TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH NGUYỄN THỊ THU HIỀN LO ÂU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI BỆNH UNG THƯ ĐẾN TÁI KHÁM TẠI KHOA KHÁM BỆNH – BỆNH VIỆN BẠCH MAI BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
LO ÂU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Ở NGƯỜI BỆNH UNG THƯ ĐẾN TÁI KHÁM TẠI KHOA
KHÁM BỆNH – BỆNH VIỆN BẠCH MAI
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
NAM ĐỊNH - 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
LO ÂU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Ở NGƯỜI BỆNH UNG THƯ ĐẾN TÁI KHÁM TẠI KHOA
KHÁM BỆNH – BỆNH VIỆN BẠCH MAI
CHUYÊN NGÀNH: ĐIỀU DƯỠNG NỘI NGƯỜI LỚN
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TS VŨ VĂN THÀNH
NAM ĐỊNH – 2020
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để chuyên đề này đạt kết quả tốt đẹp, tôi đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân Với tình cảm sâu sắc, chân thành, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc Trước hết tôi xin gửi tới các thầy cô khoa Điều dưỡng, lời chúc sức khỏe và lời cảm ơn sâu sắc Với sự quan tâm, dạy dỗ, chỉ bảo tận tình chu đáo của thầy cô, đến nay tôi đã hoàn thành chuyên đề: “Lo âu và một số yếu tố liên quan ở người bệnh ung thư đến tái khám tại khoa khám bệnh – bệnh viện Bạch Mai”
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới thầy giáo- TS Vũ Văn Thànhđã quan tâm giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn thành chuyên đềnày trong thời gian qua Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và tất cả bạn bè
đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiệnchuyên đề Tôi xin chân thành cảm ơn!
Ngày 15 tháng 11 năm 2020 Tác giả chuyên đề
Nguyễn Thị Thu Hiền
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan chuyên đề: “Lo âu và một số yếu tố liên quan ở người bệnh ung thư đến tái khám tại khoa khám bệnh – bệnh viện Bạch Mai” do chính bản thân tôi thực hiện, tất cả số liệu trong chuyên đề là trung thực, khách quan Nếu có điều gì sai trái tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Ngày 15 tháng 11 năm 2020
Tác giả chuyên đề
Nguyễn Thị Thu Hiền
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG iv
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC QUY ĐỊNH 3
1.1 Cơ sở lý luận 3
1.2 Rối loạn lo âu 5
1.3 Cơ sở thực tiễn 9
CHƯƠNG 2: MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT 11
2.1 Thực trạng của vấn đề cần giải quyết 111
2.2 Giải quyết vấn đề thực tế 111
CHƯƠNG 3: BÀN LUẬN 14
3.1 Thực trạng của vấn đề ……… 14
3.2 Giải pháp để khắc phục vấn đề ……… ………….21
KẾT LUẬN 22
KHUYẾN NGHỊ 23 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
BHYT Bảo hiểm y tế
CI Confidence interval (Khoảng tin cậy)
DALYs Disability adjusted life years
(Số năm sống điều chỉnh theo bệnh tật) DSM - IV Diagnostic and Statistical Manual IV (Tiêu chuẩn chẩn
đoán các bệnh tâm thần phiên bản 4) GBD The Global Burden Disease
(Tổ chức đánh giá gánh nặng bệnh tật toàn cầu) HADS Hospital Anxiety and Depression Scale (Thang đánh giá lo
âu và trầm cảm tại bệnh viện HADS) ICD – 10 International Classification Diseases – 10
(Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10) Min Minimum (Giá trị nhỏ nhất)
Max Maximum (Giá trị lớn nhất)
OR Odds ratio (Tỷ suất chênh)
SAS Self - Rating Anxiety Scale
(Thang tự đánh giá lo âu của Zung)
SD Standard deviation (Độ lệch chuẩn)
UICC Union for International Cancer Control
(Hiệp hội phòng chống ung thư quốc tế) WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Sự khác nhau giữa lo âu bình thường và lo âu bệnh lý 6 Bảng 3.1 Các mức độ lo âu của người bệnh theo thang HADS 14 Bảng 3.2 Các mức độ lo âu của người bệnh theo thang SAS 14 Bảng 3.3 Mối liên quan giữa các yếu tố về nhân khẩu học đến tình trạng lo âu
của người bệnh 16 Bảng 3.4 Mối liên quan giữa các yếu tố về kinh tế đến tình trạng lo âu của
người bệnh 17 Bảng 3.5 Mối liên quan giữa tình trạng bệnh đến tình trạng lo âu của người
bệnh 18 Bảng 3.6 Mối liên quan giữa các yếu tố trong nghiên cứu đến tình trạng lo âu
của người bệnh (phân tích đa biến) 20
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, bệnh ung thư đang là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên toàn thế giới với một tốc độ gia tăng đáng báo động Tại Việt Nam, số trường hợp mắc mới ung thư tăng nhanh từ 68.000 ca năm 2000 lên 126.000 năm 2010 và dự kiến sẽ vượt qua 190.000 ca vào 2020 Mỗi năm có khoảng 115.000 người chết vì ung thư, tương ứng 315 người/ngày[7]
Bên cạnh đó những tổn thương về tinh thần, lo lắng, căng thẳng cũng là yếu
tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư Theo nghiên cứu của Bottomley A (1998) thì những triệu chứng lo âu rất phổ biến trên người bệnh ung thư nhưng lại thường ít được chẩn đoán và điều trị dẫn đến nhiều trường hợp người bệnh không tuân theo sự chăm sóc y tế tốt nhất
để có thể phát huy tối đa hiệu quả phục hồi [23] Một nghiên cứu khác của A Malekian và cộng sự (2008) cho thấy lo âu, trầm cảm có thể mang đến những tác động tiêu cực sâu sắc với người bệnh ung thư về cả tình trạng chức năng, chất lượng cuộc sống, thời gian nằm viện và hiệu quả điều trị Do đó việc đánh giá đúng mức và điều trị những rối loạn này là rất quan trọng [17]
Như vậy có thể thấy, bên cạnh việc điều trị về thể chất thì người bệnh ung thư rất cần được quan tâm chăm sóc về mặt tinh thần Những cảm xúc tiêu cực,
lo âu, buồn phiền mà người bệnh ung thư đang trải qua hàng ngày cần phải được chú ý phát hiện, tìm hiểu và có những giải pháp chăm sóc phù hợp nhằm mang đến hiệu quả điều trị tốt nhất và nâng cao chất lượng cuộc sống Tuy vậy việc nghiên cứu các vấn đề này tại Việt Nam vẫn còn hạn chế Khoa Khám Bệnh – Bệnh viện Bạch Mai được thành lập từ tháng 10 năm 1954 , mỗi năm khoa khám bệnh và điều trị ngoại trú cho 550.000 lượt người bệnh Trong 3 năm gần đây số lượng người bệnh đến khám liên tục tăng trung bình mỗi năm khoảng 20% đến 30% Hiện nay, trung bình mỗi ngày có khoảng 3.000 đến 3.500 người bệnh đến khám, trong đó có khoảng 30-60 người bệnh ung thư đến tái khám tại khoa Khám bệnh – bệnh viện Bạch Mai[13] Do đó, chúng tôi thực
Trang 12hiện đề tài “Lo âu và một số yếu tố liên quan ở người bệnh ung thư đến tái khám tại khoa Khám bệnh – bệnh viện Bạch Mai” với hai mục tiêu sau:
1 Mô tả thực trạng lo âu của người bệnh ung thư đến tái khám tại khoa khám bệnh – bệnh viện Bạch Mai năm 2020
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến lo âu ở người bệnh ung thư đến tái khám tại khoa khám bệnh - Bệnh viện Bạch Mai
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Những khái niệm cơ bản về bệnh ung thư
Ung thư là bệnh lý ác tính của tế bào, khi bị kích thích của các tác nhân sinh ung thư, tế bào tăng sinh một cách vô hạn độ, vô tổ chức không tuân theo các
cơ chế kiểm soát
Đa số bệnh ung thư hình thành các khối u Khác với các khối u lành tính chỉ phát triển tại chỗ thường rất chậm, có vỏ bọc xung quanh; các khối u ác tính (ung thư) xâm lấn vào các tổ chức lành xung quanh giống như hình "con cua" với các càng cua bám vào các tổ chức lành trong cơ thể hoặc giống như rễ cây lan trong đất Các tế bào của khối u ác tính có khả năng di căn tới các hạch bạch huyết hoặc các tạng ở xa hình thành các khối u mới và cuối cùng dẫn tới tử vong Đa số ung thư là bệnh có tiến triển mãn tính, có quá trình phát sinh và phát triển lâu dài qua từng giai đoạn Trừ một số nhỏ ung thư ở trẻ em có thể
do đột biến gen từ lúc bào thai, còn phần lớn các ung thư đều có giai đoạn tiềm tàng lâu dài, có khi hàng chục năm không có dấu hiệu gì trước khi phát hiện thấy dưới dạng các khối u Triệu chứng báo hiệu ung thư
Là những dấu hiệu lâm sàng xuất hiện tương đối sớm có thể giúp chẩn đoán sớm được một số bệnh ung thư Các dấu hiệu này thường nghèo nàn, ít đặc hiệu, ít ảnh hưởng tới người bệnh nên dễ bị bỏ qua
1.1.2 Các phương pháp chẩn đoán cận lâm sàng
Chẩn đoán nội soi
Chẩn đoán điện quang
Trang 14 Siêu âm
Đồng vị phóng xạ
Chất chỉ điểm ung thư
Chẩn đoán tế bào học
Chẩn đoán giải phẫu bệnh
1.1.3 Nguyên tắc và phương pháp điều trị ungthư
Ung thư cũng như nhiều bệnh khác, có thể chữa khỏi nếu bệnh được phát hiện sớm Hiện nhiều nước đã chữa khỏi được trên 50% cho toàn bộ bệnh ung thư và có những bệnh đạt trên 80% (ung thư hạch hệ thống Hodgkin) [3] Điều trị ung thư khác với điều trị các bệnh khác đó là: Ung thư có nhiều loại Mỗi loại đều khác nhau về nguyên nhân, sự phát triển và tiên lượng Do vậy phương pháp điều trị áp dụng cũng khác nhau, nó phải được chỉ định cụ thể trên từng trường hợp, song phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc phối hợp
- Xác định rõ mục đích điều trị
- Lập kế hoạch điều trị
- Bổ sung kế hoạch điều trị
- Theo dõi sau điều trị
Một số phương pháp điều trị ung thư thường áp dụng :Điều trị phẫu thuật, điều trị tia xạ, điều trị hóa chất, điều trị miễn dịch Trong điều trị ung thư người thầy thuốc sẽ căn cứ vào từng loại bệnh, từng giai đoạn, từng tính chất của tế bào u, từng cá thể mà áp dụng một hay nhiều phương pháp theo những thể thức trong các phác đồ điều trị cụ thể
1.1.4 Dịch tễ học và gánh nặng của bệnh ung thư
Trên thế giới
Ung thư đang là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong trên toàn thế giới
Số liệu thống kê năm 2012 cho thấy 5 loại ung thư phổ biến nhất ở nam giới
là ung thư phổi, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư đại trực tràng, ung thư dạ dày
Trang 15và ung thư gan Đối với nữ giới là ung thư vú, ung thư đại trực tràng, ung thư phổi, ung thư cổ tử cung và ung thư dạ dày [29]
Sự khác biệt rõ rệt về những yếu tố địa lý và môi trường có thể được tìm thấy trong tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết của một số thể đặc biệt của ung thư trên thế giới Tuổi là một yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến tỷ lệ mắc ung thư Theo báo cáo về Ung thư toàn cầu năm 2008, gánh nặng ung thư đã tăng gấp đôi trong ba mươi năm cuối cùng của thế kỷ XX, và người ta ước tính rằng điều này sẽ tăng gấp đôi một lần nữa từ năm 2000 đến năm 2020 và gần gấp ba vào năm 2030 trên toàn thế giới [24]
Tại Việt Nam
Số trường hợp mắc mới ung thư tăng nhanh từ 68.000 ca năm 2000 lên 126.000 năm 2010 và dự kiến sẽ vượt qua 190.000 ca vào 2020 Mỗi năm có khoảng 115.000 người chết vì ung thư, tương ứng 315 người/ngày[4].Trong tổng số ca ung thư, nữ chiếm 43% và nam giới 57% Bốn loại ung thư phổ biến nhất ở nam giới là ung thư gan, phổi, dạ dày và đại trực tràng, chiếm 66% tổng số
ca ung thư mới mắc ở nam giới Ở nữ giới, bốn loại phổ biến nhất là ung thư vú, phổi, gan, cổ tử cung, chiếm gần 50% tổng số ca ung thư mới mắc ở nữ[20] Tỷ
lệ người bệnh ung thư đến khám và điều trị sớm còn thấp, năm 2009 một nghiên cứu tại 5 bệnh viện ung thư cho thấy có 28,6% người bệnh đến khám trong giai đoạn I và II của tất cả các loại ung thư, đối với ung thư vú có 50,5% đến sớm, ung thư cổ tử cung 46,0% đến sớm và ung thư đại trực tràng 32,2% đến sớm[11] 1.2 Rối loạn lo âu
1.2.1 Một số khái niệm lo âu
- Lo âu bình thường
Lo âu là hiện tượng phản ứng tự nhiên của con người trước những khó khăn và các mối đe dọa của tự nhiên, xã hội mà con người phải tìm cách vượt qua, tồn tại, vươn tới Lo âu cũng là tín hiệu cảnh báo trước những mối đe dọa đột ngột, trực tiếp do đó giúp con người tồn tại và thích nghi[12] Lo âu bình thường có chủ đề rõ ràng trong cuộc sống như công việc, học tập… và mang tính chất nhất thời
Trang 16- Lo âu bệnh lý
Khác với lo âu bình thường, lo âu bệnh lý có thể xuất hiện không có liên quan tới một mối đe dọa rõ ràng nào hoặc các sự kiện tác động đã chấm dứt nhưng vẫn còn lo âu, mức độ lo âu cũng không tương xứng với bất kì một đe dọa nào để có thể tồn tại hoặc kéo dài Khi mức độ lo âu gây trở ngại rõ rệt các hoạt động, lúc đó được gọi là lo âu bệnh lý[25]
Lo âu bệnh lý thường kéo dài và lặp đi lặp lại với các triệu chứng như: mạch nhanh, thở gấp, chóng mặt, khô miệng, vã mồ hôi, lạnh chân tay, run rẩy, bất anTheo Andrew R Getzfeld (2006), sự phân biệt giữa lo âu bình thường và lo
âu bệnh lý là ở mức độ khó khăn trong kiểm soát hoặc loại bỏ lo âu[19] Bảng 1.1 Sự khác nhau giữa lo âu bình thường và lo âu bệnh lý
Lo âu không làm ảnh hưởng đến
công việc, hoạt động hàng ngày
Lo âu gây mất ổn định các hoạt động, ảnh hưởng đến nghề nghiệp, cuộc sống
xã hội
Lo âu có thể kiểm soát được Lo âu không thể kiểm soát được
Lo âu gây khó chịu đôi chút, không
Lo âu chỉ tồn tại trong một thời
điểm nhất định
Lo âu kéo dài ngày này qua ngày khác trong khoảng thời gian ít nhất 6 tháng Nguồn: Theo “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của rối loạn lo âu lan tỏa”
Nguyễn Thị Phước Bình (2010) [1]
1.2.2 Phân loại các rối loạn lo âu
Phân loại theo ICD-10
- Các rối loạn lo âu ám ảnh sợ gồm: lo âu ám ảnh sợ khoảng trống, lo âu ám ảnh sợ xã hộiCác rối loạn lo âu khác gồm : rối loạn hoảng sợ, rối loạn lo âu
Trang 17lan tỏa, rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm Rối loạn lo âu không biệt định bao gồm rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm[2]
- Rối loạn hoảng sợ không bao gồm ám ảnh sợ đám đông
- Rối loạn lo âu lan tỏa
- Rối loạn hoảng sợ bao gồm ám ảnh sợ đám đông
- Ám ảnh sợ đám đông không có tiền sử rối loạn hoảng sợ
- Ám ảnh sợ xã hội
- Ám ảnh sợ đặc hiệu
- Rối loạn ám ảnh nghi thức
- Rối loạn stress cấp
- Rối loạn stress sau sang chấn
Biểu hiện lâm sàng của rối loạn lo âu
1.2.3 Rối loạn lo âu trên người bệnh ung thư
1.2.3.1 Tâm lý của người bệnh ung thư
Những tổn thương về cả thể chất và tâm thần này có thể gây ra tình trạng mất khả năng lao động Do đó cần có những can thiệp để cải thiện đời sống tinh thần sẽ có thể mang đến những hiệu quả điều trị tốt hơn cho người bệnh ung thư[16]
1.2.3.2 Thang đo đánh giá lo âu ở người bệnh ung thư
Thang tự đánh giá lo âu của Zung (Self - Rating Anxiety Scale)[60]
Test này được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thừa nhận là một test đánh giá trạng thái lo âu bao gồm 20 câu hỏi trong đó 15 câu hỏi về gia tăng sự lo lắng
và 5 câu giảm Có hai dạng đánh giá là tự đánh giá và đánh giá lâm sàng Các câu hỏi được tính điểm theo 4 mức tần suất xuất hiện triệu chứng:
- 1 điểm: không có hoặc ít thời gian
- 2 điểm: đôi khi
- 3 điểm: phần lớn thời gian
- 4 điểm: hầu hết hoặc tất cả thời gian
Kết quả được đánh giá :
Trang 18T ≤ 50% : Không có lo âu bệnh lý
T > 50% : Có lo âu bệnh lý
Thang tự đánh giá mức độ lo âu S-TAI (State-Trait Anxiety Inventory)[35]
Để đo lường sự hiện diện và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng lo âu hiện tại Có hai loại phiên bản cho cả người lớn và trẻ em Công cụ này là 2 bảng tự đánh giá gồm tổng số 40 câu hỏi, mỗi bảng là 20 câu, người bệnh sẽ tự đánh giá theo các mức độ và được quy ra điểm: 1 điểm, 2 điểm, 3 điểm và 4 điểm Ở mỗi bảng, số điểm nằm trong khoảng 20-80 điểm, điểm càng cao thì càng cho thấy sự lo lắng nhiều hơn Với người lớn, thời gian yêu cầu để hoàn thành bảng đo là 10 phút Đây là một phương pháp đánh giá nhanh chóng, đơn giản, dễ dàng và rất phổ biến trên thế giới, được dịch ra nhiều loại ngôn ngữ khác nhau, tuy nhiên khi muốn tìm sự thay đổi về tâm lý trong một khoảng thời gian ngắn thì thang đo này vẫn còn hạn chế do mục đích tìm các dấu hiệu lo âu
đã tồn tại trong thời gian dài
Thang đánh giá lo âu Hamilton (Hamilton anxiety rating scale – HARS) Đây là thang đo được sử dụng rất rộng rãi trên lâm sàng đặc biệt là trong các nghiên cứu hiệu quả điều trị lo âu[31][40] Thang đo này bao gồm 14 nhóm câu hỏi cho các triệu chứng và tương đối chi tiết, thường được sử dụng đánh giá các triệu chứng lo âu trong rối loạn lo âu lan tỏa[1]
Thang đánh giá lo âu và trầm cảm trên người bệnh tại bệnh viện HADS Đây là công cụ có giá trị và đáng tin cậy để sàng lọc, đánh giá các triệu chứng lo âu và trầm cảm của người bệnh tại bệnh viện[18][20] Thang đo này rất đơn giản, dễ hiểu và dễ dàng hoàn thành trong khoảng thời gian chưa đến 5 phút, gồm 14 câu hỏi tự trả lời về những triệu chứng của chính người bệnh trong thời gian tuần kế trước, bao gồm 7 câu đánh giá lo âu (HADS – A) và 7 câu cho trầm cảm (HADS – D) Mỗi câu hỏi có 4 lựa chọn theo các mức độ tương ứng với các số điểm từ 0 đến 3 Sau khi tính tổng điểm cho mỗi phần, từ
11 điểm trở lên là rối loạn lo âu hay trầm cảm thực sự, từ 8 đến 10 điểm là có thể có triệu chứng của lo âu hay trầm cảm, từ 0 đến 7 điểm là bình thường [35]