứu
trong trường hợp này nhỏ hơn nhiều so với
các trường hợp sóng hướng NE và E Khu
vực hứng sóng của đảo Mái Nhà chịu tác
động bởi sóng với độ cao 2 m Mỏm đá
phía bắc cửa Lễ Thịnh và khu vực từ mỏm
đá phía nam về phía nam chịu tác động bởi
sóng có độ cao 1,5 m Toàn bộ khu vực
đường bờ nghiên cứu chịu tác động bởi
sóng có độ cao khoảng 1,0 m Riêng vị trí
phía bắc cửa An Hải, cách bờ khoảng 200
m xảy ra hiện tượng hội tụ sóng Vùng
khuất sóng gần đảo Mái Nhà có độ cao
sóng khoảng 1,0 m và tăng dần khi càng ra
xa đảo (Hình 6a)
Kết quả tính toán dòng dọc bờ do sóng
đổ nhào cho thấy, khu vực xuất hiện hội tụ sóng có vận tốc dòng từ 0,5 đến 0,7 m/s, lớn hơn nhiều so với hầu hết các khu vực khác Mặc dù, vận tốc dòng phân bố không đồng đều nhưng nhìn chung vùng bờ phía nam cửa An Hải được che chắn bởi đảo Mái Nhà và mỏm đá phía nam, vận tốc dòng có xu hướng giảm dần về phía cửa
An Hải với giá trị từ 0,6 đến 0,3 m/s Vận tốc dòng cực đại khá lớn, đạt giá trị 1,02 m/s tại gần cửa An Hải (bờ phía bắc) Vận tốc trung bình trong trường hợp này là 0,213 m/s Tại cửa Lễ Thịnh, vận tốc dòng
có giá trị nhỏ hơn 0,3 m/s Vận tốc nhỏ nhất tại khu vực sát bờ đoạn bờ uốn cong (Hình 6b)
Trang 925
(a) (b)
Hình 6 (a) Trường độ cao sóng hữu hiệu; (b): Trường dòng chảy dọc bờ do sóng đổ nhào Gió
ngoài khơi: Vnk = 13 m/s; Gió ven bờ: Vvb = 10 m/s; Hướng: SE
Figure 6 (a) Pattern of significant wave height; (b): Pattern of longshore current induced
by breaking wave Offshore wind: Vnk = 13 m/s; Nearshore wind: Vvb = 10 m/s;
Direction: SE
IV THẢO LUẬN
Các vùng khác nhau của khu vực nghiên
cứu chịu tác động bởi sóng mang năng
lượng khác nhau phụ thuộc vào hướng sóng
tới và bị chi phối nhiều bởi điều kiện địa lý
và hình dạng đường bờ cũng như địa hình
đáy ven bờ
Dòng dọc bờ do sóng đổ nhào sinh ra
phụ thuộc vào hướng sóng tác động và độ
dốc khu vực ven bờ trong đới sóng vỡ
Nhìn chung, vận tốc dòng phân bố không
đều và tỉ lệ thuận với độ cao sóng tác động,
trừ các vị trí có sự hội tụ hoặc phân kì dòng
Đới sóng vỡ mở rộng ra phía biển đến độ
sâu từ 2 đến 3 m tùy thuộc vào các đặc
trưng sóng tới
Với sóng hướng NE: dòng có hướng từ
bắc xuống nam Vận tốc dòng khá nhỏ so
với các trường hợp sóng hướng E và SE
Vận tốc dòng đạt giá trị cực đại tại cửa An
Hải và vị trí cách cửa An Hải khoảng 2 km
về phía nam Các khu vực phía bắc cửa An
Hải có giá trị thấp hơn và thấp nhất tại cửa
Lễ Thịnh
Với sóng hướng E: dòng có hướng từ nam lên bắc, tuy nhiên xuất hiện một số điểm hội tụ dòng do ảnh hưởng của địa hình
và hướng sóng tác động Vận tốc đạt giá trị cực đại 0,91 m/s tại cửa An Hải Vận tốc dòng gần cửa Lễ Thịnh có giá trị từ 0,25 đến 0,5 m/s Tại các điểm hội tụ, vận tốc đạt giá trị nhỏ hơn 0,1 m/s
Với sóng hướng SE: dòng có hướng từ nam lên bắc và vận tốc dòng lớn hơn so với các trường hợp sóng hướng NE và E do địa hình đáy dốc hơn về phía bắc Vận tốc dòng cực đại 1,02 m/s tại cửa An Hải Khu vực hội tụ sóng có vận tốc dòng từ 0,5 đến 0,7 m/s
Kết quả tính toán về hướng dòng chảy dọc bờ do sóng đổ nhào cho thấy khá phù hợp với thực tế, đây là thông số rất quan trọng phục vụ thiết kế các công trình bảo vệ
bờ biển, cửa sông Tuy nhiên, vì số liệu đo đạc vận tốc dòng chảy để kiểm chứng kết quả tính toán còn rất hạn chế cả về số lượng
và kỹ thuật đo đạc nên độ tin cậy chưa cao
Do đó, kết quả tính toán tốc độ dòng chảy
Trang 1026
dọc bờ do sóng đổ nhào trong nghiên cứu
này có tính chất tham khảo
Lời cám ơn: Tập thể tác giả chân thành
cám ơn ban chủ nhiệm đề tài: “Áp dụng các
mô hình hiện đại nhằm đánh giá, phòng
tránh và giảm thiểu thiệt hại các tác động
môi trường của hiện tượng đóng/mở các
cửa sông, đầm phá phục vụ chiến lược phát
triển bền vững kinh tế xã hội, bảo vệ môi
trường tại dải ven biển Nam Trung Bộ (Đà
Nẵng – Bình Thuận)” và tập thể cán bộ
phòng Vật lý biển, Viện Hải dương học đã
tạo điều kiện trong việc thu thập số liệu lưu
trữ và khảo sát thực địa cũng như động viên
khích lệ trong quá trình hoàn thiện bài báo
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Chistos A., 2013 New modified equation
of longshore current velocity at the
breaking point (for mixed and
gravel beaches) Journal of Coastal
Development, 16(2): 121 - 134
Galvin C J., 1987 Vertical profile of
littoral sand tracers from a distribution of
waiting time In: Proceedings of Coastal
Sediments '87 (New Orleans, Louisiana,
ASCE), pp 436–451
Holthuijsen L H., N Booij, R C Ris, I J
G Haagsma, A T M M Kieftenburg, E
E Kriezi, and M Zijlema, 2003 SWAN
cycle III version 40.20 User Manual
Delft University of Technology, the
Netherlands
Kamran L., S Kheiri, A Karami, M.Torabi
Azad, M Abrehdary, 2012 Field study of
longshore current along the Anzali coast
in Caspian Sea Journal of basic and
applied scientific research, 2(5): 4556 -
4562
Komar, P.D., and Inman, D.L., 1970 Longshore sand transport on beaches J Geophysical Research, 75:5914–5927
Lê Đình Mầu, 2010 Đặc điểm phân bố các đặc trưng sóng tại vùng biển cửa La Gi (Bình Thuận) và tác động của chúng đến quá trình xói lở - bồi tụ Kỷ yếu Hội nghị khoa học kỷ niệm 35 năm Viện KH&CN
VN (1975-2010), Tiểu ban KHCN Biển,
Hà Nội: 10/2010, tr 211-216
Lê Đình Mầu, Nguyễn Văn Tuân, Phạm Thị Phương Thảo, 2010 Đặc điểm phân bố các đặc trưng sóng tại vịnh Nha Trang trong các trường gió mùa điển hình Tuyển tập Nghiên cứu biển NXB KH&KT, ISSN:1859-2120, XVII: 9 - 17 Longuet-Higgins, 1970 Longshore currents generated by obliquely incident sea waves J Geoph Res., 75:6778-6789 Mandal S and L.H Holthuijsen, 1985 A numerical wave prediction model DOLPHIN: Theory and test results Report No 3-85, Delft University of Technology, Department of Civil Engineering, Group of Fluid Mechanics,
p 1 - 70
Rattanapitikon W., and Shibayama T.,
2006 Breaking wave formulas for breaking depth and orbital to phase velocity ratio Coast Eng J.,
48(4):395-416
SPM, 1984 Shore Protection Manual U.S Army Coastal Engineering Research Centre, Department of the Army Corps of Engineers, Washington DC USA Vol 1