Trong những năm qua mặc dù có nhiều cố gắng nhưng trong công tác QL HĐDH của hiệu trưởng vẫn còn bộc lộ một số tồn tại như: Công tác bồi đội ngũ hàng năm, việc tạo động lực tốt cho GV, H
Trang 1Trường THPT Kim Sơn B là trường có đội ngũ GV phần lớn là trẻ, mới
ra trường, xa nhà nhiệt tình nhưng ít kinh nghiệm Trường trú chân trên địa bàn gặp nhiều khó khăn về kinh tế, phần lớn HS đều là con nông dân kinh tế khó khăn, có nhiều HS theo đạo Thiên Chúa tuyển, có điểm khá thấp nên nhận thức
về việc học còn nhiều hạn chế
Trong những năm qua mặc dù có nhiều cố gắng nhưng trong công tác QL HĐDH của hiệu trưởng vẫn còn bộc lộ một số tồn tại như: Công tác bồi đội ngũ hàng năm, việc tạo động lực tốt cho GV, HS, chỉ đạo đổi mới phương pháp, KTĐG còn nhiều bất cập…
Xuất phát từ các lý do trên, tôi chọn đề tài: “Quản lí hoạt động dạy học ở trường Trung học phổ thông Kim Sơn B, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình theo định hướng phát triển năng lực học sinh của chương trình giáo dục phổ thông 2018”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận quản lý hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông theo định hướng phát triển năng lực học sinh của chương trình giáo dục phổ thông 2018 và thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường Trung học phổ thông Kim Sơn B, tỉnh Ninh Bình làm căn cứ đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng trường trung học phổ thông Kim Sơn B, tỉnh Ninh Bình theo định hướng phát triển năng lực học sinh của chương trình giáo dục phổ thông 2018, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
3.Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường trung học phổ thông Kim Sơn B
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh của hiệu trưởng trường Trung học phổ thông Kim Sơn B, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình theo định hướng phát triển năng lực học sinh của chương trình giáo dục phổ thông 2018
4 Giả thiết khoa học
Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông làm thay đổi về nội dung, phương pháp, cách tiếp cận hoạt động dạy học Do đó công tác quản lý hoạt
Trang 2dục phổ thông 2018 sắp tới sẽ gặp không ít khó khăn, lúng túng trong công tác quản lý của Hiệu trưởng, đặc biệt là quản lý hoạt động dạy học Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động dạy học một cách khoa học, phù hợp với thực tiễn nhà trường và áp dụng chúng một cách đồng bộ thì sẽ khắc phục được hạn chế, nâng cao được chất lượng dạy học của nhà trường, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đổi mới chương trình giáo dục phổ thông trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận để xây dựng khung lý thuyết về quản lý hoạt
động dạy họcở trường trung học phổ thông theo định hướng phát triển năng lực học sinh của chương trình giáo dục phổ thông 2018
- Nghiên cứu thực trạng về quản lý hoạt động dạy học theo định hướng
phát triển năng lực học sinh ở trường trung học phổ thông Kim Sơn B, tỉnh Ninh Bình để làm căn cứ thực tiễn cho đề tài
- Đề xuất các biện pháp về quản lý hoạt động dạy học theo định hướng
phát triển năng lực học sinh của chương trình giáo dục phổ thông 2018 của hiệu trưởng trường Trung học phổ thông Kim Sơn B, tỉnh Ninh Bình và khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất
- Kiến nghị với các bên liên quan để thực hiện hiệu quả các biện pháp đề
xuất
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Về nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và đề
xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh của chương trình giáo dục phổ thông 2018 của hiệu trưởng trường Trung học phổ thông Kim Sơn B, tỉnh Ninh Bình
Về địa bàn nghiên cứu: Trường Trung học phổ thông Kim Sơn B, tỉnh Ninh Bình
Về thời gian nghiên cứu thực trạng: Từ năm học 2016-2017 đến năm học
2018-2019
Về đối tượng khảo sát: Cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh trường Trung
học phổ thông Kim Sơn B
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu sách, báo, tài liệu và các kết quả nghiên cứu liên quan đến vấn
đề nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và của ngành Giáo dục về đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới chương trình giáo dục phổ thông nói riêng
Thu tập, phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá các kiến thức thu tập được để xây dụng khung lý thuyết của đề tài
Trang 37.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Sử dụng để khảo sát thực trạng hoạt
động dạy học và quản lý hoạt động dạy học ở trường Trung học phổ thông Kim Sơn B và hỏi ý kiến về mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất
Phương pháp thâm nhập thực tiễn: Trực tiếp đi dự một số giờ dạy của giáo
viên để tìm hiểu thực trạng hoạt động dạy học của giáo viên Phỏng vấn HS,
GV và CBQL để rút ra những nhận xét về công tác quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng nhà trường
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Thống kê, xử lý các số liệu khảo sát
8 Đóng góp của đề tài
- Xây dựng được khung lý luận về quản lý hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông theo định hướng phát triển năng lực học sinh của chương trình giáo dục phổ thông 2018
-Đánh giá được thực trạng hoạt động và quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường Trung học phổ thông Kim Sơn B, tỉnh Ninh Bình
- Đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh của chương trình giáo dục phổ thông 2018 của hiệu trưởng trường Trung học phổ thông Kim Sơn B, tỉnh Ninh Bình
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo, áp dụng khi triển khai chương trình giáo dục phổ thông 2018 cho Hiệu trưởng các trường trung học phổ thông khác
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học ở trường trung học
phổ thông theo định hướng phát triển năng lực học sinh của chương trình giáo dục phổ thông 2018
Chương 2 Thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển
năng lực học sinh ở trường Trung học phổ thông Kim Sơn B, tỉnh Ninh Bình
Chương 3 Biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát
triển năng lực học sinh của chương trình Giáo dục phổ thông 2018 ở trường Trung học phổ thông Kim Sơn B, tỉnh Ninh Bình
Trang 4Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ U N LÝ Đ NG C
Ở NG UNG C P NG E ĐỊN ỚNG PHÁT IỂN NĂNG LỰC C SIN CỦA C ƠNG ÌN GIÁ ỤC
P ÔNG 2018
1.1 ổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.2 Những nghiên cứu ở trong nước
1.2 Kiến thức cơ bản
1.2.1 Quản lý
1.2.1.1 Khái niệm quản lý
Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, bất cứ tổ chức như thế nào,
cơ cấu phức tạp hay đơn giản, quy mô rộng hay hẹp, theo mục đích gì đều cần
có sự QL Dù là một đất nước, một nhóm xã hội hay chỉ là một nhóm học tập đều có sự QL của người QL điều hành cả một hệ thống để đạt được mục tiêu của hệ thống C Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập với nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”
Như vậy C Mác đã nói lên được bản chất của QL là một hoạt động lao động để điều khiển quá trình lao động, một hoạt động tất yếu của xã hội loài người Hoạt động lao động khá phức tạp, phong phú và đa dạng, QL là một hiện tượng lịch sử, xã hội
Ngày nay, thuật ngữ “quản lí” trở nên phổ biến, nhưng có nhiều ý kiến và chưa thống nhất Cho nên khi đưa ra các định nghĩa về “quản lí” các nhà nghiên cứu thường gắn với các loại hình QL cụ thể hoặc phụ thuộc nhiều vào lĩnh vực hoạt động hay nghiên cứu của mình
Theo lý thuyết điều khiển học: Quản lí là quá trình điều khiển của chủ thể
QL đối với đối tượng QL để đạt được mục tiêu QL
Frederick Winslow Taylor cho rằng: “Quản lí là biết chính xác điều muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt
cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất”
Trang 5Theo tác giả Bùi Văn Quân thì “Quản lí là quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức các nguồn lực, các tác động của chủ thể QL theo kế hoạch chủ động và phù hợp với quy luật khách quan để gây ảnh hưởng đến đối tượng QL nhằm tạo ra sự thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự tồn tại(duy trì), ổn định và phát triển của tổ chức trong một môi trường luôn
biến động”
Phân tích các định nghĩa trên chúng ta thấy nội hàm khái niệm QL gồm các nội dung sau:
- Đối tượng tác động của QL là một hệ thống xã hội hoàn chỉnh như một
cơ thể sống bao gồm nhiều yếu tố liên kết hữu cơ theo một cấu trúc nhất định, tồn tại theo thời gian, không gian cụ thể (gọi là môi trường QL)
- Chủ thể QL tạo ra các tác động QL, còn khách thể QL tạo ra các sản phẩm có giá trị sử dụng, hiện thực hóa mục tiêu QL và thoả mãn mục đích của nhà QL Chủ thể QL luôn là con người và có cơ cấu tổ chức phụ thuộc vào quy
mô, độ phức tạp của khách thể QL Khách thể QL là đối tượng chịu sự điều khiển, tác động của chủ thể QL, bao gồm: con người, các nguồn tài nguyên, tư liệu sản xuất… Cơ chế quản lí chính là hình thức QL những phương thức mà nhờ đó hoạt động QL được thực hiện và quan hệ tương tác giữa chủ thể QL và khách thể QL được vận hành, điều chỉnh để đạt được đến mục tiêu QL
- Mục tiêu cuối cùng của QL là chất lượng, sản phẩm vì lợi ích phục vụ con người Người QL tựu trung lại là nghiên cứu khoa học, nghệ thuật giải quyết các mối quan hệ với nhau vô cùng phức tạp không chỉ giữa chủ thể và khách thể trong hệ thống mà còn có mối quan hệ tương tác với các hệ thống
khác cũng song song tồn tại trong môi trường QL
- Chủ thể QL bằng cách thức và công cụ QL cụ thể tác động lên đối tượng
bị QL, nơi tiếp nhận tác động trực tiếp của chủ thể QL và cùng với chủ thể QL hoạt động theo một quỹ đạo nhằm cùng thực hiện mục tiêu của tổ chức Khách thể QL nằm ngoài hệ thống GD và hệ thống QLGD, chẳng hạn môi trường bên ngoài nhà trường Nó là hệ thống khác hoặc các ràng buộc của môi trường…Nó
có thể chịu tác động(gián tiếp) hoặc tác động trở lại đến hệ thống GD và hệ QLGD Vấn đề đặt ra đối với chủ thể QL là làm như thế nào để cho những tác động từ phía khách thể QL đến GD là tích cực, cùng nhằm thực hiện mục tiêu chung
Như vậy có thể hiểu Quản lí là sự tác động có mục đích, có kế hoạch phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí nhằm
Trang 6tổ chức để đưa tổ chức tiến đến mục tiêu đã xác định trong điều kiện biến động của môi trường
1.2.1.2 Các chức năng quản lý
Chức năng quản lý được quy định một cách khách quan bởi chức năng hoạt động của khách thể quản lý; từ chức năng quản lý xác định nội dung của chủ thể quản lý thông qua nội dung đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản
lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định Có rất nhiều quan niệm khác nhau
về chức năng quản lý:
- FW TayLor (1856 - 1915) và Henri Fayol (841 - 1925) đưa ra 5 chức
năng quảnlý: Kế hoạch hoá - Tổ chức - Chỉ huy - Phối hợp - Kiểm tra
- Theo sách giáo khoa trường Đảng cao cấp Liên Xô (cũ) có nêu 6 chức
năng quản lý chung: Soạn thảo mục tiêu - Kế hoạch hoá - Tổ chức - Chỉ huy - Phối hợp - Động viên - Kiểm tra
-Tài liệu Tập huấn cán bộ quản lý giáo dục của UNESCO đề ra 7 chức
năng: Kế hoạch hoá - Tổ chức - Bố trí biên chế - Chỉ đạo - Phối hợp - Tổng kết
- Quyết toán ngân sách
- Ở Việt Nam, trong cuốn “Quản lý trường phổ thông” của Viện Khoa học
giáo dục Hà Nội, năm 1998 (nay là Viện chiến lược và phát triển giáo dục) đề
xuất hệ thống các chức năng quản lý là:Kế hoạch hoá - Tổ chức – Kích thích - Kiểm tra - Điều phối (phối hợp và điều chỉnh)
+ Thông qua các quan điểm trên ta thấy nhìn chung các quan niệm về các chức năng quản lý đều cơ bản giống nhau Song hiện nay hầu hết các tài liệu về QLGD đều đưa ra quan điểm chung về các chức năng của quản lý, bao gồm 4 chức năng:
-Lập kế hoạch (Dự báo và lập kế hoạch)
-Tổ chức (Bao gồm cả việc thu thập nguồn dự trữ và bố chí biên chế ) -Chỉ đạo (Bao gồm cả việc động viên, kích thích, giám sát và phối hợp) -Kiểm tra (Bao gồm cả tổng kết, quyết toán và đánh giá)
- Kế hoạch hoá là một chức năng cơ bản của QL, trong đó phải xác định những vấn đề như nhận dạng và phân tích tình hình, bối cảnh; dự báo các khả năng; lựa chọn và xác định các MT, mục đích và hoạch định con đường, cách thức, biện pháp để đạt được MT, mục đích; các nguồn lực để đạt tới các MT
Dự báo và lập KH có vai trò định hướng cho toàn bộ hoạt động của quá trình QL; là căn cứ cho việc KT-ĐG quá trình thực hiện MT của tổ chức
- Tổ chức là quá trình phân phối và sắp xếp nguồn lực theo những cách thức nhất định để đảm bảo thực hiện tốt các MT đã đề ra; đó cũng là một quá trình triển khai, điều phối các công việc, các mối quan hệ để thực hiện một công việc
Cấu trúc tổ chức là tổng hợp các bộ phận, đơn vị và cá nhân khác nhau có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau được chuyên môn hóa, có quyền hạn và trách nhiệm nhất định được bố trí theo các cấp và các khâu khác nhau, nhưng cùng nhằm bảo đảm thực hiện các chức năng QL, cùng hướng vào đích chung Tổ
Trang 7chức thực hiện KH, thực chất là xác định câu trả lời cho câu hỏi ai làm, phân công phân nhiệm như thế nào và điều phối công việc, lực lượng ra sao để hoàn thành KH, đạt MT dự kiến
- Lãnh đạo (Chỉ đạo) là quá trình điều khiển, tác động, gây ảnh hưởng tới hành vi, thái độ của những người bị QL nhằm đạt tới các MT mà người QL đã định Lãnh đạo/chỉ đạo gồm: (1) Thực hiện quyền chỉ huy (giao việc) và hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ, (2) Thường xuyên đôn đốc, động viên và kích thích, (3) Giám sát và điều chỉnh, (4) Thúc đẩy các hoạt động phát triển Người
QL cần tạo điều kiện thuận lợi giúp cho các đối tượng đạt tới các MT với chất lượng cao, đồng thời có biện pháp để biến yêu cầu chung thành nhu cầu của các thành viên, động viên mọi người tích cực, tự giác làm việc
- Kiểm tra là chức năng của QL nhằm theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn cần thiết Đó là quá trình
tự điều chỉnh, diễn ra có tính chu kỳ Người QL đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động, đối chiếu đo lường kết quả sự thành đạt so với MT, chuẩn mực đặt ra KT-ĐG giúp cho người QL biết được mọi người thực hiện các nhiệm vụ ở mức độ nào, đồng thời cũng biết được các quyết định QL ban hành
có phù hợp hay không, trên cơ sở đó mà điều chỉnh các hoạt động, thậm chí phải hiệu chỉnh, sửa chữa lại những chuẩn mực cần thiết
Quá trình QL được diễn ra tuần tự từ chức năng lập KH đến các chức năng
tổ chức, chỉ đạo và KT Thực tế thì các chức năng này đan xen, hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình thực hiện Chất xúc tác và liên kết các chức năng này là thông tin QL và các quyết định QL
Hiện nay cũng có một số tác giả chia quá trình quản lý thành 5 giai đoạn: Chuẩn bị kế hoạch - Kế hoạch hoá - Tổ chức - Chỉ đạo - Kiểm tra (giai đoạn này kết thúc một chu trình quản lý nhưng đồng thời nó cũng bắt đầu thực hiện chức năng chuẩn bị cho chu trình mới)
Sự phân chia quá trình quản lý thành các giai đoạn có tính chất tương đối, giúp cho người quản lý định hướng được công việc của mình:
+ Giai đoạn lập kế hoạch gồm các bước: Thành lập đơn vị lập kế hoạch; chuẩn toán; nêu vấn đề; sơ thảo ý định tổng thể và kế hoạch dự kiến trong chủ thể quản lý
+ Giai đoạn kế hoạch hoá gồm các bước: Soạn thảo kế hoạch; Duyệt nội bộ; trình duyệt cấp trên
+ Giai đoạn tổ chức gồm các bước: Tiếp nhận nguồn dự trữ; đưa nội dung
kế hoạch đến những người thực hiện; thiết lập cấu trúc tổ chức bộ máy; xác lập
cơ chế phối hợp, công tác giám sát; bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ
+ Giai đoạn chỉ đạo gồm các bước: Nắm quyền chỉ huy; động viên kích thích; giám sát; điều chỉnh, can thiệp
+ Giai đoạn kiểm tra gồm các bước: Đánh giá trạng thái kết thúc; phát hiện các sai lệch và chỉ ra nguyên nhân; điều chỉnh, uốn nắn
Trang 8Trong luận văn này, tác giả sử dụng quan điểm chia các chức năng quản
lý thành 4 chức năng: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
1.2.2 Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
1.2.2.1 Quản lý giáo dục
Khái niệm “Quản lý giáo dục” được rất nhiều nhà khoa học về giáo dục
trình bày với các quan niệm khác nhau:
Theo tác giả Trần Kiểm,quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường
Theo tác giả Nguyễn Phúc Châu, quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật…của chủ thể QLGD các cấp đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả việc tổ chức, huy động, điều phối, giám sát và điều chỉnh,… các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực và thông tin) để hệ thống giáo dục vận hành đạt được mục tiêu phát triển giáo dục – Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động
có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ thống giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên tắc giáo dục của Đảng thực hiện được những tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu
dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất”
Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: "Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát
là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội"
Từ các quan niệm trên ta có thể khái quát như sau: Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm thực hiện hiệu quả mục tiêu giáo dục
Do có nhiệm vụ là trang bị cho HS những kiến thức về khoa học nên GD nhà trường trội về phát triển trí tuệ, hình thành thế giới quan khoa học và hệ thống giá trị định hướng cho hình thành và phát triển nhân cách học sinh
Quản lý nhà trường là một bộ phận của QLGD Theo M.I.Kônđacốp:
“Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh, chúng ta hiểu quản lý nhà trường
là một hệ thống xã hội - sư phạm chuyên biệt Hệ thống này đòi hỏi những tác
Trang 9động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý đến tất cả các mặt của đời sống nhà trường, nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu về các mặt xã hội - kinh tế, tổ chức - sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang trưởng thành”
Theo tác giả Phạm Minh Hạc thì “việc quản lý nhà trường phổ thông là quản lý hoạt động dạy và học, tức làm sao cho hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục” Theo ông, là đưa nhà
trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh
Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý trường học là một hệ thống các tác động sư phạm hợp lý có hướng đích của chủ thể QL đến tập thể GV, HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường, huy động và phối hợp sức lực, trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động của nhà trường hướng vào hoàn thành có chất lượng và hiệu quả MT dự kiến”
Có thể khái quát, QL nhà trường phổ thông thực chất là tác động có định hướng, có KH của chủ thể QL lên tất cả các nguồn lực, làm cho các thành tố của hệ thống vận hành, gắn kết chặt chẽ với nhau, đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường theo nguyên lý GD để tiến tới mục tiêugiáo dục
Theo nghĩa hẹp, QL nhà trường có thể hiểu là QL tất cả những hoạt động diễn ra trong nhà trường, đảm bảo đưa chất lượng giáo dục, đào tạo của nhà trường từ trạng thái này sang trạng thái khác nhằm đạt được mục tiêu phát triển GDĐT của nhà trường
Quản lý nhà trường bao gồm quản lý quá trình DH, GD, tài chính, nhân lực, hành chính và QL môi trường GD Trong đó QL dạy học - giáo dục là trọng tâm Hiện nay, các nhà QL nhà trường quan tâm nhiều đến các thành tố mục tiêu, nội dung, phương pháp, tổ chức và kết quả dạy học, giáo dục
1.2.3 Hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông
1.2.3.1 Trường trung học phổ thông
Trường THPT là cơ sở giáo dục nối tiếp cấp trung học cơ sở thuộc bậc trung học của hệ thống giáo dục quốc dân Cấp THPT gồm 3 năm học từ lớp 10 đến lớp 12 Đây là cấp học vừa trực tiếp tạo nguồn cho bậc cao đẳng, đại học nói riêng, vừa góp phần quan trọng vào việc đào tạo nguồn nhân lực Do đó trường THPT có mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục mang tính phổ thông cơ bản, toàn diện, với những đặc thù riêng nhằm thực hiện nhiệm vụ:
- Hoàn chỉnh học vấn phổ thông nhằm phát triển nhân cách người lao động mới năng động, sáng tạo Tích cực chuẩn bị cho HS bước vào cuộc sống lao động sản xuất, làm nghĩa vụ công dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
- Chuẩn bị cho HS cơ sở để học tiếp lên, góp phần đào tạo nguồn nhân lực
và nhân tài cho đất nước
Trang 101.2.3.2 Hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông
Hoạt động dạy học là hoạt động cơ bản, đặc trưng trong nhà trường, là hình thức nhanh nhất để học sinh nắm được kiến thức cơ bản và khoa học của nhân loại, là con đường cơ bản nhất để thực hiện mục tiêu GD
Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm hoạt động dạy học:
Theo tác giả Hà Thế Ngữ, “Hoạt động dạy học là quá trình hoạt động thống nhất giữa giáo viên và học sinh trong đó dưới tác động chủ đạo (tổ chức, điều khiển) của giáo viên, học sinh tự giác, tích cực, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học đã vạch ra”
Như vậy, bản chất của HĐDH là hoạt động phối hợp của hai chủ thể giáo viên và học sinh:
Giáo viên giữ vai trò chủ đạo trong HĐDH: Giáo viên tổ chức, điều khiển cho người học nhận thức, truyền đạt tri thức, hướng dẫn luyện tập, hình thành
kỹ năng, kiểm tra và uốn nắn, giáo dục thái độ học tập cho học sinh PP giảng dạy của giáo viên bao gồm PP tổ chức nhận thức, PP điều khiển các hoạt động trí tuệ và thực hành, PP giáo dục ý thức học tập cho học sinh
Học sinh là chủ thể của hoạt động học: Học sinh chủ động, tích cực và sáng tạo trong nhận thức và rèn luyện nhân cách HS có vai trò quyết định chất lượng học tập của mình Đối tượng của hoạt động học là hệ thống tri thức và hệ thống kỹ năng; mục đích của hoạt động học là tiếp thu nhanh nền văn hoá nhân loại chuyển hoá thành trí tuệ và nhân cách bản thân để trở thành người lao động thông minh, năng động, sáng tạo Hoạt động học là quá trình nhận thức, tìm tòi, thấu hiểu, nắm vững, ghi nhớ và vận dụng kiến thức vào cuộc sống Phương pháp học tập là PP nhận thức và PP rèn luyện để hình thành hệ thống kỹ năng thực hành
Hoạt động dạy và hoạt động học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện ở mối quan hệ tương tác giữa các thành tố: mục tiêu, nội dung, phương pháp của hoạt động dạy và hoạt động học Nghĩa là những ý định của người dạy
về mục đích, nội dung, PP, hình thức tổ chức,…sẽ quyết định mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức học tập,…của người học và ngược lại Nói cách khác hoạt động dạy chế ước hoạt động học và ngược lại, cho nên quản lí hoạt động dạy học là đồng thời quản lí hoạt động của giáo viên và học sinh Mặt khác, đứng ở góc độ quản lí, tuy mọi tác động quản lí của người hiệu truởng đều đến với học sinh, nhưng mọi tác động đó trước hết được đến với giáo viên,
vì lẽ đó quản lí hoạt động dạy học trước hết là quản lí chủ yếu hoạt động dạy của giáo viên, thông qua hoạt động dạy của giáo viên mà QL hoạt động học của
học sinh
1.2.3.3 Quản lý hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông
Quản lí HĐDH là những tác động của chủ thể QL vào quá trình dạy học(được tiến hành bởi tập thể GV và HS với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách HS
theo mục tiêu đào tạo của nhà trường Nói một cách cụ thể, QL HĐDH là quá
Trang 11trình người hiệu trưởng hoạch định, tổ chức, điều khiển, kiểm tra hoạt động giảng dạy của GV nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra
Trong toàn bộ quá trình QL nhà trường thì QLHĐDH của hiệu trưởng
là hoạt động cơ bản nhất, quan trọng nhất Đây chính là nhiệm vụ trọng tâm của hiệu trưởng, vì vậy hiệu trưởng phải dành nhiều thời gian, công sức cho công tác QL HĐDH nhằm ngày càng nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
Hiệu quả của QL HĐDH được tích hợp trong kết quả đào tạo thể hiện qua các chỉ số như: trình độ nghề nghiệp của GV và chất lượng học tập của học sinh…
Như vậy, QL HĐDH là quá trình QL luôn hướng vào chất lượng giảng dạy của giáo viên và chất lượng học tập của học sinh
1.2.4 Một số nội dung cơ bản của Chương trình giáo dục phổ thông 2018
1.2.4.1 Quan điểm xây dựng chương trình
Chương trình giáo dục phổ thông là văn bản thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông, quy định các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và phương pháp đánh giá kết quả giáo dục, làm căn cứ quản lí chất lượng giáo dục phổ thông
Chương trình giáo dục phổ thông được xây dựng trên cơ sở quan điểm của Đảng, Nhà nước về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
Chương trình giáo dục phổ thông bảo đảm phát triển phẩm chất và năng lực người học thông qua nội dung giáo dục.Thông qua các phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục phát huy tính chủ động và tiềm năng của mỗi học sinh, các phương pháp đánh giá phù hợp với mục tiêu giáo dục và phương pháp giáo dục để đạt được mục tiêu đề ra
Chương trình giáo dục phổ thông bảo đảm kết nối chặt chẽ giữa các lớp học, cấp học với nhau và liên thông với chương trình giáo dục mầm non, chương trình giáo dục nghề nghiệp và chương trình giáo dục đại học
Chương trình giáo dục phổ thông được xây dựng theo hướng mở:
- Chương trình bảo đảm định hướng thống nhất và những nội dung giáo dục cốt lõi, bắt buộc đối với học sinh toàn quốc, đồng thời trao quyền chủ động
và trách nhiệm cho địa phương, nhà trường trong việc lựa chọn, bổ sung một số nội dung giáo dục và triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp với đối tượng giáo dục và điều kiện của địa phương, của nhà trường, góp phần bảo đảm kết nối hoạt động của nhà trường với gia đình, chính quyền và xã hội;
- Chương trình chỉ quy định những nguyên tắc, định hướng chung về yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và việc đánh giá kết quả giáo dục, không quy định quá chi tiết, để tạo điều kiện cho tác giả sách giáo khoa và giáo viên phát huy tính chủ động, sáng tạo trong thực hiện chương trình;
- Chương trình bảo đảm tính ổn định và khả năng phát triển trong quá trình
Trang 121.2.4.2 Mục tiêu chương trình giáo dục cấp THPT
Chương trình giáo dục phổ thông cụ thể hoá mục tiêu giáo dục phổ thông, giúp học sinh làm chủ kiến thức phổ thông, biết vận dụng hiệu quả kiến thức, kĩ năng đã học vào đời sống và tự học suốt đời, có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, biết xây dựng và phát triển hài hoà các mối quan hệ xã hội, có
cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú, nhờ đó có được cuộc sống
có ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại Chương trình giáo dục trung học phổ thông giúp học sinh tiếp tục phát triển những phẩm chất, năng lực cần thiết đối với người lao động, ý thức và nhân cách công dân, khả năng tự học và ý thức học tập suốt đời, khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân để tiếp tục học lên, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động, khả năng thích ứng với những đổi thay trong bối cảnh toàn cầu hoá và cách
mạng công nghiệp mới
1.2.4.3 Nội dung chương trình và kế hoạch giáo dục cấp THPT
Mỗi ngày học 1 buổi, mỗi buổi không bố trí quá 5 tiết học; mỗi tiết học 45 phút Khuyến khích các trường trung học phổ thông đủ điều kiện thực hiện dạy
học 2 buổi/ngày, ổng số tiết học/năm học(không kể các môn học tự chọn)
1015, Số tiết học trung bình/tuần(không kể các môn học tự chọn) 29 theo
hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo
1.2.4.4 Yêu cầu về năng lực cần đạt đối với học sinh THPT
Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn
có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể
Năng lực học sinh bao gồm 2 nhóm năng lực: Năng lực chung và năng lực đặc thù Mỗi nhóm năng lực được chia thành các năng lực cụ thể
Yêu cầu năng lực đối với học sinh THPT:
(1) Yêu cầu cần đạt về năng lực chung: Năng lực tự chủ và tự học, Năng
lực giao tiếp và hợp tác, Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
(2) Yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù: Năng lực ngôn ngữ, Năng lực tính toán, Năng lực khoa học, Năng lực công nghệ, Năng lực tin học, Năng lực thẩm mĩ