Về mặt nội dung, đoạn văn là một ý hoàn chỉnh ở một mức độ nhất địnhnào đó về logic ngữ nghĩa, có thể nắm bắt được một cách tương đối dễ dàng.Mỗi đoạn văn trong văn bản diễn đạt một ý, c
Trang 1CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI VĂN 8
LUYỆN TẬP VIẾT ĐOẠN VĂN
(5 TIẾT)
I.MỤC TIÊU
1 Kiến thức
- Với những yêu cầu cụ thể của một đoạn văn về nội dung và hình thức:
Sử dụng một đoạn văn mẫu cho học sinh nhận diện, phân tích mô hình cấutrúc những dạng cơ bản của đoạn văn
- Nắm được các bước tạo lập đoạn văn, những yêu cầu về nội dung, hình thức một đoạn văn
2 Kỹ năng
- Học sinh nắm được các kĩ năng xây dựng tạo lập đoạn văn theo yêu cầu tối thiểu, nâng cao
Tiết 1 HƯỚNG DẪN CHUNG
I Thế nào là đoạn văn?
Về mặt nội dung, đoạn văn là một ý hoàn chỉnh ở một mức độ nhất địnhnào đó về logic ngữ nghĩa, có thể nắm bắt được một cách tương đối dễ dàng.Mỗi đoạn văn trong văn bản diễn đạt một ý, các ý có mối liên quan chặt chẽvới nhau trên cơ sở chung là chủ đề của văn bản Mỗi đoạn trong văn bản cómột vai trò chức năng riêng và được sắp xếp theo một trật tự nhất định: đoạn
mở đầu văn bản, các đoạn thân bài của văn bản (các đoạn này triển khai chủ
đề của văn bản thành các khía cạch khác nhau), đoạn kết thúc văn bản Mỗiđoạn văn bản khi tách ra vẫn có tính độc lập tương đối của nó: nội dung củađoạn tương đối hoàn chỉnh, hình thức của đoạn có một kết cấu nhất định
Trang 2Về mặt hình thức, đoạn văn luôn luôn hoàn chỉnh Sự hoàn chỉnh đó thểhiện ở những điểm sau: mỗi đoạn văn bao gồm một số câu văn nằm giữa haidấu chấm xuống dòng, có liên kết với nhau về mặt hình thức, thể hiện bằngcác phép liên kết; mỗi đoạn văn khi mở đầu, chữ cái đầu đoạn bao giờ cũngđược viết hoa và viết lùi vào so với các dòng chữ khác trong đoạn.
Ví dụ về đoạn văn:
Đoạn văn 1
“ Vì ông lão yêu làng tha thiết nên vô cùng căm uất khi nghe tin dân làng theo giặc(1) Hai tình cảm tưởng chừng mâu thuẫn ấy đã dẫn đến một sự xung đột nội tâm dữ dội( 2) Ông Hai dứt khoát lựa chọn theo cách của ông: Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù( 3) Đây là một nét mới trong tình cảm của người nông dân thời kì đánh Pháp(4) Tình cảm yêu nước rộng lớn hơn đã bao trùm lên tình cảm đối với làng quê(5) Dù đã xác định như thế, nhưng ông Hai vẫn không thể dứt bỏ tình yêu đối với quê hương; vì thế mà ông xót xa cay đắng”(6).
Về nội dung:
- Chủ đề của đoạn văn trên là: tâm trạng mâu thuẫn của ông Hai khi nghe tinlàng mình theo giặc Chủ đề này tập trung khái quát ở câu 1,2
- Đoạn văn trên có ba phần:
+ Câu 1,2 là phần mở đoạn Phần này chứa đựng ý khái quát của cảđoạn văn, gọi là câu chủ đề Câu chủ đề có thể là một hoặc hai câu văn
+ Câu 3,4,5 là phần thân đoạn Phần này triển khai đoạn văn, mỗi câuvăn đề cập tới một biểu hiện cụ thể của chủ đề, liên quan tới chủ đề của đoạnvăn
+ Câu 6 là phần kết đoạn Phần này khắc sâu chủ đề của đoạn văn
- Đây là đoạn văn có kết cấu đầy đủ cả ba phần: mở đoạn, thân đoạn và kếtđoạn Khi viết đoạn văn, không phải bao giờ cũng nhất thiết có đủ ba phầnnhư vậy Ví dụ: Đoạn quy nạp, câu mở đầu đoạn không chứa đựng ý khái quát
mà là câu cuối cùng; đoạn diễn dịch, câu cuối cùng kết thúc đoạn không chưađựng ý khái quát, chủ đề đã được nêu rõ ở câu mở đoạn
Về hình thức:
Trang 3- Đoạn văn trên được tạo thành bằng 6 câu văn được liên kết với nhau bằngcác phép liên kết hình thức: phép thế, phép lặp.
- Đoạn văn trên được viết giữa hai dấu chấm xuống dòng, chữ cái đầu đoạnđược viết lùi vào một chữ và viết hoa
Đoạn văn 2
Yêu nước là một tư tưởng và tình cảm phổ biến, dân tộc nào cũng có, riêng gì Việt Nam (1) Quả thực yêu nước là tình cảm và tư tưởng tự nhiên và phổ biến(2) Chim luyến tổ, cá quen đồng, người sao không yêu quê hương?(3) Quê hương là bản làng, ở đó có cha mẹ, anh chị em, có mồ
mả ông bà, có bờ ao, bến đò quen thuộc (4) Quê hương lớn là nước nhà, ở
đó có tất cả đồng bào cùng tiếng nói, phong tục, có toàn bộ lịch sử dân tộc gồm những lúc vinh, lúc nhục, lúc vui, lúc buồn đều có nhau, có vầng sao những anh hùng liệt sĩ với những chiến công hiển hách, đạo đức sáng ngời, lòng hi sinh vô hạn; có đền đài, miếu mạo, có núi cao, đồng rộng, sông dài, đủ làm nơi sinh tụ cho giống nòi ta (5) Quê hương cũng gọi là
Tổ quốc (6) Người Việt Nam yêu nước Việt Nam (7).
( “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam”-Trần Văn
Giàu)
Về nội dung:
- Chủ đề của đoạn văn trên là: Tình cảm và tư tưởng yêu nước Việt Nam.Chủ đề này tập trung khái quát ở câu 1
- Đoạn văn trên có ba phần:
+ Câu 1 là phần mở đoạn Phần này chứa đựng ý khái quát của cả đoạnvăn, gọi là câu chủ đề Câu chủ đề có thể là một hoặc hai câu văn
+ Câu 2,3,4,5,6 là phần thân đoạn Phần này triển khai đoạn văn, mỗicâu văn đề cập tới một biểu hiện cụ thể của chủ đề, liên quan tới chủ đề củađoạn văn
+ Câu 7 là phần kết đoạn Phần này khắc sâu chủ đề của đoạn văn
- Đây là đoạn văn có kết cấu đầy đủ cả ba phần: mở đoạn, thân đoạn và kếtđoạn
Về hình thức:
Trang 4- Đoạn văn trên được tạo thành bằng 7 câu văn được liên kết với nhau bằngcác phép liên kết hình thức: liên tưởng, phép lặp.
- Đoạn văn trên được viết giữa hai dấu chấm xuống dòng, chữ cái đầu đoạnđược viết lùi vào một chữ và viết hoa
II Kết cấu đoạn văn.
Trong văn bản, nhất là văn nghị luận, ta thường gặp những đoạn văn cókết cấu phổ biến: quy nạp, diễn dịch, tổng phân hợp; bên cạnh đó là đoạn văn
có kết cấu so sánh, nhân quả, vấn đáp, đòn bẩy, nêu giả thiết, hỗn hợp,…
1 Đoạn diễn dịch.
Đoạn diễn dịch là một đoạn văn trong đó câu chủ đề mang ý nghĩa kháiquát đứng ở đầu đoạn, các câu còn lại triển khai ý tưởng chủ đề, mang ýnghĩa minh hoạ, cụ thể Các câu triển khai được thực hiện bằng các thao tácgiải thích, chứng minh, phân tích, bình luận; có thể kèm những nhận xét, đánhgiá và bộc lộ sự cảm nhận của người viết
Ví dụ: Đoạn văn diễn dịch, nội dung nói về cá tính sáng tạo trong sáng
tác thơ:
“ Sáng tác thơ là một công việc rất đặc biệt, rất khó khăn, đòi hỏi người nghệ sĩ phải hình thành một cá tính sáng tạo(1).Tuy vậy, theo Xuân Diệu - tuyệt nhiên không nên thổi phồng cái cá biệt, cái độc đáo ấy lên một cách quá đáng(2) Điêù ấy không hợp với thơ và không phải phẩm chất của người làm thơ chân chính(3) Hãy sáng tác thơ một cách tự nhiên, bình dị, phải đấu tranh để cải thiện cái việc tự sáng tạo ấy không trở thành anh hùng chủ nghĩa(4) Trong khi sáng tác nhà thơ không thể cứ chăm chăm: mình phải ghi dấu ấn của mình vào trong bài thơ này, tập thơ nọ(5) Chính trong quá trình lao động dồn toàn tâm toàn ý bằng sự xúc cảm tràn đầy, có thể nhà thơ sẽ tạo ra được bản sắc riêng biệt một cách tự nhiên, nhà thơ sẽ biểu hiện được cái cá biệt của mình trong những giây phút cầm bút”(6)
Mô hình đoạn văn: Câu 1 là câu mở đoạn, mang ý chính của đoạn gọi là câu
chủ đề Bốn câu còn lại là những câu triển khai làm rõ ý của câu chủ đề Đây
là đoạn văn giải thích có kết cấu diễn dịch
2 Đoạn quy nạp.
Trang 5Đoạn văn quy nạp là đoạn văn được trình bày đi từ các ý chi tiết, cụ thểnhằm hướng tới ý khái quát nằm ở cuối đoạn Các câu trên được trình bàybằng thao tác minh hoạ, lập luận, cảm nhận và rút ra nhận xét, đánh giáchung.
Ví dụ1:
Nếu con người không ngăn chặn những hành động phá hoại thiên nhiên và môi trường thì rất nguy hại(1) Đến một lúc nào đó con người không còn có thể khai thác từ thiên nhiên để lấy của cải vật chất nuôi sống chính bản thân mình(2) Môi trường sống của con người đang bị đe doạ: chất thải công nghiệp làm vẩn đục các dòng sông, tai nạn của các con tàu chở dầu làm ô nhiễm hàng vạn cây số bờ biển các nước(3) Bầu khí quyển ngày càng bị các hợp chất các-bon làm ô nhiễm, tầng ô-dôn bao bọc trái đất
bị chọc thủng, các tia tử ngoại xâm nhập vào các dòng khí quyển xuống mặt đất(4) Nhiệt độ khí quyển ngày càng tăng, lượng nước biển sẽ dâng do sự tan băng ở Bắc và Nam cực của trái đất Tất cả những điều đó là nguyên nhân phá hoại cân bằng sinh thái và đang là sự đe doạ khủng khiếp cho sự sống trên hành tinh của chúng ta(5).
( Theo giáo trình Việt- Anh, đại học Mở
Hà Nội)
Mô hình đoạn văn: Bốn câu đầu triển khai phân tích nguyên nhân làm hủy
hoại môi trường, từ đó khái quát vấn đề trong câu cuối – câu chủ đề, thể hiện
ý chính của đoạn: nguy cơ đe dọa hành tinh của chúng ta Đây là đoạn vănphân tích có kết cấu quy nạp
Ví dụ2: Đoạn văn quy nạp, nội dung nói về nhân vật tôi trong tác phẩm “Lão
Hạc” của Nam Cao
Con người tự trọng ấy, cho cả đến lúc cùng cực nhất cũng chưa một lần than vãn về số phận của mình(1) Lão tự dành tiền cho đám ma của chính mình để không làm phiền đến hàng xóm láng giềng(2) Lão không nhận bất kỳ
sự giúp đỡ của bất kỳ ai Lão sống qua bằng củ sắn, củ đậu để rồi cuối cùng khi mà người đọc tưởng như lão sẽ "tiếp bước" như những con người khác do quá cùng cực mà đánh mất chính bản thân mình, làm những chuyện xấu xa(3) Nhưng lão không phải và cũng không thể là một người như vậỵ(4) Lão
đã chọn một cái chết bằng bả chó, một cái chết dữ dội và đau đớn, hiu quạnh
Trang 6và cô đơn(6) Lão làm thế là để trừng phạt bản thân mình đã làm cái việc dằn vặt, tội lỗi ấy và có thể lão đã được giải thoát sau bao tháng ngày cùng cực, đau khổ, một cái chết thanh thản về tâm hồn(7) Đó cũng là tình tiết đỉnh điểm bộc lộ những phẩm chất của Lão Hạc một cách sâu sắc nhất(8) Truyện được thể hiện qua lời kể của nhân vật tôi - một ông giáo và dường như đâu
đó trong nhân vật này ta thấy hiện lời giọng kể của tác giả(9).
Mô hình đoạn văn: Tám câu đầu kể và phân tích hình tượng lão Hạc, từ
đó khái quát vấn đề trong câu cuối – câu chủ đề, thể hiện ý chính của đoạn:đánh giá về người kể câu chuyện Đây là đoạn văn phân tích có kết cấu quynạp
3 Đoạn tổng phân hợp.
Đoạn văn tổng phân hợp là đoạn văn phối hợp diễn dịch với quy nạp.Câu mở đoạn nêu ý khái quát bậc một, các câu tiếp theo khai triển ý khái quát,câu kết đoạn là ý khái quát bậc hai mang tính chất nâng cao, mở rộng Nhữngcâu khai triển được thực hiện bằng thao tác giải thích, chứng minh, phân tích,bình luận, nhận xét hoặc nêu cảm tưởng, để từ đó đề xuất nhận định đối vớichủ đề, tổng hợp lại, khẳng định thêm giá trị của vấn đề
Ví dụ 1: Đoạn văn tổng phân hợp, nội dung nói về đạo lí uống nước nhớ
nguồn:
“ Lòng biết ơn là cơ sở của đạo làm người(1) Hiện nay trên khắp đất nước ta đang dấy lên phong trào đền ơn đáp nghĩa đối với thương binh, liệt
sĩ, những bà mẹ anh hùng, những gia đình có công với cách mạng(2) Đảng
và Nhà nước cùng toàn dân thực sự quan tâm, chăm sóc các đối tượng chính sách(3) Thương binh được học nghề, được trợ vốn làm ăn; các gia đình liệt
sĩ, các bà mẹ Việt Nam anh hùng được tặng nhà tình nghĩa, được các cơ quan đoàn thể phụng dưỡng, săn sóc tận tình(4) Rồi những cuộc hành quân về chiến trường xưa tìm hài cốt đồng đội, những nghĩa trang liệt sĩ đẹp đẽ với đài Tổ quốc ghi công sừng sững, uy nghiêm, luôn nhắc nhở mọi người, mọi thế hệ hãy nhớ ơn các liệt sĩ đã hi sinh anh dũng vì độc lập, tự do…(5)Không
thể nào kể hết những biểu hiện sinh động, phong phú của đạo lí uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta(6) Đạo lí này là nền tảng vững vàng để xây dựng
một xã hội thực sự tốt đẹp(7)
Mô hình đoạn văn: Đoạn văn gốm bảy câu:
Trang 7-Câu đầu (tổng): Nêu lên nhận định khái quát về đạo làm người, đó làlòng biết ơn.
- Năm câu tiếp ( phân): Phân tích để chứng minh biểu hiện của đạo líuống nước nhớ nguồn
- Câu cuối (hợp): Khẳng định vai trò của đạo lí uống nước nhớ nguồnđối với việc xây dựng xã hội
Đây là đoạn văn chứng minh có kết cấu tổng – phân - hợp
Ví dụ 2:
Ta xúc động biết bao nhiêu trước khoảnh khắc hồi hộp lo lắng của cậu
bé Hồng khi sợ mình nhận nhầm mẹ Linh cảm và tình yêu dành cho mẹ đãkhông đánh lừa cậu, để đền đáp lại là cảm giác của đứa con trong lòng mẹ -cảm giác được chở che, bảo bọc, được thương yêu, an ủi Hình ảnh mẹ quanhững trang viết của nhà văn thật tươi tắn sinh động, là sự diệu kỳ giúp cậu
bé vượt lên nỗi cay đắng của những ngày xa mẹ Mỗi khi đứng trước mẹ, có
lẽ mỗi một người trong chúng ta cũng sẽ cảm nhận được tình me giống nhưcậu bé Hồng: “Mẹ tôi vừa kéo tay tôi, xoa đầu tôi hỏi thì tôi oà lên khóc rồi
cứ thế nức nở” Không khóc sao được, khi những uất ức nén nhịn có dịp bùngphát, khi cậu bé có được cảm giác an toàn và được chở che trong vòng tay
mẹ Thật đẹp khi chúng ta đọc những câu văn, tràn trề cảm giác hạnhphúc:“Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ, áp mặt vào bầu sữa nóngcủa người mẹ, để người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm, và gãi rôm ở sốnglưng cho, mới thấy mẹ có một êm dịu vô cùng” Mẹ đã trở về cùng đứa conthân yêu, để cậu bé được thoả lòng mong nhớ và khát khao bé nhỏ của mình
Có lẽ không cần phải bình luận thêm nhiều, khi tất cả tình yêu với mẹ đãđược nhà văn giãi bày trên trang giấy
Trang 8Ví dụ 1: Đoạn văn so sánh tương đồng, nội dung nói về câu thơ kết
trong bài
“ Nghe tiếng giã gạo” của Hồ Chí Minh:
Ngày trước tổ tiên ta có câu: “ Có công mài sắt có ngày nên kim”(1) Cụ Nguyễn Bá Học, một nho sĩ đầu thế kỉ XX cũng viết: “Đường đi không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”(2) Sau này, vào đầu những năm 40, giữa bóng tối ngục tù của Tưởng Giới Thạch, nhà thơ Hồ Chí Minh cũng đã đề cập tới tính kiên nhẫn, chấp nhận gian lao qua bài thơ
“ Nghe tiếng giã gạo”, trong đó có câu: “ Gian nan rèn luyện mới thành công”(3) Câu thơ thể hiện phẩm chất tốt đẹp, ý chí của Hồ Chí Minh đồng thời còn là châm ngôn rèn luyện cho mỗi chúng ta(4).
Mô hình đoạn văn: Câu nói của tổ tiên, câu nói của Nguyễn Bá Học
(câu 1,2) có nội dung tương đương với nội dung câu thơ của Hồ Chí Minh (4)
Đây là đoạn văn mở bài của đề bài giải thích câu thơ trích trong bài “ Nghe tiếng giã gạo” của Hồ Chí Minh có kết cấu so sánh tương đồng.
Ví dụ 2: Đoạn văn nói về các biểu hiện của bệnh nói dối:
“Cha ông ta đã cảnh tỉnh rằng: trong xã hội không thiếu những kẻ :
“Bề ngoài thơn thớt nói cười - Bề trong nham hiểm giết người không dao”; rồi những hạng người “ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo mửa” cũng không phải ít trong cuộc đời này…Có người chủ động nói dối (Tô vẽ bịa đặt theo tính toán có lợi cho bản thân mình, chọn lựa
Trang 9sắp đặt rất kĩ lời nói) để mang lại lộc cho mình nhiều nhất Thụ động nói dối
khi mà cấp trên hoặc người đối thoại không muốn nghe những điều nghịch
lí, ví dụ trong bụng thì ghét nhưng ngoài mặt thì vẫn nói rằng yêu…Bựcthật! sợ rằng lâu dần thành thói quen, nói năng không cảm thấy ngượng mồm
và xấu hổ Nói dối mãi trở thành căn bệnh lừa bịp cấp trên, lừa bịp ngườikhác Báo cáo, bệnh thành tích lan tràn và đã trở thành căn bệnh trầm kha vàtrở thành căn bệnh khó sửa chữa trong đời sống của chúng ta hiện nay.”
4.2 So sánh tương phản.
Đoạn so sánh tương phản là đoạn văn có sự so sánh trái ngược nhau vềnội dung ý tưởng: những hình ảnh thơ văn, phong cách tác giả, hiện thực cuộcsống,…tương phản nhau
Ví dụ 1: Đoạn văn so sánh tương phản, nội dung nói về việc học hành :
“Trong cuộc sống, không thiếu những người cho rằng cần học tập để trở thành kẻ có tài, có tri thức giỏi hơn người trước mà không hề nghĩ tới việc rèn luyện đạo đức, lễ nghĩa vốn là giá trị cao quý nhất trong các giá trị của con người( 1) Những người ý luôn hợm mình, không chút khiêm tốn, đôi khi trở thành người vô lễ, có hại cho xã hội(2) Đối với những người ấy, chúng ta cần giúp họ hiểu rõ lời dạy của cổ nhân: “ Tiên học lễ, hậu học văn”( 3).
Mô hình đoạn văn: Ý tưởng của đoạn văn là nói về quan niệm của việc học:
học để làm người Câu 1,2 nêu nội dung trái ngược với ý tưởng; câu 3 nêu ýtưởng Nội dung tương phản với ý tưởng bao giờ cũng được đề cập trước, sau
đó dẫn đến nội dung chính của ý tưởng Đây là đoạn văn mở bài, giải thíchcâu nói của Khổng Tử “ Tiên học lễ, hậu học văn”
Ví dụ 2: Đoạn văn so sánh tương phản, nội dung kể về một câu chuyện “giữa việc làm và suy nghĩ”.
“Có một câu chuyện đàm tiếu rằng: Một ông cấp phó vào thăm ông cấp
trưởng trong bệnh viện, miệng nói dối rít “ Anh cố gắng khỏi bệnh để về với chúng em Anh mà nằm bẹp lâu quá thì lấy ai chèo chống con thuyền sự nghiệp của cơ quan đây? anh em trong cơ quan mong anh từng giờ…” Chao ôi! toàn những lời có cánh được đưa ra đúng lúc, đúng “cơ hội”…thế
nhưng vừa ra khỏi cổng bệnh viện, chính trị cấp phó kia lại đã thốt lên
Trang 10“những lời gan ruột của mình: “Trời! ông ấy còn tỉnh táo lắm! còn lâu mới chết! Mình còn lẽo đẽo “ phó” đến bao giờ đây???.”
5 Đoạn nhân quả.
a.Trình bày nguyên nhân trước, chỉ ra kết quả sau.
Đoạn văn có kết cấu hai phần, phần trước trình bày nguyên nhân, phầnsau trình bày kết quả của sự việc, hiện tượng, vấn đề,…
Ví dụ 1: Đoạn văn nhân quả, nội dung nói về tác hại của nịnh hót.
Xung quanh chúng ta có rất nhiều người thích được nịnh, thích đợc ve
vuốt, được ru ngủ, đợc tung hô thì ắt có kẻ “lợi khẩu” uốn éo và khi ấy nói dối sẽ trở thành một “nghệ thuật” luồn lách của những kẻ vụ lợi, háo danh.
Khi đã quen nói dối và quen nghe nói dối rồi thì ngời ta sẽ dửng dưng với tất cả, coi thờng tất cả Cái đáng no là âm hưởng ngọt ngào của nói dối đã
trở thành “lá bùa hộ mạng” có hiệu quả cho những kẻ bất tài luôn hành sử theo phương châm “Công thì của tôi”, còn “tội thì của chúng ta”! Do vậy
họ cố tình khai khống, kê khống thành tích, bàng cấp để tô son, trát phấn cho mình, để ra oai với người khác Báo cáo không trung thực- căn bệnh này cũng chính là nói dối vậy Quả là một đại hoạ đối với xã hội
Ví dụ 2: Đoạn văn nhân quả, nội dung nói tới lời khuyên về lòng biết ơn
của con cái với cha mẹ trong một bài ca dao:
Núi Thái Sơn là núi cao nhất, đồ sộ nhất, vững chãi nhất ở Trung Quốc, cũng như tình cha mạnh mẽ, vững chắc(1) Chính người đã dạy dỗ hướng cho
ta về lẽ phải và truyền thêm cho ta sức mạnh để bay vào cuộc sống(2) Và thông qua hình tượng nước trong nguồn, dòng nước tinh khiết nhất, mát lành nhất, dạt dào mãi chẳng bao giờ cạn, ta cảm nhận ró được tình yêu của mẹ mới thật ngọt ngào, vô tận và trong lành biết bao nhiêu(3) Từ những hình ảnh cụ thể ấy mà ta có thể thấy được ý nghĩa trừu tượng về công cha nghĩa mẹ(4) Công ơn đó, ân nghĩa đó to lớn sâu nặng xiết bao; chính vì vậy mà chỉ
có những hình tượng to lớn bất diệt của thiên nhiên kì vĩ mới sánh bằng(5).Vì thế mà người xưa mới khuyên nhủ chúng ta phải làm tròn chữ hiếu, để bù đắp phần nào nỗi cực nhọc, cay đắng của cha mẹ đã phải trải qua vì ta”(6).
Trang 11Mô hình đoạn văn: Ý tưởng của đoạn văn là giải thích ý nghĩa câu ca
dao Sáu câu trên giải thích nghĩa đen, nghĩa bóng của hình ảnh trong câu cadao, nêu nguyên nhân Câu 6 là kết luận về lời khuyên, nêu kết quả
b Chỉ ra kết quả trước, trình bày nguyên nhân sau.
Đoạn văn có kết cấu hai phần Phần đầu nêu kết quả, phần sau nêunguyên
Mô hình đoạn văn: Ý tưởng của đoạn là hồi ức đan xen cay đắng và ngọt
ngào của chính nhà văn Câu 1 nêu kết quả, các câu còn lại nêu nguyên nhân
6 Đoạn vấn đáp.
Đoạn văn vấn đáp là đoạn văn có kết cấu hai phần, phần đầu nêu câuhỏi, phần sau trả lời câu hỏi Nội dung hỏi đáp chính là chủ đề của đoạn văn.Trong kiểu kết cấu này, phần sau có thể để người đọc tự trả lời
Ví dụ: Đoạn văn vấn đáp, nội dung nói về cái hồn dân tộc trong bài
“Ông đồ” của Vũ Đình Liên:
Cứ đọc kĩ mà xem, sẽ thấy cái xót xa thấm đậm quay cuồng trong câu
Trang 12đẹp thanh cao bên câu đối đỏ của ông đồ, hay những ông đồ trên phố phường
Hà Nội xưa(1)? Tôi nghĩ là cả hai(2) Thắc mắc của tác giả rất có lí, và chính
vì có lí nên nó thật tàn nhẫn và đau lòng(3) Những cái đẹp cao quý sâu kín, cái đẹp của hồn người Hà Nội, cái đẹp của hồn Việt Nam cứ ngày càng mai một, càng bị cuộc sống với những quy tắc rất thực tế lấn át, chà đạp và xô đẩy sang lề đường để rồi biến mất như ông đồ già kia, và có lẽ sẽ mãi mãi không còn nếu như không có những Vũ Đình Liên đáng khâm phục(4) “Hồn
ở đâu bây giờ”(5)? Câu hỏi ấy là tiếng chuông cảnh tỉnh người đọc ở mọi thế
hệ mọi thời đại, thức dậy những gì sâu xa đã bị lãng quên, chon vùi dưới cuộc sống ồn ào náo nhiệt(6) Làm sao để tìm lại cái hồn thanh cao cho mỗi con người Việt Nam, để khôi phục lại cái hồn cho cả dân tộc, đó là điều nhà thơ Vũ Đình Liên muốn nhắn gửi chúng ta(7).
Mô hình đoạn văn: Ý tưởng của đoạn văn là giải thích và bình về hai câu thơ.
Phần nêu câu hỏi là câu 1, phần trả lời là câu 2,3,4
7 Đoạn đòn bẩy.
Đoạn văn có kết cấu đòn bẩy là đoạn văn mở đầu nêu một nhận định,dẫn một câu chuyện hoặc những đoạn thơ văn có nội dung gần giống hoặc tráivới ý tưởng ( chủ đề của đoạn) tạo thành điểm tựa, làm cơ sở để phân tích sâusắc ý tưởng đề ra
Ví dụ: Đoạn văn đòn bẩy, nội dung nói về dụng ý của tác giả
Xét-van-tét khi tạo ra tình huống truyện
Đôn Ki-hô-tê khẳng định: Khổng lồ ở kia kìa, song vấn đề là Xan-chô
có nhìn thấy hay không? Dụng ý của Đôn Ki-hô-tê là Xan-chô chưa nhìn thấy nên chưa chịu thừa nhận bởi theo chàng sự thực đã quá hiển nhiên, “cánh tay chúng dài ngoẵng, có đứa, cánh tay dài tới hai dặm” Mục đích của việc đưa thêm bằng chứng (cánh tay) và khẳng định tính chất khổng lồ (dài tới hai dặm) của Đôn Ki-hô-tê cốt chỉ để nhấn mạnh thêm rằng đấy chính là bọn
Đến đây tiếng cười từ phía người đọc được đẩy cao thêm bước nữa Người đọc đồng ý với Xan-chô, cùng cười sự điên rồ thái quá của Đôn Ki-hô-tê Tiếng cười được xây dựng theo lối tương phản giữa thực tế và tưởng tượng, giữa tỉnh và điên Người đọc bị lôi cuốn vào cuộc đối thoại nghịch lí của hai thầy trò khi mỗi bên đều cố giữ cho mình một lô-gích nội tại riêng
Trang 13Mô hình đoạn văn: Ý tưởng của đoạn văn là nêu ra tình huống đặc sắc đặc
sắc để làm điểm tựa làm rõ được chủ đề đoạn ở câu cuối
8 Nêu giả thiết.
Đoạn văn nêu giả thiết là đoạn văn có kết cấu: mở đoạn nêu giả thiết, để
từ đó đề cập tới chủ đề đoạn
Ví dụ 1: Đoạn văn nêu giả thiết, nội dung nói về khổ thơ sau, trong bài
thơ “Quê hương” của Tế Hanh
“ Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớMàu nước xanh, các bạc, chiếc buồm vôi,Thoáng con thuyền rẽ song chạy ra khơi,Tôi thấy nhớ cai mùi nồng mặm quá”
Nếu không có mấy câu thơ này khó có thể biết bài thơ được viết trong
xa cách, trong niềm tưởng nhớ khôn nguôi – bởi những cảnh tượng bên trên được miêu tả quá sống động, hệt như chúng đang diễn ra trước mắt nhà thơ Nỗi nhớ thiết tha trong xa cách bật thành lời nói giản dị, tự nhiên như một lời tự nói từ đáy lòng: “ Tôi thấy cái mùi nồng mặn quá” Cậu học trò xa quê
Tế Hanh nhớ về làng quê mình với tất cả những thứ thật bình dị gần gũi: là màu nước xanh, cá bạc, cánh buồm trắng, với những con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi, nhưng nhớ nhất là cái mùi nồng mặn quá dặc trưng của quê hương Với Tế Hanh cái hương vị đó là hương vị riêng đầy khuyến rũ của quê hương, là chất thơ bình dị mà khỏe khoắn toát lên từ bức tranh thiên nhiên tươi sang, thơ mộng và hùng tráng từ đời sống lao động thường ngáy của người dân.
Mô hình đoạn văn: Đoạn văn có câu thứ nhất nêu giả thiết về chi tiết “nếu
không có những câu thơ này” Các câu tiếp theo khẳnh định giá trị của cáccâu thowdieenx tả
Ví dụ 2: Đoạn văn nêu giả thiết, nội dung nói về chi tiết “ cái bóng”
trong “ Chuyện người con gái Nam Xương”:
Giáo sư Phan Trọng Luận không sai khi nói: “ Cái bóng đã quyết định
số phận con người”, đây phải chăng là nét vô lí, li kì vẫn có trong các truyện
cổ tích truyền kì(1)? Không chỉ dừng lại ở đó, “ cái bóng còn là tượng trưng
Trang 14cho oan trái khổ đau, cho bất hạnh của biết bao người phụ nữ sống dưới xã hội đương thời(2) Nỗi oan của họ rồi cũng chỉ là những cái bóng mờ ảo, không bao giờ được sáng tỏ(3) Hủ tục phong kiến hay nói đúng hơn là cái xã hội phong kiến đen tối đã vùi dập, phá đi biết bao tâm hồn, bao nhân cách đẹp, đẩy họ đến đường cùng không lối thoát(4) Để rồi chính những người phụ nữ ấy trở thành “ cái bóng” của chính mình , của gia đình, của xã hội(5) Chi tiết “ cái bóng” được tác giả dùng để phản ánh số phận, cuộc đời người phụ nữ đầy bất công ngang trái nhưng cũng như bao nhà văn khác ông vẫn dành một khoảng trống cho tiếng lòng của chính nhân vật được cất lên, được soi sáng bởi tâm hồn người đọc(5) “ Cái bóng” được đề cao như một hình tượng đẹp của văn học, là viên ngọc soi sáng nhân cách con người(6) Bạn đọc căm phẫn cái xã hội phong kiến bao nhiêu thì lại càng mở lòng yêu thương đồng cảm với Vũ Nương bấy nhiêu(7) “ Cái bóng” là sản phẩm tuyệt vời từ tài năng sáng tạo của Nguyễn Dữ góp phần nâng câu chuyện lên một tầm cao mới: chân thực hơn và yêu thương hơn(8).
Mô hình đoạn văn: Đoạn văn có câu thứ nhất nêu giả thiết về chi tiết “cái
bóng” Các câu tiếp theo khẳnh định giá trị của chi tiết đó
9 Đoạn móc xích.
Đoạn văn có mô hình kết câu móc xích là đoạn văn mà ý các câu gốiđầu lên nhau, đan xen nhau và được thể hiện cụ thể bằng việc lặp lại một vài
từ ngữ ở câu trước trong câu sau
Ví dụ 1: Đoạn văn móc xích, nội dung nói về vấn đề trồng cây xanh để
bảo về môi trường sống:
Muốn làm nhà thì phải có gỗ Muốn có gỗ thì phải trồng cây gây rừng Trồng cây gây rừng thì phải coi trọng chăm sóc, bảo vệ để có nhiều cây xanh bóng mát Nhiều cây xanh bóng mát thì cảnh quan thiên nhiên đẹp, đất nước
có hoa thơm trái ngọt bốn mùa, có nhiều lâm thổ sản để xuất khẩu Nước sẽmạnh, dân sẽ giàu, môi trường sống được bảo vệ
Mô hình đoạn văn: Các ý gối nhau để thể hiện chủ đề về môi trường sống.
Các từ ngữ được lặp lại: gỗ, trồng cây gây rừng, cây xanh bóng mát.
Ví dụ 2: Đoạn văn móc xích, nội dung nói về sống có ích và sống đẹp
Trang 15Đến với núi cao, sông dài, biển rộng là để biết cái hùng vĩ của vũ trụ
vô cùng Đến với cỏ nội hoa ngàn, trăng thanh gió mát là muốn cảm được cái kì diệu của hoá công, do được cái trong của hồn mình, bày tỏ được cái chí khí của đời mình Khắc đá đề thơ vào vách động, lưu bút đến ngàn năm sau, phải là bậc danh sĩ cao khiết ở đời Tựa như trăng sao vằng vặc vậy Còn như đúc chuông, tạc tượng, xây chùa, dựng am, trồng tháp là sự bày tỏ cái lòng thành của bậc chân nhân, vĩ nhân Lo cho dân cày thêm ruộng cấy, trâu cày, kẻ bần hàn có cơm no áo ấm, được sống yên bình giữa bốn cõi, là cái tài, cái tâm của bậc đống lương, kinh bang tế thế xưa nay.
Trang 16Tiết 3 LUYỆN TẬP VIẾT ĐOẠN VĂN
Phần I: Luyện viết đoạn văn theo nội dung đọc - hiểu văn bản nghệ thuật.
Để đọc hiểu một tác phẩm văn học, bạn đọc nói chung và bạn đọc trongnhà trường là học sinh nói riêng thường đọc hiểu theo một quy trình chung:
Trang 17- Đọc và tìm hiểu chung về tác phẩm: tìm hiểu về tác giả, hoàn cảnh rađời của tác phẩm, tóm tắt tác phẩm (nếu là tác phẩm tự sự), tìm hiểu nhan đềtác phẩm…từ đó bước đầu xác định chủ đề của tác phẩm.
- Đọc và tìm hiểu chi tiết: đọc phân tích từng phần như phân tích đoạnvăn, đoạn thơ, phân tích nhân vật, phân tích hình tượng, hình ảnh, chi tiết,hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ,…từ đó đọc ra tư tưởng, thái độ tìnhcảm của tác giả trước vấn đề xã hội, trước hiện thực cuộc sống được gửi gắmtrong tác phẩm Trên cơ sở kiến thức về đọc hiểu tác phẩm, để kiểm tra, đánhgiá và tự kiểm tra, đánh giá kĩ năng nói viết của bạn đọc học sinh về nhữngkiến thức đọc hiểu cụ thể, cần có những bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạnvăn
Các loại đoạn văn cần luyện viết theo nội dung đọc - hiểu thường là:
1 Đoạn văn giới thiệu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
2 Đoạn văn tóm tắt tác phẩm
3 Đoạn văn giải thích ý nghĩa nhan đề của tác phẩm
4 Đoạn văn phân tích một chi tiết quan trọng, từ ngữ đặc sắc của tác phẩm
5 Đoạn văn phân tích đặc điểm nhân vật
6 Đoạn văn phân tích hiệu quả nghệ thật của biện pháp tu từ
7 Đoạn văn phân tích, cảm nhận về một đoạn văn, đoạn thơ
Những bài tập luyện viết đoạn văn thường có yêu cầu phối hợp giữa yêucầu về nội dung, đề tài với yêu cầu về hình thức diễn đạt
Ví dụ: Viết một đoạn văn diễn dịch, kết thúc đoạn là một câu cảm thán, phân tích nhân vật chị Dậu trong đoạn trích: “Tức nước vỡ bờ” của Ngô Tất
Tố
Thông thường, các thao tác viết đoạn được diễn ra như sau:
- Người viết đọc kĩ bài tập, xác định đúng những yêu cầu của bài tập về nội dung và hình thức Với bài tập trên, yêu cầu về nội dung là phân tích nhân
vật chị Dậu trong đoạn trích: “Tức nước vỡ bờ” của Ngô Tất Tố; yêu cầu vềhình thức là viết đoạn văn theo mô hình diễn dịch, kết thúc đoạn là một câucảm than
Trang 18- Người viết lập ý cho đoạn văn và định hình vị trí các câu trong đoạn, phương tiện liên kết đoạn; đặc biệt là các yêu cầu cụ thể về viết câu (câu cảm thán, câu hỏi tu từ, câu ghép,…) trong đoạn.
+ Tìm ý cho đoạn văn Với bài tập trên: đây là đoạn văn phân tích đặcđiểm nhân vật, đặc điểm nổi bật của chị Dậu là nhẫn nại, nhịn nhục nhưngkhông thể chịu đựng được nữa nên “tức nước thì vỡ bờ” Vậy muốn tìm ý cần
trả lời các câu hỏi: Lúc đầy chị Dậu xưng hô như thế nào với cai lệ và người nhà lí trưởng? Cách xưng hô đó có ý nghĩa như thề nào? Chị có những suy nghĩ gì hành động của Cai lệ? Em có nhận xét, đánh giá gì về suy nghĩ của Chị Dậu?
+ Xác định mô hình cấu trúc đoạn văn: Với đề bài trên là đoạn diễndịnh: câu mở đoạn là câu chủ đề, nội dung giới thiệu khái quát về tính cáchcủa chị Dậu Những câu khai triển tiếp theo nêu ra biểu hiện của chị Dậu,phân tích thái độ, nêu nhận xét đánh giá của người viết về nhân vật,…
+ Xác định và định hình kiểu câu và vị trí kiểu câu đó trong đoạn văncần viết; hoặc phép liên kết cần viết trong đoạn văn đó Với bài tập trên, kếtthúc đoạn là câu cảm thán: câu cuối đoạn nhận xét và thể hiện thái độ tìnhcảm của người viết theo hướng ngợi ca hành động của chị Dậu hoặc suy nghĩcủa bản thân về hành động đó
- Người viết dùng phương tiện ngôn ngữ (lời văn của mình) để viết đoạn văn Khi viết cần chú ý diễn đạt sao cho lưu loát, mạch lạc Giữa các câu
trong đoạn không chỉ có sự liên kết về nội dung theo chủ đề của đoạn mà còn
có sự liên kết hình thức bằng các phép liên kết; phối hợp nhiều kiểu câu để lờivăn sinh động; từ ngữ dùng cần chính xác, chân thực, mang tính hình tượng
và hợp phong cách; chữ viết đúng chính tả
- Đọc lại và sửa chữa Viết xong, người viết cần đọc kiểm tra lại xem
đoạn văn đã đáp ứng được những yêu cầu của bài tập về nội dung và hìnhthức chưa; nếu thấy chỗ nào chưa ổn cần chỉnh sửa lại
Trang 20
Yêu cầu về nội dung:
- Nêu chính xác tên tác phẩm, tên tác giả của tác phẩm đó, năm sáng tác, in trong tập sách nào, Ví dụ:
- Nêu hoàn cảnh rộng:
- Nêu hoàn cảnh hẹp: Hoàn cảnh cụ thể ra đời của tác phẩm
Đó có thể là hoàn cảnh gia đình rất đặc biệt: Bằng Việt chủ yếu sốngvới bà ngoại nên khi đi xa nhớ về bà, hình ảnh bà ngoại gắn liền với “bếp lửa”
Đó có thể là hoàn cảnh của bản thân trước một sự kiện, hiện tượng, hìnhảnh, …trong cuộc sống, tác giả nảy sinh ý tưởng, cảm hứng muốn gửi gắm ýtưởng , tình cảm, tư tưởng thái độ,… của mình qua sáng tác:
Đây là yêu cầu về nội dung của đoạn văn mang tính trọn vẹn, đầy đủ.Khi viết đoạn văn giới thiệu về hoàn cảnh ra đời của một tác phẩm cụ thể,tuỳ theo sự hiểu biết của mình mà người viết có thể nêu đầy đủ hoặc lược bớtmột vài ý, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo cho người đọc nắm được xuất xứ
Vũ Đình Liên là bài thơ tiêu biểu nhất cho hồn thơ giàu thương cảm của Vũ Đình Liên Bài thơ đã thể hiện sâu sắc tình cảnh đáng thương của ông đồ, qua đó toát lên niềm thương cảm chân thành trước một lớp người đang tàn
tạ và nỗi nhớ da diết của tác giả về cảnh cũ người xưa.
Ví dụ 2: Đoạn văn giới thiệu hoàn cảnh ra đời của bài thơ “Khi con tu hú”
của Tố Hữu
“Khi con tu hú” được nhà thơ Tố Hữu sáng tác khi ông 19 tuổi ( tháng 7/1939) Lúc đó Tố Hữu là một thanh niên đang mê say hoạt động cách mạng thì bị thực dân Pháp bắt giam vào nhà lao Thừa Phủ Bài thơ ra đời trong
Trang 21nhữn ngày đầu tiên bị bắt giam, sau này được đưa vào phần “ Xiêng xích” trong tập thơ Từ ấy năm 1946.
Yêu cầu về hình thức:
- Đoạn văn bao gồm những câu văn gắn kết với nhau theo một cấu trúcnhất định, cùng hướng về giới thiệu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, được liênkết bằng các phương tiện liên kết, phối hợp các kiểu câu Đoạn văn phải đượcdiễn đạt mạch lạc, từ ngữ dùng chính xác, chân thực, có tính hình tượng
- Luyện viết đoạn văn theo yêu cầu cụ thể: viết đoạn văn có câu ghép vàphương tiện liên kết; đoạn văn có câu hỏi tu từ, đoạn văn kết bằng câu cảmthán,…
Để viết đoạn văn giới thiệu hoàn cảnh ra đời cầu tác phẩm theo yêu cầu
cụ thể như có sử dụng câu ghép, một hoặc hai phương tiện liên kết, người viếttrước hết phải có ý, nghĩa là đã có nội dung để viết, sau đó xác định câu ghép(ghép ý nào với ý nào trong các ý đã xác định), tiếp theo là xác định phép liênkết sẽ sử dụng là gì Sau khi đã xác định yêu cầu về nội dung, yêu cầu về hìnhthức của đoạn văn cần viết, người viết bắt tay vào viết Cuối cùng, cần kiểmtra lại đoạn văn vừa viết xem đã hoàn chỉnh chưa, đã đáp ứng những yêu cầu
đề ra chưa
2 Đoạn văn tóm tắt tác phẩm.
Yêu cầu về nội dung:
- Nêu được những sự việc chính theo trình tự của cốt truyện, sự việc mởđầu, các sự việc phát triển trong đó có sự việc đỉnh điểm của cốt truyện, sựviệc kết thúc
- Đoạn văn tóm tắt tác phẩm phải đảm bảo giữ đúng cốt truyện, cácnhân vật chính và ý nghĩa xã hội của truyện (đảm bảo đúng chủ đề củatruyện)
Trang 22Ví dụ 1:
- Bài tập:
Viết đoạn văn ngắn, tóm tắt truyện “ Cô bé bán diêm” của An-đéc xen.
- Đoạn văn minh hoạ:
Cô bé bán diêm sống gia đình rất nghèo khổ, khó khăn mồ côi mẹ, bà mất sớm, tài sản tiêu tán nên cô phải bán diêm cho người bố rầt tàn nhẫn hay đánh cô Vào một ngày cuối năm, cô không bán được que diêm nào Cô không dám về nhà vì sợ bố đánh Đêm giao thừa trời giá rét , cô ngồi nép vào gốc tường giữa hai ngôi nha Đêm càng lạnh giá, cô quẹt que diêm để sưởi ấm Mỗi lần quẹt que diêm cháy sáng là một mông tưởng đến với cô Lần thứ nhất, em thấy lò sưởi Lần thứ hai cô thấy bàn ăn và con ngỗng quay, lần thứ ba cô thấy cây thông Nô-en cùng những ngọn nến Lần thứ tư
cô thấy bà hiện về Lần thứ năm cô thấy mình cùng bà bay lên trời đ1o cũng
là lúc cô tìm thấy niềm hạnh phúc Buổi sáng đầu năm, người ta thấy một em
bé ngồi giữa những bao diêm trong đó có một bao diêm đốt hết nhẵn Người
ta bảo cô bé đã chết nhưng đôi má vẫn ửng hồng và đôi môi cô đang mỉm cười
Ví dụ 2:
- Bài tập: Tóm tắt đoạn trích “ Lão Hạc” của Nam Cao bằng một đoạn văn
ngắn
- Đoạn văn minh hoạ:
Truyện kể về Lão Hạc, một người nông dân chất phác, hiền lành Lão vốn góa vợ và có một đứa con trai nhưng vì quá nghèo nên không thể lo cho người con trai một cuộc sống hạnh phúc Người con trai lão do quẫn trí đã đăng kí đi làm ở đồn điền cao su ở miền nam Lão luôn trăn trở, suy nghĩ về tương lai của đứa con Lão sống bằng nghề làm vườn, mảnh vườn mà vợ lão
đã mẫt bao công sức để mua về và để lại cho con trai lão Nhưng do một trận bão mà cả một sào hoa màu đã mất trắng Lại bởi do một trận ốm nên bao nhiêu tiền bạc lão dành dụm đã mang ra dùng gần hết và vì lão cũng đã "tàn sức" rồi, người ta làm tranh hết việc của lão Lão có một con chó tên là Vàng - một con chó mà lão vừa coi như con vừa coi như một người bạn trung thành Nhưng vì cần tiền để lo cho con trai nên lão đã quyết định bán con chó đi.
Trang 23Lão đã rất dằn vặt bản thân mình khi mang một "tội lỗi" là đã nỡ tâm "lừa một con chó".Lão tự dành tiền cho đám ma của chính mình để không làm phiền đến hàng xóm láng giềng Lão không nhận bất kỳ sự giúp đỡ của bất kỳ ai Lão đã chọn một cái chết bằng bả chó, một cái chết dữ dội và đau đớn Lão làm thế là để trừng phạt bản thân mình đã làm cái việc dằn vặt, tội lỗi ấy và
có thể lão đã được giải thoát sau bao tháng ngày cùng cực, đau khổ.Truyện được thể hiện qua lời kể của nhân vật tôi - một ông giáo và dường như đâu
đó trong nhân vật này ta thấy hiện lời giọng kể của tác giả.
3 Đoạn văn giải thích về ý nghĩa nhan đề tác phẩm.
Hướng dẫn viết đoạn.
Nhan đề của tác phẩm thường được tác giả đặt bằng một từ, một cụm
từ Nhan đề tác phẩm thường chứa đựng đề tài, nội dung hoặc chủ đề của tácphẩm mà tác giả muốn gửi gắm vào đó Đôi khi nhan đề tác phẩm đồng thờicũng là một điểm sáng thẩm mĩ, là tín hiệu nghệ thuật cần khai thác để làmsáng tỏ chủ đề tác phẩm Có nhan đề nêu lên đề tài của tác phẩm ( “Lão Hạc”
– Nam cao), có nhan đề hướng vào tư tưởng chủ đề của tác phẩm ( “ Hai cây phong ” – Ai-ma-tốp ), có nhân đề gửi gắm một thông điệp sâu sắc nào đó,…
Bởi vậy, để hiểu được nhan đề của tác phẩm, cần phải đọc kĩ tác phẩm, tìmhiểu nội dung, tìm hiểu các tầng nghĩa của hình tượng, xâu chuỗi những hiểubiết về chi tiết, hình ảnh, hình tượng trong tác phẩm để xác định đúng chủ đềtác phẩm Từ đó quay lại tìm hiểu về ý nghĩa nhan đề tác phẩm, đọc ra dụng ý
mà tác giả gửi gắm trong đó
- Yêu cầu về nội dung:
- Nêu được chính xác tên tác phẩm, tên tác giả
- Xác định ý nghĩa nhan đề tác phẩm thể hiện về phương diện gì: đề tài, nộidung, tên nhân vật chính, chủ đề, …mối quan hệ giữa tên tác phẩm và chủ đềtác phẩm
- Khẳng định giá trị của nhan đề tác phẩm Cũng có thể kết hợp đánh giá vềtác giả, tác phẩm
Yêu cầu về hình thức:
- Viết đoạn văn ngắn từ 5 – 7 câu, các câu văn được liên kết với nhau theo môhình kết cấu nhất định, sử dụng các phép liên kết nội dung và hình thức
Trang 24- Sử dụng linh hoạt các kiểu câu để viết đoạn văn.
4 Đoạn văn phân tích một chi tiết quan trọng hoặc một từ ngữ, hình ảnh đặc sắc trong tác phẩm.
Hướng dẫn viết đoạn:
Yêu cầu về nội dung:
- Giới thiệu chi tiết quan trọng hoặc từ ngữ, hình ảnh đặc sắc trong tác phẩmcần phân tích
- Phân tích chi tiết (từ ngữ, hình ảnh) đó hay, đặc sắc như thế nào về nội dung,hình thức
- Nó có ý nghĩa gì trong việc thể hiện nội dung chủ đề của tác phẩm
Yêu cầu về hình thức: như yêu cầu chung về hình thức của đoạn văn.
Ví dụ :
- Bài tập:
Hai câu thơ: “Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu” trong Ông Đồ của Vũ ĐìnhLiên
Viết một đoạn văn ngắn nói rõ cái hay của hai câu thơ trên
Đoạn văn minh họa:
Cái hay của hai câu thơ “Giấy đỏ buồn không thắm- mực đọng trong nghiên sầu” là khi mới đọc qua ta ngỡ đó là những câu thơ tả cảnh nhưng thực ra câu thơ đã mượn đồ vật để bộc lộ tâm trạng con người ( tả cảnh ngụ tình) Tác giả đã nhân hóa giấy, mực, nghiên những vật liệu gắn bó thân thiết, là máu thịt là linh hồn của cuộc đời ông đồ, để nói lên tình cảm của ông lúc bấy giờ và tâm trạng sâù buồn của một lớp người đang tàn tạ và bị lãng quên Những tờ giấy đỏ bầy ra không còn ai để ý đến, nghiên mực không được chiếc bút lông động vào, nỗi buồn tủi sầu não như đã thấm cả vào những vật vô tri vô giác Hay nói một cách khác nỗi buồn, nỗi tủi từ lòng ông đồ làm cho mực khô và đọng lại trong nghiên sầu , như làm cho giấy đỏ buồn nhạt nhòa buông không thắm Cách nói như vậy vừa cụ thể, vừa sâu lắng, làm nên cái hay của câu thơ, có sức lay động mạnh mẽ người đọc.
Trang 255 Đoạn văn phân tích hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ.
Hướng dẫn viết đoạn:
Yêu cầu về nội dung:
- Xác định chính xác câu thơ, câu văn trích trong tác phẩm nào, của tác giảnào, nội dung phản ánh là gì; biện pháp tu từ được sử dụng trong câu đó làbiện pháp gì
- Phân tích hiệu quả tu từ của biện pháp tu từ trong việc thể hiện nội dung
- Đánh giá câu thơ, câu văn đó
Yêu cầu về hình thức: như yêu cầu về hình thức chung của đoạn văn.
- Đoạn văn minh hoạ:
Đây là hai câu thơ mở đầu bài thơ “ Bếp lửa”, khơi nguồn cho kí ức Bằng Việt từ nơi xa nhớ về quê hương, nhớ về người bà kính yêu của mình:
“ Một bếp lửa chờn vờn trong sương sớm
chỉ từ bếp lửa hồng sớm mai: “ Một bếp lử ấp iu nồng đượm” Từ láy tượng hình “ ấp iu” trong câu thơ có giá trị biểu cảm cao, gợi đôi bàn tay nhóm lửa
Trang 26khéo léo, tần tảo, chịu thương, chịu khó của bà “ mỗi sớm, mỗi chiều lại bếp lửa bà nhen” Đồng thời từ “ấp iu” còn gợi tấm lòng chăm chút yêu thương
của tình bà dành cho cháu trong suốt những năm tháng tuổi thơ sống bên bà
Tình cảm bà cháu lớn lên cùng hình ảnh bếp lửa ngày càng “nồng đượm” Với
sự góp mặt của hai từ láy “ chờn vờn”, “ấp iu” khiến cho câu thơ mang nặng
kỉ niệm về kí ức ân tình, về bếp lửa, về tấm lòng bà, về tình bà cháu thiêngliêng
Tiết 5
Thực hành viết đoạn văn theo nội dung đã học:
1 Đoạn văn giới thiệu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
2 Đoạn văn tóm tắt tác phẩm
3 Đoạn văn giải thích ý nghĩa nhan đề của tác phẩm
4 Đoạn văn phân tích một chi tiết quan trọng, từ ngữ đặc sắc của tác phẩm
5 Đoạn văn phân tích đặc điểm nhân vật
6 Đoạn văn phân tích hiệu quả nghệ thật của biện pháp tu từ
7 Đoạn văn phân tích, cảm nhận về một đoạn văn, đoạn thơ
Trang 27LUYỆN TẬP VIẾT BÀI VĂN
(4 TIẾT)
VĂN NGHỊ LUẬN A/ MỤC TIÊU BÀI HỌC:
I Nhu cầu nghị luận
Trong đời sống, con người gặp nhiều tình huống giao tiếp khác nhau,đòi hỏi phải sử dụng những phương thức biểu đật tương ứng khác nhau Khicần kể về một câu chuyện, người ta dùng phương thức tự sự Khi cần giới
Trang 28thiệu hình ảnh một người, một sự vật, một con vật, một cảnh sinh hoạt hoặccảnh thiên nhiên, người ta thường dùng phương thức miêu tả, khi cần bộc lộcảm xúc người ta dùng phương thức biểu cảm Và có lúc, trong giao tiếp,con người cần phải bộc lộ, phải phát biểu thành lời những nhận định, suynghĩ, quan niệm, tư tưởng của mình trước một vấn đề nào đó của cuộc sống.Tình huống này bắt buộc phải dùng phương thức nghị luận.
Như vậy có nghĩa là văn bản nghị luận đóng một vai trò rất quan trọngtrong đời sống con người Dù dưới hình thức đơn giản hay phức tạp, dù ở
dạng nói hay viết (Một câu trả lời, một ý kiến phát biểu trong cuộc họp, một bài xã luận, bình luận trên báo chí, đài phát thanh ), phương thức nghị
luận đều có vai trò rèn luyện tư duy và năng lực biểu đạt cho con người, hiúpcon người hình thành những tư tưởng sâu sắc trỏng đời sống
II.Thế nào là văn bản nghị luận?
Nếu như văn tự sự, miêu tả hay biểu cảm nhằm kích thích strí tưởngtượng , xây dựng óc quan sát tinh tế, với những tình cảm chân thực thì vănnghị luận lại giúp cho con người hình thànhvà phát triển khả năng lập luậnchặt chẽ, trình bày những lí lẽ và dẫn chứngmột cách rõ ràng, diễn tả nhữngsuy nghĩ và nêu những ý kiến rỉêng của mìnhvề một vấn đề nào đó liên quan
đến cuộc sống xã hội hoặc văn học ngjệ thuật Nói một cách khác, văn nghị luận là văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng, một quan điểm nào đó Muốn hoàn thành một văn bản ngjhị luận,
người ta phải có một ngôn ngữ lí luận phong phú với nhiều khái niệm, cóquan điểm, chủ kiên, biết vận dụng những khái niệm, biết tư duy lô gíc, biếtvận dụng các thao tác phận tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, so sánh, suylí tức là phải biết tư duy trừu tượng và phải có khả năng lập luận để giảiquyết một vấn đề
Một số loại văn bản nghị luận thường được sử dụng trong đời sống
cũng như trên các phương tiện thông tin (báo chí, đài phát thanh, truyền hình ) là văn giải thích, văn chúng minh, văn phân tích, văn bình luận )Vd: văn bản: “Tinh thần yêu nước của nhân dân ta” của Hồ Chí
Minh là văn bản nghị luận chứng minh
*Bài tập vận dụng:
Trang 291.Trong các trường hợp sau đây, trường hợp nào cần dùng văn nghị luận
để biểu đạt, vì sao?
a Nhắc lại một kỉ niệm về tình bạn.
b Giới thiệu về người bạn của mình.
c Trình bày quan điểm về tình bạn.
2 Để chuẩn bị tham dự cuộc thi “Tìm hiểu về môi trường thiên nhiên” do nhà trường tổ chức, An được cô giáo phân công phần hùng biện An dự định một trong hai cách:
Cách 1:Dùng kiể văn tự sự , kể một câu chuyện có nội cung nói về
quan hệ giữa con người với môi trường thiên nhiên
Cách 2:Dùng kiểu văn bản biểu cảm, làm một bài thơ ca ngợi vẻ đẹp
cũng như tầm quan trọng của môi trường thiên nhiên đối với con người
*Khi nghe An trình bày dự định ấy, cô giáo đã nhận xét: “Cả hai cách ấy đều không đạt”
Theo em vì sao cô giáo nhận xét như vậy? Muốn thành công An phải chuẩn
bị bài văn hùng biện theo kiểu văn bản nào?
Hãy giúp An xác định những ý chính trong bài hùng biện.
III Đặc điểm của văn bản nghị luận.
Văn nghị luận bao giờ cũng nhằm mục đích hướng tới giải quyết mộtvấn đề cụ thể mà thực tế cuộc sống đặt ra, đồng thời cũng là xác lập chongười đọc, người nghe một tư tưởng, tình cảm, quan điểm nào đó, chẳng hạnnhư lòng yêu nước; tình đoàn kết, tương thân, tương ái; đức tính kiên trì,nhẫn nại; ý thức về lẽ sống, về đạo lí, về cách cư xử trong cuộc sống Vì
hướng tới mục đích sấy, mỗi văn bản nghị luận bao giờ cũng phải có luận điểm, luận cứ và lập luận.
A LUẬN ĐIỂM.
1.Khái niệm: là ý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm của bài nghị
luận.Về hình thức, luận điểm thường nêu khái quát bằng một câu văn ở dạng
khẳng định( hay phủ định); có cấu trúc chặt chẽ, ngắn gọn; được diễn tả rõ
ràng, dễ hiểu, nhất quán.Câu văn này có thể đặt ở đầu đoạn văn hoặc cuối
Trang 30thống nhất các đoạn văn thành một khối Trong thực tế một luận điểm có thểđược triển khai trong một đoạn văn hoặc nhiều đoạn văn.
Muốn bài văn có sức thuyết phục, luận điểm được nêu phải đảm bảo tínhchân thực, đúng đắn, đáp ứng nhu cầu thực tế Việc xác định hệ thống luậnđiểm có tính chất quan trọng đối với quá trình thể hiện chủ đề văn bản Vìvậy luận điểm không nên quá chung chung, hay quá chi tiết, vụn vặt.Làm thếnào để thông qua hệ thống luận điểm, người đọc, người nghe có thể nắm bắtđược ý đồ của người tạo lập văn bản
2.Trình bày luận điểm
1.Trình bày luận điểm chính là lập luận, là cách trình bày lí lẽ, trình bàyluận chứng Có nhiều cách trình bày luận điểm
a.Trình bày luận điểm theo phương pháp diễn dịch Luận điểm chính là câu chủ đề, đứng đầu đoạn văn.
VD: “ Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay Nói thế có nghĩa là nói rằng: Tiếng Việt là một thứ tiếng hài hoà
về mặt âm hưởng, thanh điệu, mà cũng rất tế nhị uyển chuyển trong cách đặtcâu Nói thế cũng có nghĩa là nói rằng: Tiếng Việt có đầy đủ khả năng đểdiễn đạt tình cảm, tư tưởng của người Việt Namvà để thoả mãn cho nhu cầuđời sống văn hoánước nhà qua các thời kì lịch sử”
( “Sự giàu đẹp của Tiếng Việt”- Đặng Thai Mai)
“Chúng ta nhất định thắng lợi vì chúng ta có lực lượng đoàn kết của toàn dân Chúng ta nhất định thắng lợi vì cuộc đấu tranh của chúng ta là chính
nghĩa”
( “ Gửi đồng bào Nam Bộ”-Hồ Chí Minh)
“Phải biết hỏi trong khi học thì mới tích cực và sâu sắc Hỏi để hiểu sâu,
hiểu rộng nội dung đang học, để đi tới cùng chân lí Kiến thức về xã hội,nhân văn, về tự nhiên về khoa học kĩ thuật là vô cùng rộng lớn, bao la nhờ
biết hỏi mà ta vươn lên không ngừng,mở rộng tầm mắt, tích luỹ được nhiều
Trang 31tri thức mới mẻ Không thể học một cách thụ động, chỉ biết thầy đọc, trò
chép, mà phải biết hỏi, đào sâu suy nghĩ về mọi ngóc ngách của mọi vấn đề
đang học Học đâu chỉ giới hạn ở trường, ở lớp, trong mấy quyển sách giáo
khoa? Hỏi để học ở thầy, ở bạn, ở trong cuộc sống Biết hỏi mới tiến bộ,
tránh giấu dốt!”
( “ Học và hỏi”-Lê Phan Quỳnh)
b.Trình bày luận điểm theo phương pháp quy nạp - Luận điểm là câu
chủ đề đặt ở cuối đoạn văn:
VD:
Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một
dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy năm nay, Dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”
( “Tuyên ngôn độc lập” – Hồ Chí Minh)
ở Việt Nam ta có câu tục ngữ “Có thực mới vực được đạo” Trung Quốc cũng có câu tục ngữ “ Dân dĩ cực vi thiên” Hai câu ấy tuy đơn giản
nhưng rất đúng lẽ
Muốn nâng cao đời sống của nhân dân thì trước hết phải giải quyết tốt vấn đề
ăn ( rồi đến vấn đề mặc và các vấn đề khác ).Muốn giải quyết vấn đề ăn thì
phải làm thế nào có đầy đủ lương thực Mà lương thực là do nông nghiệp sản
xuất ra Vì vậy, phát triển nông nghiệp là việc cực kì quan trọng”
( Hồ Chí Minh – Tháng 4 năm 1962)
c.Các luận điểm, luận cứ trong một bài văn nghị luận phải được trình bày theo một trật tự, trình tự hợp lí; liên kết với nhau, hô ứng nhau một cách chặt chẽ.
Cách diến đạt cần trong sáng, mạch lạc Câu văn cần ngắn gọn, tránh dàidòng lê thê Giọng văn là điều quan tâm đặc biệt Hoa hoè, hoa sói, nguỵbiện, suy diễnmột chiều, công thức cứng nhắc sẽ làm cho bài nghị luậnnhạt nhẽo Hiện tượng nói nhiều , nóidai, nói nhảm, nói trống rỗng ta luônbắt gặp đó đây Tính thuyết phục của văn nghị luận cần ghi nhớ và coi trọng
VD “Về kinh tế , chúng bóc lột dân ta đến xương tuỷ, khiến cho dân
ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.
Trang 32Chúng cướp ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.
Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.
Chúng đặt hàng trăm thứ thuế vô lí, làm cho dân ta nhất là dân cày
và dân buôn trở lên bần cùng.
Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên Chúng bóc lột dân
VD:
Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí vững thì thế nước mạnhvà thịnh;nguyên khí kém thì thế nước yếu và suy Vậy nên các đấng thánh đế, minh vương không ai không coi trọng việc bồi dưỡng nhân tài, tin dùng kẻ sĩ, vun đắp nguyên khí à việc làm trước tiên ”
Trích “ Bia Tiến sĩ”-Văn miếu Thăng Long)
“Khi sống sung túc, phẩm hạnh lớn nhất là sự điều độ, còn khi gặp tai hoạ, phẩm hạnh lớn nhất là sự kiên cường.
Có ba điều đạt tới hạnh phúc : Thân xác khoẻ mạnh, tinh thần thoải mái,
và trái tim trong sạch”
(Đô –mát)
B LUẬN CỨ: Là lí lẽ, dẫn chứng đưa ra làm cơ sở cho luận điểm Một luận
điểm có thể có một hoặc nhiều luận cứ
-Lí lẽ phải đầy đủ, chặt chẽ, có tình, có lí
Trang 33-Dẫn chứng phải phong phú, tiêu biểu, chính xác hoặc lấy từ thực
tế(Nếu vấn đề được nghị luận thuộc vắn đề chính trị- xã hội), hoặc lấy từ các tác phẩm văn học(nếu vấn đề được nghị luận thuộc lĩnh vực văn học).
C LẬP LUẬN.
Văn nghị luận không cần phải có ý mà cần phải có lí Sự kết hợp chặtchẽ giữa ý và lí là đặc trưng nổi bật của văn nghị luận nhằm tạo nên sứcthuyết phục Muốn đảm bảo sự kết hợp giữa ý và lí thì cần thiết phải lập luậntốt
1.Khái niệm.
Lập luận là cách lựa chon, sắp xếp, trình bày luận cứ sao cho luận cứtrở thành những căn cứ chắc chắn để làm rõ luận điểm, hướng người ngheđếnh kết luận hay quan điểm mà người viết, người nói muốn đạt tới.Lập luậncàng chặt chẽ, hợp lí thì sức thuyết phục của văn bản càng cao
Muốn lập luận, người viết phải thực hiện các bước sau:
-Xác định kết luận cho lập luận: Có thể là luận đề hoặc luậnđiểm
-Xây dựng luận cứ cho lâp luận: Tức là tìm các lí lẽ và đưa ra cácdẫn chứng (dẫn chứng thực tế, các con số thống kê;lí lẽ gồm cácnguyên lí, chân lí, ý kiến được công nhận )
-.>để lập luận có sức thuyết phục, cần chú sử dụng các phương tiện liên kết
lập luận (Gồm các từ ngữ có ý nghĩa chuyển tiếp)
2 Bố cục trong bài văn nghị luận.
Trong khuôn khổ của một bài văn nghị luận, bố cục thường chính làdàn ý của bài đây là khâu quan trọng trong quá trình tạo lạp văn bản Đot-
tôi-ép-xki, nhà văn Nga nổi tiiếng thế kỉ XI X đã nói: “Nếu tìm được một bố cục thoả đáng thì công việc sẽ trôi chảy như trượt trên băng”
Đối với văn nghị luận , việc xác định bố cục đóng một vai trò quuantrọng Vấn đề nghị luận càng phang phú, phức tạp thì càng cần phẩi có một
bố cục chi tiết, giúp cho người viết hình dung được trên những nết lớn cácphần, các đoạn, các ý lớn, ý nhỏ, trọng tâm của bài viết; đồng thời chủ độngphân phối thời gian, phân lượng và thoả đáng giữa các phần, các ý
Trang 34Bố cục trong bài văn nghị luận cũng giống như bố cục phổ biến củamột văn bản nopí chung, nghĩa là gồm có ba phần lớn: Mở bài, thân bài vàkết bài Có thể hình dung một cách khái quát như sau:
a, Mở bài: nêu luận điểm tổng quát của bài viết.
Cấu tạo của phần mở bài ở dạng đầy đủ thường gồm có những bộ phậnnhỏ sauđây:
-Lời dẫn vào đề (nêu xuất sứ của đề, xuất xứ một ý kiến, một nhận địnhhoặc dẫn nguyên văn đoạn trích tác phẩm
-Nêu vấn đề (Đây là phần trọng tâm, xác điịnh rõ vấn đề nghị luận
và yêu cầu cần giải quyết)
-Giới hạn vấn đề (Xác định phương hướng, phạm vi, mức độ, giưới hạn của vấn đề cần giải quyết)
-Có nhiều cách mở bài: Mở bằng cách khẳng định, mở bằng cách nêucâu hỏi, mở bằng cách phân tích
b,Thân bài:Có nhiệm vụ triển khai hệ thống ý lớn, ý nhỏ để làm sáng tỏ luận
điểm
Cấu tạo thường gặp ở phần thân bài trong văn nghị luận là:
Luận điểm 1: Luận cứ 1- Luận cứ 2
Luận điểm 2:Luận cứ 1, luận cứ 2
Luận điểm 3: Luận cứ 1, luận cứ 2
việc sắp xếp các luận điểm hoàn toàn tuỳ htuộc vào loại vấn đề được trìnhbày vào loại văn bản, vào đối tượng mà văn bản hướngd tới,hoặc có trườnghợp lại phụ thuộc vào thói quen và sở trường của người viết Tựu trung lại, cóthể nêu một số cách trình bày chính sau đây:
-Trình bày theo trình tự thời gian: Phương thức này khá đơn giản mà
thông dụng, nhất là đối với kiểu nghị luận chứng minh Sự kiện nào sảy ra
trước trình bày trước, sự kiện nào sảy ra sqau trình bày sau (Bài “Tinh thần yêu nước của nhân dân ta” là một ví dụ)
-Trình bày theo quan hệ chỉnh thể- bộ phận: Phương thức này có thể
trình bày cho kiểu nghị luận chứng minh, nghị luận phân tích,,, Theo phương
Trang 35thức này, người viết sẽ sắp xếp các ý theo tầng bậc, từ chỉnh thể đến các yếu
tố tạo nên chỉnh thể ấy
VD: Nghị luận về văn học dân gian Việt Nam, ta có thể xuất phát từ
những đánh giá, nhận định chung ( chỉnh thể) trên cở sở lần lượt đi vào các thể loại (Bộ phận): Truyện kể dân gian- thơ ca dân gian- sân khấu dân gian
-Trình bày theo quan hệ nhân quả: Phương thức này có thể dùng cho
kiểu nghị luận giải thích, có tác dụng tạo nên tính chặt chẽ cho bố cục và tăngthêm sức thuyết phục cho bài viết
Ngoài ra có thể trình bày theo quan hệ tương đồng hoặc tương phản;trình bày theo sự đánh giá chủ quan của người viết
c,Kết bài: Có nhiệm vụ tổng kết và nêu hướngmở rộng luận điểm, tức là vừa
tóm lược, vừa nhấn mạnh một số ý cơ bản của phần triể khai, đồng thời cósthể nêu nên những nhận định, bình luận nhằm gợi cho người đọc tiếp tục suynghĩ về vấn đề được bàn bạc trong bài
3.Phương pháp lập luận trong bài văn nghị luận
a,Phương pháp suy luận nhân quả: Là phương pháp lập luận theo
hướng ý trước nêu nguyên nhân, ý sau nêu hệ quả Các trường hợp được sắpxếp liền kề theo trình tự nhân trước, quả sau.Tuy nhiên trong thực tế, trình tự
ấy có thể thay đổi:hệ quả nêu trước, nguyên nhân nêu sau(nhằm lí giải vấn đề)
b,Phương pháp suy luận –tổng- phân –hợp : Là phương pháp lập luận
theo quy trình đi từ khái quát đến cụ thể, sau đó tổng hợp lại vấn đề
c,Phương pháp suy luận tương đồng: Là phương pháp suy luận trên
cơ sở tìm ra những nét tương đồng nào đó giữa các sự vật, sự việc, hiệntượng.cẳng hạn như suy luận tương đồng theo dòng thời gian, suy luận tươngđồng trên trục không gian
d,Phương pháp suy luận tương phản: Là phương pháp suy luận dựa
trên cơ sở tìm ra những nét trái ngược nhau gữa các đối tượng, ssự vật, sự
việc, hiện tượng (So sánh tương phản bằng cách dùng cặp từ trái nghĩa, hoặc dùng các hình ảnh, các cụm từ có ý nghĩa trái ngược nhau)
Trang 36*Bài tập.
1.Chỉ rõ luận điểm và phương pháp lập luận trong các ví dụ sau:
a,dân số ngày càng tăng đã ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống của mỗi cá nhân, mỗi dân tộc cũng như toàn thể cộng đồng Những ảnh hưởng đó là: không có đủ lương thực, thực phẩm cung cấp cho bữa ăn hàng ngày, từ đó dẫn đến cảnh đói nghèo, tình trạng thiếu dinh dưỡng dẫn đến suy thoái sức khoẻ, giống nòi không những không phát triển mà còn
bị thoái hoá.Dân số tăng trong khi cơ sở sản xuất có hạn dẫn đến thiếu việc làm, thất nghiệp ngày càng tăng Dân số tăng càng nhanh thì chất lượng cuộc sống của cộng đồng, gia đình và cá nhân sẽ càng giảm sút (Theo giáo trình Việt –Anh, đại học Mở Hà
Nội)
b,Nếu con ngưòi không ngăn chặn những hành động phá hoại thiên nhiên và môi trường thì rất nguy hại.đến một lúc nào đó con ngườ không còn có thể khai thác từ thiên nhiênđể lấy của cải vật chất nuôi sống chính bản thân mình Môi trường sống của con người đang bị đe doạ: chất thải công nghiệp làm vẩn đục các dòng sông, tai nạn của các con tàu chở dầu làm ô nhiễm hàng vạn cây số bờ biển các nước.Bầu khí quyển ngày càng
bị các hợp chất các-bon làm ô nhiễm, tầng ô-dôn bao bọc trí sđất bị chọc thủng, các tia tử ngoại xâm nhập vào các dòng khí quyển xuống mặt đất Nhiệt độ khí quyển ngày càng tăng, lượng nước biển sẽ dâng do sự tan băng ở Bắc và Nam cực của trái đất Tất cả những điều đó là nguyên nhân phá hoại cân bằng sinh thái và đang là sự đe doạ khủng khiếp cho sự sống trên hành tinh của chúng ta.
( Theo giáo trình Việt- Anh ,đại học Mở Hà Nội)
c,Sách là báu vật không thể thiếu được đối vớ mỗi người Phải biết chọn sách mà đọc và trân trọng, nâng niu những cuốn sách
( Theo Thành
Mĩ)
Trang 37d,Chị Dậu rất mực hiền dịu nhưng không yếu đuối Khi cần chị đã phản kháng dũng cảm, thể hiện một sức sống kiên cường bất khuật của người phụ nữ nông dân Việt Nam
(Theo Nguyễn Hoành Khung)
đ,Mỗi người trong đời, nếu không có một gnười thầy hiểu biếta, giàu kinh nghiệm truyền thụ, dìu dắt thì khó mà làm nên một việc gì xứng đáng, dù đó là nghề nông, nghề rèn, nghề khắc chạm, hoặc nghề nghiên cứu khoa học Do đó trong cuộc đời mỗi người , học ở thầy là quan trọng nhất.
(Nguyễn Thanh Tú, Văn biểu cảm-Nghị luận)
e,Khi xưa Pháp cai trị nước ta, chúng thi hành chính sách ngu dân Chúng hạn chế mở trường học, chúng không muốn cho dấn ta biết chữ để
dễ lllừa dối dân ta và bóc lột dân ta.
(Hồ Chí Minh)
g,Bác Hồ là người cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam Dù Người không có một gia đình riêng cho mình , nhưng cả đất nước này, cả non sông này là gia đình của Người đúng như nhà thơ Tố Hữu đã từng ca ngợi: “Người không con mà có triệu con” Từ Miền Bắc cho đến Miền Nam, Từ miền xuôi đên Miền Ngược, từ già đến trẻ, ai cũng dành cho Bác những tình cảm thật là cao đẹp đó là niềm tôn kính Đó là sự biết ơn Và khi Bác đi xa thì tình cảm ấy biến thành nỗi tiếc thương vô hạn Dù năm tháng có trôi qua, nhưng hình ảnh của Bác, của người cha già kính yêu ấy vẫn còn sống mãi trong trái tim một người Việt Nam
(Bài làm của một học sinh)
2, Cho luận điểm sau: “Ô nhiễm môi trường là một hiểm hoạ” Tìm những
dẫn chứng cần thiết để triển khai luận điểm trên thành một đoạn văn
Trang 40tinh thần bất diệt đó, để truyền lại cho nòi giống Việt Nam muôn đời mai sau”
Hà Nội, ngày 27-1-1947
( “Thư gửi các chiến sĩ quyết tử quân thủ đô”- Hồ Chí Minh)
3 Viết một đoạn văn nghị luận có yếu tố biểu cảm
B.CÁC YẾU TỐ TỰ SỰ VÀ MIÊU TẢ TRONG VĂN NGHỊ LUẬN 1.ý nghĩa:
Lí lẽ và dẫn chứng là phần chính, phần cốt tuỷ, chủ yếu của văn nghịluận Các yếu tố tự sự, miêu tả có thể không có Khi sử dụng các yếu tố miêu
tả, tự sự một cách đích đáng thì sẽ giúp cho cách lập luận, cách nêu dẫnchứng hấp dẫn hơn, sinh động hơn Nên nhớ, không thể tuỳ tiện, lạm dụng.2.Ví dụ:
“Huống gì thành đại la, kinh đô cũ của Cao Vương ở vào nơi trung tâm trời đất; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi Đã đúng ngôi nam bắc đông tây; lại tiện hướng nhìn sông dựa núi Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng được rất mực phong phí tốt tươi Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa Thật
là chốn hội tụ trọng yếu của bốn phương dất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”
( “Chiếu dời đô”_ Lí Công Uẩn )
3.Xác định yếu tố tự sự và miêu tả trong các đoạn văn sau
* “Đảng ta vĩ đại thật Từ ngày bị đế quốc Pháp xâm chiếm, nước ta
là một xứ thuộc địa, dân ta là vong quốc nô Tổ quốc ta bị giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác trong máy mươi năm khi chưa có Đảng, tình hình đen tối như không có đường ra
Từ ngày mới ra đời, Đảng ta giương cao ngọn cờ cách mạng, đoàn kết
và lãnh đạo toàn dân ta tiến lên đấu tranh giải phóng dân tọc, giải phóng giai cấp Màu cờ đỏ của Đảng chói lọi như mặt trời mới mọc, xé tan màu đen tối, soi đường dẫn lối cho nhân dân at vững bước tiến lên con đường thắng lợi trong cuộc cách mạng phản đế, phản phong.