Tình hình đái tháo đường hiện nay: Đái tháo đường ĐTĐ là một bệnh rối loạn chuyển hoá rất thường gặp.. Hiện nay nó không còn là một bệnh phổ biến tại các nước công nghiệp phát triển mà
Trang 1Chế độ ǎn trong bệnh đái tháo đường
1 Tình hình đái tháo đường hiện nay:
Đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh rối loạn chuyển hoá rất thường gặp Hiện nay
nó không còn là một bệnh phổ biến tại các nước công nghiệp phát triển mà ngay
cả những nước đời sống còn thấp cũng đang gia tǎng Có thể đây cũng là một bệnh xã hội không lây truyền của thế kỷ 21
2 Chẩn đoán và phân loại:
Đái tháo đường được liệt vào nhóm rối loạn chuyển hoá Do rối loạn chuyển hoá đường nên bệnh nhân sẽ bị tǎng đường huyết, cụ thể là tǎng glucose trong máu và đến một mức nào đó thì sẽ xuất hiện đường niệu tức là có glucose trong nước tiểu ở giai đoạn đã muộn này thì các triệu chứng kinh điển là:
Uống nhiều - đái nhiều - gầy nhanh
Đường huyết tǎng - có đường trong nước tiểu
Bệnh gây nhiều chứng quan trọng dẫn đến tàn phế và tử vong
Cần phát hiện ra sớm đái đường để có chế độ dinh dưỡng hợp lý, nhất là ở người trẻ, tiền
sử gia đình đã có người bị đái đường hoặc ở những người lớn tuổi bị béo quá mức Đái đường có thể là:
Đái tháo đường nguyên phát: có 2 loại
Loại 1 Phụ thuộc insulin, chiếm khoảng 10%
Loại 2 Không phụ thuộc insulin, chiếm khoảng 90% Đa số là ở người béo nên còn gọi là đái tháo đường thể béo
Đái tháo đường thứ phát:
Bệnh ở tuỵ: sỏi tuỵ, viêm tuỵ, phẫu thuật cắt tuỵ
Do nội tiết: Bệnh Cushing hội chứng cushing, u thượng thận
Do dùng thuốc: corticoid, thuốc chẹn beta, lợi tiểu thải kali
Do rối loại bộ phận nhậy cẩm insulin hoặc do rối loạn cấu trúc insulin
Đái tháo đường thai nghén: Do rối loạn dung dịch nạp glucose trong thời kỳ mang thai
Do rối loại dung nạp glucose
3 Chế độ ǎn trong bệnh đái tháo đường:
Đái đường loại 2 thì chế độ ǎn là biện pháp điều trị và phòng bệnh Nguyên tắc trong chế
độ ǎn là:
ǎn các loại thực phẩm giàu glucit phức hợp, giảm hẳn các dạng đường ngọt như fructose (trong mật ong, quả ngọt), glucose, đường kính, mật
Tǎng cường chất xơ
Hạn chế chất béo nhất là mỡ và cholesterol, hạn chế rượu, bia
Đủ vitamin, các chất khoáng và vi lượng
Cụ thể là:
Trang 2a Tổng nǎng lượng cho một ngày tính theo qui ước:
Nằm điều trị tại giường: 25kcal/kg cân nặng/ngày
Hoạt động nhẹ tại nhà: 30kcal/kg cân nặng/ngày
Hoạt động vừa: 35kcal/kh cân nặng/ngày
Hoạt động nặng: 40kcal/kg cân nặng/ngày
Ví dụ: Một bệnh nhân nặng 60 kg, hoạt động nhẹ tại nhà thì mỗi ngày cần: tổng nǎng
lượng = 30 x 60 kg = 1800 kcal
b Tỷ lệ thành phẩn của các thức ǎn trong ngày nên:
Chất bột đường: 55 - 60% tổng nǎng lượng Trong đó đường ǎn càng ít càng tốt Nếu bệnh nhân quen ǎn đường thì có thể thay bằng đường không sinh nǎng lượng (Aspartam)
Chất đạm (protein): 12-20% tổng nǎng lượng Trung bình là 15% ǎn nhiều chất đạm (protein) quá dễ làm đẩy nhanh quá trình xơ hoá cầu thận, gây suy thận, một biến chứng quan trọng của đái đường
Chất béo (lipid): Không vượt quá 30% tổng nǎng lượng Trung bình 20%
Giảm các chất béo từ nguồn động vật như mỡ, bơ, không nên ǎn các loại thực phẩm có nhiều cholesterol như óc, lòng, tim gan, thận
Chất xơ: 40 g/ngày
Vitamin, chất khoáng và yếu tố vi lượng: có nhiều trong rau, quả, đậu đỗ
c Phân bố bữa ǎn trong ngày để hạn chế tǎng đường huyết quá mức sau ǎn và chia thành 3 bữa chính và 1-3 bữa phụ:
ǎn sáng (6h30- 7h30): 20% tổng nǎng lượng
ǎn trưa (11h30 - 12h00): 30% tổng nǎng lượng
ǎn tối (18h30 -19h00): 30% tổng nǎng lượng
ǎn nhẹ đêm (21h00): 20% tổng nǎng lượng