Kinh tế môi trường là gì “Kinh tế môi trường là công cụ kinh tế được sử dụng để nghiên cứu môi trường và điều đó cũng có nghĩa là trong tính toán kinh tế phải xét đến các vấn đề môi trường”. Những điểm cần ghi nhớ khi xem xét kinh tế môi trường: – Tài nguyên không tái tạo như dầu mỏ, than đá, khí đốt có thể bị cạn kiệt.
Trang 1THẤT BẠI CHÍNH SÁCH NHẬP KHẨU
ỐC BƯƠU VÀNG Ở VIỆT NAM
Trang 2I Giới thiệu về ốc bươu vàng:
Có nguồn gốc từ Brazil
Năm 1975 được nhập vào Việt Nam từ Trung Quốc.
Trang 4II.Mục đích nhập khẩu và nhân rộng ở Vịêt
Nam
Trước năm 1975, ốc bươu vàng được du
nhập vào Việt Nam với số lượng nhỏ để
làm cảnh
Đến năm 1989, khu vực ĐBSCL nuôi
với số lượng lớn để xuất khẩu và làm
thức ăn bổ sung protein
Trang 5III TÁC HẠI CỦA ỐC BƯƠU VÀNG
Vụ hè thu năm 1994, ốc bươu vàng đã làm
mất trắng và phải trồng lại hàng nghìn ha
ở ĐBSCL.
Tháng 4/1995 diện tích bị ô nhiễm ốc
bươu vàng lên đến 15305 ha, trong đó
8602 ha lúa, 590 ha rau muống, 6356 ha
ao hồ, hàng trăm sông ngòi, kênh mương
trên toàn quốc.
Đến năm 1996, nạn Ốc bươu vàng đã bùng
phát trên phạm vi cả nước
Trang 6Làm thay đổi lưới thức ăn
tromg hệ sinh thái
Lai giống với nhiều loài ốc
bản địa dẫn đến suy giảm
nguồn gen
Việc sử dụng một số hoá
chất để tiêu diệt loài ốc này
đã gây ô nhiễm môi trường
nước, nguy hại đến các
sinh vật khác: tôm cá, ếch
nhái…
Trang 7Chi phí cho chiến dịch tiêu diệt ốc bươu vàng đã lên đến hàng trăm tỷ đồng, riêng số tiền viện trợ khẩn cấp của FAO nhằm hỗ trợ kỹ thuật để hạn chế nạn ốc
bươu vàng lên đến 250.000 USD
Bên cạnh đó, nông dân, học sinh…phải bỏ công để đi tiêu diệt ốc
Trang 8IV Chỉ thị của Thủ Tướng về việc cấm nuôi và trừ diệt
ngay loại ốc bươu vàng
Ngày 29/09/1994, Thủ tướng Chính Phủ ra chỉ thị số 528- TTG về việc cấm nuôi ốc bươu vàng dưới mọi quy mô, mọi hình thức trong cả nước
Bộ Nông Nghiệp và Công Nghiệp thực phẩm phải đề
ra các biện pháp cụ thể để tích cực diệt trừ ốc bươu vàng
Trang 9UBND các tỉnh, thành phố phải báo cáo Thủ Tướng
về thực trạng và mức độ thiệt hại do ốc bươu vàng gây ra
Bộ Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường phải phối hợp với Bộ Nông Nghiệp và Công Nghiệp Thực
Phẩm trong việc xử lí hậu quả do ốc bươu vàng gây ra
Bộ Thuỷ Sản kiểm điểm trách nhiệm về việc đã đưa giống ốc bươu vàng ra Bắc và nhân rộng
Trang 10Bộ Thương Mại kiểm điểm việc cho phép nhập ốc bươu vàng.
UB Nhà Nước về hợp tác và đầu tư kiểm điểm trách nhiệm của mình trong việc không kiểm tra hoạt đông của liên doanh nuôi ốc bươu vàng sau khi cấp giấy phép “sản suất bột cá”
(Nguồn: Văn phòng Quốc Hội)
Trang 11V BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ
Thường xuyên bắt ốc, đập nát ổ trứng.
Đặt, cắm nhiều cọc dọc theo bờ ruộng nơi có nước
để thu các ổ trứng.
Đặt các lưới chắn ở mương dẫn nước vào ruộng, không cho ốc bươu vàng theo nước vào ruộng.
Trang 12Thả vịt vào nước khi cấy hoặc sau khi thu hoạch để vịt ăn ốc non.Đào rãnh xung quanh ruộng để ốc tập trung trong rãnh có nước rồi bắt.
Có thể dùng thuốc gốc Metaldehyde để trừ ốc bươu vàng
Dùng các loại thảo mộc không gây độc hại với
Trang 13- Hiện nay, ốc bươu vàng vẫn còn tồn và là một thảm hoại đối với nông dân
Trang 14THẤT BẠI CHÍNH SÁCH –TRỢ GIÁ NƯỚC TƯỚI Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
Trang 15Bối cảnh
Hầu hết các quốc gia đang phát triển, nước tưới thường miễn phí hoặc được trợ giá.Một số nước điển hình như: Ấn Độ, Thái Lan, Bangladesh, Nepal,…
Chính sách trợ gía nước sẽ ảnh hưởng như thế nào đối với việc khai thác tối ưu nguồn tài nguyên này?
Trang 16Tác động tiêu cực
Giá thấp đã khuyến khích nông dân sử dụng nhiều nước Gây lãng phí
Sử dụng nước quá mức dẫn đến ngập úng, mặn hóa và kiềm hóa.Trong khi nông dân ở xa nguồn không có đủ nước dùng
Trang 17Sử dụng không hiệu quả hệ thống bảo trì.
Không có động cơ để bảo trì hệ thống phân phối, các đập nước và hệ thống thoát nước
Ví dụ: Số tiền thu chỉ bằng 20% chi phí bảo trì ở Bangladesh, 27% ở Thái Lan và 60% ở Nepal Nếu tính luôn chi phí đầu tư thì con số trung bình chỉ vào khoảng 10-20%
Trang 18Gây sai lầm trong nhân thức người dân về mức độ khan hiếm của tài nguyên nước vì giá nước không phản ánh được giá trị thật sự của nó.
Trang 19Kết Luận
Trong vấn đề này, thất bại chính sách và thị trường
có liên quan với nhau
Thất bại thị trường được thể hiện rõ vì nước là tài nguyên gần như công cộng, giá cả thường bị đánh giá thấp
Thất bại chính sách thể hiện rõ trong việc trợ giá.(Nguồn: Thị trường xanh – Kinh tế về phát triển
Trang 20THÀNH CÔNG CHÍNH SÁCH – GIÁ
NƯỚC Ở TRUNG QUỐC
Trang 21Bối cảnh
Với quan điểm: “Nước là hàng hóa chứ không phải
là quà tặng của thiên nhiên Việc tiêu thụ lãng phí nước, mất cân đối giữa cung và cầu là do giá nước quá thấp”
Năm 1985, Trung Quốc tiến hành cải cách chính sách nông nghiệp Trong đó, giao cho các cơ quan quản lý nguồn nước quyền hạn lớn hơn về tài
Trang 22Áp dụng chính sách
Cắt khoản viện trợ các chương trình thủy lợi của các cơ quan quản lý nước sang cho họ vay tăng giá nước
Giá nước thay đổi theo mùa, theo vùng và theo loại cây trồng Cụ thể như sau:
- Khu vực khô cằn, khan hiếm: giá nước cao
- Cây trồng là ngũ cốc: cung cấp nước bằng với giá thành
- Các loại cây trồng để bán: giá nước cao hơn giá
Trang 23Giao cho các cơ quan quản lý nhiều trách nhiệm hơn trong việc vận hành và phân phối (quản lý phân quyền).
Hình thành dịch vụ cung cấp nước Cơ quan địa phương có thể mua sỉ nước và bán lại cho các hiệp hội sử dụng nước và họ sẽ cung cấp đến nông dân
Trang 24Giá nước được định giá sát giá thành hơn.
Giảm hiện tượng khai thác và phân phối không hiệu quả như rò rỉ, thất thoát,…
(Nguồn: Thị trường xanh – kinh tế về phát triển