Trong đó, - Giảng lý thuyết: 12 ca, 24 tiết - Thảo luận, làm việc nhóm: 6 ca, 12 tiết + Giúp sinh viên nhận biết các quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của vợchồng và vận dụng đượ
Trang 1Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh.
Khoa Luật Dân sự.
Tên môn học: Luật Hôn nhân và gia đình (môn học bắt buộc)
1.2 Số đơn vị tín chỉ: 2 (hai tín chỉ) Trong đó,
- Giảng lý thuyết: 12 ca, 24 tiết
- Thảo luận, làm việc nhóm: 6 ca, 12 tiết
+ Giúp sinh viên nhận biết các quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của vợchồng và vận dụng được pháp luật để đánh giá việc định đoạt tài sản của các bên; xácđịnh tài sản chung, riêng của vợ chồng; nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng trong thựctiễn;
+ Qua thảo luận, sinh viên hiểu được các căn cứ phát sinh quan hệ cha, mẹ, con;quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản giữa cha, mẹ, con và áp dụng pháp luật đểgiải quyết các tình huống liên quan giữa các chủ thể này;
+ Giúp sinh viên hiểu các trường hợp chấm dứt hôn nhân và thủ tục tố tụng giảiquyết chấm dứt hôn nhân; sinh viên nắm được nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn, phânbiệt được việc chia tài sản giữa các chủ thể là vợ chồng, giữa những người sống chungnhư vợ chồng; việc bảo vệ quyền lợi con cái khi cha mẹ ly hôn; điều kiện, thẩm quyền
Trang 2ĐKKH có yếu tố nước ngoài và vận dụng được pháp luật để giải quyết các tình huốngthực tế.
- Về kỹ năng
Thông qua các buổi thảo luận, sinh viên sẽ có các kỹ năng thực tế cơ bản sau đây:+ Được phát triển kỹ năng tự học, tự nghiên cứu, kỹ năng khai thác nguồn liệu, sửdụng tin học, internet và kỹ năng hợp tác, làm việc nhóm;
+ Được rèn luyện kỹ năng so sánh, phân tích và đánh giá vấn đề, tích luỹ khả năngphản biện khoa học, bình luận văn bản quy phạm pháp luật và bản án, quyết định củaTòa án;
+ Có khả năng vận dụng pháp luật để giải quyết các tình huống thực tiễn.
1.4 Yêu cầu và tiêu chí đánh giá
- Yêu cầu chung: Sinh viên trình bày nội dung theo đề cương đã chuẩn bị khi cóyêu cầu Các cá nhân hoặc đại diện nhóm nhận xét, phản biện và bổ sung nội dung(nếu có) theo hướng dẫn trước khi giảng viên kết luận vấn đề
PHẦN II NỘI DUNG THẢO LUẬN
BUỔI THỨ NHẤT VÀ THỨ HAI, VẤN ĐỀ: KẾT HÔN, - HỦY KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT - GIẢI QUYẾT HẬU QUẢ VIỆC CHUNG SỐNG NHƢ VỢ
CHỒNG
I Lý thuyết: Trả lời/ phân tích/ làm sáng tỏ các nội dung sau:
1 Tóm lược các điều kiện kết hôn theo pháp luật hiện hành và nêu một số vướngmắc trong thực tiễn áp dụng
2 Xác định người đang có vợ, có chồng Cho ví dụ về các trường hợp người chưađăng ký kết hôn cũng được xác định “đang có vợ, có chồng” theo quy định củapháp luật
3 Xác định cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn
4 Đường lối giải quyết yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật? Phân tích các trường hợpngoại lệ thừa nhận kết hôn trái pháp luật trên cơ sở pháp lý
5 Quy định của pháp luật về các trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợchồng mà không đăng ký kết hôn và hậu quả pháp lý của hành vi chung sống
Trang 3như vợ chồng ? Phân tích các trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợchồng đồng thời vi phạm điều kiện kết hôn và trách nhiệm dân sự, hình sự vàhành chính có thể được xác định.
6 Phân tích một số câu nhận định
II.Tình huống
2.1 Anh Điệp là chủ tịch Ủy ban nhân dân xã K (huyện H tỉnh LĐ) cư trú tại xã
K Chị Lan là phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B (huyện M tỉnh LĐ) cư trú tại xã B Năm 2020, anh Điệp và chị Lan dự định xác lập quan hệ vợ chồng
Hãy xác định các cơ quan đăng ký hộ tịch mà các bên có thể nộp hồ sơ đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật về hộ tịch? Cơ sở pháp lý?
2.2 Năm 2017, anh Thuận (sinh năm 1978) kết hôn với chị Nga (sinh năm
Theo các anh (chị) Tòa án giải quyết vụ việc trên như thế nào? Tại sao?
2.3 Được gia đình hai họ đồng ý, năm 1998, ông Quang cưới bà Đại Họ có
con chung là N sinh năm 2006
Năm 2003, với nguồn tiền được thừa kế riêng, ông Quang mua một ngôi nhà trị giámột tỉ đồng và đứng tên chủ sở hữu nhà
Ngày 02.02.2017, do cuộc sống chung giữa ông Quang và bà Đại mâu thuẫn trầmtrọng, ông Quang yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và phân định tài sản Hai bên cũngkhông thỏa thuận được việc giải quyết quyền lợi con chung
Viện dẫn quy định của pháp luật để giải quyết tranh chấp về nhân thân, tài sản vàquyền lợi con chung theo tình huống trên
2.4 Anh Tâm định cư tại Cộng hoà liên bang Đức từ năm 2000 Năm 2013,
trong chuyến về thăm quê hương, anh Tâm cùng chị Trà (sinh ngày 12.09.1988) quyếtđịnh “kết nghĩa vuông tròn” Ngày 07.08.2015, Ủy ban nhân dân phường T, quận Ythành phố H nơi chị Trà cư trú đã cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho anh Tâm và chịTrà
Tháng 11 2016, anh Tâm bàn với chị Trà mua nhà số 11/6 đường TH, phường T,quận Y trị giá 2.7 tỷ đồng Do hai bên chỉ có số tiền chung là 100 triệu đồng nên anhTâm nhờ thân nhân chuyển từ nước ngoài về số ngọai tệ của anh - tương đương 2.6 tỷ
Trang 4đồng để mua nhà này (có chứng cứ xác định việc chuyển tiền qua ngân hàng vào tàikhoản ngoại tệ của anh Tâm mở tại Việt Nam).
Cho rằng hành vi kết hôn giữa anh Tâm và chị Trà trái pháp luật, ngày05.02.2019, Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố H yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn này
- Từ góc độ pháp lý, anh, chị hãy phân tích và lý giải đường hướng xử của Tòa
án có thẩm quyền trước yêu cầu của Hội Phụ nữ thành phố H biết rằng trong quá trình
tố tụng, chị Trà có nguyện vọng công nhận hôn nhân còn anh Tâm đề nghị giải quyếtcho ly hôn
- Giả thiết anh Tâm và chị Trà tranh chấp nhà số 11/6 đường TH, phường T,quận Y thì Tòa án phải phân định vấn đề này ra sao cho phù hợp, biết rằng anh Tâm cóđồng ý để chị Trà đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và thực tế, chị Tràđang đứng tên chủ sở hữu nhà tại thời điểm tranh chấp phát sinh
III Đọc Bản án và trình bày quan điểm
Đọc Bản án số 04/2019/HNGĐ-ST về “Hủy kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc nuôi con chung” ngày 16 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh C” và bình luận đường lối giải quyết vụ việc của Tòa án trên cơ sở áp dụng pháp luật (có đối chiếu pháp luật hiện hành) về căn cứ hủy hôn, chủ thể yêu cầu hủy hôn, thẩm quyền giải quyết và hậu quả pháp lý việc hủy kết hôn trái pháp luật.
Ngày 16 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố C, tỉnh C xét xử
sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 92/2019/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2019 về:
“ Hủy kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử số: 04/2019/QĐXX-ST ngày 20 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:
1 Nguyên đơn: Chị Trần Thị A, sinh năm 1992 Nơi ĐKHKTT: Số nhà 1110, Tầng 11,
Tòa nhà C, Đường 70, Phường M, Quận N, Thành phố H 2
2 Bị đơn: Anh Đoàn Văn B, sinh năm 1986 Nơi ĐKHKTT: Số nhà 1110, Tầng 11,
Tòa nhà C, Đường 70, Phường M, Quận N, Thành phố H Chỗ ở hiện nay: Số nhà 516,đường T, Tổ 6, phường T, thành phố C, tỉnh C
3 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân phường T, thành phố C,
tỉnh C Địa chỉ trụ sở: Tổ 9 phường T, thành phố C, tỉnh C Người đại diện theo phápluật: Ông Đoàn Văn C – Chức vụ: Chủ tịch Người đại dại theo ủy quyền: Ông VàngVăn D – Phó chủ tịch (Theo văn bản ủy quyền tham gia tố tụng ngày 26 tháng 8 năm
2019 của Chủ tịch UBND phường T, thành phố C, tỉnh C) Địa chỉ: Bản M, phường T,
thành phố C, tỉnh C (Các đương sự đều có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai trong quá trình tố tụng
và tại phiên toàn, nguyên đơn chị Trần Thị A trình bày: Chị kết hôn với anh Đoàn Văn Bkết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc, trước khi kết hôn chị và anh B đã cóthời gian tự do tìm hiểu và yêu thương nhau, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theophong tục Có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã C (nay là
Trang 5thành phố C), tỉnh C theo Giấy chứng nhận kết hôn số 59, Quyển số 01/2008 ngày 07tháng 7 năm 2008 của Ủy ban nhân dân phường T, thị xã C (nay là thành phố C), tỉnh C,ghi chị sinh ngày 27/12/1992 và anh B sinh ngày 15/3/1986 Chị và anh B chung sốngvới nhau được khoảng 6 năm, đến năm 2014 do mất giấy ĐKKH năm 2008 nên chị vàanh B tiếp tục đi đăng ký kết hôn lần hai mà không khai tình trạng hôn nhân tại Ủy bannhân dân phường T, thành phố C, tỉnh C nên được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 09,Quyển số 01/2014 ngày 10 tháng 3 năm 2014 của Ủy ban nhân dân phường T, thành phố
C, tỉnh C ghi chị sinh ngày 27/12/1989, anh B sinh ngày 15/3/1985 là không đúng nămsinh của chị, của anh B
Thời gian đầu chị chung sống với anh B hạnh phúc, thời gian từ tháng 3 năm
2017 đến nay hai vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu do bất đồng quan điểm và cáchlàm ăn, chị thấy cuộc sống chung không có hạnh phúc, mâu thuẫn ngày càng trầm trọngdẫn đến chị và anh B đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2017 Tại thời điểm đăng ký kếthôn năm 2008 chị chưa từ 18 tuổi trở lên, do thiếu hiểu biết về pháp luật nên chị đã tự ýsửa năm sinh trên bản sao giấy khai sinh của chị và không ai biết việc chị tự sửa nămsinh của chị
Đến nay chị nhận thức được việc chị và anh B đăng ký kết hôn vào năm 2008 khichị chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn (chị chưa từ 18 tuổi trở lên); do mất giấy đăng ký kếthôn năm 2008 nên năm 2014 chị và anh B tiếp tục đi đăng ký kết hôn mà không khai rõ
đã kết hôn năm 2008 Tuy nhiên đăng ký kết hôn năm 2014 ghi không đúng năm sinhcủa chị và anh B Đối chiếu các giấy tờ hiện nay trong sổ hộ khẩu gia đình của chị, anh
B, giấy khai sinh của chị và giấy chứng minh nhân dân của chị, giấy chứng minh nhândân của anh Đoàn Văn B, xác định chị sinh ngày 27/12/1992 và anh B sinh ngày15/3/1986 đều không khớp với đăng ký kết hôn nhưng khớp với giấy khai sinh của connên chị tự xác định cả hai lần đăng ký kết hôn của chị và anh B đều trái quy định củapháp luật và hiện tại vợ chồng không muốn chung sống với nhau nữa nhưng anh Bkhông nhất trí về việc hủy kết hôn trái pháp luật, do đó chị đã viết đơn khởi kiện đề nghịTòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị và anh Đoàn Văn B
Việc nuôi con chung: Chị và anh Đoàn Văn B có 02 con chung tên Đoàn Thị L,sinh ngày 13/12/2008 và Đoàn Văn K, sinh ngày 12/01/2015 Trước khi nộp đơn khởikiện và trong quá trình hòa giải tại Tòa án, chị và anh B đã không thống nhất được việcnuôi con chung chị có yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con chung do chị và anhĐoàn Văn B đều có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai conchung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung
Tại phiên tòa, chị và anh B đã tự nguyện thỏa thuận về việc nuôi con chung nênchị đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận cụ thể: chị là người trực tiếp chămsóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Đoàn Thị L, sinh ngày 13/12/2008 cho đến khicon chung đủ 18 tuổi và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung Anh Đoàn Văn
Trang 6B là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Đoàn Văn K, sinhngày 12/01/2015 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và không yêu cầu cấp dưỡng nuôicon chung.
Việc tài sản chung, nợ chung, cho vay chung: Không có, không yêu cầu Tòa ángiải quyết
Tại bản tự khai, trong quá trình tố tụng và tại phiên toàn, bị đơn anh Đoàn Văn Btrình bày: Anh kết hôn với chị Trần Thị A trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc, đượchai bên gia đình tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T,thị xã C (nay là thành phố C), tỉnh C theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 59, Quyển số:01/2008 ngày 07 tháng 7 năm 2008 Việc chị A khai chị đã tự ý sửa chữa năm sinh củachị A thì tại thời điểm đăng ký kết hôn anh không biết do đó anh xác định kết hôn giữaanh và chị A là hợp pháp nên chị A yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật giữaanh và chị A, anh không nhất trí Tuy nhiên anh có thừa nhận sau 6 năm chung sống, do
bị mất đăng ký kết hôn năm 2008 nên đến năm 2014 anh và chị A tiếp tục đi đăng ký kếthôn lần hai mà không khai tình trạng hôn nhân nên Ủy ban nhân dân phường T, thànhphố C, tỉnh C đã cấp giấy chứng nhận kết hôn số 09, Quyển số 01/2014 ngày 10 tháng 3năm 2014 ghi anh sinh ngày 15/3/1985, chị A sinh ngày 27/12/1989 là không đúng nămsinh của anh Quá trình chung sống hạnh phúc, thời gian sau này hai vợ chồng thườngxuyên phát sinh mâu do bất đồng quan điểm sống dẫn đến anh và chị A đã sống ly thân
từ tháng 3 năm 2017 cho đến nay
Về năm sinh của chị A, trong quá trình tự do tìm hiểu và chung sống anh chỉ nghechị A nói chị sinh năm 1989 và anh không biết các giấy tờ khác như sổ hộ khẩu gia đình(do chung sổ hộ khẩu với bố mẹ anh nên anh không biết), giấy khai sinh, giấy chứngminh nhân dân của chị Phương Anh nên anh vẫn xác định chị A sinh năm 1989 và đủ 18tuổi khi kết hôn do đó kết hôn giữa anh và chị A là hợp pháp Về năm sinh của anh, anhxác định theo giấy chứng minh nhân dân và hộ khẩu gia đình, giấy khai sinh của con làanh sinh ngày 15/3/1986 nên trong giấy đăng ký kết hôn năm 2014 ghi sai năm sinh củaanh Hiện tại vợ chồng không muốn chung sống với nhau nữa nhưng chị A yêu cầu hủykết hôn trái pháp luật, anh không nhất trí vì anh cho rằng kết hôn giữa anh và chị A làhợp pháp, nhưng anh nhất trí ly hôn với chị A và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theoquy định của pháp luật
Việc nuôi con chung: Anh và chị Trần Thị A có 02 con chung tên Đoàn Thị L,sinh ngày 13/12/2008 và Đoàn Văn K, sinh ngày 12/01/2015 Trước khi nộp đơn khởikiện và trong quá trình hòa giải tại Tòa án, anh và chị A đã không thống nhất được việcnuôi con chung nên anh có yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con chung Tại phiêntòa, chị và anh B đã tự nguyện thỏa thuận về việc nuôi con chung nên đề nghị Hội đồngxét xử ghi nhận sự thỏa thuận, cụ thể: chị Trần Thị A là người trực tiếp chăm sóc, nuôidưỡng, giáo dục con chung tên Đoàn Thị L, sinh ngày 13/12/2008 cho đến khi
Trang 7con chung đủ 18 tuổi và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung Anh là người trựctiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Đoàn Văn K, sinh ngày 12/01/2015cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Về chia tài sản chung, nợ chung, cho vay chung: Không có, không yêu cầu Tòa ángiải quyết
Tại bản tự khai, biên bản làm việc giữa Ủy ban nhân dân (UBND) phường T với cácđồng chí nguyên cán bộ công chức UBND phường T, Báo cáo về việc kiểm tra hồ sơ, sổlưu trữ đăng ký kết hôn năm 2008, 2014 của UBND phường, trong quá trình tố tụng vàtại phiên tòa, người có quyền ợi nghĩa vụ liên quan, UBND phường T trình bày : Ủy bannhân dân phường T, thành phố C, tỉnh C có thực hiện 02 lần đăng ký kết hôn giữa chịTrần Thị A và anh Đoàn Văn B vào ngày 07/7/2008 và ngày 10/3/2014 Khi chị Trần Thị
A và anh Đoàn Văn B đến UBND phường làm thủ tục đăng ký kết hôn, do cán bộ hộtịch tư pháp phường đã không kiểm tra đầy đủ giấy tờ thủ tục theo quy định dẫn đếnđăng ký kết hôn trái pháp luật tại thời điểm đăng ký kết hôn chị A chưa từ 18 tuổi trởlên Việc đăng ký kết hôn năm 2014, tuy chị Trần Thị A và anh Đoàn Văn B đã đủ tuổikết hôn, tuy nhiên UBND phường đã không xác minh tình trạng hôn nhân, không kiểmtra đầy đủ giấy tờ thủ tục theo quy định dẫn đến việc cấp giấy chứng nhận kết hôn năm
2014 trong khi giấy chứng nhận kết hôn số 59 ngày 07 tháng 7 năm 2008 vẫn tồn tại vàchưa được cơ quan có thẩm quyền xử lý việc hủy kết hôn trái pháp luật Ủy ban nhândân phường đề nghị Tòa án xem xét hủy kết hôn trái pháp luật giữa chị Trần Thị A vàanh Đoàn Văn B đối với hai giấy Chứng nhận kết hôn số 59 quyển số 01/2008 ngày07/7/2008 và số 09 quyển số 01/2014 ngày 10/3/2014
Kết quả xác minh tại UBND phường T, thành phố C, tỉnh C xác định UBNDphường T, thành phố C, tỉnh C có thực hiện 02 lần đăng ký kết hôn cho chị Trần Thị A
và anh Đoàn Văn B Lần 1 vào ngày 07/7/2008 số 59 quyển số 01/2008 xác định chịTrần Thị A sinh ngày 27/12/1989 anh Đoàn Văn B sinh ngày 15/3/1985 (trong sổ lưuđăng ký kết hôn tại phường có sự sửa chữa năm sinh của chị A thành năm 1992, anh Bthành năm 1986); lần 2 vào ngày 10/3/2014 số 09 quyển số 01/2014 xác định chị TrầnThị A sinh ngày 27/12/1989 anh Đoàn Văn B sinh ngày 15/3/1985 Hồ sơ lưu về thủ tụckết hôn trên do có sự thay đổi về cán bộ công chức hộ tịch tư pháp phường nên hồ sơkhông còn, hiện Ủy ban nhân dân phường còn lưu sổ đăng ký kết hôn
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh C phát biểu ýkiến
Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử, quyết
định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyềncủa BLTTDS; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối vớiquy định về phiên tòa dân sự Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền
và nghĩa vụ của mình, chấp hành đúng nội quy phiên tòa
Trang 8Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 9 Luật HNGĐ năm
2000; Các Điều 10, 11, 12, 81, 82, 83 của Luật HNGĐ năm 2014, Các Điều 28, 147 Bộluật Tố tụng Dân sự; NGhị quyết số 36/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
K, sinh ngày 12/01/2015 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi Các bên không phải cấpdưỡng nuôi con chung cho nhau Chị Trần Thị A và anh Đoàn Văn B có quyền, nghĩa vụthăm nom con chung mà không ai được cản trở
+ Việc chia tài sản chung, nợ chung, cho vay chung: chị Trần Thị A và anh ĐoànVăn B không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không giải quyết
+ Án phí: Chị Trần Thị A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của phápluật là 300.000 đồng
NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN
[1] Về trình tự, thủ tục tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình tranh chấp về việc: “Hủy kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc nuôi con chung” nên thuộc thẩm quyền giảiquyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự Quá trình giải quyết
vụ án Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh C đã tiến hành các thủ tục tống đạt các văn bản
tố tụng đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự Các đương sự tự nguyện thỏathuận được với nhau về việc nuôi con chung là đảm bảo theo quy định của pháp luật,nên Hội đồng xét xử cần ghi nhận sự thỏa thuận theo quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụngdân sự Tại phiên tòa các đương sự đều không có bổ sung, rút yêu cầu Do đó Tòa ántiến hành xét xử vụ án theo quy định chung
[2] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của các đương sự, căn cứ các tài liệu, chứng
cứ do nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cung cấp và do Tòa ánthu thập có đủ căn cứ xác định: Chị Trần Thị A và anh Đoàn Văn B kết hôn với nhau do
tự nguyện, không bị ép buộc và được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố C, tỉnh Ccấp các giấy chứng nhận kết hôn: số 59 quyển số 01/2008 ngày 07/7/2008 và số 09quyển số 01/2014 ngày 10/3/2014
Hội đồng xét xử xét thấy: Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 59 quyển số 01/2008 ngày07/7/2008 của Ủy ban nhân dân phường T, thị xã C (nay là thành phố C), tỉnh C, xácđịnh khi kết hôn chị Trần Thị A, sinh ngày 27/12/1992 chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn
Trang 9(15 tuổi 06 tháng 10 ngày), như vậy việc đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường
T, thành phố C, tỉnh C đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.Tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về kiện kết hôn nhưsau: “ Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên” Theo Giấy chứng nhậnkết hôn số 09 quyển số 01/2014 ngày 10/3/2014 của Ủy ban nhân dân phường T, thànhphố C, tỉnh C xác định khi tiếp tục thực hiện đăng ký kết hôn giữa chị Trần Thị A, sinhngày 27/12/1989 và anh Đoàn Văn B sinh ngày 15/3/1985, Ủy ban nhân dân phường T
đã không xác minh tình trạng hôn nhân dẫn đến thực hiện đăng ký kết hôn năm 2014trong khi chị A và anh B vẫn còn tồn tại giấy đăng ký kết hôn số 59 ngày 07 tháng 7năm 2008 mà chưa được cơ quan có thẩm quyền xử lý việc kết hôn trái pháp luật đồngthời có nhầm lẫn năm sinh của anh Đoàn Văn B, ghi đúng anh B sinh năm 1986 Nên có
đủ căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị A và anh Đoàn Văn B là quan hệkhông hợp pháp do vậy không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Mặt khác quá trìnhchung sống chị A và anh B xẩy ra nhiều mâu thuẫn, đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2017cho đến nay, do đó nhận thấy cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc Vì vậy chị TrầnThị A có đơn khởi kiện yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật là có căn cứ cần được chấptheo quy định tại các Điều 10, 11, 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm bkhoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT – TANDTC – VKSNDTC – BPngày 06/01/2016
[3] Việc nuôi con chung: Anh Đoàn Văn B và chị Trần Thị A có 02 con chung tên ĐoànThị L, sinh ngày 13/12/2008 và Đoàn Văn K, sinh ngày 12/01/2015
Trong quá trình thụ lý, giải quyết và hòa giải tại Tòa án, anh Đoàn Văn B và chị TrầnThị A đã không thống nhất được việc nuôi con chung nên anh B, chị A có yêu cầu Tòa
án giải quyết việc nuôi con chung Tuy nhiên tại phiên tòa các đương sự tự nguyện thỏathuận được với nhau về việc nuôi con chung và đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sựthỏa thuận, cụ thể: Chị Trần Thị A là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục conchung tên Đoàn Thị L, sinh ngày 13/12/2008 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi; AnhĐoàn Văn B là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Đoàn Văn
K, sinh ngày 12/01/2015 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi; Về cấp dưỡng nuôi conchung: Các bên không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau
Xét thấy việc tự nguyện thỏa thuận của các đương sự không vi phạm điều cấm của luật
và không trái đạo đức xã hội là đảm bảo theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét
xử cần ghi nhận sự thỏa thuận trên theo quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự Vềquyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con được quy định tại các Điều 69, 81, 82, 83 Luậthôn nhân và gia đình năm 2014 Chị Trần Thị A, anh Đoàn Văn B có quyền, nghĩa vụthăm nom con chung mà không ai được cản trở anh B, chị Phương Anh thực hiện quyềnnày
Trang 10[4] Việc chia tài sản: Tài sản chung, nợ chung, cho vay chung chị Trần Thị A, anh ĐoànVăn B tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử khôngxem xét.
[5].Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị A phải chịu 300.000 đồng án phí theo quyđịnh tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sửdụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng
12 năm 2016
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều
271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự
[7] Kiến nghị đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Ủy ban nhân dân phường
T, thành phố C, tỉnh C
Từ nội dung vụ án trên, Hội đồng xét xử kiến nghị Ủy ban nhân dân phường T cầnthường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ công chức, viênchức thuộc phạm vi UBND phường quản lý để kịp thời phát hiện sai sót, khắc phục, xử
lý theo quy định Nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ đối vớicông chức thực hiện công tác đăng ký và quản lý hộ tịch
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm2000; các Điều 10, 11, 12, 69, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, điểm bkhoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC- BTP ngày06/01/2016; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghịquyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụQuốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệphí Tòa án; Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự
Chị Trần Thị A là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Đoàn
Hà Linh, sinh ngày 13/12/2008 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi; Anh Đoàn Văn B là
Trang 11người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Đoàn Quang Vinh, sinh ngày 12/01/2015 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau
Chị Trần Thị A, anh Đoàn Văn B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không aiđược cản trở anh B, chị Phương Anh thực hiện quyền này
3 Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị A phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự
sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân
sự thành phố C, tỉnh C theo biên lai thu tiền số AA/2010/0004022 ngày 26/7/2019
4 Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày
kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân cấp trên
BUỔI THỨ BA, VẤN ĐỀ : QUAN HỆ PHÁP LUẬT GIỮA VỢ VÀ CHỒNG
I Trả lời/ phân tích/ làm sáng tỏ các câu hỏi sau:
1 Cơ sở phát sinh quan hệ vợ chồng theo pháp luật?
2 Nghĩa vụ và quyền nhân thân giữa vợ và chồng?
3 Trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với các giao dịch do một bên thực hiện?
Ý nghĩa của cơ chế ?
4 Quan hệ đại diện giữa vợ và chồng?
5 Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận?
6 Căn cứ và nguyên tắc xác định tài sản chung (tài sản pháp định) của vợ chồng?Phân tích chế độ pháp lý về tài sản chung (tài sản pháp định) của vợ chồng
7 Phân tích chế định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân vànêu quan điểm về chế định trong việc bảo vệ quyền về tài sản của vợ chồng
8 Căn cứ xác định và chế độ pháp lý về tài sản riêng (tài sản pháp định) của vợhoặc chồng? Quyền định đọat về tài sản riêng của vợ chồng? Pháp định hạn chếquyền định đọat tài sản riêng của vợ chồng tại Khoản 4 Điều 44 LHNGĐ sửa đổi
có trái với nguyên tắc đảm bảo quyền định đọat về tài sản của con người? Cơ sở
lý giải?
9 Phân tích quyền bình đẳng về tài sản của vợ chồng Đánh giá thực tiễn áp dụngpháp luật với việc đảm bảo quyền bình đẳng về tài sản của vợ chồng hiện nay.10.Phân tích một số nhận định
II.Tình huống
2.1 Ông Khánh và bà Dung kết hôn năm 2008.
Trang 12Năm 2016, vợ chồng họ lập văn bản thỏa thuận sử dụng 5 tỷ đồng để thành lâpdoanh nghiêp tư nhân K – D kinh doanh ô tô Theo đăng ký , ông Khánh là người đứ ngtên chủ sở hữu doanh nghiêpp̣
Năm 2017, ông Khánh lập hợp đồng bán hai chiếc ô tô hiệu Toyota Altis cho ôngTuấn (chú ruột ông Khánh) Một tháng sau, cho rằng xe được bán với giá rẻ không hợp
lý cũng như giao dịch giữa ông Khánh và ông Tuấn trái với quy định về quyền định đoạttài sản của vợ chồng, bà Dung tìm đến văn phòng luật sư yêu cầu tư vấn để bảo vệquyền lợi về tài sản
Với tư cách là luật sư và trên cơ sở quy định của pháp luật, anh, chị hãy tư vấncho bà Dung về:
1 Hành vi đơn phương bán xe của ông Khánh (có trái với quy định về quyềnđịnh đoạt tài sản của vợ chồng quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 35 Luật HNGĐ?)
2 Lơi tứ c từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiêp K –D (thuộc sở hữu củaông Khánh hay củ a vơ p̣ chồng ông Khánh, bà Dung?)
2.2 Ông Lưu và bà Tâm kết hôn năm 1983 Năm 1984, mẹ đẻ ông Lưu lập “văn
tự” tặng cho ông Lưu ngôi nhà diện tích 140 m2 tại xã HN, huyện B, tỉnh KL Tháng
2.1985, theo ý chí của mẹ, ông Lưu làm thủ tục kê khai và đứng tên chủ sở hữu nhà.
Tháng 11 2014, ông Lưu đến địa phương khác cư trú và cưới bà Túy Hai người
có con nuôi chung là Mỹ Yến, sinh năm 2008 Tài sản chung của ông Lưu, bà Túy (đượctặng chung) là 16 chỉ vàng 9999
Năm 2016, ông Lưu và bà Tâm chia một phần tài sản trong thời kỳ hôn nhân.Theo văn bản được công chứng, phần động sản chung của ông Lưu, bà Tâm (hiện do bàTâm quản lý) trị giá 2 tỷ được chia đôi, mỗi người sở hữu 1 tỷ
Năm 2019, ông Lưu chết không để lại di chúc
Căn cứ pháp luật hôn nhân gia đình và pháp luật dân sự, anh (chị) hãy xác định disản của ông Lưu và đối tượng được hưởng di sản của ông biết rằng: i) Sau khi chia tàisản chung, ông Lưu sử dụng tiền được chia gửi ngân hàng Tại thời điểm ông Lưu chết,tổng số tiền gốc và lãi được xác định là 1 tỷ 200 triệu đồng; ii) Ông Lưu, bà Tâm không
có thoả thuận khác khi chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân
2.3 Năm 1952, ông Anh sống chung như vợ chồng với bà Nga Hai người không
Năm 2015, ông Anh chết không để lại di chúc
Trang 13Anh, chị hãy:
i) Xác định có lý giải vợ của ông Anh theo quy định của pháp luật?
ii) Xác định di sản thừa kế của ông Anh và đối tượng được hưởng di sản thừa
kế của ông giả thiết có tranh chấp về thừa kế và tại thời điểm Tòa án giải quyết vụ án, nhà số 11/8 tại xã K, Huyện LK, tỉnh HB do ông Anh đứng tên; được định giá 3 tỷ đồng.
III Đọc phần trích bản án số 98/2016/HNGĐ-PT Ngày 26/7/2016 của TAND cấp cao tại Hà Nội (đính kèm) và trên cơ sở pháp lý, anh (chị) hãy:
1 Đánh giá phán quyết của Tòa án sơ thẩm (thể hiện trong Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số 34/2015/HNGĐ-ST ngày 17/9/2015 của TAND tỉnh Nam Định) về việc xác định quyền sở hữu tài sản là nhà, đất thửa số 2, tờ bản đồ số 9.1 tọa lạc tại 11A Nguyễn Văn Cừ, xã Lộc An, thành phố Nam Định.
2 Tòa án phúc thẩm trong bản án số 98/2016/HNGĐ-PT ngày 26/7/2016 đã đánh giá, xác định nhà đất thửa số 2, tờ bản đồ số 9.1 tọa lạc tại 11A Nguyễn Văn
Cừ, xã Lộc An, thành phố Nam Định dựa trên căn cứ nào? Theo anh, chị, nhà, đất được tạo lập trong khoản thời gian ông Tân, bà Hằng ly thân, do 1 bên đứng tên và
có tranh chấp thì bên nào có nghĩa vụ chứng minh?
3 Trên cơ sở pháp lý, hãy cho biết đường lối của Tòa án khi giải quyết lại lại theo thủ tục chung phần tranh chấp tài sản là nhà đất 11A, giả thiết:
- Thửa đất được nhận chuyển nhượng bằng số tiền 350.000.000 đồng – khoản tài sản do bà Hằng tạo lập khi đi lao động tại Hàn Quốc và số tiền còn thiếu (33.000.000 đồng) thì vay em trai là ông Lê Duy Hùng đúng như lời khai của bà Hằng tại phiên tòa phúc thẩm trước đó;
- Nhà trên đất được xây dựng với mục đích kinh doanh karaoke, từ nguồn tiền của vợ chồng ông Tân, bà Hằng là 1.500.000 đồng, có sự góp vốn của ông Tuấn Anh
và ông Hùng là 1.500.000 đồng Tại thời điểm giải quyết tranh chấp, nhà định giá 4.0.0 đồng
Trích Bản án số 98/2016/HNGĐ – PT ngày 26.7.2016
Ngày 26 tháng 7 năm 2016, tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, xét
xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 14/2015/TLPT-HNGĐngày 11 tháng 11 năm 2015 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình” do bản án Hônnhân và Gia đình sơ thẩm số 34/2015/HNGĐ-ST ngày 17/9/2015 của Tòa án nhân dântỉnh Nam Định bị kháng cáo
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1787/2016/QĐ-PT ngày 30/6/2016 giữa cácđương sự:
1 Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thu Hằng, sinh năm 1974; có mặt.
Trang 14Nơi ĐKHKTT: Số 11A Nguyễn Văn Cừ, xã Lộc An, thành phố Nam Định, tỉnhNam Định;
Tạm trú: Số 191 Trần Quang Khải, phường Năng Tĩnh, thành phố Nam Định, tỉnhNam Định
2 Bị đơn: Anh Nguyễn Thành Tân, sinh năm 1971; hiện đang tạm trú ở Cộng
3 Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Tuấn Anh, sinh năm 1971; địa chỉ: Số 10/33 Trường Chinh, phường
Bà Triệu, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định; có mặt
- Anh Lê Duy Hùng, sinh năm 1982; địa chỉ: số 191 Trần Quang Khải, phường Năng Tĩnh, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định; có mặt
Người đại diện theo ủy quyền của anh Tuấn Anh và anh Hùng: Chị Lê Thị Thu Hằng (Giấy ủy quyền ngày 7/9/2015)
- Bà Nguyễn Thị Hà, sinh năm 1960; địa chỉ: Số 52 Phan Đình Giót, phường Năng Tĩnh, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định;
- Bà Nguyễn Thị Hương, sinh năm 1962; địa chỉ: Số 3/25/73C đường 182, khu phố 3, phường Tăng Nhơn Phú A, quận 9, thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt
- Ông Nguyễn Đức Kháng, sinh năm 1966; địa chỉ: Số 3/5B, tổ 6, khu phố 4, phường Tăng Nhơn Phú A, quận 9, thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt
Người đại diện theo ủy quyền của bà Hương và ông Kháng: Bà Nguyễn Thị Hà (Giấy ủy quyền ngày 06, 07/7/2015)
đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn ông Tân Về con chung chưa thành niên (cháuHồng Anh) bà xin nuôi, yêu cầu ông Tân cấp dưỡng nuôi con chung 1.000.000VNĐ/tháng
Trang 15Về tài sản: Đối với nhà đất tại 3/55 (số mới 3/52) Phan Đình Giót, phường NăngTĩnh, thành phố Nam Định là tài sản của bố mẹ anh Tân để lại, nên bà Hằng rút yêu cầunày, không yêu cầu Tòa giải quyết.
Đối với thửa đất tại số 11A Nguyễn Văn Cừ, xã Lộc An, thành phố Nam Định, tuymang tên bà Hằng và ông Tân nhưng đây là tài sản riêng của bà Hằng vì một mình bàHằng lo tiền để mua trong thời kỳ ly thân, ông Tân không có công sức đóng góp gì Đốivới tài sản trên thửa đất này (là nhà 4 tầng, 01 tum, gồm 5 phòng có trang thiết bị phònghát - Biên bản định giá BL 44) có sự góp vốn của ông Tuấn Anh và ông Hùng về tàisản trên đất, nay 3 người không có tranh chấp nên không đề nghị Tòa án giải quyết Tạiphiên tòa sơ thẩm bà Hằng đề nghị được giao nhà, đất và trang thiết bị phòng hát cho bà,
bà sẽ có trách nhiệm thanh toán lại phần góp vốn cho ông Tuấn Anh và ông Hùng
* Bị đơn ông Nguyễn Thành Tân trình bày: Ông nhất trí ly hôn bà Hằng và xin
được đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung Riêng nhà đất tại số 3/52 Phan Đình Giót
và số 11A Nguyễn Văn Cừ ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật
* Bà Nguyễn Thị Hà - người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày: Tài
sản tại số 3/52 Phan Đình Giót là của bố mẹ bà để lại, đề nghị Tòa giải quyết bảo vệquyền lợi cho anh chị em bà Các vấn đề khác bà không có ý kiến vì ông Tân không ủyquyền cho bà mà chỉ ủy quyền giao nộp giấy tờ với Tòa án Tại phiên tòa sơ thẩm, bà
Hà khai bổ sung trong thời gian bà Hằng xây nhà năm 2014 có vay của bà 10.000USDnhưng bà không đề nghị giải quyết tại phiên tòa mà bà để hai bên tự giải quyết riêng
* Ông Nguyễn Tuấn Anh - người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày:
Thửa đất tại số 11A Nguyễn Văn Cừ mang tên bà Hằng và ông Tân nhưng bà Hằngkhai đây là tài sản riêng của bà nên năm 2014 ông cùng ông Hùng và bà Hằng đã thỏathuận góp vốn đầu tư xây dựng quán Karaoke Tại phiên tòa sơ thẩm ông Tuấn Anh có
ý kiến giữa ông với bà Hằng, ông Hùng không tranh chấp với nhau phần vốn góp đầu
tư xây dựng, mà tự giải quyết sau với nhau; đề nghị Tòa xét xử giao cho chị Hằng quản
lý phần trang thiết bị phòng hát là phần góp vốn của ông Hùng
Luật sư phía bị đơn trình bày: Nhất trí việc bà Hằng xin ly hôn ông Tân và việc
đóng góp nuôi con chung cũng như việc bà Hằng tự nguyện rút yêu cầu về tài sản tại số3/52 Phan Đình Giót Riêng thửa đất số 11A Nguyễn Văn Cừ mặc dù cho đến nay khôngthấy ông Tân cung cấp tài liệu chứng cứ là có gửi tiền về cho bà Hằng mua đất haykhông nhưng đây là tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nên đề nghị giao đấtcho bà Hằng quản lý, buộc bà Hằng có trách nhiệm trả chênh lệch cho ông Tân một nửagiá trị quyền sử dụng đất theo như kết quả định giá của Hội đồng định giá là704.000.000đ : 2 = 302.000.000 đồng
Tại Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số 34/2015/HNGĐ-ST ngày 17/9/2015của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định quyết định:
Áp dụng các Điều 56, 59, 68, 69, 71, 72, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm
c khoản 1 Điều 192* Bộ luật tố tụng dân sự; Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án, Xử:
Tân
1 Về tình cảm: Xử ly hôn giữa bà Lê Thị Thu Hằng và ông Nguyễn Thành
2 Về con chung: Giao cho bà Lê Thị Thu Hằng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc
Trang 16cháu Nguyễn Thị Hồng Anh, sinh ngày 15/10/2000; ông Tân có nghĩa vụ đóng góp nuôicon chung 1.000.000VNĐ/tháng, kể từ tháng 9/2015 đến khi con thành niên, tự lậpđược.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại chăm sóc, thăm hỏi, giáo dục chung.Không ai được hạn chế, cản trở các quyền này
3 Về tài sản:
- Đình chỉ giải quyết mối quan hệ tranh chấp quyền sử dụng đất tại thửa 433, tờbản đồ số 6 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 551342 do Ủy ban nhândân thành phố Nam Định cấp ngày 28/12/2005 tọa lạc tại số 3/52 Phan Đình Giót,phường Năng Tĩnh, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định do bà Lê Thị Thu Hằng rútđơn yêu cầu
- Giao cho bà Lê Thị Thu Hằng quyền sở hữu, sử dụng khu nhà đất tại thửa số
2, tờ bản đồ số 9.1 và toàn bộ trang thiết bị phòng hát Karaoke theo Giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất số BA 852187 do Ủy ban nhân dân thành phố Nam Định cấp ngày20/4/2010 tọa lạc tại 11A Nguyễn Văn Cừ, xã Lộc An, thành phố Nam Định
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền khángcáo, theo quy định của pháp luật
Ngày 29 tháng 9 năm 2015 bị đơn là Nguyễn Thành Tân có đơn kháng cáo vớinội dung: Nhà đất tại 11A Nguyễn Văn Cừ là tài sản chung giữa ông Tân và bà Hằngnên không đồng ý việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định là tài sản riêng của bà Hằng, từ đógiao cho bà Lê Thị Thu Hằng quyền sở hữu, sử dụng khu nhà đất tại 11A Nguyễn Văn
Cừ, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định Đề nghị Tòa án xét xử cấp phúc thẩm quyếtđịnh chia mỗi người được quản lý và sử dụng 1/2 nhà đất nêu trên
Tại phiên tòa phúc thẩm: Các bên không thỏa thuận được với nhau về việc giảiquyết vụ án Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và có ý kiến đề nghị Hộiđồng xét xử giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm; Bị đơn do bà Nguyễn Thị Hàđại diện vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận khángcáo của bị đơn Đồng thời, với tư cách là người có quyền, nghĩa vụ liên quan bà Hà đềnghị Hội đồng xét xử giải quyết, buộc bà Hằng trả bà Hà số tiền 10.000 USD mà bàHằng vay của của bà Hà để xây nhà
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểuquan điểm:
Về thủ tục: Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng các thủ tục tại phiên tòa và cácthủ tục trước phiên tòa theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự Tại phiên tòa phúcthẩm các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật
Về nội dung: Theo khoản 3 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quyđịnh: “Trong trường hợp không có căn cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có
Trang 17tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung” Tuy bàHằng khai đất này là tài sản riêng bà tạo lập được trong thời kỳ ly thân nhưng chứng cứchứng minh do bà Hằng đưa ra chưa đủ cơ sở để thể hiện rõ ràng (bà Hằng mua đấtcủa ai, giấy tờ mua bán đất ) Quá trình thu thập chứng cứ, Tòa án cấp sơ thẩm chưalàm rõ được các chứng cứ chứng minh lý do tại sao ông Tân lại có tên trong giấy chứngnhận quyền sử dụng đất mà bà Hằng khai là tài sản riêng, do đó chưa đủ căn cứ đểtuyên xử cho bà Hằng được sở hữu tài sản trên.
Xét thấy những thiếu sót trong điều tra thu thập chứng cứ của cấp sơ thẩm đã làmảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của đương sự Do đó, việc đương sự kháng cáomột phần Bản án sơ thẩm số 34/2015/HNGĐ-ST ngày 17/9/2015 của Tòa án nhân dântỉnh Nam Định là có căn cứ
Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm - Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội căn cứkhoản 3 Điều 275 Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn vềnội dung tuyên xử cho bà Hằng có quyền sử dụng toàn bộ giá trị quyền sử dụng diệntích 60m2 đất tại số 11A Nguyễn Văn Cừ, xã Lộc An, thành phố Nam Định, tỉnh NamĐịnh, hủy một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2015/HNGĐ-ST ngày 17/9/2015 củaTòa án nhân dân Nam Định và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyếtlại vụ án
Căn cứ tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luậntại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các bên đương
sự và Kiểm sát viên
XÉT THẤY
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thành Tân nằm trong hạn luậtđịnh Tại phiên tòa phúc thẩm ông Tân vắng mặt, nhưng đã có ủy quyền hợp lệ cho bàNguyễn Thị Hà, theo giấy ủy quyền ngày 29/3/2016, có mặt Những người có quyền vànghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đức Kháng, bà Nguyễn Thị Hương vắng mặt, nhưng đã
có bà Hà đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 06/7/7/2015) Vì vậy, sự vắngmặt của các đương sự không ảnh hưởng đến việc xét xử
Về nội dung: Sau khi xét xử sơ thẩm, các bên đương sự không kháng cáo về phầnquan hệ hôn nhân và con chung, mà chỉ có bị đơn kháng cáo về phần tài sản liên quanđến việc giải quyết thửa đất số 2, tờ bản đồ số 9.1 và căn nhà trên đất, tọa lạc tại 11ANguyễn Văn Cừ, xã Lộc An, thành phố Nam định
Hội đồng xét xử nhận thấy: Về tài sản, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyếtcác tài sản sau:
- Nhà đất tại 3/55 (số mới 3/52) Phan Đình Giót, phường Năng Tĩnh, thành phốNam Định;
- Thửa đất số 2, tờ bản đồ số 9.1 tại số 11A Nguyễn Văn Cừ, xã Lộc An, thànhphố Nam Định và tài sản trên đất gồm nhà 4 tầng, 01 tum cùng trang thiết bị phònghát Karaoke
Trang 18Quâ trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, bă Hằng rút yíu cầu, đề nghị Tòa khôngxem xĩt, giải quyết đối với nhă đất tại 3/55 (số mới 3/52) Phan Đình Giót, phườngNăng Tĩnh, thănh phố Nam Định vă câc tăi sản trín thửa đất tại số 11A Nguyễn Văn
Cừ, xê Lộc An, thănh phố Nam Định Tòa ân cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết đối vớinhă đất tại 3/55 (số mới 3/52) Phan Đình Giót, phường Năng Tĩnh, thănh phố NamĐịnh lă có căn cứ
Tại phiín tòa hôm nay, bă Nguyễn Thị Hă trình băy trong thời gian bă Hằng xđynhă năm 2014, bă có cho bă Hằng vay 10.000 USD; nay bă đề nghị Tòa ân cấp phúcthẩm xem xĩt, buộc bă Hằng trả nợ cho bă Về vấn đề năy, tại phiín tòa sơ thẩm, băHằng có thừa nhận vay của bă Hă số tiền níu trín, nhưng giữa bă Hă vă bă Hằng đê có
sự thống nhất không yíu cầu Tòa giải quyết nín Tòa ân cấp sơ thẩm không giải quyết
lă đúng Sau khi xĩt xử sơ thẩm bă Hă cũng không có khâng câo về nội dung năy
Do đó, căn cứ văo điều 293 Bộ luật tố tụng dđn sự, Hội đồng xĩt xử không có cơ sởxem xĩt, giải quyết yíu cầu níu trín của bă Hă
Về khâng câo của bị đơn Nguyễn Thănh Tđn, Hội đồng xĩt xử thấy rằng: Vềthửa đất số 2, tờ bản đồ số 9.1 tại số 11A, Nguyễn Văn Cừ, xê Lộc An, thănh phố NamĐịnh, ông Tđn cho rằng đđy lă tăi sản chung vợ chồng vì được tạo lập trong thời kỳhôn nhđn bằng số tiền do ông lăm ăn, tích lũy Ông Tđn vă bă Hằng đê cùng nhau bănbạc mua đất, lăm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tại phiín tòa phúc thẩm, băHằng không thừa nhận lời khai trín của ông Tđn vă khẳng định thửa đất níu trín lă tăisản riíng của bă vì bă mua bằng nguồn tiền của riíng bă khi đi lao động tại Hăn Quốc
vă vay em trai lă ông Lí Duy Hùng, thời điểm năy hai vợ chồng đê sống ly thđn Hộiđồng xĩt xử phúc thẩm nhận thấy: Quâ trình chung sống ông Tđn vă bă Hằng thườngxuyín xa nhau vì phải đi lăm ăn xa Thửa đất níu trín do bă Hằng đứng ra nhận chuyểnnhượng của ông Hoăng Tuấn văo ngăy 02/7/2008 với số tiền 383.000.000 đồng văngăy 20/4/2010 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tín bă Hằng vă ôngTđn Như vậy, thửa đất tại số 11A Nguyễn Văn Cừ níu trín được tạo lập trong thời kỳhôn nhđn vă đê được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tín cả vợ, chồng.Tại điều 33 Luật Hôn nhđn vă gia đình năm 2014 quy định: “Tăi sản chung vợ chồnggồm tăi sản do vợ, chồng tạo ra Quyền sử dụng đất mă vợ, chồng có được sau khikết hôn lă tăi sản chung vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riíng,được tặng cho riíng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tăi sản riíng Trongtrường hợp không có căn cứ chứng minh tăi sản mă vợ, chồng đang có tranh chấp lă tăisản riíng của mỗi bín thì tăi sản đó được coi lă tăi sản chung” Thực tế thửa đất níutrín không phải lă tăi sản được tặng cho hay thừa kế riíng, mă do bă Hằng đứng ranhận chuyển nhượng Như vậy, trong trường hợp năy bă Hằng phải chứng minh đượcthửa đất níu trín bă Hằng nhận chuyển nhượng bằng tiền riíng của mình Tại phiíntòa bă Hằng khai có nhờ mẹ gửi tại Ngđn Hăng Công Thương 350.000.000 đồng Sốtiền năy lă của riíng bă Hằng, được tạo lập khi đi lao động tại Hăn Quốc Khi nhậnchuyển nhượng đất bă đê rút ra để thanh toân vă số tiền còn thiếu thì vay em trai lẵng Lí Duy Hùng; đồng thời bă Hằng cho rằng về thủ tục đăng ký, kí khai để cấpgiấy chứng nhận
Trang 19quyền sử dụng đất do bà một mình đứng tên, không hiểu vì sao giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất lại có cả tên ông Tân Do đó, cần xác minh làm rõ về nguồn tiền nhậnchuyển nhượng đất Việc kê khai, đăng ký có tên cả ông Tân, bà Hằng hay một mình bàHằng vì thực tế giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có cả tên bà Hằng, ông Tân
Đối với căn nhà trên đất nêu trên: Ông Tân kháng cáo cho rằng căn nhà trênthửa đất tại số 11A Nguyễn Văn Cừ là tài sản chung vợ chồng, quá trình xây dựng ôngTân có nhờ anh trai là ông Nguyễn Đức Kháng trông coi Tại phiên tòa phúc thẩm bàHằng và bà Hà (đại diện cho ông Tân tại phiên tòa) đều thống nhất xác nhận có việcông Kháng từ Miền Nam ra để trông coi thợ trong quá trình xây nhà Tại phiên tòaphúc thẩm ông Hùng khai ông là người bỏ tiền ra xây nhà hết hơn 01 tỷ đồng bằngnguồn tiền do bố mẹ ông vay Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ViệtNam với số tiền 300.000.000 đồng, vay chị gái ông hết 500.000.000 đồng Trong khi đóphía ông Tân cho rằng nhà là do vợ chồng xây Vì vậy, cũng cần phải xác minh, làm
rõ tiền xây nhà do ai bỏ ra, ông Tân có biết Hợp đồng góp vốn giữa bà Hằng, ôngTuấn Anh, ông Hùng không; lý do vì sao việc xây nhà lại có sự giúp đỡ của anh traiông Tân, trong khi bà Hằng khai việc xây nhà là thực hiện hợp đồng góp vốn, khôngliên quan đến ông Tân vì thời điểm đó hai người đã sống ly thân, không còn quan tâmđến nhau Tại phiên tòa sơ thẩm, Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ôngTân có ý kiến không đề nghị Tòa giải quyết tài sản trên đất Tuy nhiên, ông Tân vắngmặt tại phiên tòa, Luật sư tham gia tố tụng không phải với tư cách đại diện cho ôngTân, sau khi xét xử sơ thẩm, ông Tân có kháng cáo về phần giải quyết căn nhà trên đấtnên cần phải được xem xét nội dung kháng cáo này của ông Tân
Như vậy, các chứng cứ về nguồn tiền nhận chuyển nhượng đất, việc kê khai,đăng ký quyền sử dụng đất, cũng như việc xây dựng nhà trên đất còn có nhiều vấn đềchưa được làm rõ, cần cho đối chất, xác minh làm rõ các vấn đề nêu trên mới có đủ cơ
sở xác định thửa đất tại số 11A Nguyễn Văn Cừ nêu trên là tài sản riêng của bà Hằnghay tài sản chung vợ chồng; công sức đóng góp của các bên trong trường hợp xác địnhthửa đất nêu trên là tài sản chung vợ chồng; căn nhà xây dựng bằng nguồn tiền của ai,mục đích xây dựng, mới có cơ sở xác định chủ sở hữu căn nhà Những nội dung nàyTòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục bổ sung được Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn
cứ vào lý do thửa đất được tạo lập trong thời kỳ ông Tân và bà Hằng ly thân và ôngTân cùng Luật sư của ông Tân không đưa ra được chứng cứ chứng minh ông Tân cógửi tiền về mua đất cùng bà Hằng để bác yêu cầu của ông Tân xác định đất là tài sảnchung vợ chồng, khi chưa làm rõ các nội dung nêu trên là chưa đủ căn cứ vì chưa đượcđánh giá toàn diện các tình tiết khách quan của vụ án Vì vậy, đề nghị của đại diệnViện kiểm sát cấp cao tại phiên tòa là có cơ sở chấp nhận Tuy nhiên, Hội đồng xét xửnhận thấy cần hủy cả phần giải quyết về tài sản trên đất để giải quyết lại như đã phântích trên
Từ các căn cứ trên, Hội đồng xét xử nhận thấy có cơ sở chấp nhận kháng cáo của
bị đơn ông Nguyễn Thành Tân, hủy phần giải quyết về tài sản của Bản án sơ
Trang 20thẩm nêu trên là nhà đất tại thửa số 2, tờ bản đồ số 9.1 tọa lạc tại 11A Nguyễn Văn Cừ,
xã Lộc An, thành phố Nam Định, để giải quyết lại theo thủ tục chung
Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị đơn không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét
Vì các lẽ trên,Căn cứ khoản 3 Điều 308; khoản 1 Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 33,
59, 61 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
QUYẾT ĐỊNH:
Bản án sơ thẩm số 34/2015/HNGĐ-ST ngày 17/9/2015 của Tòa án nhân dântỉnh Nam Định về phần giải quyết về tài sản là nhà, đất tại thửa số 2, tờ bản đồ số 9.1theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 852187 do Uỷ ban nhân dân thành phốNam Định cấp ngày 20/4/2010 tọa lạc tại 11A Nguyễn Văn Cừ, xã Lộc An, thành phốNam Định
2 Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử lại phần tài sản nêu trên theo thủ tục chung
3 Ông Nguyễn Thành Tân không phải chịu án phí phúc thẩm, được hoàn lại200.0 đồng theo Biên lai số BB/2012/07416 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nam Định
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệulực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án
Các thẩm phán (đã ký)
================================================
BUỔI THỨ TƢ, THỨ NĂM, VẤN ĐỀ: QUAN HỆ PHÁP LUẬT GIỮA CHA,
MẸ, CON; QUAN HỆ CẤP DƢỠNG GIỮA CÁC THÀNH VIÊN
GIA ĐÌNH
I Trả lời/ phân tích/ làm sáng tỏ các câu hỏi sau:
1 Phân tích nguyên tắc và căn cứ xác định con chung của vợ chồng.
2 Trình bày các hình thức và thủ tục xác định con sinh ra do sinh đẻ Quan điểm
của bạn về pháp luật thực định với việc bảo đảm quyền được khai sinh của trẻ em?
3 Khái niệm, mục đích và ý nghĩa của việc nhận nuôi con nuôi ?
4 Phân tích các điều kiện nhận nuôi con nuôi và căn cứ chấm dứt việc nuôi con
nuôi theo Luật NCN năm 2010