Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Mức độ stress của điều dưỡng viên khối Hồi sức cấp cứu Bệnh viện Bạch Mai” nhằm khảo sát thực trạng mức độ stress của điều dưỡng viên và mộ
Trang 1HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
*******
ĐỖ THỊ VÂN ANH
THỰC TRẠNG STRESS CỦA ĐIỀU DƯỠNG VIÊN KHỐI HỒI
SỨC CẤP CỨU BỆNH VIỆN BẠCH MAI
Chuyên ngành: Tâm lý học lâm sàng
Mã số: Thí điểm
Tóm tắt luận văn thạc sĩ: Tâm lý học lâm sàng
Hà Nội, 2019
Trang 2HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS.Hoàng Trung Học
Phản biện
-Phản biện 2: - -
1: -Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sỹ
Họp tại Học viện Quản lý giáo dục Vào hồi -giờ -phút ngày -tháng -năm 2019
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
Thư viện Học vi n Qu n lý giáo d cệ ả ụ
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Các rối loạn tâm thần là bệnh rất phổ biến và có xu hướng ngày càng gia tăng trong xã hội hiện nay Theo tổ chức Lao động quốc tế, có khoảng 20% lao động trên thế giới bị stress trong công việc và con số này không ngừng gia tăng
Sức ép quá lớn của công việc khiến tỷ lệ nhân viên y tế đặc biệt là các điều dưỡng viên- những người thực hiện nhiệm vụ chăm sóc người bệnh bị stress rất cao Theo khảo sát của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường tại một khoa hồi sức cấp cứu, gần 23% nhân viên có điểm stress ở mức cao, 42% có điểm stress ở mức trung bình [3] Do tính chất đặc thù trong công việc của các nhân viên y tế trực tiếp liên quan đến tính mạng con người Nên áp lực đè nặng càng nặng thêm là điều không thể tránh khỏi
Bệnh viện Bạch Mai là Bệnh viện đa khoa đặc biệt trực thuộc bộ y tế nằm trên địa bàn thủ đô Hà Nội Nhân viên bệnh viện cũng không nằm ngoài áp lực chung của ngành y tế như: quá tải, áp lực từ phía người bệnh, người nhà, xã hội, áp lực từ khối lượng công việc, trực đêm, nguy cơ bị chấn thương do vật sắc nhọn, nguy cơ bị lây nhiễm bệnh tật Những lý do trên có thể dẫn đến những rối lọan tâm thần cho nhân viên y tế, đặc biệt là đối với khối Hồi sức cấp cứu, nơi đầu sóng ngọn gió, tiếp xúc với bệnh nhân đầu tiên
Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Mức độ stress của điều dưỡng viên khối Hồi sức cấp cứu Bệnh viện Bạch Mai” nhằm khảo sát thực trạng mức độ stress của điều dưỡng viên và một số yếu tố ảnh hưởng; từ đó giảm vấn đề sức khỏe tâm thần cho điều dưỡng
2 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá mức độ stress, xác định những biểu hiện đặc trưng và những yếu tố ảnh hưởng tới mức độ stress của điều dưỡng viên khối Hồi sức cấp cứu Bệnh viện Bạch Mai, từ đó đề xuất những biện pháp phòng ngừa, can thiệp phù hợp dưới góc độ tâm lý học lâm sàng để cải thiện sức khỏe tâm thần cho các điều dưỡng viên
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu của đề tài
Khảo sát thực trạng stress của điều dưỡng viên khối Hồi sức cấp cứu Bệnh viện Bạch Mai và xác định những yếu tố liên quan đến mức độ stress
Trang 4Đề xuất biện pháp nhằm giảm mức độ stress của điều dưỡng viên khối Hồi sức cấp cứu Bệnh viện Bạch Mai
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Đối tượng: Mức độ stress của điều dưỡng viên khối Hồi sức cấp cứu tại
bệnh viện Bạch Mai và một số yếu tố ảnh hưởng
Khách thể: Điều dưỡng khối Hồi sức cấp cứu BV Bạch Mai
5 Giả thuyết khoa học
Các điều dưỡng viên khối hồi sức cấp cứu tại bệnh viện Bạch Mai có stress ở mức độ khá cao với những biểu hiện đặc trưng ở cả phương diện tâm lý và sinh lý Nếu sử dụng các biện pháp phòng ngừa, can thiệp một cách hợp lý kết hợp cùng với việc cải thiện chế độ làm việc, sinh hoạt, thì
có thể giảm mức độ stress cho các điều dưỡng viên
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Xây dựng cơ sở lý luận về stress của điều dưỡng viên
6.2 Đánh giá thực trạng stress của điều dưỡng viên khối Hồi sức cấp cứu tại Bệnh viện Bạch Mai: Mức độ, biểu hiện, nguyên nhân, biểu hiện, cách ứng phó
6.3 Xác định các biện pháp phòng ngừa, can thiệp nhằm giảm mức độ stress của điều dưỡng viên khối Hồi sức cấp cứu tại Bệnh viện Bạch Mai
7 Phạm vi nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 3 đến tháng 10 năm 2019
Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Bạch Mai, 78 Giải Phóng, Đống Đa, Hà
Nội
8 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phối hợp một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp
- Phương pháp trắc nghiệm
- Phương pháp xử lí số liệu và đánh giá bằng thống kê toán học
9 Cấu trúc luận văn
- Chương I: Lý luận về mức độ stress của điều dưỡng viên
- Chương II: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
- Chương III: Thực trạng mức độ stress của điều dưỡng viên khối hồi sức cấp cứu bệnh viện Bạch Mai
PHẦN NỘI DUNG
Trang 5CHƯƠNG I LÝ LUẬN VỀ STRESS CỦA ĐIỀU DƯỠNG VIÊN 1.1 Tổng quan nghiên cứu về stress của điều dưỡng viên
1.1.1 Những nghiên cứu về stress của điều dưỡng viên trên thế giới
Qua một số nghiên cứu của các tác giả trên thế giới cho thấy các tác giả
sử dụng nhiều thang đo khác nhau để đánh giá mức độ trầm cảm, lo âu stress trên nhiều đối tượng nhân viên y tế như bác sĩ, điều dưỡng kết quả ở mỗi nghiên cứu có thể khác nhau nhưng cho thấy tỷ lệ trầm cảm, lo âu, stress của nhân viên y tế giao động từ 7,2% cho đến trên 60%
Căng thẳng liên quan đến công việc là một vấn đề phổ biến hiện nay, nhưng nó là đặc hữu trong các dịch vụ chăm sóc sức khỏe con người, trong
đó lực lượng điều dưỡng tạo thành nhóm lớn nhất (Cherniss, 1980; Schaufeli
& Greenglass, 2001) [5] Nghiên cứu về vấn đề căng thẳng trong công việc của nhân viên y tế đã được ghi nhận cho hơn bốn mươi năm (Edelwich & Brodsky, 1980, Marshall, 1980; Menzies, 1960) [6] và căng thẳng nghề nghiệp của nhân viên y tế được báo cáo là ngày càng tăng ở nhiều nước
Hầu hết các nghiên cứu về nhân viên y tế đã tập trung vào những người làm việc trong bệnh viện hoặc các tổ chức chăm sóc sức khỏe đều
có sự quan liên chặt chẽ Trong số các nghiên cứu trước đó, các tác giả đã xác định bảy nguồn chính của sự căng thẳng:(1) Đối phó với cái chết và chết, (2) Xung đột với bác sĩ, (3) Thiếu chuẩn bị để đối phó với những nhu cầu cảm xúc của bệnh nhân và gia đình của họ; (4) Thiếu nhân viên
hỗ trợ; (5) Xung đột với các đồng nghiệp và giám sát; (6) Khối lượng công việc
1.1.2 Những nghiên cứu về stress của điều dưỡng viên tại Việt Nam
Lê Thành Tài, Trần Ngọc Xuân, Trần Trúc Linh, “Tình hình stress nghề nghiệp của nhân viên điều dưỡng” [14] Nghiên cứu mô tả cắt ngang
có phân tích trên 378 điều dưỡng bị stress nghề nghiệp tại bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ, bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ và bệnh viện đa khoa Châu Thành – Hậu Giang đồng thời xác định các yếu tố có thể gây stress nghề nghiệp cho người điều dưỡng ở 3 tuyến bệnh viện này Kết quả nghiên cứu cho thấy:
Tỉ lệ stress nghề nghiệp trong nhóm nghiên cứu khá cao với 45.2%, hầu hết ở mức trung bình 42.8% Có sự khác biệt về tỉ lệ stress giữa các bệnh viện thuộc 3 tuyến: trung ương, tỉnh thành, quận huyện với khuynh hướng tuyến trên bị nhiều hơn Cụ thể, BV viện đa khoa Trung ương Cần Thơ cao nhất với 53.1%, rồi đến BV đa khoa thành phố Cần Thơ 33.9%
và thấp nhất là ở BV đa khoa Châu Thành – Hậu Giang với 32.5%
Nghiên cứu của các tác giả Trương Đình Chính, Cao Ngọc Nga,
Nguyễn Đỗ Nguyên, Ngô Tích Linh với đề tài “Rối loạn tâm thần ở điều
Trang 6dưỡng và nữ hộ sinh tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu năm 2009”[16] Nghiên cứu
về nhân viên y tế, trong đó có các điều dưỡng nữ hộ sinh, có những điều kiện lao động rất đặc thù, đó là trách nhiệm cao, thời gian lao động dài (trực 24/24 giờ, tua 3-4 ngày, trực 2 ca 3 kíp, hoặc 3 ca 4 kíp), làm việc vào cả những ngày nghỉ, ngày lễ, đối tượng phục vụ là những người bệnh, nguy cơ lây nhiễm (viêm gan B, viêm gan C, lao, tả, HIV/AIDS, v.v.), chế độ lương bổng chưa thỏa đáng, áp lực từ bệnh nhân, gia đình bệnh nhân, và cả lãnh đạo đơn
vị
Trong bệnh viện, điều dưỡng và nữ hộ sinh là những người có thời gian tiếp xúc, trao đổi, chăm sóc bệnh nhân nhiều nhất Với những điều kiện làm việc căng thẳng, sức khỏe tâm thần của điều dưỡng và nữ hộ sinh có thể bị ảnh hưởng, từ đó, ảnh hưởng đến thái độ tiếp xúc với bệnh nhân, và ảnh hưởng đến kết quả điều trị Cỡ mẫu thật của nghiên cứu là
382 đối tượng Hơn 90% người được khảo sát là nữ, gần 50% trong lứa tuổi <30, khoảng 2/3 có gia đình, và 96% có trình độ trung cấp; 78% là điều dưỡng, khoảng 2/3 làm việc ở các bệnh viện tuyến tỉnh, 80% làm việc
ở các khoa phòng đông bệnh nhân và có nhiều bệnh nhân nặng (như khoa hồi sức cấp cứu phòng khám, khoa ngoại phòng mổ, khoa sản kế hoạch hóa gia đình và khoa nội nhi nhiễm), hơn 2/3 phải tham gia trực (trực 24/24 giờ hoặc trực ca kíp), 65% có thâm niên công tác dưới 10 năm
Trong nghiên cứu được thực hiện tại khoa hồi sức cấp cứu và khoa ngoại tại Bệnh viện Việt Đức và Bệnh viện Bạch Mai trên 113 cán bộ y tế (30 bác sĩ, 83 y tá và hộ lý) về “Đánh giá căng thẳng chức năng tim mạch bằng chỉ số thống kê toán học nhịp tim ở nhân viên y tế” nhóm tác giả Trần Thanh Hà, Nguyễn Thu Hà, Nguyễn Bích Diệp - Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường đã đo điện tâm đồ gồm 100 khoảng RR cho các đối tượng nghiên cứu Các chỉ số TKTHNT được đánh giá ở trạng thái tĩnh vào đầu ca; Rối loạn chức năng thần kinh thực vật (TKTV) điều khiển nhịp tim theo các chỉ số TKTHNT được đánh giá trong quá trình lao động và đánh giá biến đổi chỉ số TKTHNT cuối ca mổ và cuối ngày làm việc so với đầu ca
Kết quả trên bước đầu cho thấy của nhân viên y tế khoa Hồi sức cấp cứu và khoa ngoại căng thẳng chức năng hệ tim mạch và cơ thể ở mức cao, trong đó nhóm y tá, hộ lý có căng thẳng ngay từ đầu ca và kéo dài trong suốt ngày làm việc Nhóm bác sĩ mổ chính có chỉ số TKTHNT ở mức quá căng thẳng ngay từ đầu ca mổ và cuối ca còn có biểu hiện căng thẳng hơn
và ở mức căng thẳng nhất (0,032 và CSCT 490 vào cuối ca mổ so với 0.036
và CSCT 240 vào đầu ca mổ) [17]
Trang 7Một số nghiên cứu sử dụng thang đo DASS để đánh giá trầm cảm, lo
âu, stress với nhân viên y tế: Đậu Thị Tuyết đánh giá tình trạng stress, lo
âu, trầm cảm ở nhân viên y tế khối lâm sàng tại Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh và Bệnh viện đa khoa khu vực 115 Nghệ An Kết quả nghiên cứu cho thấy nhân viên y tế khối lâm sàng có tỷ lệ stress, lo âu, trầm cảm tương đối cao (lần lượt là 20,45%, 29% và 13,6%) [1] Trần Thị Thanh Tuyền (2014) sử dụng thang đo DASS 42 nghiên cứu trên 372 nhân viên y
tế khối lâm sàng Bệnh viện đa khoa Đồng Tháp Kết quả chỉ ra tỷ lệ trầm cảm là 18,5% và tỷ lệ stress khá cao (34,7%) [2] Nghiên cứu của Mai Hòa Nhung (2014) tại Bệnh viện Giao thông Vận tải Trung ương trên 147 điều dưỡng viên khối lâm sàng cho kết quả: tỷ lệ stress là 40,8%, trong đó mức
độ nhẹ, vừa, nặng và rất nặng lần lượt là 22,4%, 13,6%, 3,4% và 1,4% [3] Ngô Thị Kiều My (2014) nghiên cứu trên 370 đối tượng là điều dưỡng, hộ sinh khối lâm sàng tại Bệnh viện Phụ Sản-Nhi Đà Nẵng cho kết quả tỷ lệ trầm cảm, lo âu, stress ở điều dưỡng, hộ sinh lần lượt là 18,4%, 33,2% và 18,1% Phân theo nhóm đối tượng nghiên cứu, tỷ lệ trầm cảm, lo âu, stress
ở điều dưỡng lần lượt là 16,3%, 30,3% và 20,2% còn ở hộ sinh tỷ lệ lần lượt là 21%, 37% và 15,4% Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về
tỷ lệ stress, lo âu, trầm cảm ở hai nhóm đối tượng này [4] Nghiên cứu thực hiện tại Bệnh viện Việt Đức năm 2015 cho thấy tỷ lệ căng thẳng ở điều dưỡng là 18,5%, chia theo mức độ nhẹ là 9%, mức vừa là 7%, mức nặng và rất nặng là 2,5% [5]
1.2 Cơ sở lý luận về mức độ stress trong điều dưỡng viên khối hồi sức cấp cứu
1.2.1 Khái niệm về stress
Theo tiếng Latinh, “stress” được bắt nguồn từ “strictus” và một phần của từ “stringere” mang ý nghĩa là sự căng thẳng, nghịch cảnh, bất hạnh,
đè nén Trong tiếng Anh “stress” có nghĩa là nhấn mạnh (press) Trong vật
lý học, stress là sự sức nén mà vật liệu phải chịu Ở người, căng thẳng thường được mô tả là một tình trạng tiêu cực hay tích cực có ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần và thể chất của người đó
Stress là một trong những vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt trong lĩnh vực tâm thần học Các rối loạn có liên quan đến stress rất đa dạng và thường gặp ở mọi lứa tuổi, đặc biệt trong những năm gần đây bệnh có xu hướng gia tăng do sự phát triển kinh tế xã hội Stress có thể là nguyên nhân gây bệnh, nhưng đôi khi nó lại là hậu quả của tác nhân công kích đối với cá thể chịu stress [24]
Trang 8Philippe Loron, nhà thần kinh học người Pháp giải thích: Stress “là phản ứng thích nghi của cơ thể chúng ta với những ràng buộc bên ngoài
Nó cho phép tái lập sự cân bằng nội tại hoặc đảm bảo sự sinh tồn”
Bruce Singh và Sidney Bloch cho rằng: “Stress đề cập tới các hoạt động hoặc các tình huống, gây ra cho con người những yêu cầu về cơ thể
và tâm lý quá mức và đe dọa gây mất thăng bằng”
Bên cạnh đó, khi đưa ra khái niệm stress đa số các tác giả Việt Nam dùng lại những khái niệm của các nhà nghiên cứu nước ngoài Tuy nhiên một vài tác giả có ý kiến riêng, đáng lưu ý như:
Theo Tô Như Khuê, “Stress tâm lý chính là những phản ứng không đặc hiệu xảy ra một cách chung khắp, do các yếu tố có hại về tâm lý xuất hiện trong các tình thế mà con người chủ quan thấy là bất lợi hoặc rủi ro, ở đây vai trò quyết định không chủ yếu do tác nhân kích thích, mà do sự đánh giá chủ quan về tác nhân đó” [34] Định nghĩa này đã nêu được vai trò của yếu tố nhận thức và thái độ của con người trong stress
Theo Đào Duy Duyên, stress là một quá trình biến đổi trạng thái cân bằng hiện tại của con người gây ra sự căng thẳng về tâm lý; nảy sinh do con người phản ứng lại với những nhân tố tác động, trong đó một phần do bản chất của những kích thích đa dạng từ bên ngoài hoặc do chính bản thân gây ra, một phần do nhận thức của cá nhân lý giải về những kích thích đó, về khả năng, tiềm lực của bản thân, các nguồn lực sẵn có để ứng phó; quá trình này gây ra những ảnh hưởng cho con người biểu hiện ở các mặt sinh lý, tâm lý, xã hội” [25]
Như vậy, có thể thấy stress từ các góc độ khác nhau sẽ được hiểu dưới những định nghĩa khác nhau Trong nghiên cứu này, định nghĩa về stress trên khía cạnh tâm lý của Richard Lazarus được chúng tôi sử dụng để định nghĩa tình trạng stress ở sinh viên do định nghĩa này phù hợp với điều kiện, định hướng và thang công cụ đo lường sử dụng trong nghiên cứu
1.2.2 Các biểu hiện của stress
Biểu hiện stress của điều dưỡng được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau, tuy nhiên trong phạm vi đề tài nghiên cứu này chúng tôi chỉ tập trung chủ yếu vào ba mặt biểu hiện:
Biểu hiện st r ess v ề m ặt cơ thể
Điều dưỡng viên khối hồi sức cấp cứu thường phải trực đêm nhiều, chế độ làm việc theo ca kíp nên thường có những biểu hiện như rối loạn giấc ngủ, khi giấc ngủ không được đảm bảo hoặc giấc ngủ không đủ thì kéo theo những biểu hiện như mặt mày ủ rủ, cảm giác mệt mỏi
Biểu hiện về mặt t âm lý, cảm xúc
Các dấu hiệu cảm xúc của stress trong công việc gây ra cho ĐDV
Trang 9như: Cảm thấy khó chịu trong người, do đó có thể gây ra kích động hoặc
đè nén những cảm xúc của mình Có thể bao gồm sự cáu bẳn thường xuyên, có cảm giác khó chịu, căng thẳng về tâm lý; biểu lộ cảm xúc quá mức cần thiết hoặc quá kích động trước những tình huống có tính chất đối kháng; buồn chán, biểu hiện kích động hoặc đè nén cảm xúc thì họ sẽ không hài lòng với chính mình bởi những cách cư xử khác lạ đó sẽ dẫn đến có cảm giác chán nản, buồn bà, mặc cảm tự ti Từ đó cảm thấy tính cách thay đổi và cảm thấy cô đơn; mất sự tự tin vào bản thân, thường than thân trách phận; có những biểu hiện lo âu, ám ảnh sợ Những lo âu, ám ảnh sợ này hình thành trên nền một sự lo âu dai dẳng, xuất hiện những cơn lo lắng về nơi xảy ra tình huống stress Các rối loạn này có khi mở rộng sang các lãnh vực khác nhau như sợ các phương tiện giao thông công cộng, sợ xung đột với cấp trên, với người thân, sợ giao tiếp, sợ bệnh tật, trầm cảm, thiếu sinh khí, mất khả năng hài hước và khả năng tập trung vào công việc thường nhật thường đơn giản nhất
Biểu hiện về hành vi
Những rối loạn tâm lý biểu hiện về mặt hành vi do công việc gây stress cho mọi người nói chung hay điều dưỡng viên khối hồi sức cấp cứu nói riêng như không thể duy trì được những hoạt động kéo dài và không quản lý được thời gian của mình.Nhiều người tìm cách giảm stress tạm thời bằng cách lao vào ăn uống, hút thuốc, uống rượu hoặc mua săm vô
độ nhưng sau đó bản thân rượu, thuốc lại là chất gây lo âu, nên bắt buộc chủ thể cứ tăng dần liều sử dụng
1.2.3 Các mức độ của stress
Theo Bác sĩ Đặng Phương Kiệt, stress có 3 mức độ, trong đó stress ở mức độ nhẹ là mức độ làm cho chủ thể cảm nhận như một thách thức, có thể là một kích thích làm tăng thành tích Stress ở mức độ vừa là mức độ phá vỡ ứng xử, có thể dẫn đến những hành động lặp đi lặp lại Stress ở mức độ nặng là mức độ ngăn chặn ứng xử và gây ra những phản ứng lệch lạc [36]
Nguyễn Thị Hải lại phân chia mức độ stress thành 3 mức; ít trầm trọng khi stress chỉ biểu hiện ở một mặt, không kéo dài, chủ thể có thể
tự khắc phục được; mức độ thứ hai là trầm trọng biểu hiện ở hai hay một
số mặt, lặp đi lặp lại ở thời gian tương đối dài, phải khắc phục trong một
thời gian nhất định; mức độ thứ ba là rất trầm trọng biểu hiện ở nhiều
mặt, diễn ra trong thời gian dài, phải khắc phục trong thời gian dài [37] Đào Duy Duyên lại phân chia mức độ stress dựa trên tần số bị stress trong cuộc sống qua sự đánh giá chủ quan của cá nhân về tình trạng của
mình với các mức thường xuyên, thỉnh thoảng, hiếm khi hay hầu như
Trang 10chưa bao giờ bị stress Đồng thời dựa trên tần số biểu hiện của stress là thường xuyên, thỉnh thoảng hay không có biểu hiện đó Thứ ba là, dựa trên
sự đánh giá của cá nhân về các tác nhân gây stress ảnh hưởng cho mình ở
mức độ nào ảnh hưởng nhiều, ảnh hưởng ít hay không ảnh hưởng.
Mức độ của stress phụ thuộc vào các yếu tố sau:
Thời lượng: Mức nghiêm trọng của stress phụ thuộc vào khoảng
thời gian một người cảm thấy mình phải chịu đựng stress Nếu stress diễn
ra trong một thời gian ngắn thì con người vẩn có thể tập trung sức lực
để vượt qua, không bị mất niềm tin vào bản thân và tương lai
Cường độ: Khi hậu quả của stress gây lâm nguy cho sự tồn tại và an
toàn cho cá nhân thì stress được cho là ở mức độ nghiêm trọng
Các yếu tố cá nhân: Mức độ nghiêm trọng của stress còn tùy thuộc
vào bản thân người bị stress, đó chính là sự nhận định của cá nhân về các kích thích và khã năng ứng phó của họ Mức độ stress nặng nhất xảy ra khi kích thích là rất tiêu cực và khi tính khã thi thì mức độ stress sẽ giảm
đi Tuy nhiên, một số tình huống khi sự kiện kích thích được nhận định là
“rất tiêu cực”, và những phương thức ứng phó có khã năng thực thi được vẩn xẩy ra stress do tính chất nghiêm trọng của sự kiện Tương tự, khi sự kiện ít nghiêm trọng, nhưng trong tay không có sẵn những biện pháp giải quyết stress sẽ xảy ra do bị mất khã năng kiểm soát sự kiện [25]
1.2.4 Những nguyên nhân của stress
1.2.4.1 Những nguyên nhân gây stress nói chung
Theo quan điểm hệ thống về stress, một cá nhân bị stress là do bản chất của các sự kiện kích thích và do những yếu tố thuộc về cá nhân quyết định mức độ stress của cá nhân đó vì vậy có hai nhóm nguyên nhân gây stress là nguyên nhân khách quan (nguyên nhân bên ngoài cá nhân),
và nguyên nhân chủ quan (nguyên nhân bên trong) [25;40]
1.2.4.2 Những nguyên nhân gây stress cho điều dưỡng viên
Những nguyên nhân trong công việc: Theo nhiều nghiên cứu về tình
trạng stress của ĐDV thì các yếu tố đặc thù trong công việc gây stress cho ĐDV như công việc có độ nguy hiểm cao, sự chuyển đổi công việc thường xuyên, chăm sóc quản lý quá nhiều bệnh nhân, tình trạng thiếu nhân lực, chịu nhiều áp lực … tạo nên không chỉ môi trường làm việc nặng nhọc, nguy hiểm mà còn tạo nên tâm lý căng thẳng khi làm việc Điều kiện lao động không an toàn, không phù hợp, công việc có độ nguy hiểm cao, khối lượng công việc nhiều là những yếu tố góp phần gây stress cho ĐDV
Những nguyên nhân về mối quan hệ tại nơi làm việc: Các yếu tố đã
góp phần gây ra stress cho ĐDV là đặc điểm công việc phải giải thích với
Trang 11nhiều người; bị quấy rôi hay bị phân biệt đối xử; mối quan hệ không tốt với đồng nghiệp Đối với mối quan hệ với cấp trên có các yếu tố như mối quan hệ không tốt với lãnh đạo, luôn bị chỉ trích từ cấp trên, bị đỗ lỗi trong những trường hợp sai sót chuyên môn, bác sĩ không có mặt kịp thời khi bệnh nhân kích động, cấp trên đòi hỏi những yêu cầu bất hợp lý, thiếu
sự hỗ trợ từ cấp trên, ít nhận được sự quan tâm động viên từ cấp trên
Những nguyên nhân về mối quan hệ với đồng nghiệp: Mối quan hệ
không tốt với đồng nghiệp; không có cơ hội để nói chuyện cởi mở với đồng nghiệp trong công việc; bất đồng với đồng nghiệp liên quan đến công việc; thiếu sự hỗ trơ từ đồng nghiệp; gặp khó khăn khi làm việc chung với đồng nghiệp; không có cơ hội để chia sẽ kinh nghiệm và cảm xúc với đồng nghiệp
Nguyên nhân về mối quan hệ với bệnh nhân và người nhà bệnh nhân:
Cái chết của một bệnh nhân; phải đối phó với những bệnh nhân kích động; người nhà bệnh nhân thường xuyên chửi mắng, đe dọa; tình trạng bệnh nhân không được cải thiện; gia đình bệnh nhân đòi hỏi những yêu cầu bất hợp lý…
Nguyên nhân từ bên ngoài cơ quan: Mất nhiều thời gian để đến được
cơ quan; Kinh tế tiền bạc gia đình thiếu hụt cuộc sống gia đình không được hạnh phúc; Phải di chuyển trong một quảng đường xa xôi và nguy hiểm; Vấn đế sức khỏe của vợ/chồng, con cái; Rắc rối trong chuyện tình cảm; Có quan hệ không tốt với hàng xóm, bạn bè
Những nguyên nhân từ môi trường vật lý tại nơi làm việc: Các yếu tố
đã góp phần gây ra stress cho NVYT là ồn ào, lộn xộn; quá nóng; thiếu trang thiết bị; quá đông người; không thoáng khí; thiếu ánh sáng và bụi
1.2.5 Giới thiệu về các thang đo stress
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam có nhiều bộ công cụ khác nhau để đánh giá sức khỏe tâm thần Có thể kể đến một số bộ công cụ được sử dụng nhiều trong nghiên cứu khoa học như bộ câu hỏi đánh giá cảm nhận
về stress (PSS – 10), thang đánh giá về stress (GHO – 12), thang tự đánh giá lo âu của Zung (SAS), thang đánh giá lo âu của Beck (BAI), thang đo đánh giá trầm cảm của Beck (BDI), thang đánh giá trầm cảm và lo âu (AKUADS), bộ câu hỏi đánh giá stress nghề nghiệp (ISQ), thang đáng giá stress ở điều dưỡng Nursing Stress Scale (NSS); thang đánh giá stress, lo
âu và trầm cảm của Lovibond (DASS – 21, DASS – 42)
Trang 121.2.5.1 Thang đánh giá stress ở điều dưỡng Nursing Stress Scale
1.2.5.2 Thang đánh giá trầm cảm, lo âu, stress DASS 21
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Trong xã hội hiện đại, vấn đề stress ngày càng phổ biến và có xu hướng gia tăng; đặc biệt với những ngành nghề nhạy cảm Điều dưỡng viên; hàng ngày, hàng giờ phải làm việc với cường độ cao; khối lượng công việc nhiều, luôn phải đối phó với những tình huống căng thẳng thường trực, không được chậm chễ Hậu quả của những stress trên những điều dưỡng viên vô cùng nặng nề, có thể dẫn tới nguy hiểm cho tính mạng của những người xung quanh; tuy nhiên tác động của stress lên nhân viên
y tế lại vô cùng thầm lặng Chính vì vậy, khi nghiên cứu về mức độ stress, xác định những biểu hiện đặc trưng và những yếu tố ảnh hưởng tới mức độ stress của điều dưỡng viên khối Hồi sức cấp cứu Bệnh viện Bạch Mai chúng tôi tập trung vào xác định mức độ stress của các điều dưỡng viên dựa vào thang đo DASS 21 và 1 số cảm nhận của chính đối tượng tham gia nghiên cứu; từ đó đề xuất những biện pháp phòng ngừa, can thiệp phù hợp dưới góc độ tâm lý học lâm sàng để cải thiện sức khỏe tâm thần cho các điều dưỡng viên
Trang 13CHƯƠNG 2
TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Một số đặc điểm của khối Hồi sức cấp cứu Bệnh viện Bạch Mai
Một trong những điểm tự hào của Bệnh viện Bạch Mai đó là có hệ thống điều trị và khám chữa bệnh hệ Nội khoa đứng đầu trong cả nước chính vì vậy lượng bệnh nhân khám chữa bệnh đổ về rất đông, trung bình
1 ngày Bệnh viện phục vụ khám chữa bệnh gần 10.000 lượt; trong đó khoa đầu sóng ngọn gió; đón tiếp và phân loại bệnh nhân cấp cứu; điều trị bệnh nhân nặng là 2 khoa Cấp cứu và Hồi sức tích cực với tiền thân trước đây là Khoa Hồi sức cấp cứu A9 Với tinh thần của A9 anh hùng vì người bệnh, toàn thể cán bộ công nhân viên Khoa cấp cứu, Hồi sức tích cực vẫn luôn ngày đêm hết lòng cứu chữa người bệnh đã để lại nhiều tình cảm, niềm tin yêu của bệnh nhân và gia đình bệnh nhân Trong gần 15 năm qua, trên 500
000 bệnh nhân đã được cấp cứu và điều trị tại khoa
2.2. Tổ chức nghiên cứu
2.2.1 Xác định mục đích nghiên cứu
2.2.2 Xác định khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Chúng tôi khảo sát trên toàn bộ điều dưỡng
viên của 2 khoa: Cấp cứu và Hồi sức tích cực, trên tổng số 135 điều dưỡng; kết quả thu được 113 phiếu hợp lệ
Đối tượng nghiên cứu: Mức độ stress của điều dưỡng viên khối Hồi
sức cấp cứu tại bệnh viện Bạch Mai và một số yếu tố ảnh hưởng
2.2.3 Tổ chức khảo sát
Khảo sát lần 1: Khảo sát thực trạng mức độ stress và một số yếu tố ảnh hưởng của điều dưỡng viên khối Hồi sức cấp cứu Bệnh viện Bạch MaiKhảo sát lần 2: Khảo sát các vấn đề sức khỏe tâm thần của 1 điều dưỡng
có mức độ stress nặng đã được can thiệp tâm lý
2.2.4 Tiến trình nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu được tính từ tháng 3 đến tháng 10 năm 2019
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
2.3.2 Phương pháp trắc nghiệm: Sử dụng thang đo DASS 21 đã được
khuyến nghị bởi Viện Sức khỏe tâm thần Quốc gia để đánh giá tình trạng trầm cảm, lo âu, stress [45].
2.3.3 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
2.3.4 Phương pháp thực nghiệm
2.3.5 Phương pháp thống kê
2.3.6.Phương pháp quan sát