1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích những điểm khác nhau về tính chất; về quyền kháng cáo, kháng nghị và về thẩm quyền của Hội đồng xét xử trong xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự. Liên hệ thực tế và đề xuất ý kiến nhằm hạn chế sai sót trong bản án dân sự

15 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 503,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích những điểm khác nhau về tính chất; về quyền kháng cáo, kháng nghị và về thẩm quyền của Hội đồng xét xử trong xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự. Liên hệ thực tế và đề xuất ý kiến nhằm hạn chế sai sót trong bản án dân sự

Trang 1

HỌC VIỆN CÁN BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT

TIỂU LUẬN HỌC PHẦN: LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

Sinh viên: Nguyễn Quốc Huy

Mã số sinh viên: 192030098

Lớp: K04 Luật B

TP Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2021

Trang 2

ĐỀ VIẾT TIỂU LUẬN SỐ 1 Câu 1 (05điểm)

Phân tích những điểm khác nhau về tính chất; về quyền kháng cáo, kháng nghị

và về thẩm quyền của Hội đồng xét xử trong xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự Liên hệ thực tế và đề xuất ý kiến nhằm hạn chế sai sót trong bản

án dân sự

Câu 2 (05 điểm)

Ông H và bà K là vợ chồng, có hai người con là P (sinh năm 1997, có khả năng lao động) và Q (sinh năm 2004) Họ có tài sản chung là hai căn nhà Ngày 10/10/2016 ông H chết Sau khi ông H chết, giữa cha mẹ ông H và bà K có tranh chấp về thừa kế Cha mẹ ông H làm đơn gửi ra Tòa án nhân dân yêu cầu chia thừa kế Tòa án nhân dân thụ lý vụ án; đã tiến hành hòa giải nhưng không thành Ngày 05/7/2017, Tòa án nhân dân mở phiên tòa xét xử sơ thẩm tranh chấp về thừa kế

Anh (chị) hãy:

a Xác định tư cách tham gia tố tụng dân sự của cha mẹ ông H, bà K, P và Q

b Viết phần Quyết định trong Bản án sơ thẩm về chia thừa kế trong trường hợp trên

(Biết rằng ông H chết không để lại di chúc, ngoài những người kể trên không còn ai khác, căn nhà thứ nhất trị giá 02 tỷ đồng, căn nhà thứ hai trị giá 08 tỷ đồng, ngoài ra không còn tài sản nào khác)

Trang 3

BÀI LÀM Câu 1

Những điểm khác nhau trong xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm dân

sự có thể kể đến thông qua những khía cạnh sau:

 Về tính chất:

 Xét xử phúc thẩm:

Căn cứ Điều 270 BLTTDS 2015: Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp phúc thẩm trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị

 Xét xử giám đốc thẩm:

Căn cứ Điều 325 BLTTDS 2015: Giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị giám đốc thẩm

Có thể hiểu, Giám đốc thẩm là việc “xét lại” những bản án hoặc quyết định của Toà án tuy đã có hiệu lực pháp luật (đã xét xử xong, đang ở giai đoạn thi hành án), nhưng bị “người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, kháng nghị (thông qua một văn bản có tên là “Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm”), vì phát hiện có sự vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án Giám đốc thẩm không phải là việc xét xử một vụ án theo thủ tục thông thường (mà luật quy định gồm hai cấp: sơ thẩm và phúc thẩm) mà là một thủ tục nhằm xem xét lại việc xét xử trước đây

Thông qua một “phiên tòa giám đốc thẩm”, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm sẽ đưa ra kết luận của mình – trong một văn bản tố tụng gọi là “Quyết định giám đốc thẩm” – đối với bản án bị kháng nghị giám đốc thẩm Và một bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật chỉ có thể được xét theo thủ tục giám đốc thẩm khi có “Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm” của người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

 Xét xử tái thẩm:

Căn cứ Điều 351 BLTTDS 2015: Tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã

có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới được phát hiện có

Trang 4

thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án, các đương

sự không biết được khi Tòa án ra bản án, quyết định đó Tái thẩm chỉ là chỉ là một thủ tục của tố tụng dân sự chứ không phải một cấp xét xử bởi:

+ Một, đối tượng của thủ tục tái thẩm là bản án, quyết định của Tòa án đã

có hiệu lực pháp luật Về cơ bản những bản án hay quyết định của Tòa án khi đã

có hiệu lực pháp luật thì các chủ thể liên quan phải chấp hành bản án, quyết định

đó Nhưng một số trường hợp mặc dù bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của đương sự Vậy nên pháp luật đặt ra thủ tục tái thẩm để xem xét lại những bản án, quyết định đó nhằm bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự

+ Hai, chủ thể có quyền và lợi ích liên quan đến bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không thể trực tiếp kháng cáo Pháp luật quy định chủ thể có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm chỉ có Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

+ Ba, phiên tòa tái thẩm không bắt buộc có đương sự Nếu cần thiết Hội đồng tái thẩm sẽ triệu tập đương sự

 Về quyền kháng cáo, kháng nghị:

 Xét xử phúc thẩm:

- Việc kháng cáo, kháng nghị của các chủ thể hiện nay được thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 271 đến Điều 284 BLTTDS năm 2015 Người có quyền kháng cáo bao gồm: Đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm

- Kháng cáo bảo đảm cho các đương sự có thể bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình trước tòa án Kháng nghị bảo đảm cho Viện kiểm sát thực hiện

có hiệu quả công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật của tòa án trong việc giải quyết vụ án dân sự Kháng cáo, kháng nghị là điều kiện để tòa án

Trang 5

cấp phúc thẩm tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án Những bản án, quyết định sơ thẩm dù có sai lầm nhưng nếu không bị kháng cáo, kháng nghị thì

vụ án cũng không được xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm

- Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày kể

từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên

án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết

+ Đối với đương sự, đại diện cơ quan chức năng, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi tòa ná tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên

án (quy định tại khoản 1 điều 273 BLTTDS 2015)

+Đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của toàn án cấp sơ thẩm là 7 ngày, kể từ ngày đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện nhận được quyết định haowcj kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định tại khoản 2 Điều 273 BLTTDS 2015

+ Kháng cáo quá hạn: kháng cáo quá thời hạn quy định tại điều 273 BLTTDS 2015

- Thời hạn kháng nghị đối với bản án của toàn án cấp sơ thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 1 tháng, kể từ ngày tuyên án

+ Trường hợp kiểm sát viên không tham gia phiên tòa thì thời hạn kháng nghị được tính từ ngày viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản án ( quy định tại khoản 1 điều 280 BLTTDS 2015)

+ Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 7 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày, kể từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết định ( quy định tại khoản 1 điều 280 BLTTDS 2015)

Trang 6

+ Kháng nghị quá hạn: Quyết định kháng nghị đó đã quá thời hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 điều 280 của BLTTDS 2015

- Tạm ứng án phí dân sự:

+ Kháng cáo thì phải nộp tạm ứng án phí dân sự

+ Kháng nghị thì không phải nộp tạm ứng án phí dân sự

- Thẩm quyền giải quyết: Chánh án toàn án cấp phúc thẩm thành lập hội đồng xét xử phúc thẩm và phân công một thẩm phán khác làm chủ tọa phiên tòa

 Xét xử giám đốc thẩm:

Người có quyền kháng nghị giám đốc thẩm căn cứ theo Điều 331 BLTTDS

2015 thì chỉ có chánh án tòa án nhân dân cấp cao, viện trưởng viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao mới có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm Cụ thể: Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSNDtối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp cao; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao; Chánh án TAND cấp cao, Viện trưởng VKSND cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh, TAND cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ

Đương sự và những người khác chỉ có quyền khiếu nại, tố cáo hoặc thông báo cho những người có thẩm quyền kháng nghị về những sai lầm, vi phạm pháp luật của tòa án đã giải quyết vụ án để những người này xem xét kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Đối với Tòa án, Viện kiểm sát, trong trường hợp phát hiện có vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì cũng phải thông báo bằng văn bản cho những người có thẩm quyền kháng nghị để những người này xem xét kháng nghị bản

án, quyết định đó

 Xét xử tái thẩm:

Trang 7

Căn cứ vào Điều 354 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì những người sau đây có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm: Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, viện trưởng Viện kiểm sát cấp cao Cụ thể: Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ

Để nâng cao trách nhiệm của những người có thẩm quyền trong việc tổ chức kiểm sát, giám đốc việc xét xử thì chỉ những người đó mới có quyền kháng nghị yêu cầu tòa án xét lại bản án, quyết định theo thủ tục tái thẩm Đương sự hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác chỉ có quyền phát hiện các tình tiết là căn

cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm và thông báo bằng văn bản cho những người

có quyền kháng nghị Trong trường hợp phát hiện tình tiết là căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm, viện kiểm sát, tòa án phải thông báo bằng vặn bản cho những người có quyền kháng nghị biết để họ xem xét việc kháng nghị

 Về thẩm quyền của Hội đồng xét xử:

 Xét xử phúc thẩm:

Hội đồng xét xử phúc thẩm là Hội đồng bao gồm các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân do Tòa án có thẩm quyền lập ra để nhân danh nhà nước trực tiếp xét

xử tại phiên tòa phúc thẩm Căn cứ theo Điều 308 BLTTDS 2015, Hội đồng xét

xử phúc thẩm có quyền sau đây:

1 Giữ nguyên bản án sơ thẩm;

2 Sửa bản án sơ thẩm;

Trang 8

3 Hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm;

4 Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án;

5 Đình chỉ xét xử phúc thẩm;

6 Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án khi có văn bản của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên cho đến khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền có văn bản trả lời Tòa án kết quả xử lý

 Xét xử giám đốc thẩm:

Căn cứ theo Điều 343 BLTTDS 2015, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm có thẩm quyền sau đây:

1 Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án đã

có hiệu lực pháp luật;

2 Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa;

3 Hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm hoặc xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm;

4 Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải quyết vụ án;

5 Sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật

 Xét xử tái thẩm:

Căn cứ theo Điều 356, BLTTDS, Hội đồng xét xử tái thẩm có thẩm quyền sau đây:

Trang 9

1 Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật

2 Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại theo thủ tục do Bộ luật này quy định

3 Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải quyết vụ án

Theo số liệu báo cáo của ngành Tòa án, trong những năm gần đây, lượng đơn đề nghị giám đốc thẩm dân sự như sau: năm 2018 là 16.782 đơn; năm 2019

là 18.112 đơn, trong đó, số đơn được giải quyếttrong năm 2018 là 6.408 đơn, chấp nhận kháng nghị 616 đơn chiếm 9,6%; năm 2019 là 9.198 đơn, chấp nhận kháng nghị 491 đơn, chiếm 5,3%; Con số nêu trên cho thấy, tình trạng gia tăng đơn đề nghị giám đốc thẩm và tỷ lệ đơn được chấp nhận kháng nghị còn thấp Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là quy định của BLTTDS năm 2015 về căn cứ kháng nghị chưa rõ Như đã đề cập ở trên đây, một trong những căn cứ kháng nghị là “có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” Tuy nhiên, cho đến nay, cơ quan có thẩm quyền chưa ban hành văn bản giải thích cụ thể thế nào là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng

Ngoài ra, quy định thời gian kháng nghị giám đốc thẩm cũng để lại nhiều

hệ lụy, nhất là đối với công tác thi hành án, người phải thi hành án có tư tưởng trông chờ, cố tình trì hoãn không chấp hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, từ đó gây không ít khó khăn cho cơ quan thi hành án Việc quy định thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm quá dài cũng sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến việc khắc phục hậu quả đối với những bản án đã tổ chức thi hành xong, như trong trường hợp người được thi hành án nhận được tài sản hoặc cơ quan thi hành án

tổ chức thi hành án bằng hình thức bán đấu giá tài sản và người thứ ba mua được tài sản trong trường hợp này Tuy nhiên, bản án sau đó bị kháng nghị giám đốc thẩm hủy án thì việc xử lý tài sản đã thi hành án là điều không dễ dàng, mà người bị thiệt hại nhiều nhất vẫn là người phải thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật

Trang 10

Liên hệ thực tiễn tại tỉnh Bình Phước những năm vừa qua, số lượng

án do Tòa án 2 cấp thụ lý ngày càng tăng về số lượng và phức tạp về nội dung tranh chấp, bao gồm cả các tranh chấp dân sự Kể từ ngày BLTTDS năm 2015

có hiệu lực đến nay, Kiểm sát viên (KSV) hai cấp, nhất là cấp huyện được phân công nhiệm vụ ở lĩnh vực công tác này đã có nhiều cố gắng nỗ lực trong công tác, lãnh đạo cấp huyện cũng đã có sự quan tâm hơn góp phần cùng Viện kiểm sát (VKS) hai cấp đạt nhiều kết quả; chất lượng nghiên cứu, tham gia phiên tòa, phát biểu của KSV, bản lĩnh của KSV từng bước được nâng cao; góp phần giúp HĐXX ban hành các bản án đúng quy định, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân Nhiều KSV đã kịp thời tham mưu lãnh đạo Viện ban hành kháng nghị phúc thẩm ngang cấp hoặc báo cáo VKS tỉnh để kháng nghị phúc thẩm Số lượng kháng nghị, kiến nghị ngày càng nhiều, chất lượng ngày càng được nâng cao; góp phần cùng ngành đạt nhiều kết quả, tạo niềm tin cho nhân dân, và cấp ủy địa phương

Mặc dù chất lượng giải quyết xét xử các vụ việc dân sự đã được nâng cao, tuy nhiên bên cạnh đó, một số bản án vẫn bị Viện Kiểm sát kháng nghị để xét xử theo thủ tục phúc thẩm, nhằm khắc phục các sai sót trong các bản án Trong thời gian qua cũng không ít KSV nghiên cứu hồ sơ chưa sâu, chưa phân tích đánh giá hết các chứng cứ, đề xuất còn chung chung nên khó khăn trong việc kiểm sát kết quả giải quyết, phát biểu của KSV khi tham gia phiên tòa còn hình thức, chất lượng chưa cao Số lượng án sơ thẩm bị cấp phúc thẩm hủy, sửa hàng năm giảm không đáng kể Trong khi đó số lượng kháng nghị so với số án hủy sửa vẫn còn

ít, nhất là công tác kháng nghị ngang cấp của VKS huyện vẫn còn khiêm tốn; thậm chí có huyện có án hủy, sửa nhưng không ban hành được kháng nghị nào Chất lượng một số bản kháng nghị chưa cao, phân tích, lập luận thiếu chặt chẽ, không nêu đầy đủ những vi phạm của bản án sơ thẩm, chưa đánh giá đúng về tính chất, mức độ vi phạm của Hội đồng xét xử

Để nâng cao hơn nữa công tác giải quyết các vụ, việc dân sự, cũng như công tác kháng nghị, kiến nghị của VKS nhân dân hai cấp, VKS hai cấp cần tập

trung vào một số giải pháp như:

Ngày đăng: 28/12/2021, 22:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w