1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc nguyễn trung trực ở tỉnh kiên giang hiện nay

135 68 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 33,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải thích từ ngữ có quy định như sau: “Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về

Trang 1

ĐẠI HỌC QUÔC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN• • • •

0O0

HUỲNH QUÓC HUY

TÍN NGƯỠNG THỜ ANH HÙNG DÂN Tộc

NGUYỄN TRUNG TRựC Ở TỈNH KIÊN GIANG

HIỆN NAY

Chuyên ngành: Tôn giáo học

Mã số: 60220309

LUẬN VĂN THẠC sĩ TÔN GIÁO HỌC

Chủ tịch hội đồng: Người hướng dẫn khoa học:

PGS Trần Thị Kim Oanh TS Nguyễn Ngọc Quỳnh

Hà Nội 2021

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐÀU 1

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÀ THỤC TIỄN VÈ TÍN NGƯỠNG THỜ ANH HÙNG DÂN Tộc Ở TỈNH KIÊN GIANG 13

1.1 Tổng quan tỉnh Kiên Giang 13

1.1.1 Đặc điểm về địa lý, kinh tế, văn hóa, xã hội 13

1.1.2 Đặc điểm của tôn giáo, tín ngưỡng 16

1.1.3 Tín ngưỡng thờ các vị anh hùng dân tộc trên địa bàn tỉnh Kiên Giang 17

1.2 Một sô vân đê CO' bản vê tín ngưỡng và tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc 23

1.2.1 Khái niệm tín ngưỡng 23

1.2.2 Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc 31

1.2.3 Việc bảo tồn và phát huy giá trị tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc32 TIÊU KẾT CHƯƠNG 1 34

Chương 2 THựC TRẠNG VIỆC THỜ ANH HÙNG DÂN Tộc NGUYỄN TRUNG TRựC Ở TỈNH KIÊN GIANG 35

2.1 Sự ra đòi của việc thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực 35

2.1.1 Tiểu sử 35

2.1.2 Các chiến công tiêu biểu 38

2.1.3 Các di tích thờ cúng 41

2.2 Các giá trị đặc sắc của tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực 49

2.2.1 Nghi thức thờ cúng anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực 49

2.2.2 Công tác thực hành tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực 55 2.2.3 Các giá trị của tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nguyên Trung Trực 60

Trang 3

2.3 Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung trực qua khảo sát

ở một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long 73

2.3.1 Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc ở tỉnh An Giang 73

2.3.2 Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc ở tỉnh Long An 76

2.3.3 Tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực trong một số tôn giáo ở Đồng bằng sông Cửu Long 78

2.4 Đánh giá kêt quả quá trình bảo tôn và phát huy các giá trị văn hóa của tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực và nguyên nhân đạt được 81

2.4.1 Thành tựu 81

2.4.2 Tồn tại 83

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 84

Chương 3 xu HƯỚNG VẬN ĐỘNG, BIẾN ĐỎI CỦA TÍN NGƯỞNG THỜ ANH HÙNG DÂN Tộc NGUYỄN TRUNG TRựC Ở TỈNH KIÊN GIANG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VÀN HÓA TÍN NGƯỠNG 86

3.1 Xu hướng vận động, biến đổi tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực 86

3.2 Một sổ vấn đề đặt ra đối với tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc ở tính Kiên Giang hiện nay 92

3.3 Một số kiến nghị 95

3.3.1 Đối với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 95

3.3.2 Đối với Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQVN tỉnh Kiên Giang97 3.3.3 Đối với ngành văn hóa, thể thao; du lịch 98

3.4 Một số giải pháp 100

Trang 4

3.4.1 Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của nhà nước đôi với việc bảo tồn, phát huy các giá trị tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc

Nguyễn Trung Trực 100

3.4.2 Nâng cao nhận thức, đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền về tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc 102

3.4.3 Xây dựng chương trình tổng thể bảo tồn, khai thác và phát huy các giá trị tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực 105

TIÊU KẾT CHƯƠNG 3 108

KẾT LUẬN 110

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112

PHỤ LỤC 118

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính câp thiêt của đê tài

1.1 Từ xa xưa, người Việt đã có niềm tin mãnh liệt và sự thành kính thiêng liêng đối với thần thánh hay các lực lượng siêu nhiên, tin vào cuộc sống sau khi chết và tin rằng tổ tiên, dòng họ, những người đã khuất cũng là lực lượng bảo trợ tinh thần cho người đang sống Từ niềm tin đó, nhân dân đã lập đền thờ, xây dựng các di tích tín ngưỡng như đình, chùa, miếu, am để thờ cúng lực lượng siêu nhiên cũng như những người đã khuất Những việc làm đó đã trở thành những giá trị văn hóa, tinh thần góp phần kết nối cộng đồng xã hội

Tín ngưỡng và việc thực hành tín ngưỡng có khả năng đáp úng được nhũng nhu cầu về mặt tinh thần, tâm linh của các tầng lóp cư dân trong xã hội: nhu cầu được an ủi, chia sẻ, xoa dịu nỗi đau thương, mất mát nơi trần thế; ước mơ có điểm tựa tinh thần để đối mặt vói những thách thức, rủi ro từ thiên nhiên và xã hội; là

“chất keo gắn kết cộng đồng”, “năng lượng tinh thần”, khuyến khích con người hướng thiện, vươn tới chân - thiện - mỹ, ba trụ cột quan trọng của văn hóa, là nền tảng tính nhân văn cùa nhân loại

Người dân Tây Nam bộ có quan niệm rằng: “sinh vi tướng, tử vi thần” để tôn vinh những nghĩa sĩ, nghĩa quân những người đã hy sinh xương máu của mình đánh đuối kẻ thù xâm lược, chiến đấu vì chính nghĩa xả thân vì dân vì nước Vì vậy ngày mất của các anh hùng dân tộc được long trọng tổ chức thành một lễ hội trang nghiêm đầy ý nghĩa

Đạo lý biết ơn và tiếp nối truyền thống tổ tiên chỉ trở thành nội dung bên trong của tín ngưỡng khi đạo lý được bộc lộ thông qua các nghi thức có tính chất huyền bí, thiêng liêng Các nghi thức thờ cúng tổ tiên ở nước ta có sự ảnh hưởng của Nho giáo, nhưng cũng có những yếu tố gần gũi với Phật giáo và Đạo giáo Các hành vi lễ thức thường được thực hiện theo tâm thức dân gian và cũng không hoàn toàn thống nhất ở các gia đinh, dòng họ, địa phương

Trang 6

Luật tín ngưỡng, tôn giáo ban hành năm 2016 và có hiệu lực từ 1/1/2018, tại Điều 2 Giải thích từ ngữ có quy định như sau: “Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng.

Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thờ cúng tố tiên, các biểu tượng linh thiêng; tưởng niệm và tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng; các lễ nghi dân gian tiêu biểu cho những giá trị lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội Lễ hội tín ngưỡng là hoạt động tín ngưỡng tập thể được tổ chức theo lễ nghi truyền thống nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của cộng đồng Cơ sở tín ngưỡng là nơi thực hiện hoạt động tín ngưỡng của cộng đồng như đình, đền, miếu, nhà thờ dòng họ và những cơ sở tương tự khác”

Như vậy, tín ngưỡng là một hình thái biểu thị đức tin, niềm tin của con người và của cộng đồng người ở một trình độ phát triển xã hội và nhận thức nhất định vào một cái thiêng liêng, cái cao cả, cái đáng sùng kính trong thế giới người hoặc thế giới siêu nhiên nào đó Tín ngưỡng và tôn giáo có sự khác biệt nhau về hình thức và trình độ tổ chức Đặc điểm này không chỉ quy định sự khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo, mà còn xác định bản chất và đặc trưng của tín ngưỡng

1.2 Kiên Giang là tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long nằm ở phía Tây Nam của Việt Nam Với diện tích tự nhiên 6.346 km2 Dân số 1.714.100 người Là tỉnh có cả đồng bằng, rừng núi, biển và hải đảo Kiên Giang được nhiều người biết đến là vùng đất với nhiều danh lam thắng cành và địa danh lịch

sử như: Hà Tiên, Phú Quốc, vườn Quốc Gia u Minh Thượng, di tích nhà tù Phú Quốc Toàn tỉnh hiện có 360 cơ sở thờ tự, 38 danh thắng - di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng Theo thống kê, hiện nay trên địa bàn tỉnh Kiên Giang có 389

lễ hội trong đó có 235 lễ hội tôn giáo, 31 lễ hội dân gian, 62 lề hội lịch sử cách

2

Trang 7

mạng và một số lễ hội khác Đặc biệt hàng năm, cứ vào ngày 26, 27 và 28 tháng

8 âm lịch, lễ hội truyền thống kỷ niệm ngày hy sinh của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực được tổ chức trang trọng nhằm tri ân và tôn vinh đức tài, chiến công của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực, giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống yêu nước và tinh thần quật cường chống ngoại xâm, bảo vệ đất nước, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân; đồng thời là dịp đế bà con nhân dân trong và ngoài tĩnh tham gia các hoạt động giao lun văn hóa, tăng cường tình đoàn kết gắn bó của các dân tộc sinh sống trong cộng đồng, giới thiệu, quảng bá tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Lễ hội truyền thống Nguyễn Trung Trực đã có sức lan tỏa ngày càng rộng, mồi năm số lượt người dự

lễ hội ngày càng tăng; nếu năm 2005 có 400 ngàn người tham gia lễ hội đến năm

2012 có hơn 800 ngàn lượt người tham gia lễ hội Nét độc đáo mồi khi nói đến lễ hội Nguyễn Trung Trực hàng năm là trước ngày chính thức diễn ra lễ hội, người dân khắp nơi về đây đế làm công quả, chung tay sửa sang đình thờ, dựng trại, đắp lò nấu cơm đãi ăn miễn phí cho tất cả du khách đến tham gia lễ hội bằng tấm lòng tôn kính, thành tâm chăm lo ngày giỗ của Cụ Nguyễn Điều đáng nói trong

lễ hội anh hùng Nguyễn Trung Trực là tinh thần của những người tham dự lễ hội Dân cư khắp các tỉnh đồng bằng sông Cừu Long về dự lễ hội như là trở về gia đình mình, làm giỗ ông bà mình Vì thế, tính cộng cảm, cộng mệnh, cộng sinh được thế hiện rất rõ nét trong lễ hội này Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực ở tỉnh Kiên Giang trở thành một nét văn hóa truyền thống

nó thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, đồng thời chứa đựng các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc

1.3 Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI khẳng định: “Hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, về bảo tồn phát huy giá trị các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc Gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ phát triển văn hóa, văn nghệ, bào tồn và phát huy các giá

3

Trang 8

trị di sản văn hóa với phát triên du lịch và hoạt động thông tin đôi ngoại nhăm truyền bá sâu rộng các giá trị văn hóa trong công chúng đặc biệt là thế hệ trẻ và người nước ngoài Xây dựng và thực hiện các chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa”.

Trong bối cảnh đó, nghiên cứu về tín ngưỡng thờ anh hùng Nguyễn Trung Trực nhằm giới thiệu, quảng bá rộng rãi hơn về cuộc đời, thân thế và sự nghiệp cũng như giá trị của Lễ hội tưởng nhớ Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực Định hướng những vấn đề cần bảo tồn, khai thác và phát huy giá trị di sản văn hoá về tín ngưỡng thờ Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực trong việc phát triển kinh tế du lịch của tỉnh và khu vực đồng bằng sông Cửu Long Thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể trong tín ngưỡng thờ Cụ Nguyễn nhằm phục vụ công tác giáo dục truyền thống cho các the hệ trẻ; xây dựng lễ hội trở thành sản phẩm du lịch văn hóa độc đáo của tỉnh nhằm nâng cao hình ảnh về vùng đất, con người Kiên Giang, góp phần thúc đẩy kinh tế, văn hóa, du lịch phát triển

Vì vậy, học viên chọn đề tài: “Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc

Nguyễn Trung Trực ở tỉnh Kiên Giang hiện nay ” làm luận văn tốt nghiệp cao

học ngành Tôn giáo học của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Vấn đề tín ngưỡng và tín ngưỡng thờ các anh hùng dân tộc đã được một

số học giả từ xưa đến nay nghiên cứu và giới thiệu với góc độ khác nhau Tác giả đã tiếp cận các công trình, tài liệu nghiên cứu đi trước đề tìm hiểu về tín ngưỡng và lễ hội văn hóa của người Việt và việc thực hành tín ngưỡng trong đời sống người dân

2.1 Có thể kể ra một số đầu sách, bài báo, chuyên đề khoa học, nhiều góc độ tiếp cận khác nhau về vấn đề này như: Việt Nam văn hóa sử cương của tác giả Đào Duy Anh (1951), Le hội truyền thống và hiện đại của tác giả Thu Linh - Đặng Văn

4

Trang 9

Lung (2012), Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại, của các tác giả

GS Đinh Gia Khánh - GS.TS Lê Hừu Tầng (2009) , Đình miếu vá lễ hội dân gian của tác giả Sơn Nam (1998), 60 lễ hội truyền thong Việt Nam của tác giả

Thạch Phương - Lê Trung Vũ (2001), Một số giải pháp quản lý lễ hội dân gian của

tác giả Hoàng Nam (tạp chí Văn hoá nghệ thuật 2015), Văn hóa ấm thực trong lễ

hội truyền thống Việt Nam của TS Nguyễn Quang Lê, (2009) Hỏi đáp về lễ hội truyền thống Việt Nam của nhóm tác giả Lê Trung Vũ (2017) Trong quá trinh

miêu tả các lễ hội, đi sâu giải mã về tín ngưỡng, tâm linh, các tác giả đã nghiên cứu

về các hoạt động văn hóa trong lễ hội tạo nên một nét đẹp đa dạng phong phú giàu tính nhân văn sâu sắc

Trong cuốn “Vãn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ” của nhà nghiên cứu

Trần Ngọc Thêm (2014), tác giả đã trình bày những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ, nhiều khung lý thuyết của công trình này làm cơ sở lý luận và nhũng chỉ dẫn quý giá để tác giả luận văn định hướng cho quá trình tiếp cận và khảo cứu một cách có cơ sở và toàn diện với đối tượng nghiên cứu của mình Trong nội dung chương II có nhấc đến đình làng và tín ngưỡng thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh ở Nam Bộ, tuy nhiên chỉ nêu khái quát chung

về đình làng ở Nam Bộ và quá trình du nhập cũng như ý nghĩa của việc thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh

Nghiên cứu về tín ngưỡng có bài viết của PGS.TS Bùi Quang Thanh “Sức

lan tỏa của tín ngưỡng thờ củng Hùng Vương” (2017) tác giả khẳng định Tín

ngưỡng thờ cúng Hùng Vương - Di sản văn hóa phi vật thế đại diện của nhân loại, là biếu trưng của lòng thành kính, sự tri ân của nhân dân ta với công đức các Vua Hùng - những người có công dựng nước Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ không chỉ hội tụ văn hóa tâm linh và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc mà còn có sức lan tỏa mạnh mẽ trên khắp các vùng, miền của đất nước Việt Nam

5

Trang 10

Theo PGS.TS Nguyễn Tri Nguyên: lễ hội nói chung, đặc biệt các lễ hội

cổ truyền, đều xuất phát từ nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân, thường diễn ra như một cơ hội để con người thể hiện tấm lòng sùng kính của mình với đức tin mà mình đã chọn Nói một cách khác, tín ngưỡng và lễ hội có một mối quan hệ mật thiết với nhau

Trong công trình nghiên cứu của mình tác giả Nguyễn Văn Bốn cho rằng: Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng là hai vấn đề đã và đang được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và lý giải Ở Việt Nam có những hiện tượng tín ngưỡng nếu xét theo các tiêu chí của tôn giáo thì chúng không đáp ứng đầy

đủ Có nhà nghiên cửu không thừa nhận thuật ngừ này mà gọi là các tôn giáo nguyên thủy, hay các tôn giáo sơ khai Tuy nhiên, sự phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng đôi khi chỉ mang tính tương đối Trong đời sống xã hội và trong ngôn ngữ, cả hai thuật ngừ tôn giáo, tín ngưỡng đều tồn tại Nói đến tín ngưỡng là nói đến quá trình thiêng hóa một nhân vật, hiện tượng được con người gửi gắm niềm tin Quá trình ấy có thể đi kèm theo là huyền thoại hóa, lịch sử hóa nhân vật phụng thờ

2.2 Đối với đề tài nghiên cứu tín ngưỡng ở Tỉnh Kiên Giang, đặc biệt

là tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực hiện nay chưa có nhiều và chưa nghiên cứu sâu Chỉ có thể tìm thấy hình ảnh của cuộc khởi nghĩa và thủ lĩnh Nguyễn Trung Trực qua một số thư tịch và các công trình nghiên cứu chủ yếu sau:

Lịch sử 80 năm chống Pháp của Trần Huy Liệu (2003), NXB Khoa học

xã hội, Hà Nội Tác giả nghiên cứu lịch sử đấu tranh chống Pháp của nhân dân Việt Nam từ năm 1858 đến khi Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập Dựa vào tài liệu này tác giã có thể tìm hiểu bối cảnh lịch sử đất nước ở thế kỉ XIX, đặc điểm của các cuộc khởi nghĩa chống xâm lược trong đó có khởi nghĩa cùa Nguyễn Trung Trực

6

Trang 11

Đại cương lịch sử Việt Nam - tập II, Đinh Xuân Lâm (chủ biên)(2006),

NXB Giáo Dục Ở chương I - Phần Một các tác giả đã nghiên cứu lịch sử Việt Nam từ 1858 - 1896 Ớ tài liệu này quá trình đấu tranh chống xâm lược của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp được miêu tả một cách khá chi tiết, nhưng cuộc kháng chiến của Nguyễn Trung Trực không được đề cập nhiều

Các tài liệu của các tác giả người Pháp cũng rất đáng lưu ý như Paul Vial, Jean Bouchet, Alfred Sebreiner Nhưng nhiều nhất là của Paul Vial nguyên là Giám đốc Sở nội vụ của Thống đốc Nam kỳ, người có điều kiện nắm bắt mọi sự kiện lịch sử xảy ra ở Nam Kỳ vào thời đó Ông đã viết nhiều

tập truyện với nhan đề “Những năm đầu Đông Dương thuộc Pháp’’ Tuy

nhiên, nguồn tài liệu này mang nhiều tính chủ quan vì trong bài viết ông đứng trên quan điểm của người Pháp, người cai trị

Nhìn chung, các tài liệu lịch sử của Việt Nam ghi chép về Nguyễn Trung Trực còn thưa thớt, tài liệu của Pháp thì mới chỉ là một góc nhìn, còn các truyền thuyết và giai thoại lại cần phải chọn lọc Ớ lĩnh vực nghiên cứu về thân thế cũng như sự nghiệp về anh hùng Nguyễn Trung Trực có thể kể đến những tác phẩm của Nhà giáo Lê Quang Khai (bút danh Vĩnh Xuyên) ở Kiên Giang Đó là:

Nguyễn Trung Trực (thân thể và sự nghiệp), NXB Mũi Cà Mau, 2000

Nguyễn Trung Trực - Cuộc đời và sự nghiệp, NXB Văn nghệ, TP HCM,

2008 Hai tài liệu này cơ bản về nội dung nghiên cứu gần giống nhau Tác giả

đã giới thiệu về tiểu sử, gia phả, sự nghiệp cũng như một sổ truyền thuyết được người dân địa phương truyền miệng về Nguyễn Trung Trực một cách khá chi tiết Đây là nguồn tài liệu rất có giá trị cho những người muốn nghiên cứu về anh hùng Nguyễn Trung Trực

Nguyễn Trung Trực (diễn ca), NXB Mũi Cà Mau, 2000 Trong đó tác giả miêu tả lại tất cả cuộc đời, sự nghiệp, những địa danh, nhân vật cũng như

7

Trang 12

những sự kiện lịch sử có liên quan đến Nguyễn Trung Trực Đây là quyển sách mà tác giả Vĩnh Xuyên thể hiện lịch sử thông qua thơ ca, bằng cách này lịch sử được tái hiện một cách dễ đọc, dễ hiểu dễ nhớ nhưng vẫn đảm bảo được tính chân thực lịch sử.

Tuy nhiên, ở các tác phẩm này, tác giả chưa đi sâu vào nghiên cứu chi tiết, toàn diện cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực mà chủ yếu là miêu tả lại hai chiến thắng tiêu biểu của Nguyễn Trung Trực là đốt tàu giặc trên sông Nhật Táo và đánh chiếm đồn Rạch Giá

Nguyền Trung Trực - Anh hùng khảng chiến chống Pháp của Giang Minh Đoán (1991) - một nhà giáo kỳ cựu ở Kiên Giang viết trong quá trình sưu tập tài liệu, đi khảo cứu một số đình, đền, các di tích thờ phụng cụ Nguyễn trên đất Rạch Giá - Hà Tiên cũ, cùng những chuyện ghi chép được từ các kỳ lão - NXB TP.HCM Tác giả cũng trình bày về tiểu sử, chiến công của

cụ Nguyễn

Anh hùng kháng Pháp Nguyễn Trung Trực của Nguyễn Văn Khoa

(2001), NXB Trẻ, TP.HCM Tác giả là người con của mảnh đất Kiên Giang Với sự hiểu biết và qua quá trình nghiên cứu tác giả cũng góp thêm một số ý kiến cá nhân cũng như một số phát hiện mới về thân thế của Nguyễn Trung Trực Đặc biệt, ở tài liệu này tác giả còn miêu tả quá trình chiến đấu của Nguyễn Trung Trực tại Thủ Thừa và Vàm Răng mà rất ít tài liệu đề cập đến những hoạt động này Tuy nhiên như đã nói, trong tài liệu này tác giả đưa ra nhiều ý kiến chủ quan của bản thân Vì vậy khi tham khảo cần có một thái độ khách quan và phải dựa vào những sự kiện lịch sử khác

Công trình Tìm hiểu Kiên Giang của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh

Kiên Giang do Dương Tấn Phát chủ biên (1986) Đây là nguồn tài liệu rất quí cho những người muốn nghiên cứu, tìm hiểu về lịch sử hình thành và phát triển của tỉnh Kiên Giang trên tất cả các lĩnh vực Trong đó, tài liệu cũng có

8

Trang 13

một phần trình bày về cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trục tại Kiên Giang cũng như sự thờ củng Ông ở địa phương.

Kỷ yếu Hội thảo khoa học Nguyễn Trung Trực do Bảo Tàng Kiên Giang tổ chức (1989) Tham dự hội thảo có các nhà nghiên cứu, các nhà sử học, khoa học và những người quan tâm đến cuộc đời và sự nghiệp của anh hùng Nguyễn Trung Trực Tuy nhiên, trong tham luận của những người tham

dự hội thảo, có những ý kiến khác nhau về một số vấn đề chẳng hạn về tiểu

sử, quê hương, hoạt động nhưng đây là nguồn tư liệu rất có giá trị trong việc nghiên cửu sâu hơn về Nguyễn Trung Trực và cuộc kháng chiến của Ông ở miền Tây Nam bộ

Tất cả các tài liệu kể trên có thể tham khảo để nghiên cứu về thân thế, cuộc đời và sự nghiệp của anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực, tuy nhiên cho tới nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực

Vì vậy, trong luận văn của mình tác giả sẽ kế thừa, tiếp thu và nghiên cứu các hoạt động diễn ra trong lễ hội, tìm hiểu về nhân vật anh hùng Nguyễn Trung Trực, những giá trị lịch sử, văn hóa của văn hóa tín ngưỡng thờ và lễ hội tưởng nhớ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực nhằm góp phần nghiên cứu một cách sâu sắc về tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực

ở tỉnh Kiên Giang hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn• • • C7 •

3.1 Mục đích

Làm rõ tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực, các giá trị của tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực trong đời sống người dân hiện nay nhằm góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực của tĩnh Kiên Giang

9

Trang 14

3.2 Nhiệm vụ• •

- Sưu tầm, khảo sát các tư liệu liên quan đến tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực; xác định ý nghĩa lịch sử - văn hóa và những nét đẹp độc đáo của tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực

- Phân tích quá trình hình thành và thực hành tín ngưỡng ở lễ hội anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực ở tỉnh Kiên Giang

- Phân tích thực trạng vấn đề khai thác, bảo tồn giá trị văn hóa trong tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực hiện nay

- Kiến nghị và đề xuất các giải pháp tổng thể, đồng bộ và thiết thực nhằm khai thác, bảo tồn giá trị văn hóa trong tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực; Đề xuất giải pháp phát huy tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực trong lễ hội và đời sống của người dân Kiên Giang hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính là tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực ở tỉnh Kiên Giang hiện nay và một số tỉnh lân cận

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Giới hạn về nội dung nghiên cứu: các hoạt động, các giá trị văn hóa tiêu biểu trong tín ngưỡng, thực hành tín ngưỡng liên quan đến việc thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực hiện nay

- Giới hạn về phạm vi không gian nghiên cứu: tín ngưỡng, thực hành tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực ở trong phạm vi các di tích tại tỉnh Kiên Giang So sánh việc thực hành tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc ở một sổ nơi trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long

- Giới hạn về phạm vi thời gian nghiên cứu: Đánh giá quá trình hình thành và nghi thức thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực từ năm 1998 đến nay

10

Trang 15

5 Co' sỏ' lý luận và phưong pháp nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận: Luận văn vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét giá trị tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực ở tỉnh Kiên Giang

Phương pháp cụ thể: Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành, đa ngành như: tôn giáo học, văn hóa học, dân tộc học, xã hội học, quản lý văn hóa; phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, phương pháp nghiên cứu tư liệu,

Đe thực hiện luận văn này, tác giả đã sử dụng kết hợp các phương pháp:

Phương pháp tổng hợp nhiều nguồn tài liệu theo phương pháp luận Mác-xit, nguồn tài liệu nghiên cứu của các nhà sử học Miền Nam, các nghiên cứu của người Pháp, các kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa Phương pháp đối chiếu, so sánh giữa các nguồn tư liệu, từ đó tiếp tục phân tích rút ra nhận thức Phương pháp điền dã, nghiên cứu trên thực địa, thu thập tư liệu, phương pháp phỏng vấn chuyên sâu bàng mẫu phiếu điều tra

6 Đóng góp mói của luận văn

6 ĩ Đóng góp về mặt lý luận

Luận văn là công trình đầu tiên giới thiệu một cách có hệ thống đầy đủ nội dung tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực; Làm rõ tính phong phú, đặc sắc của tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc

11

Trang 16

Thông qua luận vãn nhăm bô sung thêm những luận cứ khoa học góp phần đưa ra những đề xuất phát huy các giá trị văn hóa của tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực.

6.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

Kết quả đề tài nghiên cứu là kênh tham khảo giúp cho nhân dân địa phương hiểu đúng nội dung, ý nghĩa, giá trị văn hóa, lịch sử qua tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc nói chung và thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực Qua đó nâng cao tính đoàn kết, cố kết cộng đồng, tình yêu quê hương, góp phần vào việc giáo dục truyền thống yêu nước, tính năng động sáng tạo, giữ gìn nếp sống văn hóa trong hoạt động tín ngưỡng

Dự báo xu hướng vận động và phát triển tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc nhằm đưa ra những khuyến nghị góp phần phát huy các giá trị văn hóa tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực

Đưa ra những đề xuất trong công tác quản lý nhằm phát huy các giá trị văn hóa của tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực

Công trình là tài liệu tham khảo cho những nhà nghiên cứu, quản lý và những ai quan tâm đến lĩnh vực tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc, đặc biệt là tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc ở tỉnh Kiên Giang, cũng như việc bảo tồn và phát huy giá trị tín ngưỡng văn hóa truyền thống của dân tộc

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn được chia làm 3 chương, 12 tiết

12

Trang 17

Chương 1.

MỘT SÓ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỤC TIỄN VỀ• • •TÍN NGƯỞNG THỜ ANH HÙNG DÂN TỘC Ở TỈNH KIÊN

GIANG

1.1 Tổng quan tỉnh Kiên Giang

1.1.1 Đặc điểm về địa lý, kỉnh tế, văn hóa, xã hội

Kiên Giang là một tỉnh ven biển thuộc đồng bằng Sông Cửu long, có 15 huyện, thị, thành phổ; diện tích của Kiên Giang lớn nhất so với các tỉnh trong vùng: 6.348,5 km2, dân số 1.714.100 người, mật độ 272 người/km2, có 03 dân tộc Kinh, Khmer, Hoa

Trung tâm tỉnh là thành phố Rạch Giá, cách thành phố Hồ Chí Minh

250 km về phía Tây, cách thủ đô Hà Nội 1.967 km Kiên Giang tiếp giáp Campuchia ở phía Bắc với đường biên giới dài 56,8 km và vịnh Thái Lan ở phía Tây có đường bờ biển dài hơn 200 km

Kiên Giang được nhiều người biết đến là vùng đất văn hoá và du lịch nổi tiếng ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu long, là quê hương của thi sĩ Đông

Hồ, nơi phát tích của Tao Đàn Chiêu Anh Các vang bóng một thời Cảnh đẹp của Kiên Giang ngày xưa từng được ca ngợi qua "Hà Tiên thập vịnh" Đen ngày nay Kiên Giang được nhiều người biết đến qua danh thắng du lịch nổi tiếng là Hòn Phụ Tử, Hà Tiên và đảo Phú Quốc Ngoài ra, Kiên Giang còn có tiềm năng kinh tế với nguồn lợi vô cùng to lớn về thuỷ sản Tỉnh lỵ của Kiên Giang là Thành phố Rạch Giá, Thành phố Phú Quốc một thành phố biển duy nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long Nằm tận cùng phía tây nam của Tổ Quốc, trong đó lãnh thổ bao gồm đất liền và biển đảo Phần đất liền nằm trong tọa

độ từ 9°23'50 - 10°32'30 vĩ Bắc và từ 104°26'40 - 105°32'40 kinh Đông Phía Bắc giáp Campuchia, đường biên giới dài 56,8 km, phía Nam giáp tỉnh Bạc

13

Trang 18

Liêu và tỉnh Cà Mau, phía Tây giáp vịnh Thái Lan, phía Đông tiêp giáp với các tỉnh là An Giang, thành phố cần Thơ và tỉnh Hậu Giang Phần hải đảo nằm trong vịnh Thái Lan bao gồm có hơn 100 hòn đảo lớn nhỏ, lớn nhất là đảo Phú Quốc và xa nhất là quần đảo Thổ Chu Kiên Giang có đủ các dạng địa hình từ đồng bằng, núi rừng và biển đảo Trong đó, phần đất liền có địa hình tương đối bằng phẳng, thấp dần từ đông bắc xuống tây nam Do nằm ờ vĩ

độ thấp và giáp biển nên Kiên Giang có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm nhiệt độ trung bình hàng tháng từ 27 - 27,5°c Kiên Giang không chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão nhưng lượng nước mưa do bão chiếm một tỷ trọng đáng kể, nhất là vào cuối mùa mưa Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.600 - 2.000 mm ở đất liền và 2.400 - 2.800 mm ở vùng đảo Phú Quốc Khí hậu Kiên Giang rất ít thiên tai, không rét, ánh sáng

và nhiệt lượng dồi dào, nên rất thuận lợi cho nhiều loại cây trồng và vật nuôi sinh trưởng và phát triển tốt

Kiên Giang có 4 vùng đất đai chính là vùng phù sa ngọt thuộc tây sông Hậu, vùng phèn ngập lũ thuộc tứ giác Long Xuyên, vùng nhiễm mặn thuộc vùng u Minh Thượng và vùng đồi núi, hải đảo ở hai huyện Phú Quốc và Kiên Hải Trong đó, Đất nông nghiệp, chiếm 64,2% diện tích tự nhiên, đất rừng chiếm 122,8 nghìn ha, đất chuyên dùng 35,4 nghìn ha, đất ờ 10,1 nghìn ha Ngoài ra tỉnh còn có trên 70 nghìn ha đất hoang hoá chưa sử dụng và hơn 25 nghìn ha vườn tạp Rừng tại Kiên Giang rất ít, chủ yếu là rừng phòng hộ Kiên Giang là tỉnh có tiềm năng khoáng sản tương đối lớn mặc dù đang ở mức thăm dò, nghiên cứu nhưng bước đầu đã xác định được 152 điểm quặng

và 23 mỏ khoáng sản các loại khác Trữ lượng đá vôi toàn tỉnh hiện có 440 triệu tấn, có khả năng khai thác 342 triệu tấn, trong đó trừ lượng khai thác

14

Trang 19

công nghiệp là 235 triệu tân, đủ nguyên liệu đê sản xuât 4,6 triệu tân clinker/năm trong suốt 40 năm Than bùn, ước tính còn khoảng 150 triệu tấn.

Nen nông nghiệp của Kiên Giang là nông nghiệp trồng lúa nước Đất canh tác không tập trung nhung phần lớn phân bố ở ven các trung tâm huyện, thị trong tỉnh, Xen kẽ với việc trồng lúa nước là các loại hoa màu và một số cây có giá trị kinh tế cao như dừa, khóm và một số cây ăn trái khác

Kiên Giang có nghề đánh bắt thủy hải sản phát triển Với bờ biển dài trên 200 km, có diện tích biển khoảng 63.000 km2, Kiên Giang tiềm năng rất phong phú để phát triển kinh tể biển Đây là lình vực mà tỉnh có lợi thể hơn hẳn so với nhiều tỉnh khác trong vùng đồng bằng sông Cửu Long Nước mắm Phú Quốc là một thương hiệu nước mắm nổi tiếng không những trong phạm

vi cả nước mà còn trên bình diện quốc tế

Là tỉnh nằm tận cùng về phía tây nam của Tổ Quốc, nơi giao thoa văn hóa của nhiều vùng miền cả nước, bán sắc văn hoá tỉnh nhà cũng vì thế mà rất phong phú, đa dạng, thể hiện qua các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, ẩm thực,

lễ hội, làng nghề truyền thống Văn hóa ẩm thực ở đây cũng rất phong phú,

đa dạng với hàng trăm món ăn các loại với các đặc sản như Cá nhồng, Nước mắm Phú Quốc, Cháo môn, Sò huyết Hà Tiên, Bún cá Kiên Giang

Hằng năm trên địa bàn tỉnh diễn ra nhiều lễ hội đặc sắc, nhưng đặc biệt nhất là lễ hội anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực, diễn ra vào tháng Tám

âm lịch hàng năn thu hút hàng ngàn lượt khách trong và ngoài tinh đến tham gia Các làng nghề truyền thống rất đặc sắc như đan đệm bàng, dệt chiếu Tà Niên, nắn nồi Hòn Đất, làm hàng thủ công mỹ nghệ bằng đồi mồi, làm huyền phách ở Hà Tiên

Khu dự trữ sinh quyển ven biển và biển đảo Kiên Giang đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới Khu Dự trừ sinh quyển Kiên Giang chứa đựng sự phong phú, đa dạng và đặc sắc về cảnh quan

15

Trang 20

và hệ sinh thái như rừng tràm trên đât ngập nước, rừng trên núi đá, hệ sinh thái biển mà trong đó tiêu biểu là thảm cỏ biển gắn liền với loài động vật quý hiếm là bò biển Khu Dự trữ sinh quyển Kiên Giang trùm lên địa phận các huyện Thành Phố Phú Quốc, An Minh, Kiên Lương và Kiên Hải, có ba vùng lõi thuộc các Vườn quốc gia u Minh Thượng, Vườn quốc gia Phú Quốc, và Rừng phòng hộ ven biển Kiên Lương - Kiên Hải

1.1.2 Đặc điếm của tôn giáo, tin ngưỡng

Kiên Giang cũng là một trong số các tỉnh có nhiều di tích, hiện đã công nhận được 43 di tích và được phân loại như sau:• • • A •

Di tích lịch sử - văn hóa: Các di tích tiêu biểu thuộc loại này Kiên

Giang có chùa Tam Bảo, đình Vĩnh Hòa, đình Thạnh Hòa, đình Nam Thái Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của Anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như đền thờ Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực, Nhà lưu niệm Thi sĩ Đông Hồ, Mộ Nhà thơ Huỳnh Mần Đạt, Mộ Anh hùng lực lượng vũ trang Phan Thị Ràng, Mai Hồng Hạnh

Công trình xây dựng, địa điểm gắn vói sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như khu

di tích cách mạng Hòn Đất, khu di tích căn cứ địa u Minh Thượng, di tích cách mạng Núi Mo So, Chùa Xà Xía, Chùa Phật Lớn, Tháp 4 Sư liệt sĩ, Nhà

Tù Phú Quốc, Nhà tù Hà Tiên

Di tích kiến trúc nghệ thuật: Các di tích tiêu biếu loại này ở Kiên Giang

có chùa Bà Thiên Hậu, Miếu Quan Thánh Đế, chùa Phật Lớn, chùa Sóc Xoài, Nhà cổ Bảo tàng, Mộ Hội đồng Suông

Di tích khảo cổ: Di tích khảo co là những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển của các nền văn hoá khảo cổ Di tích khảo cổ ở Kiên Giang là những di chỉ lưu giữ những dấu tích về quá trình

16

Trang 21

hình thành, phát triên của người Việt cô trên đât Kiên Giang mà đa phân thuộc về nền văn hóa Óc Eo bao gồm hang động, gò đồi, giồng đất Các hiện vật khai quật từ các di chì khảo cố trên được lưu giữ trong Bảo tàng tỉnh

Di chỉ khảo cồ ở Kiên Giang được chia làm 3 loại di chỉ cư trú và di chỉ mộ táng điển hình như di chỉ khảo cổ Giồng Xoài, Đá Nổi, Nền Chùa, Cạnh Đền

Di tích thắng cánh: Các di tích tiêu biếu thuộc loại này như danh lam thắng cảnh Thạch Động, Đá Dựng, Núi Bình San, Bãi Dương-Hòn Phụ Tử, Bãi Mũi Nai

Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của trái đất Khu dự trà sinh quyển Kiên Giang bao trùm liên địa bàn các huyện Thành Phố Phú Quốc,

An Minh, Vĩnh Thuận, Kiên Lương và Kiên Hải Có 3 vùng lõi thuộc các Vườn Quốc gia u Minh Thượng, Phú quốc và rừng phòng hộ ven biển Kiên Lương - Kiên Hải Khu dự trữ sinh quyền thế giới Kiên Giang có sáu hệ sinh thái đặc thù, hệ động thực vật có khoảng 2.340 loài, trong đó 1.480 loài thực vật với 116 loài quý hiếm được ghi trong sách đở và 57 loài đặc hữu; khoảng

860 loài động vật với 78 loài quý hiếm, 36 loài đặc hữu

1.1.3 Tín ngưỡng thờ các vị anh hùng dân tộc trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

Một trong những đặc điểm văn hóa của người dân Kiên Giang từ ngàn xưa đến nay là có niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng và thực hành niềm tin ấy bằng

sự thờ cúng lòng tín ngưỡng ấy biếu hiện rõ ràng một phần qua các thời kì lịch sử, người dân Kiên Giang cũng như người Việt Nam đã sẵn sàng đón nhận các nền văn hóa và các tôn giáo truyền từ nước ngoài vào nước ta, như: Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo, Công giáo, Islam , hoặc là đã thành tâm tin theo Cao Đài giáo và Phật giáo Hòa hảo mới được sáng lập sau này

17

Trang 22

Bên cạnh đó tín ngưỡng dân gian mà biêu hiện là sự thờ cúng các vị thần linh cũng được người dân Kiên Giang tôn thờ.

Bàn về thời điếm xuất hiện và các đối tượng sùng mộ của các tín ngưỡng nơi người Việt Nam, học giả Đào Duy Anh đã viết: “ ta có thề đoán rằng tổ tiên ta ớ đời thượng cổ tín ngưỡng một thứ tự nhiên đa thần giáo, tin rằng phàm các hiện tượng và thế lực tự nhiên ở trong vũ trụ, như trời đất, mưa gió, núi sông, đều có thần linh chủ trương Có lẽ người ta tưởng rằng linh hồn người chết thường đi lại với người sống Những tín ngưỡng ấy về sau chịu ảnh hưởng của những điều tín ngưỡng qủy thần của Trung quốc mà thành nguồn gốc tôn giáo của nước ta” [1-201,201]

Một tác giả Tây phương, Linh mục Leopold Cadière, cũng đưa ra kết luận cho công trình nghiên cứu về các tín ngưỡng của người Việt Nam như sau: “Đen đây, ta thừ xác định xem tôn giáo của người Việt Nam là gì Có hai tôn giáo chính, (một) là tôn giáo thờ thần, tôn giáo này có hai đối tượng vì sự thờ cúng có thể hướng về các lực lượng thiên nhiên được ngôi vị hóa, và có thề hướng về những linh hồn người chết mà tôi hiểu đó là sự thờ cúng các anh hùng, các vong hồn và tổ tiên Tôn giáo này có hai cách thực hành, tùy theo

sự thờ cúng có tính cách tôn giáo thì gọi là Khổng giáo hoặc có tính cách ma thuật thì gọi là Lão giáo Bên cạnh tôn giáo chính này, có một tôn giáo thứ hai, đó là Phật giáo’

Người dân Kiên Giang có tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc có mấy nguyên nhân sau: một là vì họ tin vào linh hồn thuyết, hai là vì lòng nhớ ơn công lao hiển hách của các vị anh hùng hi sinh vì nghĩa lớn đối với đất nước,

ba là vì muốn noi gương các đức tính trung can, nghĩa khí của các vị anh hùng dân tộc

Sự thờ cúng các danh nhân và anh hùng là một trong ba sự thờ cúng các nhân thần, vì thế sự thờ cúng này sẽ có do (tin vào linh hồn thuyết) với sự thờ

18

Trang 23

cúng tô tiên và sự thờ cúng các vong hôn, đông thời (nhớ công ơn của các vị) tương tự sự thờ cúng tổ tiên.

Việt Nam văn hóa sử cương của Đào Duy Anh viết: “Theo tín ngưỡng

ấy thì người ta sống là nhờ hồn phách phụ vào thân thể Hồn là cái linh phụ vào phần khí của người, là phần khinh thanh, người ta chết thì bay lên không; còn phách là cái linh phụ vào phần hình của người, là phần trọng trọc, khi người ta chết thì tiêu xuống đất

Chính niềm tin con người ta có linh hồn và linh hồn trường tồn sau khi chết, linh hồn vẫn phảng phất đâu đây, vẫn giao cảm cùng cõi nhân sinh, đã khiến cho người dân Kiên Giang thờ cúng tố tiên, thờ cúng các danh nhân, anh hùng Đó còn là vì lòng nhớ ơn công lao hiển hách cùa các danh nhân, anh hùng

Người dân Kiên Giang thờ cúng anh hùng dân tộc chính là lòng cảm phục các đức tính đặc biệt của các ngài và mong muốn noi gương các ngài Ta

có thể thấy sự thờ cúng các danh nhân, anh hùng còn mang tính giáo dục

Đó cũng là nhận định của giáo sư Lê Hữu Mục trong phần Dần nhập bản dịch cuốn Việt Định u Linh Tập của ông: “Theo tác giả (tức Lí Tế Xuyên) thì thần thánh có ai là xa lạ đâu Đó là những người trần mắt thịt như tất cả chúng ta, chỉ khác một điều là các người ấy đã sống một đời sống siêu phàm, trong sự cần lao cam khổ, trong sự phục vụ tích cực, trong nỗ lực chống lại sự quyến rũ cùa vật chất; thần thánh là những người đã sống hết tất

cả kích thước của người, tận cùng biên giới nhân loại Đến trình độ ấy, giá trị của con người tự nhiên được gia tăng, con người có thể tham dự vào đời sống linh thiêng để tiếp tục quảng bố ơn cương thường như trước, đến giai đoạn này, các vị anh hùng xứng đáng được lòng ngưỡng mộ sùng kính của nhân dân Việc có đền miếu phụng tự trở thành một điều kiện phải có Ta không lạ

gì khi thấy có nhiều vị thần hiển linh như muốn được hưởng tế tự lâu dài Thần thánh là kiểu mẫu lý tưởng của nhân dân, họ cần được sự phù trợ của

19

Trang 24

thần, nhưng hơn hết tất cả, họ mong muốn được nên giống như thần thánh, có can đảm chống lại dục vọng của họ đề đi lên cao hơn” [38-22,23],

Ớ Kiên Giang, tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc qua khảo sát cho thấy nổi lên hai điểm:

77/í? nhất, thờ Trần Hưng Đạo ở huyện Hòn Đất tỉnh Kiên Giang:

Cứ vào ngày 18, 19, 20 tháng 8 âm lịch hàng năm, Đảng ủy, ủy ban nhân dân xã Sơn Kiên, huyện Hòn Đất long trọng tổ chức lễ giỗ Thánh Đức Trần Hưng Đạo theo nghi thức truyền thống, nhằm bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các vị tiền bối đã có công dựng nước và giữ nước

Tại huyện Hòn Đất, từ năm 1941, nhân dân tại kênh 3, ấp Di Dân, xã Sóc Sơn (tiền thân xã Nam Thái Sơn ngày nay) xây dựng và thờ cúng theo tục

lệ, đến năm 1994 đền thờ được người dân dời về ấp Tà Lóc, xã Sơn Kiên, huyện Hòn Đất Hàng năm, tại đền diễn ra 2 lễ hội lớn là lễ Kỳ yên vào ngày 10-3 âm lịch và lễ giỗ Đức thánh Trần Hưng Đạo vào ngày 20-8 âm lịch thu hút hàng ngàn du khách trong và ngoài huyện đến dự lễ

Theo ông Thẩm Văn Thuận - Phó Trưởng ban bảo vệ Đền thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo xã Sơn Kiên, huyện Hòn Đất cho biết: lễ giồ hàng năm

sẽ diễn ra trong 3 ngày gồm: phần Lễ và phần Hội Trong đó, phần Lễ được tổ chức theo nghi thức truyền thống của dân tộc; Ở phần Hội: Trung tâm văn hóa thể thao huyện Hòn Đất phối hợp với Hội người cao tuổi tổ chức giao lưu Dờn ca tài cử, ca múa nhạc, biểu diễn thể dục dưỡng sinh, múa lân sư rồng, các trò chơi dân gian, bóng chuyền hơi nam, bóng chuyền hơi nữ, ném bóng vào rổ và đá bóng vào cầu môn nam - nữ phối họp

Với truyền thống “Uống nước, nhớ nguồn”, trong những năm qua, các cấp ủy, chính quyền và nhân dân trong xã Sơn Kiên, huyện Hòn Đất đã có nhiều đóng góp cả về vật chất, lẫn tinh thần để tôn tạo và phát huy giá trị lịch

sử - văn hóa của Đen thờ Qua đó, nhằm ghi nhớ công lao to lớn của vị anh

20

Trang 25

hùng dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tô quôc Đây không những

là dịp để mọi người dân ghi nhớ công ơn to lớn của các bậc tiền bối mà còn là trách nhiệm của các thế hệ trong việc gìn giữ và phát huy giá trị truyền thống của dân tộc Bà Nguyễn Thị T - Người dân ấp số 8, Son Kiên, huyện Hòn Đất chia sẻ, cả chục năm nay, mồi khi sắp diễn ra lễ giỗ, cô cùng nhiều người khác sắp xếp công việc nhà đế dành thời gian đến đây quét dọn, chình trang khuôn viên Đền thờ cho sạch đẹp, thề hiện sự trang nghiêm và tôn kính đối với các bậc tiền nhân [69],

Thứ hai, thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực: Đình thần Nguyễn Trung Trực hay Đen thờ Nguyễn Trung Trực tọa lạc ở phía Tây trung tâm thành phố Rạch Giá, là ngôi đình thờ Nguyễn Trung Trực sớm nhất và lớn nhất trong số mười bốn ngôi đền thờ ông trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, hiện nằm ở số 14 đường Nguyễn Công Trứ, phường Vĩnh Thanh, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, Việt Nam

Sau khi Nguyễn Trung Trực bị thực dân Pháp xử chém ngày 27 tháng

10 năm 1868 tại chợ Rạch Giá, những người dân yêu kính ông đã bí mật thờ ông trong đền thờ Nam Hải đại tướng quân (cá voi hay cá ông)

Ở tỉnh Kiên Giang có khoảng 14 đền thờ Cụ Nguyễn tại thành phố Rạch Giá, xã Mỹ Lâm (huyện Hòn Đất), đình Tà Niên (huyện Châu Thành), Phú Quốc Với truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, hàng năm, vào ngày 26, 27 và 28 tháng Tám (âm lịch), nhân dân Kiên Giang và đồng bào khắp nơi lại hội tụ về Rạch Giá tổ chức kỷ niệm ngày hy sinh của Cụ Nguyễn đế bày tỏ lòng tri ân, thành kính đối với người con bất khuất, kiên trung của đất nước

Ban đầu, đây chỉ là một ngôi đền nhỏ bằng gỗ, mái lợp lá do dân chài dựng nên bên dòng sông Kiên (phía trước mặt) và rạch Lăng Ông (từ cổng đền nhìn vào, ở phía bên trái) và chì cách Biển Đông độ chừng trăm mét

21

Trang 26

Lễ hội gắn với chiến công trận đốt cháy tàu Espérance trên vàm Nhật Tảo năm 1861 và lần đầu tiên tiêu diệt đồn lũy đàu não của giặc Pháp ngay tại tỉnh lỵ Rạch Giá vào năm 1868, và tên tuối của người Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực Nhà thơ yêu nước Huỳnh Mần Đạt đã tự hào ca ngợi khí phách Anh hùng của Nguyễn Trung Trực qua 2 câu thơ: “Hỏa hồng Nhật Tảo

oanh thiên địa Kiếm hạt Kiên Giang khấp quỳ thần ”.

Nhiều năm qua, Lễ hội truyền thống Nguyễn Trung Trực đã có sức lan tỏa ngày càng rộng, từ một lễ giỗ bình thường đã được nâng lên thành lễ hội

Lễ hội gồm hai phần, phần nghi lễ trang trọng và thành kính theo nghi thức cổ truyền như: lễ dâng hương, lễ thượng đài kỳ, lễ tế đàn cả, rước sắc thần; phần hội có nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ sôi động, hấp dẫn: trò chơi dân gian, đua xuồng, đập nồi, biểu diễn võ thuật, chơi cờ, thi múa Lân - Sư - Rồng, thả đèn hoa đăng, thi ẩm thực, triển lãm thư pháp, triển lãm ảnh đường phố, giao lun văn nghệ giữa 03 dân tộc Kinh, Hoa, Khmer Mồi năm số lượng người dân về dự lễ hội ngày càng tăng

Lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực mang những nét văn hóa đặc sắc và là lễ hội có quy mô lớn nhất của tình Kiên Giang So với các

lễ hội khác thì đây là lễ hội có quy mô hoành tráng, thể hiện những nét đặc trưng của tính cộng mệnh, cộng cảm, cộng sinh với nhiều hoạt động đa dạng, phong phú, ý nghĩa Lễ hội mang nhiều yếu tố tích cực, những giá trị nhân văn sâu sắc nhằm giáo dục con người hướng tới những giá trị chân - thiện - mỹ, đó là tinh thần cộng đồng, tinh thần tương thân, tương ái, tinh thần đoàn kết xây dựng quê hương đất nước, đồng thời giáo dục con người đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, đó là truyền thống tốt đẹp của dân tộc Đen với lễ hội, du khách còn được thỏa mãn nhu cầu văn hóa tâm linh Có thể thấy, hiếm có một lễ hội nào mà người dân lại tự giác cùng nhau chia sẻ

22

Trang 27

các giá trị tinh thân và vật chât như lê hội Anh hùng dân tộc Nguyên Trung Trực ở tỉnh Kiên Giang.

1.2 Một số vấn đề cơ bản về tín ngưỡng và tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc

1.2.1 Khái niệm tín ngưỡng

Trước nhất, không thể không tìm hiểu tín ngưỡng ở phương diện từ

nguyên Theo Từ điển Hán- Việt của học giả Đào Duy Anh, tín ngưỡng được

giải thích: “Lòng ngưỡng mộ mê tín đổi với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa” [3-283], Tương tự, trong quyển Từ điên Tiếng Việt do Văn Tân (chù

biên), tín ngưỡng nghĩa là: “Tin tưởng vào một tôn giáo: Tự do tín ngưỡng”

[51-1209] Như vậy, ở nghĩa từ nguyên, tín ngưỡng chính là niềm tin tôn giáo ở mỗi con người

Tuy nhiên, mở rộng hơn nữa, nhất là ở các công trình khoa học đã công

bố, qua phân loại một số tài liệu nghiên cứu có được, thì tạm thời có hai nhóm quan điểm khác nhau về khái niệm tín ngưỡng Đây là một vấn đề rất thú vị

và không thể không đi sâu tìm hiểu

Tín ngưỡng dưới góc nhìn của Tôn giáo học, Nhân học

Nhóm quan điểm thứ nhất thì cho rằng tín ngưỡng là trạng thái tâm lý của con người đối với thế lực thiêng, là một bộ phận của tôn giáo và không thể tách rời khỏi tôn giáo, là cơ sở hình thành nên tôn giáo Ớ Việt Nam, một đại diện tiêu biếu của nhóm quan điểm này là Đặng Nghiêm Vạn Trong công

trình Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, ông đã phân tích

khá rõ khái niệm tín ngưỡng với tư cách là đức tin tôn giáo, tín ngưỡng không hoàn toàn tách rời khỏi tôn giáo: “Nếu hiểu tín ngưỡng là niềm tin thì có một phần ở ngoài tôn giáo, nếu hiểu là niềm tin tôn giáo (belief, believe, theo nghĩa hẹp, croyance religieuse) thì tín ngưỡng chỉ là một bộ phận chủ yếu cấu thành của tôn giáo ” [72-88,89] Tác giả còn tỏ thái độ không đồng tình và đề

23

Trang 28

nghị xem xét lại khi coi tín ngưỡng và tôn giáo như hai câp độ thâp, cao bởi vì nếu nhà nghiên cứu tôn giáo đã chấp nhận yếu tố quyết định của một tôn giáo

là đức tin hay niềm tin, thì đó là thước đo duy nhất về tính hơn kém của những tôn giáo trong cộng đồng, và của những tín đồ với tôn giáo cúa họ Và, nếu chấp nhận sự bình đẳng giữa các nền văn hóa (trong đó có tôn giáo) thì không có sự đánh giá tôn giáo này cao hơn tôn giáo khác [72-89,90] Đặc biệt, khi nhắc đến một khái niệm được nhiều người sử dụng là tín ngưỡng dân gian, thì ông lại cho ràng đây chính là một dạng tôn giáo bình dân: “Thuật ngữ đó có thể là cách hiểu tôn giáo theo lối bình dân, nghĩa là theo tập quán, theo dư luận hoặc bị cuốn hút vào các nghi lễ, chứ không theo lối chính thống chủ yếu xuất phát từ việc nghiên cứu giáo lý, suy tư rồi giác ngộ mà theo Hoặc cũng có thể hiểu là các hình thức tôn giáo dân tộc được lưu truyền lại từ

xa xưa, gần gũi với cộng đồng như các lễ hội, các cuộc hành hương, các ngày

lễ với những rước xách, nhảy múa, thậm chí các hình thức bói toán, tướng số Ờ đó có cả tầng lớp trí thức, mặc dù ít tin theo nhưng vần tham gia Ở những lễ hội, đám rước, đó vẫn được đa phần lớp bình dân ở nông thôn hưởng ứng, theo một truyền thống đã có từ lâu trong dân tộc ’’ [72-91] Một điều cần lưu ý là tác giả đã nhắc lại nội hàm khái niệm tôn giáo của các nhà kinh điển cùa chủ nghĩa Mác-LêNin đưa ra là: Các hình thái tôn giáo ra đời từ thuở sơ khai cho đến ngày nay, đều được gọi thống nhất là tôn giáo Neu có chăng và nếu được thì chỉ có thể phân biệt giữa Tô-tem giáo, ma thuật, saman giáo với tôn giáo [72-91], Từ cách tiếp cận này, trong quyển sách trên, Đặng Nghiêm Vạn đã xếp tục thờ Thành Hoàng ờ làng xã, tục thờ Trời của nhà nước phong kiến, nhất là tục thờ ông bà tổ tiên, là nhũng hình thái tôn giáo của Việt Nam và chúng được gọi là hệ thống tôn giáo dân tộc Tiếp theo, trong sách chuyên khảo Nhãn học văn hóa con người với siêu nhiên, xã hội với thế giới siêu nhiên, Vũ Minh Chi - tác giả quyển sách, kế thừa những quan

24

Trang 29

điểm về tôn giáo của các nhà nhân học, nhất là của Durkheim và Tylor, đã phân loại tôn giáo như sau: Khi quan niệm về tôn giáo theo nghĩa rộng, người

ta còn có thể phân loại tôn giáo một cách cổ điển là tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo dân tộc (hay quốc giáo) và tôn giáo thế giới Tôn giáo nguyên thủy là tôn giáo đa số của những người sống trong xã hội chưa có chừ viết, hình thái này cùng với tôn giáo mang tính quốc dân của một số dân tộc cố đại được gọi là tôn giáo dân tộc, dùng với nghĩa đối lập với tôn giáo thế giới Đó là tôn giáo chỉ lưu hành trong một phạm vi dân tộc, trong khi tôn giáo thế giới là tôn giáo khá phồ biến trên thế giới, lưu hành rộng rãi trong nhiều dân tộc, ví dụ Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo [14-277] Qua cách phân loại này của tác giả

đã cho thấy tôn giáo nguyên thủy, tức là các hình thức tín ngưỡng gắn liền nhiều tộc người trên thế giới, trờ thành một bộ phận quan trọng để hợp thành nên tôn giáo dân tộc

Cách tiếp cận của Vũ Minh Chi rất giống với quan điểm ở trên của Đặng Nghiêm Vạn, khi cả hai cùng cho rằng tín ngưỡng là một bộ phận của tôn giáo Mở rộng hơn nữa, trong nhiều công trình của các học giả nước ngoài, tín ngưỡng vần được hiểu là niềm tin và thuộc về tôn giáo E.B.Tylor, một đại diện tiêu biểu của Tiến hóa luận, đã trình bày cặn kẽ quan niệm của

ông về khái niệm tôn giáo trong công trình nổi tiếng Văn hóa nguyên thủy như sau: "Neu trong định nghĩa này, tôn giáo phải mang sự tín ngưỡng đối với thần linh tối cao hay sự phán xét sau khi chết, phải có sự thờ cúng các thần tượng, có tập tục hiến tể, hay có những học thuyết hoặc nghi thức nào tương đổi phố biến, thì tất nhiên phải loại bỏ nhiều bộ lạc ra khỏi phạm trù các bộ lạc có tôn giáo Nhưng vì định nghĩa chật hẹp này có khuyết điểm là

nó đồng nhất tôn giáo trước hết với những biểu hiện tín ngưỡng riêng hơn là với một quan niệm sâu sắc làm cơ sở của chúng Vì thế tốt hơn cả là nên dừng lại ở nguồn gốc chủ yếu này và chấp nhận sự tín ngưỡng đối với những thực

25

Trang 30

thê tâm linh là mức tôi thiêu của tôn giáo Cách giải thích khái niệm tôn giáo của E.B Tylor nhằm chứng minh rằng thuyết vật linh (Animalism) tồn tại ở tín ngưỡng của nhiều tộc người, nó cần được xem là nguồn gốc quan trọng để hình thành nên tôn giáo Tương tự, trong quyển Cành Vàng nổi tiếng, Geogre

Jame Frazer tiếp tục cho rằng tôn giáo là việc cầu phúc hay là việc hòa giải những thế lực cao cấp hơn con người, những thế lực này, như người ta nghĩ, chỉ huy và điều hành dòng chảy của tự nhiên và đời sống con người Tôn giáo được định nghĩa như vậy bao gồm hai thành tố, một mang tính lý thuyết và một mang tính thực hành, biết rằng đó là một tín điều vào những thế lực cao cấp hơn con người và một cố gắng để làm cho những thế lực đó trở thành thế lực bảo hộ hay để làm vừa lòng những thế lực ấy Rõ ràng là tín ngưỡng đến đầu tiên, bởi lẽ chúng ta buộc phải tin vào sự tồn tại của thần thánh trước khi làm vừa lòng những thế lực ấy Nhưng, nếu như tín ngưỡng không dẫn đến việc thực hành tương ứng với nó thì đó không còn là một tôn giáo mà chỉ đơn giản là thần học, Theo câu nói của thánh Jacques, “lòng tin mà không có những hành động chi là lòng tin chết bởi lẽ nó cô độc”.

Vì vậy, khái niệm tôn giáo, được định nghĩa qua Từ điển Nhân học, bao

gồm luôn cả các hình thái tín ngưỡng của con người và chúng được hiểu là tôn giáo không có chừ viết có khi được gọi là “Thuyết vạn vật hữu linh”,

“phiếm thần” và “đa thần”, tồn tại chủ yếu ở châu Phi, Amazonia, Australia

và một số vùng thuộc Malaysia, có niềm tin vào một vị chúa tối cao dù họ có

xu hướng giới hạn tầm quan trọng, đôi khi coi các vị thần ít quyền lực hơn và các đồ vật của thiên nhiên như người Nuer ở Sudan Đẳng cấp tu sĩ không tồn tại trong các tôn giáo phi chữ viết đó, song các quan hệ ít chính thống khó có thể đạt được giữa tín đồ và tu sĩ, người trực tiếp cầu nguyện tổ tiên hay đàm phán với các thần linh thông qua lên đồng, shaman giáo Mặt khác, việc hiến

tế trong tôn giáo không chì duy trì trong các tôn giáo thế giới có chữ viết mà

26

Trang 31

còn ở các tôn giáo địa phương dựa vào truyên miệng, hay giữa tự nhiên và siêu nhiên Các hoạt động khác biệt như hiến tế, pháp thuật, thờ cúng tổ tiên

và sở hữu quỷ thần tạo ra vũ trụ quan con người dùng đế giải thích và tìm hiểu những gì họ trải qua và hy vọng Và, không thể bỏ qua một học giả nổi tiếng tôn giáo của Nga là S.A Tokarev Ông cũng thừa nhận: “Mặc dù bác

bỏ luận thuyết về sự phát triến nội tại của tôn giáo, chúng tôi vẫn không bao giờ phủ định sự tồn tại của những mối liên hệ nguồn gốc giữa các tín ngưỡng Chúng ta đã thấy rõ những tín ngưỡng đó có tính bảo thủ đến mức nào Bất kì một tín ngưỡng nào đã bắt rễ vừng chắc cũng đều tồn tại trong nhân dân rất lâu bền, thậm chí tồn tại ngay cả lúc những điều kiện sản sinh

Tín ngưỡng dưới góc nhìn các nhà nghiên cứu vãn hóa Việt Nam

Bên cạnh đó, một nhóm quan điểm khác thì lại nhấn mạnh đến tín ngưỡng hoàn toàn khác và độc lập với tôn giáo Đầu tiên, không thể không nhắc đến nhà dân tộc học Phan Hữu Dật Trong một bài viết, ông đã phân biệt

27

Trang 32

rất rõ ràng giữa tín ngưỡng và tôn giáo: Lâu nay trên sách báo và trong cuộc sống hằng ngày, ta thường dùng các thuật ngữ tôn giáo, tín ngưỡng, hoặc tôn giáo-tín ngưỡng hay trái lại cố nhiên hai thuật ngữ này có nội dung gàn gũi với nhau Đó là niềm tin dù đó là tin vào lực lượng siêu nhiên một cách chất phác mộc mạc, hay tin vào Đấng Cứu Thế Nhưng tôi nghĩ là không thể đồng nhất chúng với nhau được và cho rằng tín ngưỡng phát triển đen mức nào đó mới thành tôn giáo Ớ cấp độ tín ngưỡng chưa xuất hiện điện thần (hệ thống thần linh, panthénon), chưa có hệ thống giáo lý, chưa có tầng lớp tãng lữ (thầy cúng), chưa có việc xây dựng đền miếu cố định để thờ cúng như sau này đối với tôn giáo dân tộc, tôn giáo khu vực và tôn giáo thế giới [15-322],

Ngoài ra, Trần Ngọc Thêm, dưới góc nhìn của văn hóa học, đã lý giải rất thuyết phục về sự khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo dựa vào bối cảnh, đặc điểm riêng của văn hóa Việt Nam Trong Tìm về bản sắc vãn hóa Việt

Nam, ông xếp tín ngưỡng thuộc về văn hóa tổ chức đời sống cá nhân và đồng thời nhấn mạnh rằng: Khi đời sống và trình độ hiểu biết còn thấp, họ tin tưởng

và ngưỡng mộ vào những thần thánh mà họ tưởng tượng ra Từ tự phát lên tự giác theo con đường quy phạm hóa thành giáo lý, có giáo chủ, thánh đường- tín ngưỡng trở thành tôn giáo Ở xã hội Việt Nam cổ truyền, do mạnh về tư duy tổng hợp mà thiếu óc phân tích nên các tín ngưỡng dân gian chưa chuyển biến hoàn toàn được thành tôn giáo theo đúng nghĩa của nó-mới có những mầm mống của những tôn giáo như thế-đỏ là đạo Ông Bà, đạo Mầu Phải đợi khi các tôn giáo thế giới như Phật giáo, Đạo giáo, Kitô giáo du nhập vào và đến thời điếm giao lưu với phương Tây, các tôn giáo dân tộc (như Đạo Cao Đài, Đạo Hòa Hảo) mới xuất hiện [55-233]

Trong một công trình nói về tín ngưỡng ở Việt Nam, Lê Như Hoa cho rằng: Như vậy, về bản chất, tín ngưỡng cũng như tôn giáo là phương thức nhận thức và cải tạo hiện thực Sự khác nhau giữa chúng và cải tạo hiện thực

28

Trang 33

Sự khác nhau giữa chúng chỉ là những đặc điêm mang tính cách lịch sử Mặt khác, tác giả, dựa vào đặc điểm, đã đề xuất 5 tiêu chí để phân biệt chúng là: Cội nguồn (tín ngưỡng chỉ có thuyết hồn linh, còn tôn giáo thì ngoài thuyết hồn linh còn có vật tồ hoặc thuyết về đấng siêu nhiên khác), đối tượng sùng

bái (tín ngưỡng: Vạn vật hữu linh, đa thần, tôn giáo: Nhất thần), phương thức

thực hành (tín ngưỡng: Ma thuật, tôn giáo: Lễ nghi tôn giáo), í/ữểt chế (tín ngưỡng thì chưa hoàn chỉnh, còn tôn giáo thì hoàn chỉnh về thiết chế vật chất,

có giới tăng lừ, hệ thống nghi thức, nghi vật, nghi trượng hoàn chỉnh, có hệ thống kinh sách, có đạo đức niềm tin, có tình cảm cộng đồng về niềm tin) và cuối cùng là phạm vi ảnh hưởng, khung cảnh xã hội (tín ngưỡng: Hẹp, thường

là các cộng đồng tộc người, ở các xã hội chưa có nhà nước Tôn giáo: Rộng, phổ biến ở các cộng đồng tộc người, quốc gia, thế giới, ở các xã hội có nhà nước) [30-21,22], Và để hiểu hơn về sự khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo thì không thể bỏ qua Luật tín ngưỡng, tôn giáo ban hành năm 2016 có hiệu lực thi hành năm 2018 trong đó đề cập đến khái niệm tôn giáo, tín ngưỡng

Theo đó, hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên, tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng, thờ cúng thần, thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội Còn hoạt động tôn giáo là việc truyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi, quản lý tổ chức của tôn giáo Qua tìm hiểu một số công trình của giới nghiên cứu trong nước và văn bản của nhà nước ta đã cho thấy tín ngưỡng khác với tôn giáo ờ nhiều phương diện Đây là nhóm quan điểm nhấn mạnh việc phân tích sự hình thành tín ngưỡng trong bối cảnh văn hóa truyền thống Việt Nam và dĩ nhiên, điều này hoàn toàn khác

Ngoài hai nhóm quan điểm mang tính cơ bản này, trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa dân gian, vốn rất phong phú, đa dạng và là nền tảng của

29

Trang 34

văn hóa truyên thông Việt Nam, các nhà nghiên cứu hay nhăc đên khái niệm tín ngưỡng dân gian Vì vậy, nó cần được bàn thêm hơn ở đây Cũng theo Lê Như Hoa, trong sách Tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam do ông chủ biên, tín ngưỡng dân gian được hiểu: Là những hình thái tôn giáo sơ khai, chúng được hình thành trên cơ sở tâm cách nguyên thủy (primitive metality) đề nhận thức hiện thực và tác động đến hiện thực bằng các kỷ xảo (các biện pháp ma thuật) của thuyết hồn linh Tín ngưỡng “dân gian” ở đây nhằm phân biệt với những tín ngưỡng, tôn giáo chính thống của những xã hội đã có nhà nước (trước khi

có nhà nước, chưa có sự phân biệt giữa văn hóa dân gian và văn hóa nhà nước, chưa có sự phân liệt giữa tín ngưỡng dân gian và tôn giáo chính thống) [30-22,23], Ở đây, tác giả đã chỉ rõ tín ngưỡng dân gian thuộc về tầng lớp bình dân trong xã hội, khác hẳn tín ngưỡng, tôn giáo chính thống của nhà nước phong kiến thiết lập và quản lí

Một học giả phương Tây khác, Patrick B Mullen, lại cho biết tín ngưỡng dân gian có một nội hàm rất phong phú và thật xác đáng: “Tín ngưỡng dân gian là một thể loại lớn bao gồm sự biểu cảm và cách ứng xử mà

ta gọi là mê tín, tín ngưỡng bình dân, làm phép, các hiện tượng siêu nhiên, các câu của bà nội trợ già, y học dân gian, tôn giáo dân gian, các biểu hiện của thời tiết, cây cở, các lời cầu khấn tụng niệm, những người hay vật mang đồ rủi, đồ làm từ rễ cây, những điềm tốt hay điềm xấu, các chuyện yêu ma và những điều cấm kị ” [57-273], Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp lúa nước và có nền văn hóa bản địa phong phú, đa dạng mà phần lớn được hình thành từ trong đời sống, sinh hoạt của nhân dân lao động, cho nên không thế không quan tâm đến văn hóa dân gian nói chung cũng như tín ngưỡng dân gian nói riêng vốn là tài sản của họ được lưu truyền và gìn giữ từ nhiều thế hệ, bên cạnh hình thái văn hóa do nhà nước xây dựng các thiết chế, ban hành cơ chế quản lý và lưu hành

30

Trang 35

Vì vậy, tín ngưỡng dân gian là hình thức tín ngưỡng quan trọng, phô biến trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân ta bao đời nay, và thậm chí nó thường xuyên được các nhà nước phong kiến Việt Nam coi trọng, công nhận Ở đây, không thể không nhắc đến trường hợp các triều đại phong kiến nước ta Trần, Lê, Nguyễn đã phong sắc thần cho Thành Hoàng Bổn Cảnh được thờ tại các đình làng - một thiết chế văn hóa đặc thù của làng xã Việt Nam Vì tính chất quan trọng và nổi bật này của tín ngưỡng dân gian mà Phan Hữu Dật đã nhận định như sau: “ về thực chất, tín ngưỡng là một bộ phận cẩu thành của văn hóa dân gian" [16-328], Cho nên, nghiên cứu về tín ngưỡng

Việt Nam thì không thể bỏ qua một nội dung chủ đạo của khái niệm này là tín ngưỡng dân gian

Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những nghi thể gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an

về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng

1.2.2 Tín ngưững thờ anh hùng dân tộc

Anh hùng dân tộc Việt Nam là những người có công kiệt xuất trong cuộc đấu tranh cho sự trường tồn và phát triển của dân tộc Việt Nam, được nhân dân suy tôn làm anh hùng và ghi danh vào lịch sử dân tộc Việt Nam Anh hùng dân tộc thường xuất hiện ở bước ngoặt lịch sử của dân tộc, trở thành biểu tượng và niềm tự hào bất diệt của dân tộc Như vậy, Anh hùng dân tộc là danh hiệu cao quý hơn Anh hùng (là người tài năng xuất chúng, công to, đức cả khiến mọi người đều kính phục) và các danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và Anh hùng lao động ở Việt Nam

Anh hùng dân tộc Việt Nam đáp úng được một trong ba tiêu chí sau đây:

1 Người khởi xướng, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống lại ách đô hộ ngoại xâm, giành độc lập dân tộc;

31

Trang 36

2 Người đứng đâu 1 vương triêu có đóng góp đặc biệt xuât săc, lãnh đạo dân tộc giành được những thành tựu to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước;

3 Nhà quân sự, chính trị, văn hóa lồi lạc

Tín ngưỡng thờ cúng các anh hùng dân tộc của người Việt Nam bắt nguồn từ niềm tin vào thuyết linh hồn bất tử, hồn người đã chết vẫn ở gần bên người sống, vẫn có các nhu cầu tương tự như khi còn sống Vì vậy, bổn phận của người sống là phải cúng tế người đã khuất, nhất là các vị đó là những ân nhân của mình, như tổ tiên hoặc các danh nhân, anh hùng Riêng sự thờ cúng các anh hùng còn mang ý nghĩa tích cực hơn nữa Đó là cuộc đời hiển hách của các ngài được đề cao như những mẫu gương cho hậu thế “Sinh vi tướng,

tử vi thần”, sinh tiền đã oai phong lẫm liệt, lúc chết đi cũng trở nên siêu việt, linh thiêng Các ngài được coi là thần thánh, là thần tượng Nhất nữa là vì nước ta là một đất nước luôn luôn bị nạn ngoại xâm và những cuộc nội chiến thì liên miên bất tận Trong thực tế, người Việt Nam đã lập đền thờ và quanh năm thờ cúng các vị anh hùng dân tộc

1.2.3 Việc bảo tồn và phát huy giả trị tín ngưỡng thờ anh hùng

dân tộc

Nam Bộ là vùng đất mới, trong quá trình khai hoang mở đất của cư dân cũng là quá trình cư dân mang theo hành trang tinh thần của mình từ nhiều vùng, miền khác nhau khi đến tụ cư tại Nam Bộ Tín ngưỡng ở Nam Bộ vì vậy càng phong phú, đa dạng Mặt khác, tín ngưỡng ở Nam Bộ còn là sản phẩm cùa quá trình giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng cư dân sống cộng cư

và cận cư Vì vậy, có thể thấy các thành tố có trong tín ngưỡng từng tộc người

cư trú ở Nam Bộ như Kinh, Hoa, Chăm, Khmer đều có một ảnh hưởng nhất định trong việc định hình thể loại, diện mạo của các tín ngưỡng thờ anh hùng dân tôc

32

Trang 37

Bảo tôn và phát huy giá trị tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc không những gìn giữ được những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc mà còn góp phần làm thăng hoa di sản văn hóa phi vật thể, từ đó cốt cách dân tộc được giữ gìn, truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc, đạo lý “uống nước nhớ nguồn” được nuôi dưỡng, lưu truyền - những nhân tố quan trọng không thể thiếu của

sự phát triển bền vững Bảo tồn và huy là hai nhân tố quan trọng, có ý nghĩa chiến lược của mỗi quốc gia Trong lĩnh vực di sản văn hóa, nếu biết bảo tồn

và phát huy giá trị thờ anh hùng dân tộc một cách hợp lý sẽ đem lại những hiệu quả thiết thực cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội

Trong giai đoạn hội nhập và toàn cầu hóa của đất nước và trên thế giới, việc bảo tồn, phát huy những giá trị tinh thần của tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc cần nhắm đến mục tiêu phát huy vai trò của hệ giá trị (value system) văn hóa cho sự phát triển xã hội Việt Nam hiện nay

Việc bảo tồn và phát huy các giá trị này cần thiết phải được thực hiện đúng hướng, sao cho hoạt động bảo tồn và phát triền mang tính hài hòa, hồ trợ lẫn nhau, trên cơ sở “nguyên tấc phát triển phải là nguyên tắc chỉ đạo cho việc bảo tồn, phát huy giá trị truyền thống [58-18] Dựa trên những đặc điểm của tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc, với tính chất thoáng mở, tích hợp và đa nguyên, đa dạng, sẽ là những tiền đề tốt, tạo điều kiện cho việc phát triển các đặc tính này trong quá trình hội nhập

Vì vậy, qua chức năng đa dạng của thờ anh hùng dân tộc cho thấy chủ nghĩa yêu nước là nhân tố hàng đầu trong bảng hệ giá trị dân tộc Phát huy tinh thần yêu nước cũng cần xét đến mối tương quan trong tọa độ không gian, thời gian và chủ thể văn hỏa

33

Trang 38

TIỂU KÉT CHƯƠNG 1

Chúng ta có thể thấy rằng, lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hoá cộng đồng phố biến và đậm đà bản sắc dân tộc, là tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn hóa phi vật thể, là sản phẩm tinh thần của người dân được hình thành

và phát triển trong quá trình lịch sử; có giá trị đặc biệt trong sự cố kết cộng đồng ngày càng bền chặt hơn; đồng thời, là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại,

là hình thức giáo dục, chuyển giao cho các thế hệ sau hiểu được công lao của

tồ tiên, tỏ lòng tri ân công đức của các vị Anh hùng dân tộc, các bậc tiền bối đã

có công dựng nước, giữ nước và đấu tranh giải phóng dân tộc Việc tổ chức lễ hội còn góp phần tích cực trong giao lưu với các nền văn hóa thế giới, tạo nền tảng vững chắc cho văn hoá Việt Nam có sức mạnh chống lại sự ảnh hưởng tiêu cực của văn hoá ngoại lai Lễ hội góp phần làm giàu các giá trị di sản văn hóa của dân tộc

Là một tỉnh có điều kiện tự nhiên, địa lý kinh tế quan trọng với nhiều lễ hội phong phú đa dạng Văn hóa truyền thống ở Kiên Giang đã góp phần không nhỏ trong việc làm giàu các giá trị văn hóa của dân tộc Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những nghi thể gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng

Vì vậy, tín ngưỡng văn hóa đó cần phải được bảo tồn và phát huy nhằm tiếp tục xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

34

Trang 39

Tỉnh Rạch Giá thuộc trấn Hà Tiên được thành lập năm 1708, sau này được chia thành một số tình thuộc Lục Tỉnh Giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp chiếm vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh trong đó có Rạch Giá Năm Kỷ Mùi (1859) thực dân Pháp đã chiếm tới thành Gia Định Năm Tân Dậu (1861), Trương Định lúc đó giữ chức Phó Quản Cơ Gia Định đã chiêu mộ nghĩa sỹ được gần

6000 người, lập ra sáu cơ tố chức đánh giặc Pháp xâm lược Vua Tự Đức phong cho Trương Định chức Quản Cơ, rồi thăng chức Phó Lãnh binh Gia Định Ông phối hợp với nghĩa quân của Nguyễn Tri Phương đánh giặc ờ Đại

35

Trang 40

Đông - phía tây Sài Gòn thu được khá nhiêu vũ khí của giặc, chiêm được đôn

và cầm cự được một thời gian Sau khi đại đồn bị thất thủ, quân của triều đình theo lệnh rút về Biên Hòa Trương Định cho thu quân về đỏng đồn ở xứ Gò Thượng, thuộc huyện Tân Hòa (Tiền Giang) để củng cố lực lượng Tại đây, Nguyễn Trung Trực đã gia nhập nghĩa quân chống Pháp do Trương Định lãnh đạo Với lòng yêu nước và căm thù giặc sâu sắc Ông đã bộc lộ tài năng, đức

độ của một thủ lĩnh xuất sắc trong hàng ngũ nghĩa quân nên được Trương Định trọng dụng, cất nhắc giao cho làm Quyền Sung quản binh đạo

Ngày 10-12-1861 Nguyễn Trung Trực cùng nghĩa quân lập nên chiến công vang dội, đốt cháy tàu Espérance trên vàm Nhật Tảo làm thiệt mạng 17 tên địch Sau chiến thắng này hàng loạt cuộc tấn công khác đánh vào tàu địch liên tiếp nổ ra ở Bến Lức, sông Trà làm cho lực lượng hải quân Pháp lúng túng, bị động Một viên tướng Pháp từng đánh giá chiến thắng Nhật Tảo là "Khúc nhạc

mở đầu cho cuộc tổng công kích hầu như toàn bộ các đồn lũy của người Pháp”

Ngày 16-6-1868, ông chỉ huy nghĩa quân kết hợp với nội ứng tấn công đồn Rạch Giá Tất cả giặc Pháp và lính tay sai giữ đồn đều bị nghĩa quân giết sạch Sau chiến công vang dội của Nguyễn Trung Trực, giặc Pháp điên cuồng truy sát ông cùng nghĩa quân Chúng tàn sát 700 người dân Rạch Giá để trả thù trận tấn công đồn Rạch Giá Tên Việt gian Trần Bá Lộc được cử từ Cái Bè đến Rạch Giá đối phó với Nguyễn Trung Trực Hắn đặt giải thưởng 500 đồng cho ai bắt được hoặc dâng thủ cấp của ông Độc ác hơn nữa, hẳn còn cho bắt sống mẹ của ông khi ông từ Hòn Chông ra Phú Quốc Ngày 19-9-1868 tên quan tư của Pháp cùng tên đội trưởng và 125 lính mã tà tấn công Hàm Ninh, nghĩa quân nghi binh để tiêu hao sinh lực địch rồi cuối cùng đẩy chúng rút chạy khỏi Hàm Ninh Bọn giặc gọi thêm viện binh và quay sang tấn công Dương Đông, Phú Đông, An Thái, Phước Lộc

36

Ngày đăng: 29/12/2021, 09:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w