1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dấu hiệu pháp lý của tội giết người phân biệt tội giết người ở giai đoạn phạm tội chưa đạt với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

12 87 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 30,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

, bài tiểu luận sau đây của em xin được nêu lên các dấu hiệu pháp lý của Tội giết người và từ đó phân biệt Tội giết người ở giai đoạn phạm tội chưa đạt với Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác (Điều 134 BLHS).

Trang 1

A MỞ ĐẦU 1

B NỘI DUNG 2

I Các dấu hiệu pháp lý của tội giết người 2

1 Khách thể của tội phạm 2

2 Mặt khách quan của tội phạm 3

3 Mặt chủ quan của tội phạm 5

4 Chủ thể của tội phạm 6

II Phân biệt Tội giết người ở giai đoạn phạm tội chưa đạt với Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác (Điều 134 BLHS) 7

C KẾT LUẬN 10

TÀI LIỆU THAM KHẢO 11

Trang 2

A MỞ ĐẦU

Điều 19 Hiến pháp năm 2013 của Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã

quy định: “Mọi người đều có quyền sống Tính mạng con người được pháp luật bảo

hộ Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật” Con người là vốn quý, là giá trị cao

nhất của xã hội, quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội Quyền sống của con người là quyền thiêng liêng và quan trọng nhất trong các quyền cơ bản của con người Những hành vi trái pháp luật xâm phạm đến tính mạng con người, tước đi quyền sống của họ luôn là một tội ác và cần phải bị trừng trị nghiêm khắc Trong bối cảnh hiện nay, quyền con người, đặc biệt là quyền sống ở nước ta ngày càng được tôn trọng và đảm bảo Các tội xâm phạm tính mạng con người là những hành vi nguy hiểm cho xã hội do người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có năng lực trách nhiệm hình sự, có lỗi thực hiện xâm phạm quyền được tôn trọng và bảo vệ về tính mạng của ngươi khác Trong các tội xâm phạm tính mạng của con người do Bộ luật hình sự hiện hành quy định thì Tội giết người (Điều 123 BLHS) có lẽ là tội được xếp vào nhóm những tội nguy hiểm cho xã hội nhất Do đó, bài tiểu luận sau đây của em xin được nêu lên các dấu hiệu pháp lý của Tội giết người và từ đó phân biệt Tội giết người ở giai đoạn phạm tội chưa đạt với Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác (Điều 134 BLHS)

Đề tài 1: “Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội giết người? Phân biệt tội giết người

ở giai đoạn phạm tội chưa đạt với Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác?”

Trang 3

B NỘI DUNG

I Các dấu hiệu pháp lý của tội giết người

* Lý luận chung về dấu hiệu pháp lý của tội phạm:

Khách thể của tội phạm: là các quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ và bị tội

phạm xâm hại

Chủ thể của tội phạm: là con người cụ thể đạt đến độ tuổi nhất định do Luật hình sự

quy định và có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc là pháp nhân thương mại có những điều kiện do Luật hình sự quy định

Mặt khách quan của tội phạm: là những biểu hiện của tội phạm ra bên ngoài thế

giới khách quan bao gồm: hành vi, hậu quả, phương pháp thủ đoạn, công cụ, phương tiện, thời gian, địa điểm…

Mặt chủ quan của tội phạm: là trạng thái tâm lý bên trong của người phạm tội khi

thực hiện tội phạm, biểu hiện bằng lỗi, động cơ, mục đích phạm tội

* Tội giết người là hành vi tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật.

1 Khách thể của tội phạm

Khách thể của tội phạm là quyền sống của con người

Đối tượng tác động của tội giết người là con người đang sống Việc xác định đối tượng tác động của tội giết người có ý nghĩa vô cùng quan trọng, bởi vì, nếu hành vi nào đó tác động vào đối tượng không phải hay chưa phải là con người hoặc là con người những đã chết thì những hành vi đó không xâm phạm đến quyền sống của con người nên không phải là tội giết người Thời điểm bắt đầu sự sống của con người là thời điểm đứa trẻ đuộc sinh ra khỏi cơ thể người mẹ và tồn tại độc lập trong thế giới khách quan với tư cách là một thức thể tự nhiên và xã hội, thời điểm kết thúc sự sống của con người là thời điểm chết sinh vật Do đó, thai nhi không được xem là một con

Trang 4

người đang sống cho đến khi được sinh ra và còn sống nên phá thai dù ở tháng thứ mấy cũng không coi là giết người

2 Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội giết người được thể hiện ở hành vi tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật

Ví dụ về hành vi tước đoạt tính mạng tính mạng mạng của người khác một cách trái pháp luật như sau: Bản án hình sự sơ thẩm tỉnh Trà Vinh xử phạt bị cáo Lê Văn

N phạm tội “Giết người” - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một

số điều của BLHS năm 2015) với nội dụng vụ án: “Lê Văn N và Lê Hoàng K là anh

em ruột với nhau, hai người điều nghiện rượu và không có nghề nghiệp ổn định Lê Hoàng K chưa lập gia đình và là con út nên sống cùng mẹ ruột là bà Phạm Thị Htại

ấp K, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh, Lê Văn Nđã có gia đình và cất nhà sống gần đó khoảng 150m Vào khoảng 06 giờ ngày 28/3/2018 bà H có tổ chức uống rượu tại nhà

bà Lê Thị D gần nhà của bà H gồm có bà H, Lê Văn N, Lê Hoàng Kvà Quách Văn K,

cả 04 người cùng ngồi uống rượu tại bàntrước hành lang nhà của bà D Sau khi uống được vài ly rượu bà H nghĩ uống và đi ra sau nhà nấu cơm, một lúc sau thì K cũng nghĩ uống và đi vào trong nhà nằm ngủ, còn lại Lê Văn N và Lê Hoàng K còn tiếp tục ngồi uống rượu Đến khoảng 08 giờ cùng ngày thì hai người xảy ra cự cãi, Lê Hoàng

K dùng tay đánh vào đầu Lê Văn N, Lê Văn Nbỏ đi ra ngoài đường đal cách nơi ngồi uống rượu khoảng 10 mét, Lê Hoàng Klấy cây ná bắn Lê Văn N, Lê Văn N nhặt cục đất ném ngược lại Lê Hoàng K Sau đó Lê Hoàng K chạy lại đánh Lê Văn N, trúng vào vùng mắt phải, hai người tiếp tục giằng co, lôi kéo với nhau trên đường đal Trong lúc giằng co, lôi kéo nhau, Lê Văn N dùng chân đá vào chân của Lê Hoàng K làm cho cả hai cùng té xuống đám dừa nước cặp mé kênh Thống Nhất Lê Hoàng K ngồi dạy bỏ chạy thì bị vấp té trong tư thế úp mặt xuống nước, phần cổ nằm giữa hai bặp dừa nước Thấy vậy, Lê Văn N xông tới dùng tay phải bóp cổ, dùng tay trái nắm tóc dìm đầu của Lê Hoàng K xuống nước cho đến khi Lê Hoàng Kkhông còn cử động mới buông ra và lên bờ đi về nhà Tại thời điểm này có Nguyễn Quốc T và bà Phạm

Trang 5

Thị H chứng kiến nên la lên, cùng người dân đưa Lê Hoàng K lên bờ thì phát hiện Lê Hoàng K đã tử vong.1

Ở đây, mặt khách quan của của tội giết người được thể hiện ở các dấu hiệu, bị cáo

Lê Văn N đã có hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng con người và gây hậu quả

là Lê Hoàng K tử vong

Hành vi khách quan của tội phạm, là hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng

của người khác Hành vi tước đoạt tính mạng của người khác được hiểu là hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người, chấm dứt sự sống của họ

Hành vi phạm tội có thể được thực hiện dưới hình thức hành động, thể hiện qua việc người phạm tội đã chủ động thực hiện các hành vi mà pháp luật không cho phép như: dùng dao đâm, dùng súng bắn, dùng cây đánh, cho uống thuốc độc … nhằm giết người khác Hành vi phạm tội cũng có thể được thực hiện bằng không hành động, thể hiện qua việc người phạm tội đã không thực hiện nghĩa vụ phải làm (phải hành động)

để đảm bảo sự an toàn tính mạng của người khác như không cho ăn uống đối với người mình có trách nhiệm nuôi dưỡng … nhằm giết người khác

Hành vi tự tước đoạt tính mạng của chính mình không thuộc hành vi khách quan của tội giết người Những hành vi gây ra cái chết cho người khác được pháp luật cho

phép cũng không phải là hành vi khách quan của tội giết người (Ví dụ: trường hợp thi

hành án tử hình…) Trong thực tiễn xét xử còn gặp những trường hợp tước đoạt tính mạng người khác do được sự đồng ý của nạn nhân Động cơ của những hành vi này

có thể khác nhau, trong đó có những động cơ mang tính nhân đạo, ví dụ: Hành vi

tước đoạt tính mạng của người bị bệnh hiểm nghèo nhằm tránh đau khổ kéo dài cho

họ Tuy nhiên, theo Luật hình sự Việt Nam, những trường hợp này vẫn bị coi là trái pháp luật

1 Trang Thông tin Điện tử Công bố Bản án, Quyết định của Tòa Án, Tòa Án Nhân dân Tối cáo Link:

https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta232726t1cvn/chi-tiet-ban-an

Trang 6

Hậu quả của tội phạm: là hậu quả chết người, đây là dấu hiệu bắt buộc được quy

định trong cấu thành tội phạm của tội giết người Trong trường hợp người phạm tội mong muốn hậu quả chết người xảy ra nhưng hành vi chưa gây ra hậu quả chết người

vì những lý do khách quan thì hành vi phạm tội ở giai đoạn phạm tội chưa đạt hoặc chuẩn bị phạm tội

Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả chết người: Người

phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người nếu hành vi tước đoạt trái phép tính mạng người khác mà họ đã thực hiện là nguyên nhân của hậu quả chết người, hay nói cách khác là giữa hành vi khách quan của tội giết người với hậu quả chết người có quan hệ nhân quả với nhau

Hành vi tước đoạt tính mạng của người khác trái pháp luật được coi là nguyên nhân gây ra hậu quả chết người nếu thỏa mãn 3 điều kiện:

- Thứ nhất, hành vi khách quan phải xảy ra trước hậu quả chết người về mặt thời

gian

- Thứ hai, hành vi khách quan phải chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả

chết người

- Thứ ba, hậu quả chết người đã xảy ra phải đúng là sự hiện thực hóa khả năng thực tế

làm phát sinh hậu quả của hành vi khách quan của tội Giết người

3 Mặt chủ quan của tội phạm

Lỗi của người phạm tội giết người là lỗi cố ý Lỗi cố ý ở đây có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp:

- Trong trường hợp lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình

là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả chết người có thể xảy ra hoặc tất nhiên xảy ra nhưng vì mong muốn hậu quả đó nên đã thực hiện hành vi phạm tội

- Trong trường hợp lỗi cố ý gián tiếp, người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình

là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả chết người có thể xảy ra, tuy không

Trang 7

mong muốn nhưng để đạt được mục đích của mình người phạm tội có ý thức để mặc cho hậu quả chết người xảy ra, hay nói cách khác, họ có ý thức chấp nhận hậu quả chết người đó

Trường hợp hậu quả chết người đã xảy ra thì việc xác định lỗi cố ý trực tiếp hay lỗi

cố ý gián tiếp không có ý nghĩa trong việc định tội Tuy nhiên, nếu người phạm tội đã thực hiện hành vi khách quan nhưng hậu quả chết người chưa xảy ra thì việc xác định hình thức lỗi cố ý trực tiếp hay cố ý gián tiếp lại có ý nghĩa rất quan trọng cụ thể:

- Nếu hậu quả chết người chưa xảy ra và lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người chưa đạt

- Nếu hậu quả chết người chưa xảy ra và lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý gián tiếp thì người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Giết người mà chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Cố ý gây thương tích nếu tỷ lệ thương tích thỏa mãn đòi hỏi của cấu thành tội phạm này

Động cơ, mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm Trong tội giết người, chủ thể có thể có những động cơ, mục đích khác nhau

4 Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm nói chung và Tội giết người nói riêng là con người có đủ điều kiện để có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Người có đủ điều kiện để có lỗi, để trở thành chủ thể của tội phạm phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự - năng lực nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành vi và năng lực điều khiển hành vi theo đòi hỏi tất yếu của xã hội Để có được năng lực này con người phải đạt độ tuổi nhất định Do vậy, độ tuổi cũng là điều kiện của chủ thể của Tội giết người

Chủ thể của tội phạm giết người là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt

độ tuổi do pháp luật quy định – từ đủ 14 tuổi trở lên (Điều 12 Bộ Luật hình sự)

Trang 8

II Phân biệt Tội giết người ở giai đoạn phạm tội chưa đạt với Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác (Điều 134 BLHS)

*Một vài điểm giống nhau của Tội giết người ở giai đoạn phạm tội chưa đạt với

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác (Điều 134 BLHS):

- Chủ thể: Tội giết người ở giai đoạn phạm tội chưa đạt và Tội cố ý gây thương tích

hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác (Điều 134 BLHS) đều có chủ thể của tội phạm là người từ đủ 14 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự

- Đối tượng tác động: đều là con người đang sống.

* Phân biệt Tội giết người ở giai đoạn phạm tội chưa đạt với Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác (Điều 134 BLHS) (Khác nhau):

Thứ nhất, Cơ sở pháp lý, Tội giết người ở giai đoạn phạm tội chưa đạt có Cơ sở

pháp lý là Điều 123, Điều 15, Điều 57 BLHS; Cơ sở pháp lý của Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác (Điều 134 BLHS) là Điều 134 BLHS

Thứ hai, Khái niệm, Tội giết người ở giai đoạn phạm tội chưa đạt là hành vi cố

ý tước đoạt tính mạng người khác một cách trái pháp luật nhưng vì lý do khách quan

mà nạn nhân không chết; còn Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác (Điều 134 BLHS) là hành vi cố ý gây tổn thương cho sức khoẻ của người khác dưới dạng thương tích cụ thể

Thứ ba, Khách thể, Tội giết người ở giai đoạn phạm tội chưa đạt xâm phạm quyền

sống của con người; còn Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác (Điều 134 BLHS) xâm phạm quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của con người

Thứ tư, Mặt chủ quan, Tội giết người ở giai đoạn phạm tội chưa đạt được thực hiện

với lỗi cố ý trực tiếp, còn Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của

Trang 9

người khác (Điều 134 BLHS) được thực hiện với lỗi cố ý nhưng có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp

Thứ năm, Mặt khách quan, Tội giết người ở giai đoạn phạm tội chưa đạt thể hiện ở

hành vi tước bỏ quyền sống của người khác một cách trái pháp luật tuy nhiên vì lý

do khách quan mà nạn nhân không chết; còn Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác (Điều 134 BLHS) là cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác một cách trái pháp luật mà tỷ lệ thương tật được quy định tại Điều 134 BLHS

Thứ sáu, Hậu quả, Tội giết người ở giai đoạn phạm tội chưa đạt nạn nhân có thể có

thương tích hoặc không có thương tích, người phạm tội mong muốn gây hậu quả chết người nhưng hành vi chưa gây ra hậu quả chết người vì những lý do khách quan; còn Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác (Điều

134 BLHS) thì hậu quả là làm cho nạn nhân bị thương tích

Thứ bảy, Hình phạt, Tội giết người ở giai đoạn phạm tội chưa đạt Điều 123 quy

định khung hình phạt đối với tội giết người là: tại khoản 1 là phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình; khung hình phạt ở khoản 2 là 07 năm đến 15 năm, ở khoản 3 là 01 năm đến 05 năm; khoản 4 là Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm

cư trú từ 01 năm đến 05 năm Từ đó có thể suy ra hình phạt đối với tội giết người

chưa đạt theo quy định tại khoản 3 Điều 57 BLHS: “Đối với trường hợp phạm tội

chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định” Còn đối

với Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác (Điều 134 BLHS) Điều 134 BLHS quy định khung hình phạt đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác là: khoản 1 là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm; khoản 2 là từ 02 năm đến 06 năm;

Trang 10

khoản 3 là từ 05 năm đến 10 năm; khoản 4 là từ 07 năm đến 14 năm; khoản 5 là từ

12 năm đến 20 năm; khoản 6 là phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù

từ 03 tháng đến 02 năm

Ngày đăng: 29/12/2021, 09:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w