Trong quá trình biên soạn và xuất bản giáo trình, tập thể tác giả đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của Ban Giám đốc Học Viện Tài chính, Ban Quản lý khoa học, đồng thời đã tham khảo giáo
Trang 11
LỜI NÓI ĐẦU
Để đáp ứng tốt hơn nhu cầu nghiên cứu, giảng dạy và học tập những vấn
đề cơ bản về lịch sử các học thuyết kinh tế, chúng tôi tổ chức biên soạn lại cuốn giáo trình lịch sử các học thuyết kinh tế Cuốn giáo trình này kế thừa cuốn giáo trình xuất bản năm 2008 của Học viện Tài Chính, đồng thời sử dụng
tư liệu từ các tác phẩm gốc của giáo sư Jonh Maynad Keynes và giáo sư P.A.Samuelson Giáo trình có sự thay đổi về kết cấu, chỉnh lý, bổ sung thêm một số nội dung cho phù hợp với yêu cầu đào tạo, nghiên cứu của Học viện Tài chính trong điều kiện mới
Giáo trình được biên soạn bởiPGS,TS Hà Quý Tình và PGS,TS Vũ Thị Vinh đồng chủ biên Mặc dù các tác giả đã có nhiều cố gắng, song không thể tránh khỏi những khiếm khuyết về nội dung và hình thức Tập thể tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để tiếp tục hoàn thiện trong lần tái bản sau
Trong quá trình biên soạn và xuất bản giáo trình, tập thể tác giả đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của Ban Giám đốc Học Viện Tài chính, Ban Quản
lý khoa học, đồng thời đã tham khảo giáo trình lịch sử các học thuyết kinh tế của Học viện Chính Trị Quốc gia Hồ Chí Minh do GS,TS Chu Văn Cấp chủ biên, Giáo trình lịch sử các học thuyết kinh tế của trường Đại học Kinh tế quốc dân do PGS,TS Mai Ngọc Cường chủ biên (xuất bản năm 2005), Giáo trình lịch sử các học thuyết kinh tế của trường Đại học Kinh tế quốc dân do PGS,TS Trần Bình Trọng chủ biên (xuất bản năm 2009)…Tập thể tác giả chân thành cám ơn các đồng chí đã đóng góp nhiều công sức, ý kiến quý báu cho giáo trình lịch sử học thuyết kinh tế này
Tập thể tác giả
Trang 22
CHƯƠNG 1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
CỦA MÔN LỊCH SỬCÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ
Xã hội loài người lần lượt trải qua các hình thái kinh tế- xã hội khác nhau
Ở mỗi giai đoạn của trình độ phát triển, con người có những hiểu biết và cách giải thích các hiện tượng kinh tế, xã hội thích ứng Việc giải thích các hiện tượng kinh tế, xã hội ban đầu là những tư tưởng rời rạc, lẻ tẻ mang tính cá biệt của các nhà kinh tế và về sau những tư tưởng đó phát triển thành học thuyết kinh tế với những quan điểm có tính hệ thống của các giai cấp khác nhau Môn lịch sử các học thuyết kinh tế cung cấp một cách có hệ thống các quan điểm, học thuyết kinh tế của các trường phái, các đại biểu kinh tế gắn liền với lịch
sử hình thành, phát triển của xã hội loài người
1 Đối tượng nghiên cứu của lịch sử các học thuyết kinh tế
1.1.Đối tượng nghiên cứu
Lịch sử các học thuyết kinh tế là một môn khoa học xã hội nghiên cứu quá trình phát sinh, phát triển, đấu tranh và thay thế lẫn nhau của hệ thống các quan điểm kinh tế của các giai cấp cơ bản trong các hình thái kinh tế xã hội khác nhau trong lịch sử xã hội loài người
Hoạt động kinh tế giữ vị trí trung tâm trong mọi hoạt động văn hóa, chính trị, xã hội…của con người Từ thời Cổ đại đến nay, con người đã có nhiều quan điểm, tư tưởng kinh tế khác nhau tương ứng với từng trình độ phát triển lịch sử của xã hội loài người Tư tưởng kinh tế khi nó phát triển đến giai đoạn cao và có tính hệ thống thì trở thành học thuyết kinh tế
Đối tượng nghiên cứu của lịch sử các học thuyết kinh tế là hệ thống các quan điểm kinh tế của các giai cấp khác nhau tương ứng với mỗi hình thái kinh tế xã hội trong các giai đoạn lịch sử của xã hội loài người, nhằm chỉ ra những giá trị khoa học cũng như những hạn chế của các đại biểu, trường phái kinh tế học
Trang 33
Lịch sử các học thuyết kinh tế nghiên cứu các quan điểm kinh tế đãđược hình thành một hệ thống nhất định Hệ thống cácquan điểm kinh tế là tổng hợp những tư tưởng kinh tế giải thích thực chất của các hiện tượng kinh tế nhất định - đó là tổng hợp những tư tưởng kinh tế giải thích thực chất các hiện tượng kinh tế nhất định có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau Những tư tưởng kinh tếđó phát sinh như là kết quả của sự phản ánh các quan hệ sản xuất vào
ý thức
Những quan điểm kinh tế chưa thành hệ thống nhưng cóý nghĩa lịch sử không thuộcmôn lịch sử các học thuyết kinh tế mà làđối tượng nghiên cứu của lịch sử tư tưởng kinh tế Trong lịch sử tư tưởng kinh tế, các quan điểm kinh tế của thời kỳ cổđại cũng như các trào lưu đối lậpđược trình bày kế tiếp nhau theo tiến trình lịch sử Đối tượng nghiên cứu của lịch sử các học thuyết kinh
tế chỉ là một bộ phận cấu thành củađối tượng nghiên cứu của lịch sử tư tưởng kinh tế
Ngoài việc nghiên cứu hệ thống các quan điểm kinh tế của các nhà tư tưởng kinh tế thuộc lĩnh vực kinh tế chính trị, lịch sử các học thuyết kinh tế còn nghiên cứu hệ thống các quan điểm kinh tế của các nhà tư tưởng kinh tế trong các lĩnh vực kinh tế học, quản lý kinh tế…Vậy, không thể đồng nhất đối tượng nghiên cứu của môn lịch sử các học thuyết kinh tế với đối tượng nghiên cứu của môn kinh tế chính trị hay môn lịch sử tư tưởng kinh tế Lịch sử các học thuyết kinh tế chỉ là một bộ phận của lịch sử các tư tưởng kinh tế Lịch sửkinh tế chính trị là cơ sở của lịch sử các học thuyết kinh tế, làđỉnh cao của
sự phát triển đối tượng nghiên cứu của lịch sử các học thuyết kinh tế
1.2 Quá trình hình thành, phát triển của lịch sử các học thuyết kinh tế
Các tư tưởng kinh tế của loài người được hình thành từ thời Cổ đại Các nhà kinh tế nổi tiếng như: Xénophone,Aristot, Platon, Mạnh tử, Copecnic…đã
đề cập đến các vấn đề như: ruộng đất, thuế khóa, phân công lao động xã hội, phân phối thu nhập, tiền tệ, phân chia xã hội thành giai cấp…nhằm hướng vào giải quyết vấn đề luân lý, đạo đức, chính trị, đẳng cấp,… đặc biệt là vấn đề
Trang 4có tính hệ thống nên các học thuyết kinh tế ra đời
Học thuyết kinh tế của những người Trọng thương được coi là học thuyết kinh tế đầu tiên, nó được hình thành, phát triển ở nhiều nước Châu Âu như: Anh, Pháp, Hà Lan, Tây Ban Nha Đó là những lý luận kinh tế đầu tiên nghiên cứu về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và cũng là chính sách kinh tế của Nhà nước trong thời kỳ tích lũy nguyên thủy của tư bản
Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã chỉ rõ vai trò của ngành sản xuất vật chất là nguồn gốc sáng tạo ra của cải vật chất làm cho lý luận kinh tế của chủ nghĩa trọng thương bị lỗi thời, tan rã, nhường chỗ cho sự ra đời của chủ nghĩa trọng nông ở Pháp và kinh tế chính trị tư sản Cổ điển ở Anh và Pháp W.Petty
và F.Quesnay là cha đẻ của học thuyết kinh tế tư sản cổ điển và nó phát triển đến đỉnh cao vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX với tư tưởng kinh tế của ADam SMith, David Ricardo và Sismonde
Học thuyết kinh tế tư sản Cổ điển tuy xuất phát từ lợi ích kinh tế của giai cấp tư sản nhưng nó mang tính khoa học cao Cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực lý luận, tư tưởng, thực tiễn đã bộc lộ, những mâu thuẫn và hạn chế vốn có của chủ nghĩa tư bản dần được phơi bày Để bào chữa, che đậy những mâu thuẫn vốn có của chủ nghĩa tư bản, bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản, học thuyết kinh tế của trường phái kinh tế chính trị Tầm thường xuất hiện, đứng đầu là Jean Baptitste Say và Thomas Robert Malthus
Chủ nhĩa tư bản phát triển làm phá sản hàng loạt những người sản xuất nhỏ, hình thành đội quân thất nghiệp ngày càng đông đảo Do đó, xuất hiện dòng tư tưởng kinh tế phê phán chủ nghĩa tư bản, bảo vê lợi ích của những ngưòi sản xuất nhỏ, những ngưòi làm thuê - Đó là học thuyết kinh tế Tiểu tư sản và những người chủ nghĩa xã hội không tưởng
Trang 55
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, sự chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản tự
do cạnh tranh sang chủ nghĩa tư bản độc quyền và sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học kỹ thuật làm tăng thêm mâu thuẫn vốn có trong chủ nghĩa
tư bản, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản ngày càng sâu sắc Khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp thường xuyên nổ ra đòi hỏi phải có lý thuyết kinh tế mới làm cơ sở lý luận cho vịêc chỉ đạo hoạt động thực tiễn của sản xuất kinh doanh cũng như điều tiết nền kinh tế ở các nước tư bản Do vậy, các học thuyết kinh tế tư sản hiện đại ra đời như: học thuyết kinh tế Cổ điển mới, học thuyết kinh tế của J.Keynes, học thuyết kinh tế của chủ nghĩa tự do mới, học thuyết kinh tế của P.A.Samuelson…
2 Phương pháp, mục đích và ý nghĩa của nghiên cứu môn lịch sử các học thuyết kinh tế
2.1 Phương pháp nghiên cứu
Lịch sử các học thuyết kinh tế là môn khoa học xã hội mang tính hiện thực khách quan Song hiện thực khách quan rất phức tạp và luôn biến động đòi hỏi việc nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế cần có phương pháp khoa học, đó là:
Phương pháp duy vật biện chứng: Hệ thống các quan điểm kinh tế là kết
quả của việc nghiên cứu, phản ánh hiện thực quan hệ sản xuất vào ý thức con người trong những giai đoạn lịch sử nhất định Các quan điểm kinh tế là yếu
tố quan trọng trong kiến trúc thượng tầng tư tưởng của xã hội Phương pháp nhận thức khoa học chỉ ra rằng, cần phải tìm hiểu nguồn gốc ra đời của lý luận kinh tế, nhữngđiều kiện phát triển, thay thế của chúng ngay trong cơ sở kinh
tế - xã hội, trên cơ sởđó xác định mối liên hệ lịch sử cơ bản nhằm phân chia thànhcác giai đoạn phát triển của lý luận kinh tế Nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế đòi hỏi phải xem xét các hiện tượng kinh tế trong mối quan hệ
và tác động qua lại lẫn nhau của sự phát triển, chuyển hóa giữa các hình thái kinh tế- xã hội
Trang 66
Phương pháp lịch sử: Quá trình nhận thức luôn có tính lịch sử, và mọi
hoạtđộng của của ngườiđều dựa trên kinh nghiệm thực tiễn của các thế hệ trước Do đó, nguyên tắc chung cho phương pháp luận của lịch sử các học thuyết kinh tế là nghiên cứu một cách có hệ thống các quan điểm kinh tế, đồng thời đánh giá đúng công lao, hạn chế của các nhà kinh tế trong mỗi giai đoạn lịch sử Mặt khác, phải phản ánh một cách khách quan tính phê phán vốn có, cũng như không phủ nhận tínhđộc lập tương đối của các học thuyết kinh tế vàảnh hưởng của chúngđối với sự phát triển kinh tế - xã hội Điều đó đòi hỏi việc nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế phải tuân thủ một cách triệt để nguyên tắc lịch sử Không nên xem xét các di sản lý luận kinh tế của giai đoạn quá khứ bằng tiêu chuẩn hiện tại mà phải đánh giá ý nghĩa của chúng căn cứ vào trình độ phát triển khoa học kinh tế của thời đại ấy
Ngoài ra, nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế đòi hỏi phải sử dụng phương pháp phê phán, phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp tổng hợp nhằm chỉ rõ những thành tựu khoa học, hạn chế, cũng như sự kế thừa, phát triển các quan điểm kinh tế của các đại biểu, các trường phái kinh tế trong lịch sử Bởi sự tồn tại, phát triển của hoạt động thực tiễn và các lý luận kinh
tế đều có tính lịch sử, trong đó con ngưòi luôn phê phán kinh nghiệm cũng như lý luận của các thế hệ trước, từ đó kế thừa, phát triển các lý luận đó vào hoạt động kinh tế- xã hội của xã hội mình Chính vì vậy, các học thuyết kinh
tế bản thân nó có tính độc lập tương đối và có ảnh hưởng nhất định đối với sự phát triển kinh tế- xã hội
2.2 Mục đích, ý nghĩa của nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế
Nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế nhằm vạch rõ quy luật về sự phát sinh, phát triển và thay thế lẫn nhau giữa các quan điểm kinh tế của các trường phái kinh tế trong lịch sử Từ đó giúp chúng ta hiểu sâu sắc và cặn kẽ
về thành tựu lý luận kinh tế của loài người, nâng cao trình độ tư duy kinh tế, trên cơ sở đó vận dụng vào hoạt động thực tiễn của đời sống kinh tế- xã hội
Trang 77
Lịch sử các học thuyết kinh tế là môn khoa học độc lập, chiếm vị trí quan trọng trong các môn kghoa học xã hội Lịch sử các học thuyết kinh tế có các chức năng: chức năng nhận thức, chức năng thực tiễn và chức năng phương pháp luận
Chức năng nhận thức: Chức năng này yêu cầu phải nghiên cứu, đánh giá
các quan điểm kinh tế của các đại biểu, các trường phái kinh tế khác nhau theo quan điểm lịch sử cụ thế Những quan điểm kinh tế phát sinh, phát triển gắn với điều kiện kinh tế - xã hội và lợiích của những giai cấp nhất định, không
có tư tưởng kinh tế phi giai cấp Lịch sử các học thuyết kinh tế không chỉ dừng lại ở việc tiếp cận một cách giản đơn các quan điểm kinh tế nhằm bảo vệ lợi ích kinh tế của giai cấp mình mà còn trang bị cho người học tri thức khoa học
để nhận thức, cải tạo thực tiễn trong hoạt động của đời sống kinh tế- xã hội
Chức năng phương pháp luận: Lịch sử các học thuyết kinh tế là môn học
cóchức năng phương pháp luận Nócung cấp một cách có hệ thống các quan điểm, lý luận kinh tế làm cơ sở cho việc nghiên cứu các khoa học kinh tế, nhất
là các môn khoa học kinh tế nghiên cứu về vấn đề kinh tế thị trường như: kinh
tế vĩ mô, kinh tế vi mô, kinh tế phát triển, kinh tế lượng, thương mại quốc tế, quản lý kinh tế…và các môn kinh tế ngành khác
Chức năng thực tiễn: Lịch sử các học thuyết kinh tế luận giải cơ sở hình
thành, nội dung, chỉ rõđiểm thành công, hạn chế của các lý thuyết kinh tế Trên cơ sở đó giúp chúng ta nhận thức, vận dụng vào hoạtđộng thực tiễn củađời sống kinh tế - xã hội
Xuất phát từ đối tượng, mục đích, ý nghĩa của lịch sử các học thuyết kinh
tế mà khẳng định: nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế là một bộ phận không thể tách rời việc nghiên cứu các khoa học kinh tế trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại Các nhà khoa học kinh tế, nhà quản lý kinh tế chỉ khi nắm chắc và hiểu sâu sắc các tư tưởng, các học thuyết kinh tế mới có đầy đủ hơn những kiến thức cơ bản về các phạm trù, quy luật, lý luận
Trang 8Câu hỏi ôn tập
1 Làm rõ đối tượng nghiên cứu của lịch sử các học thuyết kinh tế Phân biệt đối tượng nghiên cứu của lịch sử các học thuyết kinh tế và lịch sửtư tưởng kinh tế
2 Phương pháp, mục đích, ý nghĩa của nghiên cứu môn lịch sử các học thuyết kinh tế đối với sinh viên khối ngành kinh tế và ngành tài chính
Trang 99
CHƯƠNG 2 NHỮNG TƯ TƯỞNG KINH TẾ CƠ BẢN CỦA THỜI KỲ NÔ LỆ VÀ PHONG KIẾN TÂY ÂU
1 Những tư tưởng kinh tế cơ bản của thời kỳ nô lệ
1.1 Những tư tưởng kinh tế cơ bản của thời kỳ Hy Lạp cổđại
1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử của xã hội Hy lạp cổđại
Chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp hình thành và tan dã sớm so với lịch
sử phát triển loài người Vào thế kỷ VIII,VII,VI trước công nguyên, lực lượng sản xuất ở Hy Lạp phát triển, thúc đẩy sự ra đời của các trung tâm công nghiệp
và các đô thị, các tư tưởng kinh tế được hình thành đầu tiên ở đó
Ngay từ buổi đầu, đất nước Hy Lạp đã hình thành hai giai cấp cơ bản là chủ nô và nông dân, nhưng nông dân đã có nguy cơ biến thành nô lệ
Khi quan hệ sản xuất của chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp được xác lập
và trở thành thống trị thì các mâu thuẫn vốn có của xã hội cũng bắt đầu phát sinh, phát triển, biểu hiện:
- Mâu thuẫn chủ nô và nô lệ ngày càng tăng
- Kinh tế hàng hóa ở Hy Lạp bắt đầu hình thành, phát triển mâu thuẫn với kinh tế tự nhiên mà cơ sở tồn tại của Hy Lạp là kinh tế tự nhiên (tức là mâu thuẫn với cơ sở duy trì sự thống trị của xã hội)
- Các cuộc chiến tranh thường xuyên xảy ra, bắt bớ tù binh làm nô lệ
- Đến thời kỳ phát triển của chế độ nô lệ, các chính sách kinh tế đã tập trung hướng vào việc tăng cường bóc lột nô lệ để làm ra nhiều sản phẩm thặng dư cho giai cấp chủ nô
Những đặc điểm trên đã đặt đất nước Hy Lạp trước hai vấn đề lớn cần giải quyết về mặt lý luận:
- Phải xác định được liệu chế độ xã hội nô lệ còn tồn tại hay không?
- Làm thế nào để tiếp tục duy trì sự tồn tại của chế độ chiếm hữu nô lệ?
Trang 1010
Trước tình hình đó, một số tác giả đã đưa ra các tư tưởng kinh tế giải quyết những vấn đề đó nhằm phục vụ lợi ích cho giai cấp chủ nô
1.1.2 Các tư tưởng kinh tế cơ bản của xã hội Hy Lạp cổđại
- Chế độ chiếm hữu nô lệ của Hy lạp tồn tại là tất yếu và duy nhất
Các nhà kinh tế Hy Lạp cổđại đã thấy được nô lệ là bộ phận cơ bản của lực lượng sản xuất để làm ra của cải cho xã hội Họ coi nô lệ như là công cụ lao động sống (công cụ biết nói), đặt ngang hàng với công cụ câm (cuốc, cày) Chủ nô coi nô lệ là tài sản có thể bán, cho hoặc tặng Cụ thể:
Platon - nhà triết học: Ông đã hình dung ra một xã hội lý tưởng được xây dựng trên cơ sở của chế độ nô lệ Từ đó ông được đưa ra các tư tưởng hay đề
án kinh tế khác nhau để duy trì xã hội nô lệ
Aristote - nhà triết học: ông cho rằng, chế độ chiếm hữu nô lệ tồn tại là tất yếu, duy nhất vì thượng đế đã sinh ra loài người Có 2 hạng người khác nhau
là chủ nô và nô lệ Trong đó chủ nô là người quản lý, nô lệlà người lao động nặng nhọc, từ đó ông đưa ra 2 vấn đề mang tính khoa học về nô lệ:
+ Làm thế nào để có nhiều nô lệ? Theo ông, chiến tranh là nguồn cung cấp
nô lệ nhiều nhất, vì vậy chiến tranh là cần thiết để cướp tù binh biến thành nô
lệ Đối với loài người đây là bước tiến lớn vì trước đó bắt được tù binh thì vứt xuống biển cho cá ăn
+ Làm thế nào để sử dụng nô lệ tốt nhất? Ông đưa ra các biện pháp: Phải
có khối lượng công việc thật nhiều cho nô lệ, cho nô lệ ăn vừa phải vì nếu ăn đầy đủ họ sẽ lười lao động, phải có quá trình kiểm tra kiểm soát quá trình lao động của nô lệ bằng chế độ mệnh lệnh roi vọt Phải tổ chức nô lệ thành từng nhóm nhỏ, mỗi nhóm có từ 5-10 người có cai đứng đầu để quản lý
- Tư tưởng coi khinh lao động chân tay - Xénophone
Xénophone cho rằng lao động chân tay là nhục nhã hổ thẹn, làm hư hỏng con người Ông đề cao công việc quản lý kinh tế, coi công việc quản lý kinh
tế ngang với hoạt động của Nhà nước Ông cũng có tư tưởng cấm những người chủ gia đình làm công việc lao động chân tay vì cho đó là điều hèn hạ Ông
Trang 1111
khuyên công dân không nên làm những việc trái với lòng từ thiện như làm nghề thủ công, nghề buôn bán vì làm con người hư hỏng (ở đây ông muốn tạo
ra cơ sở lý luận cho chế độ chiếm hữu nô lệ)
- Tư tưởng phủ nhận tư bản thương nghiệp, tư bản cho vay nặng lãi và tầng lớp quí tộc tài chính
Platon coi thương nghiệp là giả dối, lừa đảo nên cấm sự buôn bán dối trá Aristote coi cho vay nặng lãi là tội ác giống như kinh doanh nhà chứa, từ
đó phủ nhận sự tồn tại của tư bản với tư cách làm cho giá trị tăng thêm Các đại biểu Hy Lạp đều không muốn xã hội có kẻ giàu người nghèo, họ không ủng hộ sự ra đời và tồn tại của tầng lớp quý tộc tài chính, tức tầng lớp giàu có về tiền bạc
Trong thời kỳ cổ đại, các đaị biểu đã bắt đầu có sự phân tích một số các phạm trù kinh tế như: giá trị trao đổi, giá trị sử dụng của vật phẩm, một số chức năng của tiền Họ miêu tả ảnh hưởng của quan hệ cung cầu đối với giá
cả hàng hóa, nghiên cứu đặc điểm của nội thương, ngoại thương, phân tích nội dung của tư bản thương nghiệp và tư bản cho vay nặng lãi
Thực chất các tư tưởng kinh tế của Hy Lạp cổđại là hệ tư tưởng của giai cấp chủ nô thống trị xã hội
1.1.3 Tư tưởng kinh tế của các nhà kinh tế Hy Lạp cổđại
- Tư tưởng kinh tế của Platon (427- 347 trước công nguyên)
Platon là đại biểu tiêu biểu nhất cho quan điểm của tầng lớp quý tộc, là người theo chủ nghĩa duy tâm cổ đại, kịch liệt chống lại chủ nghĩa duy vật Ông có các tư tưởng kinh tế chủ yếu sau:
+ Phân công xã hội: được Platon trình bày trong tác phẩm “Chính trị hay
nhà nước” Ông cho rằng: "Mỗi người chúng ta sinh ra đều có bản tính khác nhau, đều nhằm mục đích làm một số công việc nhất định" Từ đó ông kết luận: Sự phân chia thành giai cấp là trạng thái tự nhiên của xã hội
+ Tư tưởng phân chia giai cấp: Platon chia xã hội thành 3 giai cấp cơ bản:
Trang 1212
Thứ nhất, tầng lớp các nhà triết học, có chức năng quản lý Nhà nước, họ
phải có bộ óc đặc biệt sâu sắc và cần phải nắm vững triết học
Thứ hai, tầng lớp các chiến sỹ bảo vệ Nhà nước, có chức năng bảo vệ bộ
máy nhà nước Các chiến sỹ này cần phải có sự hiểu biết đầy đủ, cần phải can đảm Muốn vậy họ phải được giáo dục và rèn luyện
Thứ ba, tầng lớp "dân đen", bao gồm những người làm ruộng, làm nghề
thủ công, họ có thể có ruộng đất, nhà cửa, tiền bạc riêng Chức năng của tầng lớp dân đen là đảm bảo cung cấp vật phẩm nuôi hai tầng lớp trên Vì vậy tầng lớp này cần sống giản dị, chỉ được thỏa mãn một phần nhu cầu
Ngoài 3 giai cấp đó còn bộ phận đông đảo người lao động (nô lệ) không được Platon đưa vào giai cấp vì ông quan niệm nô lệ thuộc sở hữu của chủ nô Theo Platon, lòng từ thiện và sự giàu có không thể dung hòa với nhau Vì vậy
để cho bộ máy nhà nước trong sạch, không vị kỷ hay tham nhũng thì những người làm việc trong bộ máy nhà nước phải đứng ngoài chế độ tư hữu (tức là không có tư hữu cá nhân về tư liệu sản xuất)
+ Tư tưởng coi trọng phân phối ruộng đất: Platon cho rằng, để giảm mâu
thuẫn xã hội, cần sử dụng một phần ruộng đất của chủ nô đem chia cho người lao động, thúc đẩy chế độ lệ nông ra đời
+ Mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng với giá trị trao đổi: Platon là người đầu
tiên đề cập đến vấn đề mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng với giá trị trao đổi Ông cho rằng vàng có giá trị sử dụng nhưng nó cũng chẳng có ích gì nếu không biết sử dụng nó
+ Tư tưởng về tiền: Platon thừa nhận trao đổi là cần thiết đối với mọi công
dân và trong trao đổi phải có tiền Ông đề nghị cần phải đúc tiền bằng kim loại để dùng chung cho cả nước, còn người bản xứ có thể dùng tiền địa phương nhưng phải có giá trị (Ông nhận thấy chức năng lưu thông của tiền)
- Tư tưởng kinh tế của Aristote (354- 322 trước công nguyên)
Aristote là nhà triết học duy vật cổđại Ông có quan điểm sâu sắc về hiện thực, thừa nhận tính chất hiện thực của thế giới bên ngoài, thừa nhận mối liên
Trang 1313
hệ khăng khít giữa tư tưởng và vật thể Tuy nhiên có lúc ông lại đồng tình với quan điểm duy tâm của Platon về sự tồn tại một hình thức trừu tượng, phi vật chất (thượng đế) là cơ sở của vật chất Như vậy ông dao động giữa duy vật và duy tâm
+ Tư tưởng phân biệt giá trị sử dụng và giá trị trao đổi: Aristot là người
đầu tiên phân biệt giá trị sử dụng về giá trị trao đổi Ông cho rằng phải có cái chung làm cơ sở cho trao đổi Ông chỉ ra được cái thuộc về quy luật (cái tất nhiên) và cái không thuộc về quy luật (cái ngẫu nhiên)
+ Tư tưởng về thương nghiệp: Aristote nêu thuyết về 3 loại thương nghiệp: Một là, thương nghiệp trao đổi: (H- H), đây là sự trao đổi đầu tiên, mầm mống
của trao đổi hàng hóa sau này
Hai là, thương nghiệp hàng hóa: (H- T- H) trao đổi này thông qua tiền tệ
Ba là, đại thương nghiệp: (T- H - T’), thương nghiệp trao đổi làm giàu
Qua các hình thức trao đổi trên, Aristot nhận thấy giữa các hàng hóa khác nhau trao đổi được với nhau nó phải có cái gì chung bằng nhau Tuy ông chưa nói được cái chung ấy là lao động kết tinh vào hàng hóa, nhưng ông đã đề cập đến việc trao đổi phải theo nguyên tắc ngang giá
+ Tư tưởng về tiền: Tiền không chứa giá trị lao động, mà giá trị của tiền là
do Nhà nước quy định
+ Tư tưởng về kinh doanh (Học thuyết kinh doanh): Aristot nêu ra hai loại
kinh doanh:
Một là, kinh doanh "kinh tế": lấy giá trị sử dụng làm mục đích, trao đổi là
phương tiện thực hiện giá trị sử dụng Loại kinh doanh này là hợp quy luật nên ông ủng hộ
Hai là, kinh doanh việc sản xuất ra của cải Đây là kinh doanh nhằm mục đích
làm giàu, làm cho khối lượng tiền tăng lên tạo ra sự giàu có Ông kịch liệt phê phán loại kinh doanh này vì nó không hợp quy luật
Aristote là người luôn bảo vệ xã hội nô lệ, phủ nhận tư bản, coi đó là vật xa lạ đối với chế độ nô lệ
Trang 1414
Những hạn chế trong tư tưởng kinh tế của Aristote:
+ Aristote chưa thấy được thực thể của giá trị hàng hóa là gì Vì ông đã xuất phát từ luân lý để nghiên cứu
+ Aristote chưa thấy được các bộ phận hợp thành giá trị để chỉ rõ nguyên tắc ngang giá
+ Aristote cho rằng giá trị của tiền là do Nhà nước quy định
+ Aristote chủ trương phân phối sản phẩm làm ra trong xã hội dựa vào phẩm giá và địa vị xã hội làm cơ sở
- Tư tưởng kinh tế của Xenophone (430- 354 trước công nguyên)
Xenophone là một nhà thực tiễn, ủng hộ sự phát triển của nông nghiệp Ông nghiên cứu lý luận phân công lao động nhưng lấy lý luận sự ham thích để phân tích Tư tưởng kinh tế cơ bản của Xenophone:
+ Tư tưởng phân công lao động: Xenophone nghiên cứu phân công theo
quan điểm giá trị sử dụng, lấy phân công làm cơ sở kinh tế Ông nhận thấy phân công thúc đẩy lưu thông hàng hóa phát triển, phân công có mối liên hệ với quy mô thị trường Ông cho rằng ở các thành phố nhỏ phân công phát triển chậm, còn ở các thành phố lớn phân công phát triển nhanh nên thị trường hàng hóa được mở rộng
+ Tư tưởng về giá trị sử dụng và giá trị trao đổi: Xenophone đã phát hiện
ra tính hai mặt của vật thể là vừa đem lại lợi ích lại vừa có khả năng trao đổi với vật thể khác, nên đã vượt lên trên cả Platon và Aristote
+ Tư tưởng giá cả phụ thuộc cung - cầu: Xenophone là người đầu tiên nêu
lên được giá cả hàng hóa phụ thuộc quan hệ cung - cầu Ông đề nghị giai cấp chủ nô chỉ nên mua nô lệ theo từng đám nhỏ để giá nô lệ không tăng và chỉ nên mở rộng sản xuất một cách thận trọng để giá cả không bị giảm xuống
+ Tư tưởng về tiền: Xenophone cho rằng, bạc là tiền nên nhu cầu là vô hạn
Ông khuyên nên sử dụng nhiều nô lệ khai thác bạc để làm tiền
+ Tư tưởng về sản xuất nông nghiệp: Xenophone cho rằng, nông nghiệp là
người mẹ và là vú nuôi của tất cả các nghành nghề khác
Trang 1515
Kết luận: Tư tưởng quý tộc của Xenophone ít triệt để hơn so với Platon và
Aristote vì ông không phản đối tiền và sản xuất hàng hóa, quan tâm đến việc tăng sản phẩm thặng dư, thừa nhận số tư bản lớn và lợi nhuận
1.2 Những tư tưởng kinh tế của thời kỳ La Mã cổđại
1.2.1 Hoàn cảnh lịch sử của xã hội La Mã cổ đại
Xã hội La Mã cổ đại là nơi phát triển cao nhất của chế độ chiếm hữu nô lệ Đây cũng là thời kỳ khủng hoảng và suy yếu của chế độ nô lệ Lao động của
nô lệ bị bóc lột nặng nề hơn, nô lệ không quan tâm đến kết quả của sản xuất
Có nhiều cuộc khởi nghĩa của nô lệ chống lại giai cấp chủ nô
Trước tình hình xã hội đó, một số người có tư tưởng dân chủ, muốn ngăn chặn tình trạng đổ nát của xã hội chiếm hữu nô lệ, giảm bớt những mâu thuẫn giữa chủ nô và nô lệ, họ đã đưa ra những tư tưởng kinh tế tiến bộ
1.2.2 Nội dung các tư tưởng kinh tế của các nhà kinh tế La Mã cổ đại
- Dự luật cải cách ruộng đất
Đại biểu là Grarky Tibery (160- 133 trước công nguyên) và Gai (154- 121 trước Công nguyên), họ đều là thủ lĩnh của nhân dân Các ông đã nêu ra được
dự luật cải cách ruộng đất với nội dung: Đòi chuyển một phần ruộng đất của các chủ nô lớn thành tài sản của nhà nước, rồi đem chia cho những người nghèo trong xã hội để họ có ruộng cày cấy làm ăn sinh sống
Dự luật cải cách ruộng đất mong muốn giảm bớt mâu thuẫn đối kháng trong
xã hội, cứu vớt phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ khỏi diệt vong Dự luật này phù hợp với lợi ích của dân nghèo và mang tính tiến bộ, nhưng nó không được thực hiện vì chính quyền nằm trong tay giai cấp chủ nô
- Tư tưởng bênh vực chế độ lệ nông
Đại biểu cho tư tưởng này là Colymele (thế kỷ I trước công nguyên) Ông
là nhà văn, đồng thời là nhà nông học
Colymele cho rằng: sở dĩ năng suất lao động của nô lệ thấp do họ "cày rất tồi"
và "chăn nuôi súc vật kém" Muốn năng suất lao động cao phải đối xử tử tế
Trang 16Về mặt kinh tế,lao động nông nô biểu hiện rõ nét phạm trù lao động thặng dư Chế độ lệ nông là loại hình canh tác ruộng đất mang tính chất quá độ từ phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ sang phương thức sản xuất phong kiến
- Tư tuởng bình đẳng đối với nô lệ
Đại biểu là Seneque (Thế kỷ I trước công nguyên) Ông cho rằng tất cả mọi người đều bình đẳng về bản chất, ông gọi những người nô lệ là "đồng chí"
Họ là người bạn ở đẳng cấp thấp hơn Tuy nhiên tư tưởng bình đẳng của ông không dựa trên cơ sở phải có bình đẳng về kinh tế mà chỉ dựa vào cơ sở phân tích tai họa của chế độ chiếm hữu nô lệ theo quan điểm đạo đức luân lý, nên
tư tưởng bình đẳng này mang tính không tưởng
2 Những tư tưởng kinh tế cơ bản của thời đại phong kiến
2.1 Hoàn cảnh ra đời, đặc điểm của tư tưởng kinh tế thời đại phong kiến 2.1.1 Hoàn cảnh ra đời của tư tưởng kinh tế thời đại phong kiến
So với thời cổ đại, tư tưởng kinh tế của thời đại phong kiến nghèo nànvà ít phát triển hơn
Khi nghiên cứu tư tưởng kinh tế ở thời đại phong kiến người ta thường lấy
xã hội phong kiến Tây Âu làm tiêu biểu Thời đại phong kiến ở Tây âu được chia làm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn đầu thời Trung cổ(từ thế kỷ V- thế kỷ XI)
- Giai đoạn cuối thời Trung cổ (từ thế kỷ XII - thế kỷ XV)
- Giai đoạn tích lũy nguyên thủy tư bản (từ thế kỷ XVI - thế kỷ XVII) đây là thời kỳ tan rã của chế độ phong kiến và ra đời của chủ nghĩa tư bản
Trang 1717
Ở đây chỉ đề cập đến tư tưởng kinh tế của giai đoạn đầu và giai đoạn cuối
2.1.2 Đặc điểm tư tưởng kinh tế của thời đại phong kiến
- Những tư tưởng kinh tế giống với thời đại nô lệ:
+ Bênh vực cho bạo lực, chiến tranh, đồng tình với các hình thức cưỡng bức siêu kinh tế
+ Chú trọng phân tích giá trị sử dụng, ít quan tâm đến giá trị, do vậy nền kinh tế còn mang tính chất tự túc, tự cấp
- Những tư tưởng kinh tế khác với thời đại nô lệ:
+ Đánh giá vai trò của nông dân đúng đắn hơn
+ Các đại biểu thời đại phong kiến cho rằng, lao động chân tay cũng vinh
dự như lao động trí óc
+ Các nhà tư tưởng phong kiến có tư tưởng nhà thờ phải nắm ruộng đất Lịch sử của thời đại Trung cổ đầy rẫy những cuộc đấu tranh giữa quyền lực trần tục và quyền lực tinh thần Trong đời sống quốc gia, giới tăng lữ giữ vai trò to lớn, vì họ có tổ chức cao hơn so với tổ chức phong kiến trần tục Nhà thờ và giới tăng lữ có nhiều tài sản, nhà thờ nắm đến 1/3 ruộng đất canh tác và là nơi tập trung nhiều bộ óc ưu tú của thời đại Nhà thờ xây dựng được
uy tín trong nhân dân và kêu gọi nhân dân đóng góp xây dựng quỹ nhà thờ,
do đó nhà thờ thu được những khoản thu nhập phụ thêm rất lớn, sức mạnh của nhà thờ càng tăng lên nên có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội
- Thái độ đối với tư bản thương nghiệp và cho vay nặng lãi thực tế hơn,
đó là những họat động kinh tế cần cho xã hội
2.2 Nội dung tư tưởng kinh tế của thời đại Phong kiến
2.2.1 Tư tưởng kinh tế của Saint Augustin (354- 430)
Saint Augustin là người Italia, đại biểu nổi tiếng nhất của thời kỳ Trung
cổ Ông có các tư tưởng kinh tế sau:
- Tư tưởng coi trọng lao động chân tay: Saint Augustin đã trích câu của
giáo sĩ Pon "Ai không làm thì không ăn" và kêu gọi mọi người phải lao động, lao động chân tay cũng vinh dự như lao động trí óc
Trang 1818
- Tư tưởng giá cả công bằng: Saint Augustin là người đầu tiên nêu lên
danh từ "giá cả công bằng" Tuy nhiên trong giai đoạn cuối thời kỳ Trung cổ,
để bảo vệ lợi ích của đẳng cấp, quan điểm kinh tế của những người giáo sĩ giải thích "giá cả công bằng" mang tính chất 2 mặt:
+ Một mặt "giá cả công bằng" là muốn nói giá cả trung bình phù hợp với hao phí lao động trung bình
+ Mặt khác "giá cả công bằng" lại là giá cả phù hợp với lợi ích của mỗi đẳng cấp Mỗi đẳng cấp có một giá cả công bằng khác nhau đối với một hàng hóa giống nhau Như vậy với cách giải thích trên "giá cả công bằng" có thể phù hợp với hao phí lao động hay không phù hợp cũng là giá cả công bằng Thực chất tư tưởng này đã che đậy sự trao đổi không ngang giá một cách có ý thức
-Tư tưởng phủ nhận đại thương nghiệp và cho vay nặng lãi: Saint Augustin
kịch liệt lên án đại thương nghiệp và cho vay nặng lãi Ông so sánh kẻ cho vay nặng lãi với tên ăn cướp đều là những kẻ không có lương tri
Tuy nhiên đến giai đoạn cuối thời kỳ Trung cổ thì đại thương nghiệp và cho vay nặng lãi được nhìn nhận bằng quan điểm khác hơn
2.2.2 Tư tưởng kinh tế của giáo sĩ Thomasd'Aquin (1225 - 1274)
Thomasd'Aquin là người theo quan điểm triết học duy tâm, có uy tín trong nhà thờ Tư tưởng kinh tế của ông như sau:
- Tư tưởng bảo vệ chế độ tư hữu ruộng đất: Để bảo vệ sự thống trị của
nhà thờ, cần phải bảo vệ chế độ tư hữu ruộng đất của phong kiến Ông vạch
rõ sự khác nhau giữa tài sản ruộng đất và tài sản tiền tệ và nhấn mạnh ưu thế
về ruộng đất Ông lập luận: Giới tự nhiên tạo ra ruộng đất tham gia vào sản xuất nông nghiệp Sản phẩm nông nghiệp sinh ra từ thượng đế, do đó sản xuất nông nghiệp không mâu thuẫn với lòng từ thiện Còn tiền do con người tạo ra
do chiếm đoạt của người khác nên mâu thuẫn với lòng từ thiện
- Tư tưởng nhượng bộ với tư bản thương nghiệp, tư bản cho vay nặng lãi + Đối với tư bản thương nghiệp: Là nhà tư tưởng của kinh tế địa chủ về nhà
thờ, ông bảo vệ lợi ích của giai cấp phong kiến trong điều kiện mới, tức là khi
Trang 19+ Đối với tư bản cho vay nặng lãi: Thomas'd Aquin giải thích như sau:
Một là, tiền cho vay sử dụng vào mục đích tiêu dùng thì không phải trả lợi tức, nhưng được phép lấy một tặng vật làm tiền công
Hai là, tiền cho vay mua vật phẩm sử dụng vào mục đích kinh doanh thì cần
có lợi tức
- Quan điểm về "giá cả công bằng": Theo Thomas'd Aquin "giá cả công bằng" có cơ sở chung là hao phí lao động Ông là người đầu tiên nêu lên khái niệm giá trị lao động
- Tư tưởng địa tô: địa tô là số tiền công trả công lao động gắn liền với quản
lý tài sản ruộng đất Ông lập luận: Ruộng đất đem lại thu nhập nhờ sự giúp đỡ của tự nhiên, ruộng đất làm cho tinh thần đạo đức tốt lên nên không có bóc lột, không có lừa dân Do vậy thu địa tô là hoàn toàn hợp lý
- Tư tưởng về tiền: Trong thời kỳ phong kiến, các nhà thần học ít chú ý đến
địa tô, nhưng họ rất quan tâm đến giá cả, lợi tức, lợi nhuận.Sở dĩ như vậy vì trong thời đại phong kiến, không những các công tước, thị dân mà ngay cả tu viện lớn cũng đều có quyền tích trữ tiền Để quản lý tiền, nhà vua Pháp là Philip VI đã thống nhất tiền đúc vào tay mình bằng cách thay đổi thường xuyên giá trị tiền Cho nên các giáo chủ, công tước, thị dân thường bị phá sản
về tiền đúc Trong bối cảnh như vậy, Thomas'd Aquin đã có quan điểm đối với tiền: Tiền đúc là đặc ân của nhà cầm quyền, họ có quyền quy định giá trị tiền đúc Ông coi giá trị của tiền là đặc tính tự nhiên, tức do giá trị sử dụng của vật làm ra tiền quyết định Theo ông " Vàng, bạc sở dĩ đắt là do lợi ích đồ
Trang 2020
vật làm bằng vàng, bạc, do phẩm chất và tính tinh khiết của vàng, bạc", còn
sự ra đời của tiền là do ý chí của con người quyết định, chứ không phải do nhu cầu phát triển của quan hệ hàng hóa tiền tệ Do quan niệm đó, lýluận tiền của ông không mang tính khoa học, thụt lùi so với cả quan điểmcủa Aristote
Kết luận: Những tư tưởng kinh tế của các xã hội nô lệ và phong kiến được
hình thành, phát triển là một quá trình con người hiểu biết về tự nhiên và xã hội Do đứng trên những quan điểm giai cấp khác nhau nên có những nhận xét khác nhau Vì vậy các nhà kinh tế đã có những quan điểm đúng đắn và cũng có những quan điểm sai lầm, phản động về tư tưởng kinh tế
Câu hỏi ôn tập
1 Nội dung tư tưởng kinh tế cơ bản củaxã hộiHy Lạp và La Mã cổđại
2 Nội dung tư tưởng kinh tế của Saint Augustin và Thomas'd Aquin
3 Chỉ rõ những điểm giống và khác nhau cơ bản trong tư tưởng kinh tế của các nhà kinh tế thời kỳ nô lệ và phong kiến
Trang 2121
CHƯƠNG 3 CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ TƯ SẢN CỔ ĐIỂN
1 Học thuyết kinh tế của chủ nghĩa trọng thương, chủ nghĩa trọng nông
1.1 Học thuyết kinh tế của chủ nghĩa trọng thương
1.1.1 Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm học thuyết kinh tế của chủ nghĩa trọng thương
1.1.1.1 Hoàn cảnh đời của chủ nghĩa trọng thương
Chủ nghĩa trọng thương là hệ tư tưởng kinh tế đầu tiên của giai cấp tư sản hình thành trong thời kỳ tan rã của phương thức sản xuất phong kiến, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời(giai đoạn chuyển từ kinh tế hàng hóa giản đơn sang kinh tế thị trường) Chủ nghĩa trọng thương ra đời vào những năm 1450, phát triển vào những năm 1650, sau đó suy đồi
+ Về mặt lịch sử xã hội: Đây là thời kỳ tích lũy nguyên thủy, việc tích lũy
tiền có ý nghĩa quan trọng cho sự ra đời của chủ nghĩa tư bản Thực chất, đây
là thời kỳ tước đoạt bằng bạo lực nền sản xuất nhỏ và tích lũy tiền ở ngoài phạm vi các nước châu Âu bằng cách cướp bóc và trao đổi không ngang giá đối với các nước thuộc địa thông qua con đường ngoại thương
+ Về mặt chính trị: Giai cấp tư sản non trẻ mới ra đời chưa nắm được chính
quyền (chính quyền nằm trong tay giai cấp quý tộc) do đó chủ nghĩa trọng thương ra đời nhằm chống lại chủ nghĩa phong kiến
+ Về phương diện khoa học kỹ thuật: phát minh quan trọng về địa lý tìm ra
châu Mỹ và đường sang châu Á (1492) của Crixtôpphơrcôlômbô đã làm cho Trung tâm mậu dịch châu Âu được chuyển từ Địa Trung Hải sang Đại Tây Dương Các nước Hà Lan, Pháp, Anh giữ vai trò chính trong sự phát triển mậu dịch, du thương để chuyển vàng từ châu Mỹ sang châu Âu Điều này chứng
tỏ vai trò quan trọng của thương nghiệp, trao đổi, mua bán, nên đòi hỏi phải
có lý thuyết kinh tế chỉ đạo, hướng dẫn cho hoạt động thương nghiệp, chính
vì vậy các học thuyết kinh tế trọng thương ra đời
Trang 2222
1.1.1.2.Những tư tưởng kinh tế chủ yếu của chủ nghĩa trọng thương
Chủ nghĩa trọng thương là hệ thống tư tưởng kinh tế đại biểu cho tư tưởng của tầng lớp thương nhân Những tư tưởng kinh tế này phản ánh lợi ích của tư bản thương nghiệp lớn lúc bấy giờ Nội dung cơ bản của tư tưởng kinh tế của chủ nghĩa trọng thương thể hiện:
+ Tiền là của cải thực sự của xã hội: tiền là tiêu chuẩn cơ bản đánh giá sự
giàu có của mọi quốc gia, hàng hóa chỉ là phương tiện làm tăng khối lượng tiền Những hoạt động kinh tế nào không làm tăng số lượng tiền đều được coi
là bất lợi Những người trọng thương đề nghị Nhà nước tư sản cần có chính sách kinh tế tập trung để làm tăng khối lượng tiền, cấm tiêu dùng xa xỉ phẩm nhập khẩu
+ Tích lũy tiền: được thực hiện thông qua hoạt động thương mại, trước hết
là ngoại thương Những người trọng thương cho rằng "nội thương là hệ thống ống dẫn, ngoại thương là máy bơm " do vậy, hoạt động ngoại thương phải thực hiện chính sách xuất siêu
+Nguồn gốc của lợi nhuận: những người trọng thương cho rằng lợi nhuận
là do lĩnh vực lưu thông mua bán, trao đổi sinh ra Nó là kết quả của việc mua
ít bán nhiều, mua rẻ bán đắt mà có
+ Tư tưởng về quy luật kinh tế và vai trò nhà nước: những người trọng
thương chưa nhận thức đầy đủ tính khách quan và tác dụng của các quy luật kinh tế Họtrông chờ vào sự can thiệp của nhà nước để thúc đẩy kinh tế phát triển và cho rằng nhà nước có vai trò vạn năng siêu kinh tế có thể điều khiển mọi hoạt động kinh tế xã hội, nên dựa vào nhà nước để đề ra các chính sách kinh tế có lợi cho thương nhân: chính sách hạ thấp mức lợi tức cho vay, chính sách thuế quan xuất nhập khẩu, chính sách thị trường
1.1.2 Học thuyết kinh tế của chủ nghĩa trọng thương Anh
Chủ nghĩa trọng thương Anh ra đời sớm và chín muồi nhất ở Tây Âu trong thế kỷ XVI và XVII Chủ nghĩa trọng thương Anh phát triển qua 2 giai đoạn:
Trang 2323
- Giai đoạn 1- Học thuyết tiềntệ (Bảng cân đối tiền tệ - thế kỷ XVI) Đại
biểu của học thuyết tiền tệ là William Staford (1554 - 1612) Tư tưởng trung tâm của ông là "Bảng cân đối tiền tệ" thực chất là ngăn chặn không cho tiền chạy ra nước ngoài, khuyến khích mang tiền từ nước ngoài về Với lý luận cân đối tiền tệ,William Staford cho rằng ngoại thương sẽ đem về nhiều tiền cho quốc gia Từ đó ông đề ra chính sách ngoại thương "xuất ra nước ngoài nhiều hơn mua ở nước ngoài về", đồng thời nêu ra khẩu hiệu: Chi tiêu tiền ở nước ngoài ít, thu tiền từ nước ngoài về càng nhiều càng tốt, mọi sự thiếu thốn, nghèo đói là do không đủ tiền nên phải giữ cho khối lượng tiền không hao hụt Như vậy, giai đoạn này, những người trọng thương chỉ hiểu tiền với chức năng phương tiện cất trữ, chưa hiểu bản chất và quy luật lưu thôngtiền tệ
- Giai đoạn 2 - Học thuyết trọng thương (Bảng cân đối thương mại), thế
kỷ XVI,XVII, đại biểu là Thomas Mun (1571 - 1641)
Tư tưởng trung tâm của Thomas Mun: Xuất khẩu tiền là một thủ đoạn làm tăng của cải Theo Mun, phải biết phân biệt lợi ích trước mắt và kết quả sau cùng, đầu tiên phải giảm bớt của cải xuống, sau đó để tăng thêm của cải (lúc đầu xuất 1 triệu bảng Anh ra nước ngoài để mua hàng hóa sau đó đem bán hàng hóa và thu về 3 triệu bảng Anh) Để có xuất siêu chỉ nên xuất khẩu thành phẩm chứ không xuất khẩu nguyên liệu,thực hiện thương mại trung gian(mua
rẻ ở nước này, bán đắt ở nước khác), thực hiện chính sách thuế quan bảo hộ nhằm kiểm soát hàng nhập khẩu, khuyến khích phát triển sản xuất hàng hóa Theo Mun những luật lệ trước đây cấm xuất khẩu tiền thì bây giờ cần phải cho phép buôn bán ở những nơi có lợi cho thương nhân Đối với thương nhân nước ngoài cũng vậy, cần cho họ buôn bán hàng hóa của nước Anh không phải trên đất Anh mà là ở các nước thuộc địa, nghĩa là ở nơi có lợi hơn
Thomas Mun đưa ra hai phương pháp thực hiện thương nghiệp xuất siêu: Một, xuất khẩu hàng hóa theo công thức: H1 - T - H2 (H1>H2)
Hai, phát triển thương mại gián tiếp theo công thức: T1 - H - T2 (T2>T1)
Để làm giàu, Munđề ra 10 biện pháp thực hiện thương nghiệp xuất siêu:
Trang 2424
+ Mở rộng việc trồng cây công nghiệp
+ Giảm việc nhập khẩu hàng xa xỉ phẩm
+ Khuyến khích xuất khẩu hàng hóa giá rẻ
+ Xuất khẩu hàng hóa bằng tàu của nước Anh
+ Tiêu dùng tiết kiệm tài nguyên
+ Phát triển nghề đánh cá
+ Phát triển thương nghiệp làm giàu
+Xuất khẩu tiền tệ
+ Miễn thuế xuất khẩu đối với hàng hóa làm bằng nguyên liệu nước ngoài hoặc được sản xuất trong nước
Như vậy, học thuyết trọng thương Anh ở cả hai giai đoạn đều cho rằng nhiệm vụ kinh tế của đất nước là phải làm giàu, phải tích lũy tiền Tuy nhiên, phương pháp tích lũy tiền là khác nhau
1.1.3 Học thuyết kinh tế của chủ nghĩa trọng thương Pháp
Ở Pháp, chủ nghĩa trọng thương bắt rễ sâu hơn ở Anh, vì về kinh tế nước Pháp có điều kiện để tiếp thu và thực hành học thuyết trọng thương hơn Chủ nghĩa trọng thương Pháp không trải qua hai giai đoạn phát triển rõ rệt nhưng
nó thúc đẩy nhanh sự phát triển nền kinh tế Pháp Đại biểu của chủ nghĩa trọng thương Pháp là: Antoine Monchretien và Jean Baptiste Colbert
-Học thuyết kinh tế của Antoire Monchretien (1575 - 1622)
A.Monchretien là người đầu tiên nêu ra danh từ chính trị kinh tế học trong cuốn "Luận văn về chính trị kinh tế học" xuất bản năm 1615 Những quan điểm của ông phản ánh thời kỳ quá độ từ học thuyết trọng tiền đến học thuyết trọng thương phát triển A.Monchretien xem nông dân là vấn đề cốt yếu của nhà nước Pháp, vì ở Pháp nông dân chiếm hơn một nửa dân số.A.Monchretien cho rằng nông dân là chỗ dựa của nhà nước Pháp và kêu gọi Nhà nước cần phải quan tâm đến nông dân hơn nữa
Quan điểm về tài sản: A.Monchretien cho rằng, tài sản của đất nước không
chỉ là tiền mà còn là dân số, đặc biệt là số dân nông nghiệp Ông viết "Hạnh
Trang 2525
phúc của người ta là ở trong sự giàu có, mà sự giàu có là ở trong lao động” Ông coi ngoại thương là nguồn tài sản chủ yếu của đất nước Ông nói: "Nội thương là hệ thống ống dẫn, ngoại thương là máy bơm"
- Học thuyết kinh tế của Jean Baptiste Colbert (1619 -1683)
Jean Baptiste Colbert - nguyên Bộ trưởng Bộ Tài chính Pháp, ông đề ra hệ thống chính sách kinh tế thực hiện ở Pháp trong 100 năm, gọi là "Chủ nghĩa colbert" Hệ thống chính sách đó phản ánh sự phá sản của chủ nghĩa trọng thương Pháp
Nội dung cơ bản của chủ nghĩa Colbert thể hiện:
+ J.Colbert ủng hộ sự phát triển của nền công nghiệp Pháp bằng cách cấp tiền nhiều hơn cho công nghiệp, tăng cường công tác kiểm tra chặt chẽ để đảm bảo chất lượng sản phẩm công nghiệp và nâng cao hiệu quả đầu tư
+ Để thúc đẩy sản xuất công nghiệp phát triển,J.Colbert đã thi hành hàng loạt các biện pháp kinh tế khác nhau nhằm làm phá sản sản xuất nông nghiệp và bắt nông nghiệp phải phục vụ sản xuất công nghiệp, như: chính sách tăng thuế với hàng hóa nông sản, hạ giá nông sản phẩm, phong tỏa thị trường nông sản phẩm nhằm buộc người nông dân phải bán lúa mì với bất kỳ giá nào, tức khi lúa mì được mang ra thị trường thì không được chở về nhà
Như vậy, chính sách kinh tế của J.Colbert mang nặng tư tưởng trọng thương Theo ông ngoại thương có khả năng làm cho thần dân được sung túc
và thỏa mãn được các nhu cầu của vua chúa Sự vĩ đại và hùng cường của một quốc gia là do số lượng tiền quyết định
Tóm lại: Tuy mạnh về mặt thực tiễn, nhưng trong cương lĩnhcủa họ, chủ
nghĩa trọng thương Pháp không đưa ra được những luận cứ đầy đủ về mặt lý luận Đến thế kỷ XVIII chủ nghĩa trọng thương ở Pháp bị phá sản và xuất hiện chủ nghĩa trọng nông nhằm phục hồi và phát triển nông nghiệp
1.1.4 Quá trình tan rã của chủ nghĩa trọng thương
Công nghiệp ngày càng phát triển, công trường thủ công tư bản trở thành phổ biến làm thay đổi kết cấu kinh tế - xã hội của chủ nghĩa tư bản Vai trò
Trang 26- Dudley North là thương gia, nhà kinh tế học người Anh Ông có tư tưởng
trái ngược với chủ nghĩa trọng thương làm cho tư tưởng trọng thương bị mất
vị trí, góp phần làm tan rã chủ nghĩa trọng thương Nội dung tư tưởng kinh tế của Dudley North như sau:
+ Tư tưởng mậu dịch tự do: trong tác phẩm "Bàn về thương nghiệp" (1691)
Dudley North đã phê phán chủ nghĩa trọng thương và bảo vệ tư tưởng tự do thương mại trong nước cũng như ngoài nước Ông là người đầu tiên có tư tưởng mậu dịch tự do, kiến nghị bãi bỏ sự bảo hộ của nhà nước Theo ông có thể điều chỉnh hoạt động của ngoại thương bằng cách thực hiện khẩu hiệu
"Mậu dịch tự do" để phát triển kinh tế chứ không phải dựa vào nhà nước như những người trọng thương
+ Tư tưởng về thương nghiệp xuất siêu:Dudley North cho rằng, không chỉ
có xuất siêu mà kể cả nhập siêu vẫn có tác dụng to lớn phát triển sản xuất vì: trong trường hợp nhập siêu có thể làm cho khối lượng tiền tệ trong nước giảm xuống nhưng khối lượng hàng hóa lại tăng lên, đặc biệt là những hàng hóa mà
Trang 2727
trong nước chưa làm ra được thì cần phải thông qua nhập siêu để thúc đẩy sản xuất phát triển làm ra của cải vật chất Như vậy, ông không chỉ đánh đổ quan điểm của chủ nghĩa trọng thương về trông chờ vào sự can thiệp của nhà nước
để phát triển kinh tế mà còn chống lại quan điểm của Thomas Mun cho rằng xuất siêu là rất quan trọng Theo ông, nhập siêu cũng rất cần thiết để phát triển sản xuất Như vậy, sự phê phán của North góp phần quyết định quá trình tan
rã của chủ nghĩa trọng thương và hình thành những tư tưởng kinh tế mới phù hợp với giai đoạn phát triển mới của chủ nghĩa tư bản
- William Petty: Là một đaị biểu nổi tiếng trong thời kỳ tan rã của chủ
nghĩa trọng thương Trong tác phẩm "Bàn về tiền tệ" xuất bản 1682 W.Petty cho rằng: Tiền không phải lúc nào cũng là tiêu chuẩn của sự giàu có Ông phủ định quan điểm của chủ nghĩa trọng thương về vai trò của tiền
Bằng sự phân tích khoa học về giá trị lao động, tiền, giá trị thặng dư,W.Petty
đã chứng minh đúng đắn nguồn gốc tạo ra của cải đó là lao động trong khâu sản xuất Với những nguyên lý khoa học này ông đã bắn phá vào lý luận của chủ nghĩa trọng thương làm học thuyết trọng thương tan rã
1.2 Học thuyết kinh tế của chủ nghĩa trọng nông
1.2.1 Hoàn cảnh ra đời, đặc điểmhọc thuyết kinh tếcủa chủ nghĩa trọng nông
- Hoàn cảnh ra đời của chủ nghĩa trọng nông
Đến giữa thế kỷ XVIII, chủ nghĩa tư bản ở Pháp đã nhận ra một vấn đề thực tế: nếu chỉ dựa vào lý thuyết trọng thương thì không thể phát triển kinh
tế Hơn nữa, những chính sách cực tả của J.Colbert đã làm phá sản nền nông nghiệp Pháp, đòi hỏi phải có một cách nhìn mới, một lý luận mới mở đường cho nền kinh tế và nông nghiệp phát triển Những điều này đặt ra những đòi hỏi bức xúc cho chủ nghĩa trọng nông ở Pháp ra đời Chủ nghĩa trọng nông Pháp ra đời từ năm 1756, tồn tại 21 năm cho đến năm 1777
Sự ra đời của chủ nghĩa trọng nông còn xuất phát từ đặc điểm của nước Pháp, nông dân chiếm hơn một nửa dân số và đại đa số là tá điền, họ phải thuê ruộng đất của địa chủ với mức địa tô rất cao (từ 1/4 đến 1/3 thu hoạch), ngoài
Trang 2828
ra người nông dân tá điền phải nộp nhiều thứ thuế cho nhà vua và nhà thờ (thuế trực thu, thuế gián thu, thuế cầu đường ) và nộp cho nhà thờ 1/10 thu hoạch của ruộng đất (thuế thập phân) Chính sách thuế khóa đã đẩy nông dân Pháp rơi vào cảnh túng quẫn, nợ nần cha truyền con nối
Chính sách hạ giá lúa mì của J.Colbert, cộng với chính sách trọng thương thực hiện khẩu hiệu "Ăn đói để xuất khẩu", và quan điểm xuất siêu cũng làm cho nền sản xuất nông nghiệp Pháp sa sút nghiêm trọng
Tình hình ấy thúc đẩy tư tưởng trọng nông ra đời và phát triển mạnh Những biện pháp như: tăng giá lúa mì, xóa bỏ gánh nặng thuế khóa cho nông dân, cấm tự do mua bán lúa mì ra nước ngoài đã thúc đẩy nông nghiệp Pháp phát triển Để ra khỏi tình trạng khủng hoảng nông nghiệp và phá sản kinh tế nông dân, chủ nghĩa trọng nông ra đời và là trường phái lớn nhất ở Pháp
Tóm lại: Hoàn cảnh nước Pháp giữa thế kỷ XVIII là hoàn cảnh đặc biệt,
buộc phải tìm con đường giải phóng lực lượng sản xuất trong nông nghiệp chứ không phải trong công trường thủ công như ở nước Anh Do vậy, Pháp là cái nôi cho chủ nghĩa trọng nông xuất hiện
- Đặc điểm các học thuyết kinh tế của chủ nghĩa trọng nông
Chủ nghĩa trọng nông là một trường phái tư tưởng kinh tế xuất hiện trong điều kiện lịch sử cụ thể của nước Pháp lúc bấy giờ Tuy vậy, chủ nghĩa trọng nông với những luận điểm cơ bảnđã tháo gỡ những khó khăn đưa nền nông nghiệp Pháp ra khỏi khủng hoảng nên có vị trí quan trọng trong lịch sử các học thuyết kinh tế Những người trọng thương sống trong hoàn cảnh chủ nghĩa
tư bản chưa phát triển còn những người trọng nông sống ở giai đoạn chín muồi hơn của chủ nghĩa tư bản, họ đấu tranh chống lại tư tưởng của chủ nghĩa trọng thương trên nhiều mặt, cụ thể:
Một là: Những người trọng nông coi nông nghiệp, đặc biệt nông nghiệp đồn
điền là nguồn gốc duy nhất tạo ra của cải
Hai là: Những người trọng nông cho tiềnkhông phải là của cải mà chỉ là công
cụ để di chuyển của cải
Trang 2929
Ba là: Những người trọng nông là người bênh vực cho chế độ mậu dịch tự
do, chống lại vai trò can thiệp của nhà nước vào kinh tế
Như vậy, đặc điểm quan trọng nhất của học thuyết kinh tế trọng nông là
đã chuyển đối tượng nghiên cứu từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất, đánh giá cao vai trò của nông nghiệp đồn điền Coi nông nghiệp là lĩnh vực duy nhất trong xã hội tạo ra của cải, chỉ có lao động nông nghiệp mới là lao động có ích, lao động sinh lời, vì nó tạo ra sản phẩm thuần túy cho xã hội, vì vậy muốn giàu có phải phát triển nông nghiệp
K.Marx nhận xét: "Phái trọng nông đã chuyển việc nghiên cứu nguồn gốc của giá trị thặng dư từ lĩnh vực lưu thông vào lĩnh vực sản xuất trực tiếp và do
đó đã đặt cơ sở cho việc phân tích nền sản xuất tư bản chủ nghĩa"
Bốn là, Về cơ sở lý luận: Thế giới quan của phái trọng nông theo phái "tự
nhiên thần luận" - một học thuyết triết học tôn giáo ra đời vào thế kỷ XVII Những người theo phái tự nhiên thần luận thừa nhận sự tồn tại của thượng đếcó trước thế giới, nhưng thượng đế không can thiệp vào công việc của con người, tất cả đều phải phục tùng quy luật vốn có của tự nhiên Tư tưởng trung tâm trong học thuyết kinh tế của phái trọng nông là tư tưởng về tính quy luật,
họ cho rằng trong xã hội tính ngẫu nhiên không chiếm địa vị thống trị mà tính quy luật (tất nhiên) mới chiếm địa vị thống trị Do vậy, cơ sở lý luận chủ yếu của phái trọng nông là học thuyết về "luật tự nhiên"
1.2.2 Nội dung các học thuyết kinh tế của chủ nghĩa trọng nông
- Học thuyết kinh tế của Francois Quesnay
+ Sơ lược tiểu sử của Francois Quesnay (1694-1774)
F.Quesnay xuất thân là con một chủ ruộng nhỏ, là người có năng lực phi thường Năm 1718 ông nhận học vị phẫu thuật gia Năm 1749 trở thành một viên ngự y Năm 1752 được phong tước vị quý tộc và cũng từ đây ông nghiên cứu những vấn đề kinh tế Năm 1756 ông đã đăng nhiều bài trong bộ "Bách khoa" nổi tiếng của nước Pháp như "Sự thật rõ ràng", "lúa mì "
Trang 3030
Trên cơ sở những bài viết đó F.Quesnay đã lôi cuốn một số người đi theo học thuyết của ông và trở thành người lãnh đạo phái trọng nông, là linh hồn của phái này Học thuyết trọng nông chủ yếu được xây dựng trên những tư tưởng kinh tế của F.Quesnay Ông có nhiều tác phẩm có giá trị: năm 1758 xuất bản cuốn "Biểu kinh tế", năm 1766 xuất bản cuốn “Phân tích biểu kinh tế”, năm 1767 xuất bản “Chế độ chuyên chế Trung Quốc”, năm 1768 “Những nguyên lý chung của chính sách kinh tế của một quốc gia nông nghiệp” K.Marx gọi F.Quesnay là cha đẻ của chính trị kinh tế học, vì ông có vai trò
đặc biệt trong phát triển khoa học kinh tế F.Quesnay có hai công lao lớn: Thứ nhất, ông đặt ra một cách khoa học vấn đề sản phẩm thuần túy, tuy chưa giải quyết được vấn đề này triệt để; Thứ hai, ông phân tích một cách khoa học tái
sản xuất xã hội “Biểu kinh tế”, mở ra một trang mới trong lịch sử tư tưởng kinh tế
Về chính trị, F.Quesnay ủng hộ chế độ quân chủ chuyên chế của Pháp, là người trung thành với chế độ quân chủ chuyên chế và là một trong những quan lại của triều đình
+ Nội dung học thuyết kinh tế của Francois Quesnay
Một, Lý thuyết "Luật tự nhiên"
Tư tưởng trung tâm của học thuyết kinh tế của F.Quesnay là tư tưởng về tính quy luật - học thuyết về luật tự nhiên mà nội dung cơ bản là:
Thứ nhất: F.Quesnay thừa nhận vai trò tự do cá nhân coi đó là luật tự nhiên
của con người không thể thiếu được Tự do đi lại, tự do thân thể, tự do bán lao động, tự do mậu dịch ông chống lại chế độ phong kiến và xem nó là một chế
độ không bình thường dựa trên sự dốt nát và đó là một sai lầm của lịch sử
Thứ hai: F.Quesnay đòi tự do cạnh tranh của những người sản xuất hàng hóa,
nhằm chống lại phường hội - một trở ngại cho sự phát triển chủ nghĩa tư bản
ở thành thị Ông bênh vực cho tự do cạnh tranh của chủ nghĩa tư bản
Thứ ba: F.Quesnay yêu cầu phải thừa nhận quyền bất khả xâm phạm đối với
chế độ tư hữu Sự thừa nhận đó cũng là yêu cầu của giai cấp tư sản
Trang 3131
Ông đã phân biệt 2 loại sở hữu, vì ông muốn dung hòa giữa sở hữu tư bản
và sở hữu phong kiến về ruộng đất
Sở hữu động sản: Sở hữu này được tự do liên kết, sử dụng như tư bản
Sở hữu bất động sản: Loại sở hữu chủ yếu là nói về sở hữu ruộng đất Như vậy, "Luật tự nhiên" của F.Quenay là luật tư sản, ông đề nghị đối xử với chủ nghĩa tư bản như đối xử với một hiện tượng hợp quy luật Và nếu nền kinh tế có tính tất yếu bên trong thì nhà nước không can thiệp vào nền kinh tế Ông cho rằng chính sách tự do kinh doanh là chính sách đúng đắn nhất Nhà nước chỉ có nhiệm vụ bảo vệ chế độ tư hữu, chống tội phạm hình sự và kẻ thù bên ngoài Trong thế kỷ XVII Chính phủ Pháp không quan tâm tới nông nghiệp,F.Quesnay cho rằng công nghiệp không đáng được bảo vệ mà cần chú
ý tới nông nghiệp vì của cải được tạo ra trong nông nghiệp
Như vậy, học thuyết về luật tự nhiên của F.Quesnay là siêu hình, tuy vậy
nó vẫn có ý nghĩa to lớn đối với việc phát triển các tư tưởng kinh tế
Hai, Lý thuyết giá trị lao động
F.Quesnay đi tìm "giá cả thực tế" trong sản xuất, ông cho rằng "giá cả thực tế" phù hợp với mức cần thiết để bù đắp chi phí sản xuất.Sự mua bán phải được cân bằng ở hai bên gọi là hành động chung, đó là sự trao đổi giá trị với giá trị ngang giá mà những giá trị đó đã tồn tại trước khi có trao đổi, còn trong trao đổi thì không sản xuất được gì, do đó trao đổi không làm cho tài sản tăng lên vì tài sản đã được tạo ra trong sản xuất F.Quesnay phát triển tư tưởng trao đổi ngang giá và khẳng định giá trị không được tạo ra trong lưu thông,trao đổi không làm cho tài sản tăng lên mà là sự trao đổi một giá trị sử dụng này bằng một giá trị sử dụng khác
Ba, Lý thuyết tiền
F.Quesnay coi tiền là phương tiện lưu thông, làm môi giới giữa mua và bán, thậm chí theo ông, để mở rộng sản xuất cũng không cần phải có tiền, ông bài xích việc đề cao đồng tiền và làm lay chuyển lý luận tiềntệ của trường phái trọng thương F.Quesnay cho rằng "tiền giống như cái thùng đựng nước mang
Trang 3232
từ giếng lên, giống như chiếc vé xem kịch để vào cửa rạp và không cần biết
vé đó làm bằng gì "
Bốn, Lý thuyết "sản phẩm ròng" hay sản phẩm thuần túy
Đây là lý thuyết trung tâm trong toàn bộ hệ thống lý thuyết của chủ nghĩa trọng nông và F.Quesnay Theo K.Marx, công lao to lớn nhất của những người trọng nông là thấy được sản phẩm thuần túy chỉ được tạo ra trong nông nghiệp, nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất duy nhất trong xã hội còn công nghiệp thì "chỉ có tiêu dùng chứ hoàn toàn không có sản xuất"
Nội dung chính của lý luận "sản phẩm ròng":
Thứ nhất: Sản phẩm ròng là sản phẩm do đất đai mang lại sau khi đã trừ đi
chi phí lao động và các chi phí cần thiết để tiến hành canh tác
Thứ hai: Sản phẩm ròng là tặng vật của tự nhiên cho con người, không phải
là do quan hệ xã hội, quan hệ giai cấp đem lại Những người trọng nông đã giải thích sản phẩm thuần túy theo tinh thần của chủ nghĩa tự nhiên, coi đất đai là nguồn gốc của sản phẩm thuần túy
Thứ ba: Chỉ có ngành sản xuất nông nghiệp mới tạo ra sản phẩm ròng còn
các ngành công nghiệp và thương nghiệp không thể sản xuất ra sản phẩm thuần túy Theo F.Quesnay, công nghiệp chẳng qua là chế biến lại nguyên liệu của nông nghiệp, là sự kết hợp nhiều nguyên tố của các chất khác nhau tồn tại
từ trước, chứ không tạo ra chất mới Trong nông nghiệp không có sự kết hợp
mà chỉ có sự tăng thêm về chất, tạo ra sản phẩm thuần túy
Thứ tư: Có 2 nguyên tắc hình thành giá trị hàng hóa khác nhau giữa công
nghiệp và nông nghiệp
Trong công nghiệp: Giá trị sản phẩm gồm 3 loại:
+ Giá cơ bản (giá thành) bao gồm chi phí sản xuất
+ Giá bán của tư bản công nghiệp bao gồm giá cơ bản + hao phí đài thọ cho
tư bản công nghiệp (tiền lương của nhà tư bản công nghiệp)
+ Giá bán của tư bản thương nghiệp hay giá cả của người tiêu dùng
Trang 33Trong nông nghiệp: Giá trị nông sản phẩm được hình thành độc lập so với
chi phí sản xuất, ngoài chi phí sản xuất còn có thêm địa tô, do đó nếu hạ thấp chi phí sản xuất thì giá trị nông phẩm không giảm mà chỉ làm tăng địa tô, vì cầu nông sản luôn cao hơn cung và do giá cả độc quyền về nông sản Do đó sản phẩm thuần túy chỉ có thể là địa tô và ruộng đất là nguồn gốc của sản phẩm thuần túy Như vậy, nguồn gốc duy nhất của giá trị và giá trị thặng dư theo quan điểm của F.Quesnay chính là lực lượng tự nhiên
Theo F.Quesnay, kinh tế tiểu nông không thu được "sản phẩm thuần túy", sản phẩm thuần túy là do lao động sản xuất trong nông nghiệp tư bản chủ nghĩa tạo ra, còn trong kinh tế tiểu nông chi phí sản xuất chỉ là tiền lương Quan điểm này là hạt nhân hợp lý và nổi tiếng của ông
F.Quesnay cho rằng,"sản phẩm thuần túy" là số chênh lệch giữa toàn bộ lao động với lao động cần thiết tức là bằng số lao động thặng dư để sản xuất
ra sản phẩm đó Như vậy, F.Quesnay nắm được mối liên hệ giữa lao động sản xuất và giá trị thặng dư Sai lầm của ông ở chỗ, cho rằng chỉ có lao động trong
Trang 3434
nông nghiệp mới là lao động sản xuất còn các lĩnh vực khác không mang lại kết quả
Thứ năm: Từ lý luận về sản phẩm thuần túy, F.Quesnay đi đến lý luận lao
động sản xuất và lao động không sản xuất Theo ông, lao động tạo ra sản phẩm thuần túy mới là lao động sản xuất, lao động không tạo ra sản phẩm thuần túy
là lao động không sinh lời, là lao động không sản xuất
Thứ sáu: Từ lý luận lao động sản xuất, F.Quesnay đã chia xã hội ra thành 3
giai cấp: giai cấp sản xuất, giai cấp không sản xuất và giai cấp sở hữu
Năm, Lý thuyết tái sản xuất tư bản xã hội (Biểu kinh tế của F.Quesnay)
F.Quesnay có ba phát minh quan trọng: phát minh ra tiền, phát minh ra máy in và phát minh ra Biểu kinh tế "Biểu kinh tế" có một ý nghĩa lớn trong việc phát triển tư tưởng kinh tế, bởi F.Quesnay đã phân tích một cách khoa học quá trình tái sản xuất trong "Biểu kinh tế", nên về mặt lý luận ông đã chứng tỏ sự sáng suốt, táo bạo và độc đáo
Ý nghĩa thực tiễn của “Biểu kinh tế” của F.Quesnay chỉ đến K.Marx mới tìm ra K.Marx đã đánh giá "Biểu kinh tế" F.Quesnay là sơ đồ đại cương về tái sản xuất xã hội và chính K.Marx sau này đã kế thừa, phát triển lý luận của F.Quesnay vào lý luận tái sản xuất của mình
- Nội dung “Biểu kinh tế” của F.Quesnay:
+ Để phân tích “Biểu kinh tế”, F.Quesnay đã đưa ra các giả định:
Nghiên cứu tái sản xuất giản đơn
Trừu tượng hóa sự biến động của giá cả
Không xét đến ngoại thương
Xã hội chỉ có 3 giai cấp cơ bản:
Giai cấp sản xuất: những người làm việc trong ngành nông nghiệp - chủ đồn điền và công nhân nông nghiệp
Giai cấp không sản xuất: những người làm việc trong ngành công nghiệp
và thương nghiệp, đó là nhà tư bản công nghiệp, thương nghiệp và công nhân công nghiệp, thương nghiêp
Trang 3535
Giai cấp sở hữu: người được thu sản phẩm thuần túy (chủ đất)
+ Căn cứ phân chia sản phẩm xã hội: F.Quesnay dựa vào tính chất hiện vật của sản phẩm để chia sản phẩm xã hội ra thành sản phẩm nông nghiệp và sản phẩm công nghiệp Ông giả định, tổng sản phẩm xã hội là 7 tỷ và được chia thành: 5 tỷ sản phẩm nông nghiệp và 2 tỷ sản phẩm công nghiệp
* 5 tỷ sản phẩm nông nghiệp được phân thành các bộ phận:
Tiền ứng trước đầu tiên (khấu hao tư bản cố định) : 1 tỷ
Tiền ứng trước hàng năm (tiền lương, tiền giống ) : 2 tỷ
Sản phẩm thuần túy : 2 tỷ
* 2 tỉ sản phẩm công nghiệp phân chia thành các bộ phận:
Tiền bù đắp tư liệu sinh hoạt cho công nhân và nhà tư bản: 1 tỷ
Tiền bù đắp nguyên liệu đã hao phí: 1 tỷ
+ Để lưu thông 7 tỷ sản phẩm cần có 2 tỷ tiền (tiền nằm trong tay địa chủ) + Sự trao đổi sản phẩm xã hội được thực hiện thông qua 5 hành vi của 3 giai cấp cơ bản trong xã hội như sau:
*Hành vi 1: Giai cấp sở hữu (địa chủ) dùng 1 tỷ tiền mua tư liệu sinh hoạt
của tư bản nông nghiệp
Kết quả: Giai cấp sở hữu còn 1 tỷ tiền mặt và có 1 tỷ tư liệu sinh hoạt Tư bản nông nghiệp có 1 tỷ tiền mặt và còn4 tỷ nông phẩm
*Hành vi 2: Giai cấp sở hữu (địa chủ) dùng 1 tỷ tiền mặt còn lại mua tư liệu
sinh hoạt của tư bản công nghiệp
Kết quả: Giai cấp sở hữu có 2 tỷ tiền đã chuyển thành 2 tỷtư liệu sinh hoạt.Tư bản công nghiệp có 1 tỷ tiền mặt và còn1 tỷ sản phẩm
* Hành vi 3: Tư bản công nghiệp dùng 1 tỷ tiền vừa bán hàng thu về mua tư
liệu sinh hoạt của tư bản nông nghiệp
Kết quả: Tư bản công nghiệp có 1 tỷ tư liệu sinh hoạt và còn1 tỷ hàng hóa.Tư bản nông nghiệp có 2 tỷ tiền mặt và còn 3 tỷ nông phẩm
* Hành vi 4: Tư bản nông nghiệp dùng 1 tỷ tiền mua máy móc, công cụ sản
xuất của nhà tư bản công nghiệp
Trang 3636
Kết quả: Tư bản nông nghiệp có 1 tỷ tiền mặt, 1 tỷ tư liệu sản xuất và còn3tỷ nông phẩm.Tư bản công nghiệp có 1 tỷ tiền mặt, 1 tỷ tư liệu sinh hoạt
*Hành vi 5: Tư bản công nghiệp dùng 1 tỷ tiền mua hàng hóa của tư bản
nông nghiệp (mua nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp)
Kết quả:Tư bản nông nghiệp có 2tỷ tiền mặt,1 tỷ tư liệu sản xuất và còn2 tỷnông phẩm (để nuôi công nhân và nhà tư bản nông nghiệp) Tư bản công nghiệp có 1 tỷ tư liệu sinh hoạt và 1 tỷ nguyên liệu
Như vậy, kết thúc 5 hành vi trao đổi, tổng sản phẩm xã hội đã được thực hiện, có thể tiếp tục thực hiện một chu kỳ mới - chu kỳ tái sản xuất giản đơn
Sơ đồ biểu kinh tế của F.Quesnay
-Những kết luận K.Marx rút ra từ nghiên cứu biểu kinh tế của Quesnay: + Những điểm thành công của biểu kinh tế:
F.Quesnay người đầu tiên đặt vấn đề và nghiên cứu tái sản xuất
Qúa trình nghiên cứu tái sản xuất giản đơn đúng đắn
F.Quesnay đã phân tích sự vận động của tổng sản phẩm xã hội cả về hai mặt giá trị và hiện vật
F.Quesnay biết trừu tượng hóa sự biến động giá và không xét ngoại thương F.Quesnay biết xuất phát từ quy luật lưu thông tiền tệ để nghiên cứu
+ Điểm hạn chế của biểu kinh tế:
Tư bản nông nghiệp
nộp 2 tỷ tiền địa tô
Tư bản nông nghiệp
Trang 37- Học thuyết kinh tế của Anne Roberrt Jaucques Turgot (1727 - 1781)
+ Sơ lược tiểu sử của A.Turgot
A.Turgot là nhà tư tưởng lỗi lạc, nhà hoạt động chính trị lớn của nước Pháp A.Turgot xuất thân từ một gia đình thị trưởng ở Pari Lúc đầu A.Turgot nghiên cứu luật học, ông có 13 năm hoạt động trong ngành tài chính A.Turgot rất quan tâm đến hoạt động nông nghiệp theo hình thức đồn điền do các nhà
tư bản đầu tư trực tiếp kinh doanh, năm 1770 ông xuất bản cuốn "Buôn bán ngũ cốc" trong đó đề cập nhiều đến tư tưởng trọng nông, năm 1774 ông được
bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Tài chính Tư tưởng chủ đạo của ông là tự do buôn bán ngũ cốc
A.Turgot đã tiếp thu những luận điểm chủ yếu của phái trọng nông về vai trò của sản xuất nông nghiệp, sản phẩm thuần túy, đồng thời phát triển thêm những luận điểm đó A.Turgot tìm mọi cách để thoát khỏi tấm bình phong đó Ông biểu hiện tư tưởng tự do mạnh mẽ hơn những người trọng nông khác
+ Nội dung học thuyết kinh tế của A.Turgot
Một, Lý thuyết phân chia xã hội thành giai cấp
Trang 3838
A.Turgot xuất phát từ hai cơ sở: tính chất ngành sản xuất và thu nhậpđể phân chia xã hội thành 5 giai cấp(giai cấp công nhân nông nghiệp, giai cấp tư bản nông nghiệp, giai cấp công nhân công nghiệp, giai cấp tư bản công nghiệp, vàgiai cấp địa chủ) Ông lẫn lộn về nguyên tắc phân chia giai cấp, chưa thấy được nguyên tắc phân chia giai cấp trong xã hội phải căn cứ vào thu nhập là tiền lương, lợi nhuận và địa tô Lý luận phân chia giai cấp của A.Turgot có bước thụt lùi so với F.Quesnay
Hai, Lý thuyết thu nhập, tư bản, phân chia tư bản thành tư bản cố định và
tư bản lưu động
A.Turgot đã xác định sự khác nhau giữa chủ xí nghiệp và công nhân, ông
đã đưa ra định nghĩa về lao động làm thuê, phân tích đúngkhái niệm người vô sản Theo ông: "Người vô sản là người bị mất hết tư liệu sản xuất"
A.Turgot là người đầu tiên đưa ra khái niệm khoa học về tư bản với thuật ngữ "tư bản là khoản ứng trước" Ông cho rằng: Tư bản không chỉ là tiền mà
là tiền được tích lũy lại
A.Turgot là người đầu tiên phân chia tư bản thành tư bản cố định (khoản ứng trước ban đầu) và tư bản lưu động (khoản ứng trước hàng năm) - điều này
ở F.Quesnay thì sự phân chia này mới chỉ mầm mống
A.Turgot cho rằng, thu nhập của công nhân gọi là tiền lương và thu nhập của các nhà tư bản gọi là lợi nhuận, từ đó nêu lên "quy luật sắt về tiền lương" Hạt nhân hợp lý của tiền lương là tư liệu sinh hoạt tối thiểu chính là cơ sở để xác định tiền lương Theo ông, tiền lương của công nhân phải thu hẹp ở mức
tư liệu sinh hoạt tối thiểu vì cung lao động luôn luôn lớn hơn cầu lao động, nên công nhân cạnh tranh với nhau để có việc làm vì vậy nhà tư bản có điều kiện để trả lương ở mức tối thiểu
Ba, Lý thuyết giá trị thặng dư, lợi nhuận
Sản phẩm thặng dư là sản phẩm dôi ra ngoài sản phẩm cần thiết của người làm ruộng, đó là phần sản phẩm dùng để nộp địa tô
Trang 3939
A.Turgot là người có tư tưởng bình quân hóa lợi nhuận trong các ngành sản xuất khác nhau và phát hiện ra tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm sút K.Marx đánh giá cao điểm mới về lý luận của A.Turgot và khẳng định, A.Turgot làm cho phái trọng nông có một hình thức phát triển rộng rãi nhất Tuy vậy, Turgot vẫn còn khá nhiều hạn chế:
Thứ nhất: Ông nêu lên: "Quy luật về độ phì nhiêu màu mỡ của đất đai ngày
càng giảm" Sai lầm ở chỗ:trong thực tiễn khách quan về phát triển của nông nghiệp, độ màu mỡ của đất đai vừa phụ thuộc vào yếu tố tự nhiên, vừa phụ thuộc vào yếu tố con người sử dụng ruộng đất đó
Thứ hai: Trong lý luận giá trị, ông bênh vực cho lý luận giá trị chủ quan, mà
giá trị chủ quan là giá trị do thuộc tính tự nhiên của vật quyết định, vật nào có nhiều ích lợi thì vật đó có giá trị lớn và ngược lại Ông đã cho rằng giá trị trao đổi phụ thuộc vào giá trị chủ quan
Thứ ba: Ông cho rằng ruộng đất cũng là tư bản
Tóm lại: A.Turgot có nhiều đóng góp cho khoa học kinh tế, trong thực tiễn
ông đã cố gắng thực hiện những nguyên lý của chủ nghĩa trọng nông như: Đòi xóa bỏ gánh nặng thuế khóa cho các chủ đồn điền, thủ tiêu các trạm thuế các biện pháp đó đều được thực hiện trong thời kỳ cách mạng tư sản
Kết luận: Mặc dù còn có nhiều hạn chế nhưng phái trọng nông đã có nhiều
đóng góp quý báu cho khoa học kinh tế Những quan điểm về vai trò lao động sản xuất nông nghiệp đã tạo ra sự giàu có, sự phân chia tư bản thành tư bản
cố định và tư bản lưu động là rất đáng chú ý Luật tự nhiên là cơ sở của tư tưởng tự do kinh tế của phái cổ điển sau này, đặc biệt "Biểu kinh tế" đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu tái sản xuất sản phẩm xã hội
2 Học thuyết kinh tế của các đại biểu tư sản cổ điển
2.1 Hoàn cảnh ra đời, đặc điểm của các học thuyết kinh tế tư sản cổ điển
Các học thuyết kinh tế tư sản cổ điển ra đời vào cuối thế kỷ XVII, phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX Trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển xuất hiện và phát triển mạnh nhất ở nước Anh và Pháp
Trang 4040
Các nhà kinh tế tư sản tiêu biểu: W.Petty, A.SMith, D.Ricardo (người Anh)
và Sismonde (người Pháp)
2.1.1 Hoàn cảnh ra đời của các học thuyết kinh tế tư sản cổ điển
Cuối thế kỷ XVII, nhiệm vụ của tích luỹ nguyên thuỷ tư bản về cơ bản đã hoàn thành, vai trò của tư bản thương nghiệp giảm sút, lý luận trọng thương không còn đủ sức thuyết phục Thực tiễn đó đòi hỏi phải có lý luận mới thay thế cho lý luận của chủ nghĩa trọng thương
Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, các công trường thủ công tư bản chủ nghĩa ra đời ngày càng nhiều cho thấy nguồn gốc của cải không phải sinh ra từ lưu thông mà từ sản xuất Điều này đã giúp các nhà kinh tế tư sản
cổ điển đưa ra các học thuyết kinh tế khẳng định lao động làm thuê của những người nghèo là nguồn gốc làm giàu của các nhà tư bản
Về mặt xã hội, một yêu cầu mới đặt ra là tiếp tục phê phán phương thức sản xuất phong kiến lỗi thời, khẳng định tính ưu việt hơn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và tìm biện pháp bảo vệ và thúc đẩy chủ nghĩa tư bản phát triển nhanh hơn
Trường phái kinh tế chính trị cổ điển ra đời đáp ứng được các yêu cầu đó
2.1.2 Đặc điểm của các học thuyết kinh tế tư sản cổ điển
Thứ nhất: Kinh tế chính trị tư sản cổ điển đã chuyển đối tượng nghiên cứu từ
lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất, từ đóđi sâu nghiên cứu và giải thích đúng nguồn gốc của cải
Thứ hai: các nhà kinh tế chính trị tư sản cổ điển đã sử dụng phương pháp trừu
tượng hoá Nhờ phương pháp này, kinh tế chính trị cổ điển đã đi sâu nghiên cứu và trình bày có hệ thống các phạm trù kinh tế như: giá trị, giá cả, tiền, lợi nhuận v.v Tuy vậy, do giới hạn về thế giới quan và điều kiện lịch sử, các nhà kinh tế tư sản cổ điển đã có những kết luận không khoa học, thậm chí mâu thuẫn với những quan điểm của họ Đó là tính hai mặt trong phương pháp luận của trường phái kinh tế tư sản cổ điển