1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

trong tình huống có tình tiết người được tặng cho đã thực hiện điều kiện nhưng bên tặng cho không chuyển giao tài sản dẫn tới phát sinh tranh chấp giữa hai bên giải quýêt tình huống theo pháp luật hiện hành

10 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 138,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

a Khái niệm: Theo quy định của Bộ luật Dân sự hiện hành hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quỳên sở hữu cho bê

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG 3

I.Cơ sở lý luận 3

1 Hợp đồng dân sự 3

2 Hợp đồng tặng cho tài sản 3

3 Hợp đồng tặng cho có điều kiện 4

II Xây dựng tình huống 5

III Giải quýêt tình huống 6

1 Phân tích tình huống 6

2 Giải quýêt tình huống theo pháp luật hiện hành 6

Đánh giá quy định của pháp luật về tặng cho tài sản có điều kiện 8

KẾT LUẬN 9

Trang 2

MỞ ĐẦU

Ngày nay cùng với sự phát triển, tiến bộ của con người, trong cuộc sống để phục vụ nhu cầu của bản thân, chúng ta luôn xác lập những giao dịch dân sự với nhau, đặc biệt là hợp đồng dân sự như mua bán, vay, thuê, trao đổi tài sản,… được

Bộ luật Dân sự điều chỉnh Một trong số đó là hợp đồng tặng cho tài sản, trong thời gian qua việc tranh chấp liên quan đến hợp tặng cho tài sản mà đặc biệt là hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện tăng lên nhanh chóng, nhận được nhiều sự quan tâm của dân chúng Để tìm hiểu kĩ hơn về vấn đề này em xin chọn đề bài:

“Xây dựng một tình huống về tặng cho tài sản có điều kiện Yêu cầu: trong

tình huống có tình tiết người được tặng cho đã thực hiện điều kiện nhưng bên tặng cho không chuyển giao tài sản dẫn tới phát sinh tranh chấp giữa hai bên Giải quýêt tình huống theo pháp luật hiện hành”

Trang 3

NỘI DUNG

I.Cơ sở lý luận.

1 Hợp đồng dân sự.

a) Khái niệm: Theo Điều 388 Bộ luật Dân (BLDS) sự năm 2005 quy định:

“Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quỳên, nghĩa vụ dân sự”

b) Đặc điểm:

_ Trong quan hệ hợp đồng dân sự luôn xác định được các bên chủ thể

_ Luôn có yếu tố thỏa thuận giữa các bên, đây vừa là nguyên tắc vừa là đặc trưng của hợp đồng dân sự, yếu tố thỏa thuận được thể hiện ở tất cả giai đoạn của hợp đồng

_ Phải có sự thống nhất giữa ý chí và sự thể hiện ý chí của các bên Thiếu

sự thống nhất này hợp đồng dân sự có thể bị tuyên vô hiệu

2 Hợp đồng tặng cho tài sản.

a) Khái niệm:

Theo quy định của Bộ luật Dân sự hiện hành hợp đồng tặng cho tài sản là

sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quỳên sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận

b) Đặc điểm:

_ Hợp đồng tặng cho tài sản là hợp đồng không có đền bù Đặc điểm này được thể hiện ở việc một bên chuyển giao tài sản và quỳên sở hữu tài sản cho bên được tặng cho, còn bên được tặng cho không có nghĩa vụ trả lại cho bên tặng cho bất kỳ lợi ích nào

_ Hợp đồng tặng cho tài sản là hợp đồng thực tế Đặc điểm thực tế của hợp đồng được thể hiện khi bên được tặng cho nhận tài sản thì khi đó quỳên của các bên mới phát sinh Do vậy, mọi thỏa thuận chưa có hiệu lực khi chưa giao tài sản.1

Trang 4

3 Hợp đồng tặng cho có điều kiện.

Điều 470 Bộ Luật dân sự năm 2005 quy định về tặng cho có điều kiện như sau:

“1 Bên tặng cho có thể yê cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa

vụ dân sự trước hoặc sau khi tặng cho Điều kiện tặng cho không được trái với pháp luật, đạo đức xã hội

2 Trong trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghã vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện

3 Trong trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yê cầu bồi thường thiệt hại”

Trong hợp đồng tặng cho tài sản, bên tặng cho có thể đưa ra các điều kiện nhận tài sản tặng cho Điều kiện tặng cho do bên tặng cho đưa ra có thể trước hoặc sau khi chuyển tài sản tặng cho, điều kiện mà bên tặng cho đưa ra phải thỏa mãn:

 Không trái pháp luật

 Không trái đạo đức xã hội

 Các điều kiện phải có khả năng thực hiện được trên thực tế

 Không được thỏa thuận các điều kiện gây tổn hại đến quỳên hoặc trốn tránh nghĩa vụ với bên thứ ba

Ngoài ra điều kiện tặng cho phải hướng đến lợi ích của người được tặng cho hoặc lợi ích của người thứ ba Nếu bên được tặng cho thực hiện điều kiện tặng cho thì có quỳên sở hữu đối với tài sản tặng cho

Nếu điều kiện tặng cho trước khi nhận tài sản thì bên được tặng cho phải thực hiện xong điều kiện đó mới được nhận tài sản Nếu bên được tặng cho thực hiện xong điều kiện tặng cho mà bên tặng cho không chuyển giao tài sản thì bên được tặng cho có quỳên yêu cầu bên tặng chi thanh toán chi phí mà bên được tặng cho đã bỏ ra

Trường hợp điều kiện tặng cho phải thực hiện sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quỳên đòi lại tài giỏi sản Nếu người được tặng cho không thể trả lại tài sản tặng cho do tài sản đã bị tiêu hủy, hư hỏng thì phải bồi thường thiệt hại Trường hợp này được coi là thời điểm có hiệu lực của

Trang 5

hợp đồng tặng cho tài sản do các bên thỏa thuận mà không phụ thuộc vào việc chuyển giao tài sản

II Xây dựng tình huống

Xây dựng một tình huống về tặng cho tài sản có điều kiện Yêu cầu: trong tình huống có tình tiết người được tặng cho đã thực hiện điều kiện nhưng bên tặng cho không chuyển giao tài sản dẫn tới phát sinh tranh chấp giữa hai bên.

Bà A có 2 người con trai là anh D và anh N Anh D 24 tuổi đã lấy vợ là chị

H, hai anh chị đều là công nhân trong 1 nhà máy X và hiện đang sống cùng gia đình vợ Anh N 20 tuổi nhưng bị bệnh tâm thần sống cùng mẹ

Ngày 10 tháng 9 năm 2014 anh N bị tai nạn giao thông và phải ở bệnh viện điều trị Do bận công việc nên bà A hứa tặng cho anh D quyền sử dụng mảnh đất 60m2 với điều kiện vợ chồng anh D phải chăm sóc cho anh N bị tai nạn giao thông đang điều trị trong bệnh viện đến khi khỏi bệnh, vợ chồng anh D đồng ý

Để chăm sóc em trai chồng, chị H phải xin nghỉ ở xí nghiệp để vào viện trông nom anh N Đồng thời vợ chồng anh D thanh tóan tất cả các khoản viện phí và thuốc men cho em trai mình ở bệnh viện

Ngày 10 tháng 11 năm 2014 anh N khỏi bệnh và được xuất viện Sau đó, mặc dù anh N đã khỏi bệnh và xuất viện được nửa năm xong bà A vẫn không muốn chuyển giao quỳên sử dụng đất của mình cho anh D mà muốn bán mảnh đất đó đi

vì giá đất chỗ đó đang lên

Vợ chồng anh D không đồng ý cho rằng mẹ là bà A đã vì phạm hợp đồng, không thực hiện đúng lời hứa và thỏa thuận trước đó Bà A Hai bên xảy ra tranh chấp

Trang 6

III Giải quýêt tình huống.

1 Phân tích tình huống

Trong tình huống trên có 3 sự kiện:

- Bà A hứa tặng cho vợ chồng anh D quỳên sử dụng mảnh đất 60m2 với điều kiện phải chăm sóc em trai là anh N bị tai nạn giao thông đang điều trị trong bệnh viện đến khi khỏi bệnh

- Chị H - vợ anh D nghỉ làm để trông nom em chồng trong viện, vợ chồng anh D chi trả toàn bộ viện phí cho anh N

- Sau khi chăm sóc anh N khỏi bệnh, nhưng bà A không chuyển quỳên

sử dụng đất cho anh N mà có ý định bán Như vậy, ở đây ta xác định được hai bên chủ thể, một bên là bà A và một bên

là vợ chồng anh D; hai bên có sự thỏa thuận và sự thảo luận hoàn toàn tự nguyện,

là ý chí của mỗi bên chủ thể, phù hợp với ý chí nhà nước Do đó, ta có thể xác định đây là một hợp đồng dân sự

Bên cạnh đó, trong tình huống trên bà A hứa tặng cho vợ chồng anh D quỳên sử dụng mảnh đất 60m2 Trước hết ta xác định đây là hợp đồng tặng cho tài sản, là hợp đồng đơn vụ không có đơn bù Ngoài ra bà A đưa ra điều kiện để được nhận tài sản tặng cho đó là vợ chồng anh D phải chăm sóc em trai bị tai nạn trong bệnh viện Điều kiện này không hướng đến vì lợi ích của bà A mà vì lợi ích của người thứ ba là anh N, và điều kiện này không trái với pháp luật, đạo đức xã hội, phải thực hiện trước khi được tặng cho Như vậy đây là hợp đồng tặng cho có điều kiện

2 Giải quýêt tình huống theo pháp luật hiện hành.

a) Thực hiện biện pháp hòa giải

Một trong những nguyên tăc cơ bản của pháp luật dân sự đó là nguyên tắc hòa giải Trong tranh chấp dân sự, pháp luật khuyến khích việc các bên tự hòa giải, bên cạnh đó bà A và anh D là mẹ con ruột, do vậy việc các bên tự hòa giải sẽ dễ dàng hơn, các bên sẽ tự thỏa thuận với nhau để giải quýêt vấn đề mà không cần phải đưa nhau ra tòa án Ngoài ra, vì là người một nhà việc kiện nhau ra tòa sẽ phần nào cũng sẽ làm xấu đi mối quan hệ của các bên sau này Do đó, trong tình huống trên trước hết khuyến khích để các bên tự hòa giải

Trang 7

b) Nếu các bên không tự hòa giải được thì sẽ giải quýêt theo quy định của pháp luật

Trước hết như đã phân tích ở trên đây là hợp đồng tặng cho có điều kiện Điều

470 Bộ luật Dân sự quy định về hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện như sau: “1 Bên tặng cho có thể yê cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa

vụ dân sự trước hoặc sau khi tặng cho Điều kiện tặng cho không được trái với pháp luật, đạo đức xã hội

2 Trong trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghã vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện

3 Trong trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yê cầu bồi thường thiệt hại”

_ xét về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng

BLDS không quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho có điều kiện, do đó ta sẽ áp dụng quy định chung về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản Theo đó, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản là khi bên được tặng cho nhận tài sản đối với bất động sản, và kể từ thời điểm đăng ký đối với bất động sản (Điều 466 và 467 BLDS)

Ngoài ra theo quy định tại Điều 168 BLDS về thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản thì:

“1 Việc chuyển quyền sở hữu đối với bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sở hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

2 Việc chuyển quyền sở hữu đối với động sản có hiệu lực kể từ thời điểm động sản được chuyển giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”

Trong tình huống trên, đối tượng tặng cho ở đây là quỳên sử dụng đất, và các bên mới thỏa thuận với nhau và anh D chưa làm thủ tục đăng ký quỳên sử dụng đất Do đó, hợp đồng tặng cho có điều kiện giữa bà A và vợ chồng anh D chưa có hiệu lực Quỳên sử dụng mảnh đất vẫn thuộc về bà A

Như vậy, bà A hoàn toàn có quỳên không chuyển quỳên sử dụng đất cho anh

D và bán mảnh đất đó mà không vi phạm hợp đồng

Ở đây, anh N bị bệnh tâm thần, bà A là người giám hộ đương nhiên của anh N theo pháp luật, do đó việc chăm sóc anh N trong bệnh viện cũng là nghĩa vụ của bà

Trang 8

vậy, khi không muốn thực hiện nghĩa vụ chuyển quỳên sử dụng đất như trong thỏa thuận bà A phải thanh toán các khoản chi phí cho việc chăm sóc anh N trong thời gian ở bệnh viện cho vợ chồng anh D khoản 2 Điều 470 BLDS 2005

 Vợ chồng anh D thanh toán các khoản viện phí cho việc điều trị của anh N trong thời gian ở viện

 Chị H - vợ anh D xin nghỉ làm để chăm sóc anh N

Như vậy ở đây, trước hết bà A phải thanh toán các khoản viện phí mà vợ chồng anh D bỏ ra trả cho việc nằm viện của anh D Thứ hai,chị H đang là công nhân của nhà máy X, để chăm sóc anh N, chị H phải xin nghỉ làm 2 tháng ( từ ngày 10/9/2014 đến ngày 10/11/2014) do đó, bà A phải thanh toán 2 tháng lương mà chị

H xin nghỉ để chăm sóc anh N

IV Đánh giá quy định của pháp luật về tặng cho tài sản có điều kiện

Cùng đặc điểm, tính chất với hợp đồng tặng cho tài sản thông thường nên hợp đồng tặng cho tài sản cũng là hợp đồng thực tế Theo đó, thời điềm giao kết không làm phát sinh hiệu lực của hợp đồng mà chỉ khi bên tặng cho giao tài sản và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho thì hợp đồng mới phát sinh hiệu lực Do vậy khi áp dụng quy định của pháp luật vào thực tiễn cần lưu ý về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng

- Trong trường hợp nghĩa vụ, công việc phải được thực hiện trước và đã hoàn thành nhưng bên tặng cho không giao tài sản tặng cho:

Lúc này bên được tặng cho không thể nói là bên tặng cho vi phạm hợp đồng và phải bồi thường thiệt hại cho mình bởi hợp đồng tặng cho chưa phát sinh hiệu lực Trường hợp này, pháp luật chỉ yêu cầu bên tặng cho phải thanh toán chi phí thực hiện nghĩa vụ cho bên được tặng cho Đến đây, hợp đồng tặng cho ban đầu dường như là một hợp đồng dịch vụ, và khi có tranh chấp sẽ áp dụng các quy định của hợp đồng dịch vụ để giải quyết Quy định như vậy là hợp lý, bởi theo quy định của pháp luật về sở hữu, chủ sở hữu tài sản có toàn quyền định đoạt đối với tài sản của mình Do đó, họ có quyền tặng cho, bán, tiêu hủy… tài sản tùy ý Hơn nữa, trong thời gian bên được tặng cho thực hiện nghĩa vụ hợp đồng tặng cho không hề phát sinh hiệu lực, tài sản vẫn thuộc sở hữu của bên tặng cho nên họ có toàn quyền với tài sản, được cân nhắc quyết định có hay không tặng cho

- Trong trường hợp nghĩa vụ phải thực hiện sau khi tặng cho nhưng bên được tặng cho không thực hiện Lúc này, hợp đồng tặng cho đã phát sinh hiệu lực nhưng chưa chấm dứt bởi còn chờ điều kiện do các bên thỏa thuận xảy ra Hiệu lực của hợp đồng trong trường hợp này phụ thuộc vào việc thực hiện nghĩa vụ của bên được tặng cho: nghĩa vụ hoàn thành, hợp đồng chấm dứt; nghĩa vụ không

Trang 9

được hoàn thành hợp đồng bị hủy bỏ Do đó, luật ghi nhận quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại cho bên có tài sản tặng cho là hợp lí.2

_ Bên cạnh đó, quy định về tặng cho tài sản có điều kiện vẫn còn hạn chế Như quy định về điều kiện tặng cho điều kiện trong hợp đồng tặng cho tài sản phải thỏa mãn các yếu tố sau đây: Điều kiện tặng cho phải được xác định cụ thể Đây chính

là yêu cầu nói chung đối với đối tượng của nghĩa vụ dân sự Việc xác định cụ thể điều kiện tặng cho là cơ sở quan trọng giúp bên được tặng cho thực hiện được chính xác yêu cầu của bên tặng cho; Điều kiện tặng cho phải có thể thực hiện được Đây là yếu tố quan trọng, nhằm tránh việc bên tặng cho đưa ra điều kiện mang tính chất “thách đố”, không thể thực hiện được trên thực tế; Điều kiện tặng cho không nhằm mang lại lợi ích cho chính bên tặng cho vì hợp đồng tặng cho là hợp đồng không có đền bù nên nếu điều kiện mang lại lợi ích cho bên tặng cho thì

sẽ không đúng với bản chất của loại hợp đồng này; Điều kiện tặng cho không được trái pháp luật, đạo đức xã hội Việc đưa ra những tiêu chí rõ ràng về điều kiện tặng cho sẽ là cơ sở pháp lý để từ đó xác định tính hợp pháp của điều kiện tặng cho trong các vụ tranh chấp trên thực tế tránh được sự lúng túng, khó khăn như hiện nay liên quan đến việc xác định điều kiện tặng cho.3

KẾT LUẬN

Như vậy, trong thực tiễn cuộc sống việc xảy ra tranh chấp trong quan hệ dân sự

là rất phổ biến, đa dạng, phong phú Do đó, pháp luật cần có những quy định chặt chẽ, cụ thể để định hướng, hướng dẫn cho việc giải quýêt tranh chấp, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt là pháp luật dân sự

2https://luatduonggia.vn/quy-dinh-ve-hop-dong-tang-cho-tai-san-co-dieu-kien

3

(http://quocoai.hanoi.gov.vn/6/-/news/rbSWps8YhFdA/356517.html;jsessionid=+

Trang 10

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ luật Dân sự năm 2005

2 Giáo trình luật Dân sự

3 Trang web:

https://luatduonggia.vn/quy-dinh-ve-hop-dong-tang-cho-tai-san-co-dieu-kien

https://luatminhgia.com.vn/hoi-dap-dat-dai/luat-su-tu-van-ve-hop-dong-tang-cho-quyen-su-dung-dat.aspx

http://quocoai.hanoi.gov.vn/6/-/news/rbSWps8YhFdA/356517.html;js essionid=+BaElvNlhlJsZS93kzpPpwBc.app2

Ngày đăng: 29/12/2021, 17:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w