1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Suy thoái kinh tế Thái Lan năm 2020

17 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 243,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

theo dữ liệu mới công bố từ Văn phòng Hội đồng Phát triển Kinh tế và Xã hội Quốc gia Thái Lan, năm 2020, kinh tế nước này suy giảm mạnh nhất trong hơn 20 năm qua do ngành du lịch và xuất khẩu bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid19

Trang 1

MỤC LỤC

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

Biểu đồ 1.1 Suy thoái hình chữ V, như trường hợp suy thoái kinh tế ở Hoa Kỳ năm 1953

Biểu đồ 1.2 Suy thoái hình chữ U, như trường hợp suy thoái kinh tế ở Hoa Kỳ trong các năm 1973-1975

Biểu đồ 1.3 Suy thoái hình chữ W, như trường hợp suy thoái kinh tế ở Hoa Kỳ đầu thập niên 1980

Biểu đồ 1.4 Suy thoái hình chữ L, như trường hợp Thập kỷ mất mát (Nhật Bản) Biểu đồ 1.5 Tác động của chính sách tài khóa mở rộng trong mô hình IS-LM

Biểu đồ 1.6 Chính sách tiền tệ mở rộng, đường LM dịch chuyển sang phải

Biểu đồ 2.1 GDP của Thái Lan giai đoạn vừa qua

Biểu đồ 2.2 Xuất khẩu Thái Lan giai đoạn vừa qua

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Đại dịch Covid-19 diễn ra từ cuối năm 2019 đến nay, gây ảnh hưởng toàn diện, sâu rộng đến tất cả các quốc gia trên thế giới, hiện vẫn đang diễn biến phức tạp, khó lường, đẩy thế giới và nhiều nước rơi vào khủng hoảng kép về y tế và kinh tế Về kinh

tế, hầu hết các quốc gia rơi vào suy thoái nghiêm trọng, kinh tế và thương mại toàn cầu suy giảm mạnh, trong đó có Thái Lan

Với kinh tế thế giới, hoạt động thương mại, đầu tư, du lịch, sản xuất, kinh doanh, bị đình trệ Báo cáo của IMF và WB (10/2020) dự báo kinh tế thế giới năm

2020 suy giảm (từ -5,2% đến -4,4%) UNCTAD dự báo FDI toàn cầu sẽ suy giảm khoảng 40% so với năm 2019 và tiếp tục giảm từ 5-10% trong năm 2021; WTO (10/2020) dự báo thương mại thế giới suy giảm khoảng 9,2% năm 2020 Lạm phát toàn cầu năm 2020 dự báo ở mức thấp (1,8-2%) do sức cầu còn yếu, giá dầu giảm mạnh và đứng ở mức thấp

Đối với Thái Lan, theo dữ liệu mới công bố từ Văn phòng Hội đồng Phát triển Kinh tế và Xã hội Quốc gia Thái Lan, năm 2020, kinh tế nước này suy giảm mạnh nhất trong hơn 20 năm qua do ngành du lịch và xuất khẩu bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19 Do đó, em lựa chọn đề tài: “Suy thoái kinh tế ở Thái Lan” để làm tiểu luận kết thúc môn học của mình

Nội dung của bài tiểu luận gồm có 2 nội dung chính:

Phần 1: Cơ sở lý luận về suy thoái kinh tế và tác động của các chính sách Phần 2: Phân tích tình huống

Trang 4

PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SUY THOÁI KINH TẾ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA

CÁC CHÍNH SÁCH

1.1 Khái niệm về suy thoái kinh tế

Theo giáo sư Nguyễn Văn Ngọc, Từ điển Kinh tế học, Đại học Kinh tế Quốc dân: “Suy thoái (depression) là giai đoạn trong chu kỳ kinh doanh được đặc trưng bởi

sự giảm sút nghiêm trọng trong quy mô hoạt động kinh tế Trong giai đoạn này, sản lượng thực tế, đầu tư đều ở mức thấp, còn tỷ lệ thất nghiệp thì ở mức cao Hiên tượng suy thoái mà chủ yếu do sự giảm sút trong tổng cầu gây ra có thể xử lý bằng cách vận dụng chính sách tài chính và tiền tệ mở rộng”

Theo https://vi.wikipedia.org/: “Suy thoái kinh tế (tiếng Anh:

recession/economic downturn) được định nghĩa trong Kinh tế học vĩ mô là sự suy giảm của Tổng sản phẩm quốc nội thực trong thời gian hai hoặc hơn hai quý liên tiếp trong năm (nói cách khác, tốc độ tăng trưởng kinh tế âm liên tục trong hai quý)”.

Tuy nhiên, định nghĩa này không được chấp nhận rộng rãi Cơ quan nghiên cứu kinh tế quốc gia (NBER) của Hoa Kỳ đưa ra định nghĩa về suy thoái kinh tế còn mập

mờ hơn "là sự tụt giảm hoạt động kinh tế trên cả nước, kéo dài nhiều tháng" Suy

thoái kinh tế có thể liên quan sự suy giảm đồng thời của các chỉ số kinh tế của toàn bộ hoạt động kinh tế như việc làm, đầu tư, và lợi nhuận doanh nghiệp Các thời kỳ suy thoái có thể đi liền với hạ giá cả (giảm phát), hoặc ngược lại tăng nhanh giá cả (lạm phát) trong thời kì đình lạm

Một sự suy thoái trầm trọng và lâu dài được gọi là khủng hoảng kinh tế Sự tan

vỡ tàn phá nền kinh tế là suy sụp/đổ vỡ kinh tế

1.2 Các dạng suy thoái kinh tế

Các nhà kinh tế học hay miêu tả kiểu suy thoái kinh tế theo hình dáng của đồ thị tăng trưởng theo quý Có các kiểu suy thoái sau hay được nhắc đến:

Suy thoái hình chữ V: Đây là kiểu suy thoái mà pha suy thoái ngắn, tốc độ

suy thoái lớn; đồng thời, pha phục phồi cũng ngắn và tốc độ phục hồi nhanh; điểm đổi chiều giữa hai pha này rõ ràng Đây là kiểu suy thoái thường thấy

Trang 5

Biểu đồ 1.1 Suy thoái hình chữ V, như trường hợp suy thoái kinh tế ở Hoa Kỳ

năm 1953

Suy thoái hình chữ U: Đây là kiểu suy thoái mà pha phục hồi xuất hiện rất

chậm Nền kinh tế sau một thời kỳ suy thoái mạnh tiến sang thời kỳ vất vả để thoát khỏi suy thoái Trong thời kỳ thoát khỏi suy thoái, có thể có các quý tăng trưởng dương và tăng trưởng âm xen kẽ nhau

Biểu đồ 1.2 Suy thoái hình chữ U, như trường hợp suy thoái kinh tế ở Hoa Kỳ

trong các năm 1973-1975

Suy thoái hình chữ W: Đây là kiểu suy thoái liên tiếp Nền kinh tế vừa thoát khỏi

suy thoái được một thời gian ngắn lại tiếp tục rơi ngay vào suy thoái

Trang 6

Biểu đồ 1.3 Suy thoái hình chữ W, như trường hợp suy thoái kinh tế ở Hoa Kỳ

đầu thập niên 1980

Suy thoái hình chữ L: Đây là kiểu suy thoái mà nền kinh tế rơi vào suy thoái

nghiêm trọng rồi suốt một thời gian dài không thoát khỏi suy thoái Một số nhà kinh

tế gọi tình trạng suy thoái không lối thoát này là khủng hoảng kinh tế

Biểu đồ 1.4 Suy thoái hình chữ L, như trường hợp Thập kỷ mất mát (Nhật Bản)

Trang 7

1.3 Nguyên nhân của suy thoái kinh tế

Đa số các nhà kinh tế và những người làm chính sách đều cho rằng, các kỳ suy thoái kinh tế gây ra bởi sự kết hợp của các yếu tố bên trong (nội sinh) theo chu kỳ và các cú sốc từ bên ngoài (ngoại sinh) Tuy nhiên, nguyên nhân đích thực gây ra suy thoái kinh tế vẫn còn đang là đề tài gây tranh luận sôi nổi trong kinh tế học hiện nay

Cụ thể:

Những nhà kinh tế học chủ nghĩa Keynes và những lý thuyết gia theo lý thuyết chu kỳ kinh tế thực sẽ bất đồng về nguyên nhân của chu kỳ kinh tế, nhưng sẽ thống nhất cao rằng các yếu tố ngoại sinh như giá dầu, thời tiết, hay chiến tranh có thể tự chúng gây ra suy thoái kinh tế nhất thời, hoặc ngược lại, tăng trưởng kinh tế ngắn hạn

Trường phái kinh tế học Áo giữ quan điểm rằng lạm phát bởi cung tiền tệ gây

ra suy thoái kinh tế ngày nay và các thời kỳ suy thoái đó là động lực tích cực theo nghĩa chúng là cơ chế tự nhiên của thị trường điều chỉnh lại những nguồn lực bị sử dụng không hiệu quả trong giai đoạn "tăng trưởng" hoặc lạm phát

1.4 Mô hình IS – LM và tác động của các chính sách đến chống suy thoái kinh tế

1.4.1 Mô hình IS - LM

Mô hình IS-LM đã được sử dụng để kết hợp các hoạt động khác nhau của nền kinh tế: nó là sự kết hợp của thị trường tài chính (tiền tệ) với thị trường hàng hóa và dịch vụ Trong nền kinh tế đóng thì mô hình không chịu ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài nền kinh tế: xuất khẩu ròng (NX), tỷ giá hối đoái, lãi suất thế giới

1.4.2 Tác động của các chính sách đến chống suy thoái kinh tế

a. Tác động của chính sách tài khóa mở rộng

• Trong nền kinh tế đóng, giả sử Chính phủ sử dụng chính sách tài khóa mở rộng, tăng một lượng là ∆G, tổng cầu tăng, đường IS dịch chuyển sang phải từ IS1 đến IS2 do tổng cầu tăng thêm một lượng là ∆Y, cầu tiền tăng, đẩy lãi suất tăng lên từ r1 đến r2

• Chính sách tài khóa làm tăng thu nhập trong nền kinh tế đóng

Trang 8

• Trạng thái cân bằng ban đầu của nền kinh tế là E1, bây giờ là E2 Đầu tư giảm kéo theo sản lượng của nền kinh tế chỉ tăng từ Y1 đến Y2 Mức sản lượng tăng ∆Y = Y2 -Y1 này nhỏ hơn mức tăng của tổng cầu

• Lãi suất tăng là nguyên nhân làm giảm đầu tư (đây chính là hiện tượng tháo lui đầu tư)

Biểu đồ 1.5 Tác động của chính sách tài khóa mở rộng trong mô hình IS-LM

b. Tác động của chính sách tiền tệ mở rộng

Trong nền kinh tế đóng, Chính phủ sử dụng chính sách tiền tệ mở rộng, bằng việc hoặc giảm tỷ lệ dự bắt buộc, hoặc giảm lãi suất chiết khấu, hoặc mua trái phiếu trên thị trường mở, cung tiền tăng Đường LM dịch chuyển sang phải (xuống dưới), lãi suất giảm từ r1 xuống r2, thu nhập cân bằng tăng lên từ Y1 đến Y2

Như vậy, chính sách tiền tệ mở rộng trong nền kinh tế đóng làm tăng đầu tư, tăng thu nhập của nền kinh tế

Biểu đồ 1.6 Chính sách tiền tệ mở rộng, đường LM dịch chuyển sang phải

Trang 9

PHẦN 2: PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG 2.1 Mô tả tình huống

Theo dữ liệu mới công bố từ Văn phòng Hội đồng Phát triển Kinh tế và Xã hội Quốc gia Thái Lan, năm 2020, kinh tế nước này suy giảm mạnh nhất trong hơn 20 năm qua do ngành du lịch và xuất khẩu bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19

Năm 2020, tổng giá trị quốc nội (GDP) của Thái Lan giảm 6,1% so với năm

2019 Đây là năm thứ 3 nền kinh tế lớn thứ hai tại Đông Nam Á suy giảm trong hơn 2 thập kỷ qua Hai lần trước là vào năm 2009 và 1998 khi nền kinh tế Thái Lan lần lượt giảm 0,7% và 7,6% do khủng hoảng tài chính toàn cầu và khủng hoảng tài chính châu Á

Trong quý 4/2020, GDP của Thái Lan giảm 4,2% so với cùng kỳ năm trước Tính theo quý, kinh tế nước này tăng trưởng 1,3% trong quý 4 so với trước, sau khi tăng trưởng 6,5% vào quý trước

Đại dịch Covid-19 ảnh hưởng nặng nề tới xuất khẩu của quốc gia Đông Nam

Á Xuất khẩu dịch vụ, bao gồm chi tiêu của nhóm phi dân cư như du khách, giảm tới 60% trong năm 2020 so với năm trước Hiện tại, Thái Lan vẫn đóng cửa biên giới với hầu hết các quốc gia Bên cạnh đó, xuất khẩu hàng hóa cũng sụt 5,8% do nhu cầu trên thế giới suy giảm

Chi tiêu trong khu vực kinh tế tư nhân giảm 1% trong năm 2020 do ảnh hưởng bởi các lệnh phong tỏa, dừng một số hoạt động kinh doanh để phòng dịch bệnh Chính phủ Thái Lan đã cố gắng thúc đẩy tiêu dùng bằng cách tung ra các chương trình tài trợ

du lịch, phát tiền mặt, nhưng nhu cầu nội địa vẫn không đủ để đưa nền kinh tế này thoát vùng tăng trưởng âm

Từ giữa tháng 12/2020, Thái Lan lại chứng kiến số lượng ca nhiễm Covid-19 tăng vọt, buộc chính phủ phải tái áp dụng các biện pháp phong tỏa tại một số tỉnh Do

Trang 10

đó, nhiều tổ chức chính phủ cũng như hãng nghiên cứu tư nhân đã điều chỉnh giảm dự báo kinh tế của nước này trong năm nay

Văn phòng Hội đồng Phát triển Kinh tế và Xã hội Quốc gia Thái Lan không phải ngoại lệ Trong công bố ngày 15/2, cơ quan này điều chỉnh giảm dự báo tăng trưởng kinh tế nước này xuống còn 2,5-3,5% từ mức 3,5-4,5% đưa ra vào tháng 11/2020

Trong khi đó, tờ Bloomberg đưa tin, triển vọng kinh tế Thái Lan năm 2020 là tồi tệ nhất ở châu Á, do nền kinh tế nước này phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu và

du lịch, trong khi cả hai lĩnh vực này đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng sau sự bùng phát của đại dịch Covid-19, cụ thể hơn được thể hiện qua việc giá trị đồng Baht tăng mạnh

và gây bất lợi đối với giới xuất khẩu trong nước

Theo Ngân hàng Thế giới, nền kinh tế lớn thứ hai Đông - Nam Á dự kiến sẽ giảm 8,3% GDP trong năm nay trước khi phục hồi lên mức tăng 4,9% vào năm 2021

2.2 Nguyên nhân của suy thoái kinh tế tại Thái Lan

a Nguyên nhân bên ngoài

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy thoái kinh tế tại Thái Lan là do tác động từ dịch covit 19 Dịch covit – 19 diễn biến khó lường, trong khi tình trạng vắc xin vẫn còn chưa hiệu quả và khan hiếm Tình hình dịch làm ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu, khi mà bắt buộc phải đóng cửa các nước, dẫn đến việc xuất nhập khẩu bị ảnh hưởng nặng nề

b. Nguyên nhân bên trọng

Nguyên nhân bên trong dẫn đến tình trạng suy thoái kinh tế tại Thái Lan năm

2020 vừa qua là do:

- Thứ nhất: nền kinh tế của Thái Lan phụ thuộc lớn nhất vào du lịch Nhưng khi dịch covit 19 bùng lên thì các nước phải hạn chế đi lại, đóng cửa nên nhu cầu về du lịch sang Thái Lan hạn chế Ngoài ra, khi chính Thái Lan kinh tế phần lớn dựa vào du lịch nên tiếp đón nhiều du khách nước ngoài, khiến cho tình trạng dịch dễ lây lan Mà khi

Trang 11

dịch đã bùng phát thì chính Thái Lan cũng phải đóng cửa để dập dịch Tóm lại, khi du lịch không còn do dịch thì kinh tế Thái Lan bị ảnh hưởng rất lớn, kém hơn rất nhiều

- Thứ hai: nền kinh tế Thái Lan cũng phụ thuộc lớn vào xuất khẩu Khi dịch covit 19 xảy ra, các nước đóng cửa khiến cho tình trạng xuất khẩu giảm đi rất nhiều

2.3 Tác động của suy thoái kinh tế tại Thái Lan đến các biến số vĩ mô cơ bản

a Tác động của suy thoái kinh tế tại Thái Lan đến GDP

Theo Bloomberg, nền kinh tế Thái Lan suy thoái nhiều nhất trong hơn 2 thập

kỷ, làm ảnh hưởng sâu hơn khi các động lực chính của quốc gia về thương mại và du lịch vẫn gặp khó khăn bởi đại dịch toàn cầu COVID-19

Hội đồng Phát triển Kinh tế và Xã hội Quốc gia Thái Lan cho biết hôm 17.8.2020, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) giảm 12,2% so với năm ngoái Đây là mức giảm lớn nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1998 Con số này không

tệ như ước tính trung bình ban đầu là giảm 13% trong một cuộc khảo sát với các nhà kinh tế của Bloomberg

Trang 12

Biểu đồ 2.1 GDP của Thái Lan giai đoạn vừa qua

GDP của Thái Lan sụt giảm 6,1% trong năm 2020 - kết quả cả năm tồi tệ nhất trong vòng 2 thập niên qua kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 Nền kinh tế thuộc vào du lịch này đang phải vật lộn với một đợt bùng phát mới của COVID-19 bao gồm một biến thể rất dễ lây lan, giáng một đòn vào sự phục hồi kinh

tế vốn đã chậm chạp của Thái Lan

Ngành du lịch đóng góp 3.000 tỷ baht cho nền kinh tế Thái Lan vào năm 2019, chiếm 18% GDP của cả nước, trong đó 2.000 tỷ baht đến từ khách du lịch nước ngoài (chiếm 12% GDP) và 1.000 tỷ baht từ du lịch nội địa (chiếm 6% GDP)

Năm ngoái, lượng khách du lịch nước ngoài đến Thái Lan đạt 6,7 triệu lượt, tạo ra doanh thu khoảng 300 tỷ baht, kém xa con số gần 40 triệu lượt vào năm 2019

Trung tâm Nghiên cứu Kasikorn (K-Research) ngày 23/4 dự báo lượng khách

du lịch nước ngoài đến Thái Lan trong năm nay sẽ sụt giảm mạnh, xuống còn khoảng 250.000 đến 1,2 triệu lượt do ảnh hưởng của làn sóng COVID-19 thứ ba kể từ cuối tháng 3

Trước khi xuất hiện làn sóng COVID-19 thứ ba, K-Research đã dự báo sẽ có khoảng 2 triệu lượt khách du lịch nước ngoài tới Thái Lan vào năm 2021 Theo trung tâm này, làn sóng COVID-19 thứ ba có thể kéo dài hơn những đợt trước do số lượng lây nhiễm cao hơn và khả năng lây lan nhanh hơn của chủng virus đột biến Trong nửa đầu năm sẽ chỉ có 35.000 lượt khách du lịch nước ngoài, trong khi tình hình sẽ từ từ được cải thiện trong nửa cuối năm

b. Tác động của suy thoái kinh tế tại Thái Lan đến lạm phát

Theo TPSO, CPI của Thái Lan, một thước đo của lạm phát toàn phần, trong tháng Sáu đã giảm 1,57% so với cùng kỳ năm ngoái, sau khi giảm 3,44% trong tháng Năm - mức sụt giảm cao nhất trong gần 11 năm qua Tính chung trong sáu tháng đầu

Trang 13

năm nay, lạm phát toàn phần của Thái Lan là 1,13% và lạm phát cơ bản là 0,32% (lạm phát cơ bản của Thái Lan trong tháng 6 là -0,05%)

c. Tác động của suy thoái kinh tế tại Thái Lan đến thất nghiệp

Tỷ lệ thất nghiệp có khả năng tăng cao hơn so với con số 1,96% vào cuối I/2021, mức cao nhất kể từ năm 2009, vì nhiều người có thể sẽ mất việc khi bùng phát kéo dài và hạn chế các doanh nghiệp Nợ hộ gia đình Thái Lan, đã tăng lên mức cao nhất trong 18 năm là 90,5% GDP, có thể sẽ tăng thêm do mất việc làm và thu nhập do

áp dụng các biện pháp phòng dịch nghiêm ngặt

d Tác động của suy thoái kinh tế tại Thái Lan đến xuất khẩu

Tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của Thái Lan là 258,07 tỷ USD vào năm 2020 theo số liệu mới nhất từ Ngân hàng thế giới Giá trị xuất khẩu của Thái Lan giảm -65,70 tỷ USD so với năm trước đó, tức giảm -20,29% so với 323,77 tỷ USD của năm 2019 Tổng kim ngạch xuất khẩu của Thái Lan năm 2021 dự kiến sẽ còn 206,46 tỷ USD nếu nền kinh tế Thái Lan vẫn giữ vững tốc độ xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ như năm vừa rồi

Biểu đồ 2.2 Xuất khẩu Thái Lan giai đoạn vừa qua

(Nguồn: https://solieukinhte.com/xuat-khau-thai-lan/)

Ngày đăng: 28/12/2021, 20:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w