Có rất nhiều biện pháp được nghiên cứu để can thiệp cho trẻ mắc ADHD như dùng thuốc, thay đổi chế độ ăn uống, tập luyện thể thao, lắp ghép mô hình hoặc các hoạt động trí tuệ, trong đó ho
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Thị Hoàng Yến
Phản biện 1: TS Cao Xuân Liễu
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Bình
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm Luận văn Thạc sĩ học viện Quản
lý Giáo dục
Vào hồi 10 giờ 20 ngày 16 tháng 01 năm 2020
Có thể tìm đọc luận văn tại:
Thư viện Học viện Quản lý Giáo dục
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hơn một thập kỉ trước, tăng động giảm chú ý (ADHD -
Attention-deficit hyperactivity disorder) và tự kỷ là những cụm từ
được nhắc đến nhiều nhất trong các vấn đề của trẻ mầm non Do chưa có những hiểu biết đầy đủ và chính xác nên ADHD thực sự
là một bản án kinh hoàng đối với những bậc làm cha làm mẹ
ADHD là một rối loạn tâm lý thường gặp ở trẻ em, đặc điểm chung của ADHD là những hành vi hiếu động quá mức đi kèm sự suy giảm khả năng chú ý Theo thống kê cứ 100 trẻ thì có từ 3 đến 5 trẻ mắc rối loạn này với một số triệu chứng bắt đầu trước tuổi lên 7 Trên thế giới tỷ lệ trẻ mắc ADHD chiếm khoảng 5% Lứa tuổi hay mắc là từ 8 đến 11, bé trai có khả năng mắc cao gấp 3 lần bé gái, khi trưởng thành bệnh có xu hướng giảm, ở tuổi 20 tỉ lệ mắc còn chừng 1% và ở tuổi trung niên là 0,5%
Có rất nhiều biện pháp được nghiên cứu để can thiệp cho trẻ mắc ADHD như dùng thuốc, thay đổi chế độ ăn uống, tập luyện thể thao, lắp ghép mô hình hoặc các hoạt động trí tuệ, trong đó hoạt động nghệ thuật rất được chú trọng đặc biệt là hoạt động tạo hình
Hoạt động tạo hình là một trong những hoạt động gây hứng thú nhất với trẻ mầm non Đây là một hoạt động mang đầy đủ các điều kiện để giáo dục phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ, tác động một cách đồng bộ lên các mặt: trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ, đạo đức, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội, trong đó có một số mặt trẻ ADHD còn yếu kém Đặc biệt, đối với trẻ Mẫu giáo lớn (5-6 tuổi), hoạt động
Trang 4tạo hình đóng vai trò quan trọng trong việc trang bị hành trang cho trẻ bước vào lớp 1 ở bậc học phổ thông
Trẻ mắc ADHD chủ yếu được học hòa nhập trong các cơ
sở giáo dục Do vậy chương trình chăm sóc giáo dục ở trường mầm non đóng vai trò rất quan trọng đối với trẻ ADHD Chương trình can thiệp này có thể sử dụng HĐTH như một biện pháp chủ đạo và phối hợp linh hoạt với các biện pháp khác để đạt hiệu quả tích cực nhất
Vì những lí do trên, tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu:
“Can thiệp cho trẻ 5-6 tuổi tăng động giảm chú ý thông qua hoạt động tạo hình”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá mức độ tăng động giảm chú ý của trẻ 5-6 tuổi, nghiên cứu nội dung; phương pháp; hình thức tổ chức các hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non, từ đó xây dựng chương trình can thiệp cho trẻ thông qua các hoạt động tạo hình nhằm cải thiện các rối loạn tăng động giảm chú ý của trẻ
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Can thiệp cho trẻ 5-6 tuổi tăng động giảm chú ý thông qua hoạt động tạo hình
3.2 Khách thể nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu trên 440 trẻ 5-6 tuổi trường MN Hoa Hồng
Trang 5- 27 giáo viên khối MGL: tiến hành phát phiếu điều tra, sàng lọc trẻ, điều tra bảng hỏi, phỏng vấn sâu
- Can thiệp thử nghiệm được tiến hành trên 2 trường hợp có ADHD
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
4.1 Về nội dung
Có nhiều biện pháp can thiệp cho trẻ tăng động giảm chú ý Trong phạm vi đề tài này, tác giả chỉ tập trung xây dựng chương trình can thiệp cho 2 trẻ ADHD thông qua hoạt động tạo hình phối hợp với một số liệu pháp tại trường Mầm non Hoa Hồng, quận Cầu Giấy
4.2 Về khách thể khảo sát
Đề tài nghiên cứu trên 2 trẻ ở độ tuổi 5-6 tuổi, trong đó trong
đó có 1 trẻ rối loạn giảm chú ý, 1 trẻ rối loạn tăng động đang học tại trường Mầm non Hoa Hồng, quận Cầu Giấy
5 Giả thuyết nghiên cứu
Mỗi trẻ mắc ADHD có những nguyên nhân, biểu hiện và mức độ rối loạn khác nhau do đó yêu cầu cách can thiệp cũng khác nhau Có nhiều biện pháp để can thiệp cho trẻ ADHD, trong đó có thể sử dụng hoạt động tạo hình như một liệu pháp trị liệu và phối hợp linh hoạt với một số liệu pháp khác
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Hệ thống hoá cơ sở lý luận của đề tài: Trẻ tăng động
giảm chú ý, can thiệp sớm cho trẻ mầm non, sử dụng liệu pháp tạo hình để can thiệp trị liệu cho trẻ ADHD
Trang 66.2 Khảo sát và đánh giá thực trạng rối loạn tăng động giảm
chú ý của trẻ mầm non tại trường mầm non Hoa Hồng, quận Cầu Giấy: nguyên nhân và dạng rối loạn tăng động giảm chú ý, cũng như khảo sát việc tổ chức các họat động tạo hình cho trẻ có ADHD ở trường mầm non
6.3 Xây dựng chương trình can thiệp cho trẻ tùy theo mức độ,
biểu hiện rối loạn tăng động giảm chú ý thông qua hoạt động tạo hình
và phối hợp với một số liệu pháp khác
7 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp quan sát, phương pháp nghiên cứu trường hợp, phương pháp phỏng vấn sâu, phương pháp phân tích tâm lý trẻ em qua tranh vẽ, phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp xử lý số liệu (Phần mềm SPSS 16.0)
8 Những đóng góp mới của luận văn
- Xây dựng chương trình can thiệp nhằm cải thiện tình trạng rối loạn tăng động giảm chú ý của trẻ 5- 6 tuổi với các mức độ và biểu
Trang 7hiện khác nhau thông qua hoạt động tạo hình ở trường mầm non Hoa Hồng, quận Cầu Giấy
9 Dự kiến cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục Đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Khái quát về cơ sở lí luận của đề tài
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả can thiệp cho trẻ 5-6 tuổi tăng động giảm chú
ý thông qua hoạt động tạo hình
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CAN THIỆP CHO TRẺ 5-6 TUỔI TĂNG ĐỘNG GIẢM CHÚ Ý THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG
TẠO HÌNH 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Tổng quan về tăng động giảm chú ý
1.1.1.1 Lịch sử nghiên cứu về tăng động giảm chú ý trên thế giới
Trên thế giới, rối loạn tăng động giảm chú ý (RLTĐGCY) đã được các nhà khoa học, các thầy thuốc và các nhà tâm lý đề cập, quan tâm từ lâu: thầy thuốc Hypocrate đã mô tả bệnh từ hơn 2500 năm trước, năm 1798 Sir Alexander Crichton với cuốn sách "Một cuộc điều tra về bản chất và nguồn gốc của tình trạng loạn thần", năm
1845 Tiến sĩ Heinrich Hoffman với bài thơ "Câu chuyện của Philip ngồi không yên - The Story of Fidgety Philip", năm 1898 một dạng nhân cách bệnh lý có tên “ Nhân cách bồn chồn không yên” được bác
Trang 8sĩ Kreapelin người Pháp mô tả, năm 1902 rất nhiều bài giảng mô tả một nhóm các trẻ hiếu động với những dấu hiệu bất thường về hành
vi được George F Still được xuất bản Sau dịch viêm não năm 1917 – 1918, Hohman (1922), Strecker và Ebaugh (1923) đã nhắc đến chứng tăng động Một số tác giả khác: Smith (1926), bác sĩ người Đức Franz Kramer và Hans Pollnow (năm 1932), Chess (năm 1960), Barkley – 1997; Douglas – 1999; Nig – 2001…cũng đề cập đến RLTĐGCY trong các công trình nghiên cứu của mình
Tỷ lệ mắc: Trong một báo cáo được tổng hợp từ 175 nghiên cứu tỷ lệ mắc ADHD ở trẻ em dưới 18 tuổi cho thấy tỷ lệ mắc là 7,2% Một khảo sát quốc gia tại Mỹ tiến hành trong 8 năm (2003 – 2011) cho thấy cứ 11 trẻ trong độ tuổi từ 4 – 17 tuổi thì có 1 trẻ bị bệnh, trẻ nam bị bệnh cao gấp 2 lần trẻ nữ
1.1.1.2 Ở Việt Nam
Tỉ lệ trẻ có vấn đề về chú ý chiếm khoảng 4% Đã có một vài nghiên cứu về rối loạn tăng động giảm chú ý nhưng quy mô nhỏ và chủ yếu là những thống kê, mô tả Đáng chú ý là các nghiên cứu khoa học của các tác giả: Đặng Hoàng Minh và T.S Hoàng Cẩm Tú (2001), T.S Nguyễn Công Khanh (2002), T.S Nguyễn Thị Hồng Nga (2003), PGS.TS Võ Thị Minh Chí (2001 – 2002), Năm 2010, tác giả Nguyễn Thị Vân Thanh, Nguyễn Thế Mạnh (2009), tác giả Lê Thị Minh Hà…
1.1.2 Tổng quan về nghiên cứu hoạt động tạo hình cho trẻ 5-6 tuổi
1.1.2.1 Trên thế giới
Trang 9Từ những năm giữa thế kỉ thứ XX, các nhà giáo dục học và tâm lí học Xô Viết đã rất quan tâm đến hoạt động tạo hình của trẻ Như A.N.Leonchiev, A.V.Giaparozet, B.M.Chevlov, N.P.Xaculina, T.X Komarova, A.V Zaparoject, B.M Teplov, N.C.Crupxkaia, L.X Vygotsky, J Piaget…đã coi hoạt động tạo hình là một trong những biện pháp giáo dục trẻ có hiệu quả
về đề tài “Các biện pháp giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn (5 –
6 tuổi) thông qua hoạt động tạo hình ở trường mầm non”, tác giả Lê Hồng Vân (2008) cũng bàn chung về phương pháp hướng dẫn, tác giả Mã Thị Khánh Tú Năm 2008, Viện chiến lược và chương trình giáo dục đã xuất bản quyển sách “Tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non theo hướng tích hợp” trong đó nêu lên vai trò của hoạt động tạo hình trong việc giáo dục toàn diện cho trẻ
Hiện nay, nhiều NTL đã đi sâu nghiên cứu vấn đề trị liệu các rối loạn tâm lý thông qua liệu pháp hội họa Tuy nhiên vẫn chưa có tác giả nào nghiên cứu về can thiệp cho trẻ 5-6 tuổi tăng động giảm chú ý thông qua hoạt động tạo hình
1.1.3 Trị liệu cho trẻ tăng động giảm chú ý
Trang 101.1.3.1 Trên thế giới
G.M Kapalka (2004) thử nghiệm ở 76 gia đình có trẻ ADHD Năm 2005, R.Reid; A.L.Trout và M.Schartz công bố công trình về Sử dụng can thiệp tự điều chỉnh cho trẻ ADHD Trong nghiên cứu của G.A.Fabiano và W.E.Pelham JR đã báo cáo một nghiên cứu trường hợp nhằm làm tăng hiệu quả cho những can thiệp rối loạn tăng động giảm chú ý ở lớp học Lisa Flores Dumke, Robert Segal, Tina de Benedictis (2006) đã nghiên cứu theo hướng huấn luyện cha mẹ trẻ ADHD
1.1.3.2 Tại Việt Nam
Tác giả Trần Văn Công (2006) đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Bước đầu ứng dụng liệu pháp hành vi vào can thiệp cho trẻ tăng động giảm chú ý độ tuổi đầu tiểu học” Tác giả Quách Thúy Minh, Nguyễn Thị Hồng Thúy và cộng sự tại Khoa Tâm bệnh đã thực hiện trị liệu tâm lí nhóm cho trẻ ADHD và phụ huynh
1.2 Khái quát về rối loạn tăng động giảm chú ý
1.2.1 Khái niệm tăng động giảm chú ý
Rối loạn tăng động giảm chú ý (tiếng Anh là Attention Deficit Hyperactivity Disorder - viết tắt là ADHD) là một trong những rối loạn phát triển thường gặp ở trẻ em, đặc điểm chung của ADHD là những hành vi hiếu động quá mức đi kèm sự suy giảm khả năng chú ý Nó thường được chẩn đoán ở trẻ em nhưng các triệu chứng rối loạn tăng động giảm chú ý có thể tiếp tục đến tuổi thiếu niên và tuổi trưởng thành
Trang 11Theo “Sổ tay chẩn đoán và thống kê những rối nhiễu tâm thần - IV” (1994) (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, 4th Edition - DSM - IV), rối nhiễu tăng động giảm chú ý
là biểu hiện quá mức tình trạng không tập trung chú ý, hoạt động không kiểm soát và tăng hoạt động, làm ảnh hưởng đến việc học tập, phát triển cảm xúc và kĩ năng xã hội của trẻ
Theo ICD – 10 (Phân loại bệnh tật quốc tế sửa đổi lần thứ 10 – the 10th revision of the International Statistical Classfication of Diseases), rối loạn tăng động giảm chú ý thuộc mục F90 có đặc điểm là: dấu hiệu khởi phát sớm, sự kết hợp của một hành vi hoạt động quá mức, kém kiểm tra với thiếu chú ý rõ rệt và thiếu kiên trì trong công việc; và những đặc điểm hành vi lan tỏa trong một số lớn hoàn cảnh
và kéo dài với thời gian
Các tên gọi khác nhau của ADHD theo trình tự thời gian:
- 1902: Bệnh thiếu kiểm soát về đạo đức (morbid defecfs of moral control)
- 1926: Tổn thương não tối thiểu (lesion cerebrale a minima)
- 1934: Thuật ngữ “cưỡng bức một cách có hệ thống” (organically driven, organic driveness)
- 1947: Hội chứng tổn thương não tối thiểu (Minimal Brain Damage Syndrome)
- 1957: Rối loạn tăng động xung động
- 1962: Rối loạn chức năng não tối thiểu (Minimal Brain
Dysfunction) (MBD)
- 1968: Phản ứng tăng động ở trẻ nhỏ (hyperkinetic syndrome
Trang 12ofchilhood) (DSM–II)
- 1980: Rối loạn giảm chú ý (ADD) trong DSM – III (APA)
- 1987: Rối loạn tăng động giảm chú ý hay Rối loạn giảm chú ý không phân biệt (DSM – III - R)
- 1994: Rối loạn Tăng động/Giảm chú ý (DSM – IV) Phân loại các thể ADHD tách tăng động và giảm chú ý thành: thể tăng động chiếm
ưu thế, thể giảm chú ý chiếm ưu thế và thể kết hợp cả tăng động và giảm chú ý
1.2.2 Những biểu hiện triệu chứng của rối loạn tăng động giảm chú ý
ADHD biểu hiện bằng 3 đặc trưng chính:
1.2.2.1 Mất chú ý
- Biểu hiện chính giảm chú ý là không thể tập trung vào bất
cứ việc gì, khó lắng nghe ai đó nói, hướng dẫn; khó hoàn thành nhiệm vụ hay sinh hoạt cá nhân
- Trẻ cũng thường hay mơ mộng và thường mắc lỗi Trẻ mắc bệnh có xu hướng tránh các hoạt động đòi hỏi sự tập trung hay có thể gây ra sự buồn chán
- Sự giảm chú ý có thể được biểu hiện trong học tập, trong làm việc, hoặc trong các tình huống xã hội
1.2.2.2 Gia tăng hoạt động
- Tăng hoạt động biểu hiện bằng sự hoạt động quá mức, đặc biệt trong những hoàn cảnh đòi hỏi có sự yên tĩnh
- RL tăng động: biểu hiện ngay từ lúc 3-4 tuổi Chúng thường xuyên chạy nhảy vận động không ngừng, không thể ngồi yên,
Trang 13không biết mệt mỏi, chỉ trừ lúc ngủ có biểu hiện ngủ ít và khó ngủ hơn những trẻ khác
1.2.2.3 Tính xung động
- Tính bốc đồng, bồng bột (impulsitivity): thể hiện qua sự mất kiên nhẫn, khó kềm chế các đáp ứng, buộc miệng trả lời trước khi người khác kết thúc câu hỏi, khó chờ đợi đến phiên mình, thường ngắt lời hoặc quấy rầy người khác đến mức gây ra những khó khăn trong sinh hoạt, các môi trường xã hội và học tập
- Các biểu hiện hành vi thường xuất hiện trong nhiều hoàn cảnh, bao gồm ở nhà, ở trường, khu vui chơi hoặc trong các tình huống xã hội
1.2.3 Phân loại rối loạn tăng động giảm chú ý
1.2.3.1 Phân loại theo biểu hiện lâm sàng
Sổ thống kê và chẩn đoán DSM-IV của Hiệp hội Tâm lý Thần kinh Hoa Kỳ phân chia chứng Tăng động giảm chú ý thành 3 nhóm chính:
- Rối loạn tăng động giảm chú ý – Dạng phối hợp
- Rối loạn tăng động giảm chú ý – Dạng trội về giảm chú ý
- Rối loạn tăng động giảm chú ý – Dạng trội về tăng động bồng bột
2.3.2 Phân loại theo mức độ
Phân loại theo mức độ nặng nhẹ của RLTĐGCY (Severity
levels) được chia thành 3 mức độ:
- Nhẹ (mild): đạt dưới 5 tiêu chuẩn
- Vừa phải (moderate): đạt 6 – 7 tiêu chuẩn
- Nghiêm trọng (severe): đạt 7 tiêu chuẩn trở lên
1.2.4 Các nguyên nhân gây rối loạn tăng động giảm chú ý
Trang 14Hiện nay, chưa có đủ thông tin về nguyên nhân gây ra bệnh rối loạn tăng động giảm chú ý Tuy nhiên, các nhà khoa học tin rằng
nó có thể liên quan tới các hóa chất trong não Tương tự như nhiều bệnh khác, ADHD có thể là kết quả của sự kết hợp nhiều yếu tố Ngoài di truyền học, các nhà nghiên cứu cũng cho rằng các yếu tố môi trường, các tổn thương ở não, dinh dưỡng và môi trường xã hội
có thể góp phần vào ADHD
1.2.4.1 Nguyên nhân di truyền
ADHD có xu hướng di truyền trong gia đình Đây được coi
là yếu tố phần lớn gây ra chứng tăng động
1.2.4.2 Nguyên nhân tổn thương ở não
Những sự bất thường ở não khiến trẻ luôn ở trong trạng thái hiếu động quá mức, không kiểm soát được hành vi của mình và giảm chú ý
1.2.4.3 Nguyên nhân sử dụng các chất gây nghiện hoặc các chất tác động tâm thần
Tiếp xúc với một số độc chất trong thời kỳ mang thai: như thuốc lá, rượu, ma túy, vì những chất này làm giảm sản xuất dopamine ở trẻ em hoặc các độc chất trong môi trường như dioxine, hydrocarbure benzen…cũng làm tăng nguy cơ trẻ sinh ra bị hiếu động, kém tập trung
1.2.4.4 Nguyên nhân môi trường sống
Sự dễ tổn thương sinh học và các yếu tố tâm lý xã hội, môi trường cùng tương tác để tạo ra nguyên nhân, tính phức tạp và hậu quả của rối loạn
Trang 151.2.4.5 Nguyên nhân sinh non hoặc thai nhi nhẹ cân
Tai biến lúc sinh: như sinh non tháng, thiếu oxi lúc sinh (bị ngạt) làm ảnh hưởng đến sự phát triển trí não của trẻ Tổn thương não ngay khi còn trong bụng mẹ hoặc chấn thương đầu nghiêm trọng sau này trong cuộc sống có thể có biểu hiện một số hành vi như trẻ tăng động giảm chú ý Tuy nhiên, chỉ có một tỷ lệ nhỏ trẻ bị ADHD bị chấn thương sọ não
1.2.5 Các tiêu chí chẩn đoán rối loạn tăng động giảm chú ý
1.2.5.1 Các tiêu chí chẩn đoán rối loạn tăng động giảm chú ý theo DSM 5
- Dạng thứ nhất: Rối loạn tăng động – nổi trội về sự giảm chú ý Dạng thiếu chú ý (Inattention) có 9 tiêu chuẩn, đòi hỏi trẻ phải hội đủ 6 tiêu chuẩn trở lên, và những triệu chứng thuộc dạng này phải xuất hiện trong vòng 6 tháng trở lại
- Dạng thứ hai: Rối loạn tăng động – nổi trội về sự tăng động
và bốc đồng Dạng tăng động và bốc đồng (Hyperactivity and Impulsivity) có 9 tiêu chuẩn, đòi hỏi trẻ phải hội đủ 6 tiêu chuẩn trở lên Những triệu chứng thuộc dạng này phải xuất hiện trong vòng 6 tháng trở lại
- Dạng kết hợp (Combined Presentation) bao gồm 9 tiêu chuẩn của dạng giảm chú ý (Inattention) và 9 tiêu chuẩn của dạng tăng động và bồng bột (Hyperactivity and Impulsivity) Dạng kết hợp này đòi hỏi trẻ phải hội đủ tối thiểu 6 tiêu chuẩn của nhóm 1 và 6 tiêu chuẩn của nhóm 2 nêu trên và những triệu chứng thuộc dạng kết hợp
phải xuất hiện trong vòng 6 tháng trở lại
Trang 161.2.5.2 Các tiêu chí chẩn đoán rối loạn tăng động giảm chú ý theo ICD10
Theo ICD 10, rối loạn tăng động giảm chú ý thuộc mục F90
có đặc điểm là: Dấu hiệu khởi phát sớm, sự kết hợp của một hành vi hoạt động quá mức, kém kiểm tra với thiếu chú ý rõ rệt và thiếu kiên trì trong công việc; và những đặc điểm hành vi lan tỏa trong một số lớn hoàn cảnh và kéo dài với thời gian
G1 Giảm chú ý: Ít nhất sáu trong số các triệu chứng giảm chú ý sau
đây đã tồn tại ít nhất 6 tháng, theo một mức độ kém thích nghi và mâu thuẫn với mức độ phát triển của trẻ
G2 Tăng hoạt động Ít nhất 3 trong số các triệu chứng tăng động sau
đây đã tồn tại ít nhất 6 tháng, theo một mức độ kém thích nghi và mâu thuẫn với mức độ phát triển của trẻ
G3 Xung động ít nhất 1 trong số các triệu chứng xung đồn sau đây
đã tồn tại ít nhất 6 tháng, theo một mức độ kém thích nghi và mâu thuẫn với mức độ phát triển của trẻ
G4 Khởi phát của rối loạn không muộn hơn tuổi lên 7
G5 Tỏa khắp / Lan tràn Tiêu chuẩn nên được thấy ở hơn 1 tình
huống
2.7 Can thiệp cho trẻ tăng động giảm chú ý
2.7.1 Can thiệp cho trẻ mầm non
- Can thiệp là gì?
Can thiệp sớm (Early Intervention) là một biện pháp giáo dục
sớm cho trẻ có khó khăn trong phát triển trí tuệ trước 5 tuổi
Trang 17Can thiệp sớm nhằm giúp cho đứa trẻ phát triển trong các lĩnh vực: Thể chất, tri thức, ngôn ngữ, quan hệ, thích ứng
- Đặc điểm chú ý của trẻ mầm non
Trẻ 5-6 tuổi sự chú ý đã tập trung hơn, bền vững hơn Do đó thời gian chơi và tiết học được kéo dài hơn Ngôn ngữ phát triển cũng giúp trẻ biết điều khiển chú ý của mình, biết tự giác hướng chú ý của mình vào những đối tượng nhất định
Thời lượng chú ý: Ở trẻ nhỏ, tính ổn định của chú ý có chủ định kém, chú ý dễ phân tán và dễ di chuyển chú ý chỉ định của trẻ phát triển tăng dần theo độ tuổi Trẻ 5-6 tuổi thời lượng tập trung chú
ý khoảng 15 phút
2.7.2 Can thiệp cho trẻ tăng động giảm chú ý
Chương trình can thiệp cho trẻ có nhu cầu đặc biệt cần nguồn lực hỗ trợ như: bác sĩ, nhà tâm lý, gia đình, giáo viên giáo dục đặc biệt, nhà vật lý trị liệu, nhà trị liệu ngôn ngữ, nhà chỉnh âm… Trẻ ADHD cũng cần đến sự trợ giúp toàn diện như vậy Tuy nhiên, với những đặc điểm riêng như đã đề cập ở trên, trẻ ADHD ở độ tuổi này cần 4 phía trợ giúp quan trọng nhất, đó là: bác sĩ, nhà tâm lý, gia đình
và nhà trường
Đề tài tập trung can thiệp vào 2 môi trường quan trọng nhất của trẻ là ở gia đình và trường học và 3 phía: nhà tâm lý, bố mẹ trẻ và giáo viên
1.3 Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non
1.3.1 Vai trò của hoạt động tạo hình trong việc giáo dục toàn diện cho trẻ
Trang 181.3.1.1 Vai trò của hoạt động tạo hình đối với sự phát triển nhận thức
1.3.1.2 Vai trò của hoạt động tạo hình đối với sự phát triển thể chất 1.3.1.3 Vai trò của hoạt động tạo hình đối với việc giáo dục thẩm mĩ 1.3.1.4 Vai trò của hoạt động tạo hình đối với việc giáo dục tình cảm
và các quan hệ xã hội
1.3.1.5 Vai trò của hoạt động tạo hình đối với việc chuẩn bị cho trẻ
đi học ở trường phổ thông
3.2 Tổ chức các hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non
3.2.1 Tổ chức hoạt động vẽ cho trẻ mầm non
Nội dung hoạt động vẽ gồm: hoàn thiện các kỹ năng sử dụng các loại vật liệu để vẽ, củng cố và dạy trẻ các kỹ năng vẽ, dạy trẻ biết chọn lựa màu sắc để thể hiện
3.2.2 Tổ chức hoạt động nặn cho trẻ mầm non
Nặn là một dạng hoạt động tạo hình trẻ dùng lực bàn tay của mình để biến đổi hình dạng của các vật liệu mềm dẻo tạo nên hình tượng vật có hình khối theo mẫu đã dự định
3.2.3 Tổ chức hoạt động xếp dán tranh - chắp ghép cho trẻ MN
Cắt xé dán ở trường mầm non là một dạng hoạt động tạo hình mang tính ước lệ và khái quát cao Tham gia hoạt động xé- cắt dán trẻ sử dụng nhiều các loại vật liệu khác nhau để tạo ra các sản phẩm
đa dạng
3.2.4 Tổ chức cho trẻ làm quen với các tác phẩm nghệ thuật tạo hình
Trang 19Tác phẩm nghệ thuật tạo hình bao gồm: Tranh các thể loại, tượng và phù điêu, các công trình kiến trúc…
1.4 Ứng dụng liệu pháp tạo hình và các liệu pháp tâm lý trong việc tổ chức các hoạt động tạo hình cho trẻ tăng động giảm chú ý
1.4.1 Liệu pháp tâm lý
Liệu pháp tâm lý là những biện pháp tác động lên tâm lý người bệnh nhằm mục đích cải thiện và tăng cường sức khỏe tâm lý của họ Hoặc có thể hiểu liệu pháp tâm lý là liệu pháp mà trong đó nhà trị liệu sử dụng tác động tâm lý một cách tích cực, có hệ thống vào mục đích phòng và chữa bệnh
1.4.2 Liệu pháp nghệ thuật tạo hình
Năm 1887, lần đầu tiên các hình vẽ của trẻ nhỏ được in ra Tác giả là Corrado Ricci đã có một phát hiện đáng kể về các ý nghĩa bao hàm trong hình vẽ người Năm 1926, Goodenough cho ra đời một hệ thống đánh giá trí năng qua hình vẽ người Đây cũng là cơ sở
để về sau rất nhiều nhà lâm sàng xây dựng nên các test phóng chiếu: Rorschach, Koch…
Theo ThS tâm lý Võ Thị Minh Huệ, tranh vẽ được sử dụng trong bước đầu đánh giá của phiên trị liệu Bác sĩ Nguyễn Văn Ca bệnh viện 175 cho biết việc sử dụng liệu pháp nghệ thuật hỗ trợ quá trình điều trị tâm lý, tâm thần ngày càng được chú trọng
1.4.3 Hình thức tổ chức các hoạt động tạo hình
1.4.3.1 Hình thức học áp dụng liệu pháp cá nhân
Các trẻ tham gia can thiệp đến làm việc cá nhân với GV trong 5 đến 10 buổi, mỗi buổi 60 đến 90 phút, nhằm đánh giá tình