Từ thực trạng công tác giáo dục hướng nghiệp trong các trường THPT nói chung, trong các trường THPT Thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng còn kém hiệu quả, tác giả chọn nghiên cứu
Trang 1Chương 1
MỞ ĐẦU 1.1 Tổng quan nghiên cứu
Việt Nam đang trong tiến trình đổi mới và hội nhập Quốc tế Nhu cầu việc làm và giải quyết việc làm ngày càng là yêu cầu quan trọng
và bức thiết
Giáo dục hướng nghiệp ở trong trường phổ thông đảm bảo mọi học sinh đều được trang bị kiến thức, phương pháp, công cụ và sự hỗ trợ tư vấn cần thiết để có thể xác định định hướng phù hợp cho tương lai Giáo dục hướng nghiệp giúp học sinh trung học phổ thông sau khi tốt nghiệp lựa chọn cho mình một ngành nghề nhất định Nếu lựa chọn đúng, chọn được ngành nghề phù hợp với bản thân thì các em phát huy được hết năng lực, sở trường của mình cống hiến cho gia đình và xã hội Giáo dục hướng nghiệp tốt ở bậc phổ thông không những giúp các em có sự lựa chọn đúng tương lai ngành nghề, mà còn giúp các em tự điều chỉnh, phấn đấu vươn lên trong học tập Ở mức độ rộng hơn, giáo dục hướng nghiệp góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội
1.2 Lý do chọn đề tài
Giáo dục hướng nghiệp ngày càng trở thành nhu cầu không thể thiếu của mỗi học sinh phổ thông Tuy nhiên, công tác giáo dục hướng nghiệp hiện nay chưa được quan tâm một cách đúng mức từ phía xã hội, nhà trường và gia đình Việc thiếu thông tin về ngành, nghề dẫn đến nhiều học sinh lúng túng trong việc chọn trường, chọn ngành học để đăng ký dự thi vào cao đẳng, đại học (ĐH - CĐ) Học sinh chọn nghề
Trang 2sau tốt nghiệp THPT theo trào lưu, không theo năng lực, nguyện vọng
và điều kiện bản thân không chỉ khiến học sinh lãng phí thời gian, công
sức, tiền của mà còn gây nên mất cân bằng xã hội Hệ quả nhiều sinh
viên sau một vài năm học tại giảng đường ĐH - CĐ đã cảm thấy thất vọng trước quyết định ban đầu của mình vì không chọn ngành, nghề phù hợp
Từ thực trạng công tác giáo dục hướng nghiệp trong các trường THPT nói chung, trong các trường THPT Thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng còn kém hiệu quả, tác giả chọn nghiên cứu đề tài
“Quản lý hoạt động hướng nghiệp trong các trường THPT Thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc”
1.4.2 Đối tượng nghiên cứu
Các giải pháp quản lý nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp trong các trường THPT Thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
1.5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT;
Trang 3Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng công tác giáo dục hướng nghiệp trong các trường THPT Thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc;
Đề xuất các giải pháp quản lý nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp trong các trường THPT Thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc;
1.6 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp và đề xuất một số giải pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp trong các trường THPT Thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
1.7 Phương pháp nghiên cứu
1.7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
1.7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
1.7.2.1 Phương pháp quan sát
1.7.2.2 Phương pháp phỏng vấn
1.7.2.3 Phương pháp điều tra bằng phiếu
1.7.2.4 Phương pháp chuyên gia
1.7.2.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
1.7.3 Nhóm các phương pháp thống kê toán học, xử lý số liệu thu được
Trang 4Chương 2
CƠ SỞ LÍ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TRONG TRƯỜNG THPT
2.1 Giáo dục hướng nghiệp ở một số nước trên thế giới
Từ lâu, ở nhiều nước trên thế giới, giáo dục hướng nghệp và tư vấn hướng nghiệp giữ vai trò rất quan trọng trong hệ thống giáo dục Hoạt động này được tích hợp trong nhiều môi trường giáo dục khác nhau Một
số nước như Pháp, Đức, Mỹ, Ấn Độ, Úc……, quyền được bảo đảm tư vấn hướng nghiệp còn được khẳng định trong các bộ luật Trong luận văn, tôi có đề cập đến:
2.1.1 Giáo dục hướng nghiệp ở Cộng hòa Pháp
2.1.2 Giáo dục hướng nghiệp ở Liên bang Nga
2.1.3 Giáo dục hướng nghiệp ở Cộng hào Liên bang Đức
2.1.4 Giáo dục hướng nghiệp ở một số nước Bắc Âu
2.1.5 Giáo dục hướng nghiệp ở Mỹ
2.1.6 Giáo dục hướng nghiệp tại Nhật Bản
2.2 Giáo dục hướng nghiệp ở Việt Nam
Công tác GDHN ở nước ta đã được đề cập rất rõ nét trong Nghị quyết số 14-NQ/TW ngày 11 tháng 1 năm 1979 của Ban tổ chức Trung ương về cải cách giáo dục từ đó đến nay, công tác GDHN luôn được thể hiện trong các văn kiện của Đảng và từng bước được phát triển theo hướng “cập nhật” những kiến thức mới, xu hướng phát triển của xã hội
và thực tiễn của đất nước
Trang 5Các tác giả Phạm Tất Dong, Đặng Danh Ánh, Đoàn Chi đã nghiên cứu về hứng thú, khuynh hướng nghề nghiệp của học sinh và xây dựng chương trình hướng nghiệp chính khóa cho học sinh phổ thông.
Những năm gần đây cũng đã có một số luận án tiến sĩ nghiên cứu về vấn đề GDHN trong các trường phổ thông và đã được xuất bản thành sách, ví dụ “Đổi mới GDHN cho học sinh phổ thông” NXB Giáo dục Việt Nam của tác giả Bùi Việt Phú Đã cho thấy một bức tranh tương đối toàn cảnh về GDHN ở nước ta hiện nay
2.3 Một số khái niệm cơ bản
Trong luận văn chúng tôi có đề cập một số khái niệm cơ bản liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu, đó là các khái niệm:
2.3.1 Quản lý
2.3.2 Quản lý giáo dục
2.3.3 Quản lý trường học
2.3.4 Quản lý giáo dục hướng nghiệp
Sơ đồ 1 1: Các thành tố của quản lí giáo dục hướng nghiệp 2.4 Hướng nghiệp và Giáo dục hướng nghiệp
2.4.1 Hướng nghiệp: “Hướng nghiệp là hệ thống các giải pháp dựa
trên cơ sở tâm lý học, sinh lý học, giáo dục học,xã hội học, y học và
Trang 6nhiều khoa học khác để giúp thế hệ trẻ chọn nghề phù hợp trong tương lai với nhu cầu xã hội, đồng thời thỏa mãn nguyện vọng, thích hợp với năng lực sở trường và điều kiện tâm lý cá nhân, nhằm mục đích phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động sẵn có của đất nước”.Muốn làm tốt nhiệm vụ hướng nghiệp cho học sinh phổ thông cần
có sự kết hợp chặt chẽ giữa 3 nội dung (3 khâu): định hướng nghề, tư vấn nghề và tuyển chọn nghề
2.4.2 Giáo dục hướng nghiệp: “GDHN là hướng dẫn cho học sinh
ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường sớm có ý thức về một nghề mà
Tư vấn nghề
Tuyển chọn nghề
Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa ba khâu trong công tác hướng nghiệp
Trang 7vào ngành nghề, vào lao động sản xuất, đấu tranh, xây dựng và bảo vệ
2.6 Đa dạng hóa phương thức tổ chức giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT.
Chỉ thị 33/2003/CT - BGDĐT đã xác định “Giáo dục hướng nghiệp
cho HS phổ thông bằng các hình thức: Tích hợp nội dung hướng nghiệp vào các môn học, lao động sản xuất và học nghề phổ thông, hoạt động sinh hoạt hướng nghiệp và các hoạt động ngoại khóa khác”
2.6.1 Hướng nghiệp qua các môn văn hóa
Tích hợp GDHN vào các môn văn hóa là hình thức giáo dục hướng nghiệp có khả năng thực hiện lâu dài, thường xuyên và hiệu quả Qua các môn văn hóa, GV có thể giới thiệu cho HS các nghề cơ bản có liên quan trực tiếp tới môn học, những khả năng và thành tựu cũng như sự phát triển của một số ngành nghề chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và công nghệ thông tin
2.6.2 Hoạt động giáo dục nghề phổ thông và lao động sản xuất
Qua tham gia HĐGDNPT và lao động sản xuất, HS không những có
cơ hội để thử sức mình trong một hoạt động lao động nghề nghiệp cụ thể
mà còn có điều kiện khám kĩ năng thiết yếu, nâng cao nhận thức nghề
Trang 8nghiệp và ý thức, thái độ lao động, từ đó đưa ra quyết phá khả năng, sở thích, cá tính và giá trị nghề nghiệp của bản thân, nâng cao các định chọn nghề tương lai sao cho phù hợp.
2.6.3 Hướng nghiệp qua hoạt động ngoại khóa, tham quan
Việc tổ chức cho HS tham quan các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp, các cơ sở đào tạo nghề… nhằm tạo điều kiện cho HS được tận mắt quan sát cơ chế vận hành máy móc trong sản xuất, các hoạt động của người lao động và các sản phẩm của quá trình lao động Nhờ đó, HS hiểu rõ hơn đối tượng lao động, yêu cầu lao động của ngành nghề mà
HS mới chỉ biết qua sách vở, đồng thời khơi dậy trong các em hứng thú đối với nghề nghiệp
2.7 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT
2.7.1 Chức năng kế hoạch hóa
Lập kế hoach giáo dục hướng nghiệp tạo cơ sở ban đầu rất quan trọng để thực hiện các chức năng tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá trong giáo dục hướng nghiệp
2.7.2 Chức năng tổ chức
Trong quản lí hướng nghiệp cũng vậy, nếu thực hiện tốt chức năng tổchức sẽ thiết kế, hoàn thiện được bộ máy quản lí và xác định được cơ chế vận hành, phối hợp giữa các bộ phận thực hiện nhiệm vụ giáo dục hướng nghiệp một cách hợp lý, khoa học
2.7 3 Chức năng chỉ đạo
Thông qua việc thực hiện chức năng chỉ đạo, cán bộ quản lí hướng nghiệp hướng dẫn, thuyết phục, khích lệ và động viên được cán bộ, GV
Trang 9và các tác nhân hướng nghiệp khác phát huy cao độ khả năng của bản thân để đạt được mục tiêu giáo dục hướng nghiệp một cách tối ưu;
2.7.4 Chức năng kiểm tra, đánh giá
Kiểm tra, đánh giá trong quản lí hướng nghiệp là quá trình thu thập
và trao đổi thông tin nhằm xem xét, đánh giá các hoạt động hướng
nghiệp có theo đúng kế hoạch về tiến độ, kết quả và chất lượng dự kiến hay không?
2.8 Cơ sở pháp lý của hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT
Chỉ thị 33/2003/CT - BGDĐT ngày 23 tháng 7 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc tăng cường hướng nghiệp cho học sinh phổ thông; Công văn số 7078/ BGD-ĐT ngày 12/8/2005 về Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ lao động hướng nghiệp trong trường phổ thông
2.9 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT
2.9.1 Ảnh hưởng của phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của địa phương đến công tác GDHN.
2.9.2 Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, ảnh hưởng đến hoạt động GDHN.
2.9.3 Nhận thức của học sinh ảnh hưởng đến hoạt động GDHN
2.9.4 Cha mẹ học sinh ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục hướng nghiệp
Trang 10Chương 3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TRONG CÁC TRƯỜNG THPT
Bảng 3.1: Kết quả giải quyết việc làm tỉnh Vĩnh Phúc
giai đoạn 2010 - 2014
Nguồn: Báo cáo tổng kết của Sở LĐTBXH tỉnh Vĩnh Phúc năm 2018
3.2.2 Cơ hội tìm kiếm việc làm tại tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 11Tỷ lệ lấp đầy các KCN được thành lập đến năm 2020 phấn đấu đạt 60%, trong đó các KCN Bình Xuyên, Khai Quang và Bá Thiện được hoàn thiện và lấp đầy 100% diện tích đất công nghiệp.
55-3.3 Thực trạng hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường THPT Thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
3.3.1 Khái quát về điều tra thực trạng.
Trong luận văn chúng tôi trình bày kết quả khảo sát ở các bảng:
Bảng 3.2: Bảng đánh giá nhận thức của học sinh về công tác GDHN Bảng 3.3: Bảng khảo sát học sinh đăng ký thi ĐH - CĐ, THCN
Trang 123.3.3.1 Thực hiện nội dung lồng ghép GDHN trong các bộ môn văn hóa cơ bản
Đa số các trường đều xây dựng kế hoạch và chỉ đạo giáo viên các
bộ môn văn hóa tích hợp nội dung GDHN trong các giờ học, tiết học trên lớp Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế từ phía học sinh về tính hiệu quả việc thực hiện tích hợp GDHN của giáo viên, đa số các học sinh đều
lựa chọn “ít hiệu quả” chiếm 62%, “không hiệu quả” chiếm 23%, chỉ số
ít học sinh 15% lựa chọn “hiệu quả”
Biểu đồ 3.1: Đánh giá tính hiệu quả của việc tích hợp GDHN
trong các bộ môn văn hóa
3.3.3.2 Thực hiện nội dung GDHN, học nghề phổ thông
Bảng 3.6: Đánh giá mức độ thực hiện nội dung GDHN
Bảng 3.7: Bảng điều tra nguyên nhân ảnh hưởng công tác GDHN
Trang 133.2.3.2 Thực trạng việc thực hiện hình thức GDHN.
Bảng 3.8: Đánh giá tính hiệu quả các hình thức GDHN
3.3.4 Thực trạng việc triển khai các chức năng quản lí ĐẠO-KIỂM) trong Quản lý quá trình giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT.
(KẾ-TỔ-Bảng 3.9: Thực trạng xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động GDHN
Bảng 3.10: Thực trạng kiểm tra, đánh giá HĐGDHN trong các
trường THPT Thành phố Vĩnh Yên
3.4 Thực trạng Việc giới thiệu và quảng bá thị trường lao động
ở địa phương để giáo dục hướng nghiệp trong các trường THPT Thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Những năm gần đây, kinh tế xã hội của Thành phố Vĩnh Yên phát triển không ngừng nhờ đa dạng hóa các thành phần kinh tế xã hội Đặc biệt việc qui hoạch và phát triển các làng nghề truyền thống đã tạo ra hàng nghìn công ăn việc làm cho lao động địa phương
Bảng 3.11: Thực trạng việc giới thiệu và quảng bá thị trường lao động địa phương ở 03 trường THPT Thành phố Vĩnh Yên
Trang 14Nguồn: Tính toán của tác giả
3.5 Đánh giá thực trạng công tác quản lý giáo dục hướng nghiệp trong các trường THPT Thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
3.5.1 Những thành thành tựu đạt được
Qua phân tích thực trạng công tác GDHN trong các trường THPT Thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã cho thấy được một số thành tựu của các trường trong công tác GDHN
Đa số lãnh đạo quản lý, tập thể giáo viên và học sinh đã có nhận thức đúng, tương đối đầy đủ về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông Các hoạt động GDHN trong các trường THPT ở Thành phố Vĩnh Yên đều được xây dựng kế hoạch bài bản, tuân thủ theo các qui định của
Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo về nội dung, chương trình GDHN trong trường phổ thông 3/3 trường đạt tỷ lệ 100% có đầy
đủ kế hoạch thực hiện nội dung, chương trình GDHN
Việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa hướng nghiệp, phối hợp với các tổ chức xã hội, kinh tế, chính trị trên địa bàn tham gia công tác
Trang 15GDHN đã được 3/3 trường quan tâm xây dựng kế hoạch thực hiện trong
2 năm học gần đây
Nhận thức và định hướng của học sinh về nghề nghiệp trong tương lai được nâng cao, tỷ lệ phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp đã phần nào thể hiện đúng với trình độ, năng lực của học sinh
3.5.2 Những tồn tại hạn chế, nguyên nhân
Công tác GDHN của các trường THPT Thành phố Vĩnh Yên vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập; chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của xã hội Một bộ phận cán bộ, giáo viên và học sinh nhận thức chưa đúng về vai trò, tầm quan trọng của GDHN, có tư tưởng xem nhẹ công tác hướng nghiệp, dẫn tới thực hiện hoạt động GDHN mang tính hình thức
Lãnh đạo nhà trường xem trọng việc giảng dạy các bộ môn văn hóa,
ít quan tâm đến hoạt động GDHN, thường khoán trắng cho GVCN lớp.Chất lượng, hiệu quả của hoạt động GDHN còn thấp Công tác quản lý, tổ chức, xây dựng kế hoạch chưa thật sự khoa học; việc sắp xếp,
bố trí giáo viên, phối hợp tổ chức các hoạt động hướng nghiệp trong và ngoài nhà trường chưa phù hợp, chưa hiệu quả; công tác kiểm tra đánh giá chưa thường xuyên
Các nhà trường chưa làm tốt công tác tổng kết, đánh giá công tác GDHN theo học kỳ, năm học; chưa xây dựng được đội ngũ giáo viên làm công tác GDHN Đa số giáo viên chưa được tập huấn bồi dưỡng kiến thức về hướng nghiệp, còn lúng túng về phương pháp tổ chức hoạt động GDHN
Đầu tư trang thiết bị, kinh phí cho các hoạt động hướng nghiệp còn
ít, chưa đáp ứng với nhu cầu thực tiễn của môn học
Trang 16* Nguyên nhân
Tâm lý xã hội còn coi trọng bằng cấp, điều này dẫn tới tư tưởng lệch lạc trong chọn nghề của học sinh Nhận thức của cha mẹ học sinh
và xã hội đối với GDHN chưa đầy đủ
Một bộ phận cán bộ, giáo viên chưa nhận thức đúng về mục tiêu giáo dục, về chủ trương của Đảng và Nhà nước đối với công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông, vẫn có tư tưởng coi nhẹ hướng nghiệp, việc tổ chức GDHN mang tính hình thức
Hệ thống thông tin thị trường lao động còn nghèo nàn, thông tin chưa kịp thời, nội dung GDHN lạc hậu
Thời lượng hoạt động GDHN được điều chỉnh xuống còn trung bình
1 tiết/ chủ đề, trong khi nội dung kiến thức không thay đổi Như vậy chỉ với 45 phút, giáo viên vừa phải đảm bảo cung cấp lượng kiến thức theo nội dung chủ đề, vừa phải tổ chức cho học sinh tham gia hoạt động Điều này làm cho giáo viên gặp nhiều khó khăn trong tổ chức hoạt động.Các nhà trường không có đội ngũ giáo viên chuyên trách về GDHN, các giáo viên làm công tác hướng nghiệp đều là kiêm nhiệm, phần lớn chưa được tập huấn, bồi dưỡng về GDHN
Kế hoạch giáo dục hướng nghiệp của các nhà trường chưa sát với thực tế, chưa có các giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng, hoàn thành mục tiêu kế hoạch Việc tổ chức phối hợp các lực lượng chưa đồng bộ, chưa có sự kết nối khoa học và có kế hoạch
Giáo viên dạy hướng nghiệp chưa có phương pháp tổ chức phù hợp, nhằm lôi cuốn học sinh tham gia hoạt động
Cơ sở vật chất và các trang thiết bị phục vụ cho hoạt động giáo dục hướng nghiệp còn yếu kém Tài liệu phục vụ cho công tác giáo dục hướng nghiệp thiếu, nội dung chưa được cập nhật kịp thời