Trong quá trình đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có sự vận dụng, phát triển sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh về mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên ch
Trang 1LÝ LUẬN NHẬN THỨC VÀ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC
TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
MỞ ĐẦU
Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh rằng, khi nào Đảng giữ vững
sự độc lập, tự chủ và sáng tạo về đường lối thì phong trào cách mạng phát triểnthuận lợi và thắng lợi, còn khi phạm sai lầm, giáo điều, chủ quan, duy ý chí thìphong trào cách mạng gặp khó khăn, thậm chí thất bại Công tác tư tưởng, lýluận luôn giữ vị trí đặc biệt quan trọng, góp phần to lớn vào việc tạo nên sựthống nhất cao trong Đảng và toàn thể nhân dân, phấn đấu cho mục tiêu cao cảcủa cách mạng Công tác này luôn được coi là một bộ phận trọng yếu của côngtác xây dựng Đảng, vì thế, trong các thời kỳ lãnh đạo cách mạng, Đảng ta baogiờ cũng đặt lên hàng đầu Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, trước những biếnđổi nhanh chóng, phức tạp của tình hình thế giới và trong nước, tiếp tục đổi mớicông tác tư tưởng, lý luận thật sự là một yêu vấn đề cấp bách, nhằm tăng cườngsức chiến đấu và sự lãnh đạo của Đảng, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản ViệtNam luôn kiên trì lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng
tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động Một trong những bài học kinhnghiệm quý báu mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng rút ra là:
“trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” 1 Trong quá trình đổi mới, Đảng Cộng sản Việt
Nam đã có sự vận dụng, phát triển sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh về mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội - một trong những vấn đề lý luận cơ bản nhất, trong bối cảnh và điều kiệnmới - điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế của nước ta.Trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hổ Chí Minh,Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những nhận thức ngày càng sâu sắc, đầy đủ hơn,
1Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị
quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.180.
Trang 2vận dụng và phát triển sáng tạo hơn lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, đặc biệt làtrong điều kiện hệ thống chủ nghĩa xã hội tan rã, chủ nghĩa xã hội hiện thựcđứng trước nhiều vấn đề cần giải đáp, trong khi nhiều nước tiến hành cải cách,cải tổ, nhưng không thành công Công cuộc đổi mới ở Việt Nam đạt được nhữngthành tựu to lớn, định hướng xã hội chủ nghĩa được giữ vững.
Chúng ta biết rằng, triết học là một trong ba bộ phận cấu thành của chủnghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ rằng chủ nghĩa duy vật biện chứng đó chính là triếthọc của chủ nghĩa Mác Cho đến nay, chỉ có triết học Mác là mang tính ưu việthơn cả, trên cơ sở nền tảng triết học Mác - Lênin, Đảng và Nhà nước ta đã họctập và tiếp thu tư tưởng tiến bộ, đề ra những mục tiêu, phương hướng chỉ đạochính xác, đúng đắn để xây dựng và phát triển xã hội, phù hợp với hoàn cảnh đấtnước Mặc dù có những khiếm khuyết không thể tránh khỏi song chúng ta luôn
đi đúng hướng trong cải tạo thực tiễn, phát triển kinh tế, từng bước đưa đất nước
ta tiến kịp trình độ các nước trong khu vực và thế giới về mọi mặt Chính nhữngthành tựu của xây dựng chủ nghĩa xã hội và qua ba mươi năm đổi mới là minhchứng xác đáng cho vấn đề nêu trên Hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễncùng với sự nắm bắt các quy luật khách quan trong vận hành nền kinh tế ở nước
ta là một vấn đề còn nhiều xem xét và tranh cãi, nhất là trong quá trình đổi mới
hiện nay.Vì vậy, em quyết định chọn vấn đề “Lý luận nhận thức và thực trạng công tác tư tưởng lý luận ở nước ta hiện nay”.
Trang 3NỘI DUNG
1 Những vấn đề cơ bản của lý luận nhận thức duy vật biện chứng
1.1 Quan điểm ngoài Mácxít về quá trình nhận thức
a Triết học trung hoa cổ, trung đại:
Đặc điểm nổi bật của phương thức tư duy của triết học cổ, trung đại TrungHoa là nhận thức trực giác, tức là có trong sự cảm nhận hay thể nghiệm Cảmnhận tức là đặt mình giữa đối tượng, tiến hành giao tiếp lý trí, ta và vật ăn khớp,khơi dậy linh cảm, quán xuyến nhiều chiều trong chốc lát, từ đó mà nắm bản thểtrừu tượng Hầu hết các nhà tư tưởng triết học Trung Hoa đều quen phương thức
tư duy trực quan thể nghiệm lâu dài, bỗng chốc giác ngộ Phương thức tư duytrực giác đặc biệt coi trọng tác dụng của cái tâm, coi tâm là gốc rễ của nhậnthức, "lấy tâm để bao quát vật" Cái gọi là "đến tận cùng chân lý" của Đạo gia,Phật giáo, Lý học, v.v nặng về ám thị, chỉ dựa vào trực giác mà cảm nhận, nênthiếu sự chứng minh rành rọt
* Nho giáo
Về nhận thức:
+ Lão Tử đề cao tư duy trừu tượng, coi khinh nghiên cứu sự vật cụ thể.Ông cho rằng "không cần ra cửa mà biết thiên hạ, không cần nhòm qua khe cửa
mà biết đạo trời"
+ Trang Tử xuất phát từ nhận thức luận tương đối của mình mà chỉ ra rằng,nhận thức của con người đối với sự vật thường có tính phiến diện, hạn chế.Nhưng ông đã rơi vào quan điểm bất khả tri, cảm thấy "đời có bờ bến mà sựhiểu biết lại vô bờ bến, lấy cái có bờ bến theo đuổi cái vô bờ bến là khôngđược" Ông lại cho rằng, ngôn ngữ và tư duy lôgíc không khám phá được Đạotrong vũ trụ
+ Trong ba thời kỳ: Sở Hán, Ngụy Tấn, Sở Đường, học thuyết Đạo giachiếm địa vị thống trị về tư tưởng trong xã hội Suốt lịch sử hai ngàn năm, tưtưởng Đạo gia tồn tại như những tư tưởng văn hóa truyền thống và là sự bổ
Trang 4sung cho triết học Nho gia.
* Ngũ hành
Tư tưởng triết học về Ngũ hành có xu hướng phân tích cấu trúc của vạn vật
và quy nó về những yếu tố khởi nguyên với những tính chất khác nhau, nhưngtương tác với nhau Năm yếu tố Ngũ Hành không tồn tại biệt lập tuyệt đối màtrong một hệ thống ảnh hưởng sinh - khắc với nhau theo hai nguyên tắc sau:+ Tương sinh (sinh hóa cho nhau): Thổ sinh Kim; Kim sinh Thủy; Thủysinh Mọc; Mộc sinh Hỏa; Hoả sinh Thổ, v.v
+ Tương khắc (chế ước lẫn nhau): Thổ khắc Thủy; Thủy khắc Hỏa; Hỏakhắc Kim; Kim khắc Mộc; và Mộc khắc Thổ, v.v
b Triết học Hy Lạp cổ đại
* Hêraclit: Hêraclit đã có những quan niệm đúng đắn về lí luận nhận thức.
Ông cho rằng nhận thức thế giới là nhận thức logot của vũ trụ Nhận thức logot cónghĩa là nhận thức tự nhiên và xã hội trong trạng thái đấu tranh và hài hòa vớinhững mâu thuẫn của chúng Tri thức chân thực là tri tức về logot tức là qui luậtcủa vũ trụ
Theo ông, nhận thức được bắt đầu từ cảm tính: mắt và tai là người thầy tốtnhất, nhưng mắt là nhân chứng chính xác hơn tai Ông rất coi trọng nhận thức cảmtính nhưng không tuyệt đối hóa nó
Theo ông, thị giác thường bị lừa vì tự nhiên thích giấu mình nên muốn nhậnthức được nó phải tư duy, phải có óc sang suốt ông còn nêu lên tính tương đối củanhận thức tùy theo hoàn cảnh và điều kiện mà thiện - ác, xấu - tốt, lợi - hại chuyểnhóa cho nhau
* Đêmôcrit
Đêmôcrit có nhiều công lao trong việc xây dựng lí luận về nhận thức Ôngđặt ra và giải quyết 1 cách duy vật vấn đề đối tượng của nhận thức, vai trò củacảm giác với tính cách là điểm bắt đầu của nhận thức và vai trò của tư duy trong
Trang 5việc nhận thức tự nhiên.Đêmôcrít phân nhận thức con người thành dạng nhậnthức do các cơ quan cảm giác đem lại và nhận thức nhờ lý tính.
Nhận thức đem lại do cơ quan cảm giác là loại nhận thức mờ tối, chưa đemlại chân lý Còn nhận thức lý tính là nhận thức thông qua phán đoán và cho phépđạt chân lý, vì nó chỉ ra cái khởi nguyên của thế giới là nguyên tử, tính đa dạngcủa thế giới là do sự sắp xếp khác nhau của các nguyên tử
* Platon
Nhận thức của con người, theo Platôn không phải là phản ánh các sự vậtcảm biết của thế giới khách quan, mà là nhận thức về ý niệm Thế giới ý niệm cótrước thế giới các vật cảm biết, sinh ra thế giới cảm biết Ông cho rằng để nhậnthức được chân lí, người ta phai từ bỏ những cái hữu hình cảm tính, phải “hồitưởng” lại những gì mà linh hồn bất tử đã quan sát đước trong thế giới ý niệm
Ví dụ: cái cây, con ngựa, nước là do ý niệm siêu tự nhiên về cái cây, conngựa, nước sinh ra Hoặc khi nhìn các sự vật thấy bằng nhau là vì trong đầu ta
đã có sẵn ý niệm về sự bằng nhau
Lý luận nhận thức của Platôn cũng có tính chất duy tâm Theo ông tri thức,
là cái có trước các sự vật cảm biết mà không phải là sự khái quát kinh nghiệmtrong quá trình nhận thức các sự vật đó Do vậy nhận thức con người không phải
là phản ánh các sự vật của thế giới khách quan, mà chỉ là quá trình nhớ lại, hồitưởng lại của linh hồn những cái đã lãng quên trong quá khứ
Trên cơ sở đó, Platôn phân hai loại tri thức: tri thức hoàn toàn đúng đắn, tincậy và tri thức mờ nhạt Loại thứ nhất là tri thức ý niệm, tri thức của linh hồntrước khi nhập vào thể xác và có được nhờ hồi tưởng Loại thứ hai lẫn lộn đúngsai, là tri thức nhận được nhờ vào nhận thức cảm tính, ở đó không có chân lý
*Arixtốt
Nhận thức luận của Arixtốt có một vai trò quan trọng trong lịch sử triết học
Hy Lạp cổ đại Lý luận nhận thức của ông được xây dựng một phần trên cơ sở
Trang 6phê phán học thuyết Platôn về "ý niệm" và "sự hồi tưởng".
Trong lý luận nhận thức của mình, Arixtốt thừa nhận thế giới khách quan
là đối tượng của nhận thức, là nguồn gốc, kinh nghiệm và cảm giác Tự nhiên
là tính thứ nhất, tri thức là tính thứ hai Cảm giác có vai trò quan trọng trongnhận thức, nhờ cảm giác về đối tượng mà có tri thức đúng, có kinh nghiệm và
lý trí hiểu biết được về đối tượng ở đây, Arixtốt đã thừa nhận tính khách quancủa thế giới
Về các giai đoạn của nhận thức, Arixtốt thừa nhận giai đoạn cảm tính làgiai đoạn thứ nhất; giai đoạn nhận thức trực quan (ví dụ sự quan sát nhật thực,nguyệt thực bằng mắt thường); còn nhận thức lý tính là giai đoạn thứ hai, giaiđoạn này đòi hỏi sự khái quát hóa, trừu tượng hóa để rút ra tính tất yếu củahiện tượng
Sai lầm có tính chất duy tâm của Arixtốt ở đây là thần thánh hóa nhận thức
lý tính, coi nó như là chức năng của linh hồn, của Thượng đế
Tuy nhiên, nhìn chung nhận thức luận của Arixtốt chứa đựng các yếu tố củacảm giác luận và kinh nghiệm luận có khuynh hướng duy vật
c Triết học Tây Âu thời Trung cổ
* Tomat Đacanh: đại biểu của phái duy thực trong giai đoạn hưng thịnh của
Chủ nghĩa kinh viện
Lý luận nhận thức của Tomat Đacanh là 1 bước tiến mới trong triết họckinh viện trung cổ
Về lí luận nhận thức, Tomat Đacanh khôi phục về mặt hình thức lí thuyếthình dạng của Arixtot nhưng lại bỏ cái sinh khí, cái sống động, sự tìm tòi chân lítrong học thuyêt của Arixtốt
Theo ông, nhận thức của con người là hình dạng của sự vật chứ không phảibản than sự vật ông chia hình dạng thành hình dạng cảm tính và hình dạng lítính Trong đó, hình dạng cảm tính có vai trò quan trọng, nhờ đó mà cảm giác
Trang 7trở nên cảm thụ tích cực còn hình dạng lí tính cao hơn hình dạng cảm tính, nhờ
nó mà ta biết được cái chung chứa trong nhiều sự vật riêng lẽ
* Đơn Xcớt: được coi là nhà duy danh lớn nhất thế kỷ 13.
Về lí luận nhận thức, Đơn xcớt cho rằng tinh thần và ý chí là hình thức củathân thể con người và gắn liền với thân thể của con người đang sống do thượng
đế ban cho từ con người mới được sinh ra.Tri thức của con người được hìnhthành từ tinh thần và từ đối tượng nhận thức tinh thần tuy có sức mạnh to lớntrong nhận thức, nhưng vẫn phải phụ thuộc vào đối tượng nhận thức chỉ cónhững sự vật đơn nhất và cá biệt là thực tại cao nhất
* Rogie Bêcơn: được coi là người đề xướng vĩ đại nhất của khoa học thực
nghiệm Theo ông, nguồn gốc của nhận thức là uy tín, lí trí và thực nghiệm.Kinh nghiệm là tiêu chuẩn của chân lí, thước đo của lí luận Trong tri thức khoahọc, không có sự nguy hiểm nào lớn hơn sự ngu dốt
Tuy nhiên, ông không thể thoát khỏi những hạn chế của thời mình: thời đạithống trị của tôn giáo và nhà thờ Ông cũng đã dành thời gian để nghiên cứu vềtính chất rõ rang của tư tưởng xuất phát từ mẩu mực đầu tiên của thượng đế và
về ý chí hoạt động tiên nghiệm
d Triết học Tây Âu cận đại thế kỷ XVII - XVIII
* Phranxi Bêcơn: là người sáng lập triết học duy vật Anh
Bêcơn cho rằng nhiệm vụ của triết học, của khoa học nói chung là nhậnthức thế giới tự nhiên, giúp cho con người nắm được các mối liên hệ phức tạp
và các lực lượng hùng mạnh của tự nhiên Ông cho rằng, điều kiện cần thiết đầutiên để xây dựng 1 khoa học chân chính về giới tự nhiên là tẩy rửa được tất cả
mọi ảo tưởng Theo Bêcơn, phương pháp nhận thức tốt nhất là thực nghiệm,
quan sát, phân tích và quy nạp Từ phương diện triết học, Bêcơn đã lí giảiphương pháp thực nghiệm được sử dụng rộng rãi thời đó trong khoa học tựnhiên và chuyển nó sang lĩnh vực triết học Bêcơn là người sáng lập ra phươngpháp quy nạp và lôgic học quy nạp
Trang 8Triết học duy vật của Bêcơn phản bác chủ nghĩa duy tâm, triết học kinhviện và tôn giáo, tuy sự phản bác đó mới chỉ ở mức độ đòi khoa học và triết họcđộc lập với tôn giáo và thần học; Bêcơn thừa nhận thuyết "Hai chân lí", cho rằngkhoa học và tôn giáo không nên can thiệp vào thẩm quyền của nhau.
* Rơnê Đềcáctơ: là người sáng lập ra Chủ nghĩa duy lý.
Cũng như Bêcơn, Đềcáctơ đã chú ý nghiên cứu phương pháp nhậnthức khoa học để tạo nên khả năng đi sâu vào nghiên cứu những bí mật củagiới tự nhiên
Ông tin rằng, với phương pháp mới có thể đạt được những tri thức có íchcho cuộc sống Gạt bỏ đi những đạo lý kinh viện của tôn giáo, Đêcáctơ đưa lý trílên vị trí hàng đầu trong lý luận về nhận thức Ông cho rằng nhiệm vụ của thínghiệm không phải là phát minh ra các quy luật của tự nhiên mà là khẳng địnhnhững tri thức, những quy luật mà lý trí phát hiện ra
Đềcáctơ thừa nhận rằng sự nghi ngờ là điểm xuất phát của phương phápkhoa học Ông nhấn mạnh rằng, dù anh nghi ngờ mọi cái, nhưng không thể nghingờ rằng anh nghi ngờ Đêcáctơ nói: Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại, và ông cho đó lànguyên lý cơ bản, bất di bất dịch Ý nghĩa tiến bộ của nguyên lý trên là ở chỗ:
nó đề cao vai trò của lý trí, phủ nhận 1 cách tuyệt đối tất cả những gì mà người
ta mê tín Nhưng nguyên lý ấy lại thể hiện tính chất duy tâm, vì Đêcáctơ đãkhông nhìn thấy rằng không thể đi tìm tiền đề xuất phát của nhận thức ở ngaytrong nhận thức mà phải tìm từ bản thân đời sống thực tiễn xã hội
* Giôn Lôccơ: cũng là 1 đại biểu nổi tiếng của chủ nghĩa duy vật Anh, là 1
trong những người sáng lập ra tự nhiên thần luận Tiếp tục phát triển kinhnghiệm của Bêcơn, Lốccơ đã đưa duy giác luận vào triết học Nếu Bêcơn khẳngđịnh rằng mọi tri thức đều bắt nguồn từ kinh nghiệm thì ông lại cho rằng kinhnghiệm là do những tài liệu cảm tính, những cảm giác hợp thành
Lốccơ còn bác bỏ thuyết tư tưởng bẩm sinh của Đêcáctơ, ông khẳng định:không có tư tưởng bẩm sinh, mà chỉ có tư tưởng, khái niệm của con người xuất
Trang 9hiện trong quá trình con người tiếp xúc với thế giới xung quanh.
Cảm giác được hình thành khi con người tiếp cận với thế giới xung quanh,
đó là căn cứ đầu tiên và có ý nghĩa quyết định với toàn bộ sự nhận thức
e.Triết học Cổ điển Đức
* Cantơ: là 1 nhà triết học nhị nguyên.
Một mặt ông thừa nhận sự tồn tại của thế giới các "vật tự nó" ở bên ngoàicon người Thế giới đó có thể tác động tới các giác quan của chúng ta ở điểmnày, Cantơ là nhà duy vật
Nhưng mặt khác thế giới các vật thể quanh ta mà ta thấy được lại khôngliên quan gì đến cái gọi là "thế giới vật tự nó", chúng chỉ là "các hiện tượng phù hợp với cái cảm giác và cái tri thức do lý tính của ta tạo ra Nhưng các cảmgiác và tri thức không cung cấp cho ta hiểu biết gì về "thế giới vật tự nó"
Theo Cantơ, nhận thức con người chỉ biết được hiện tượng bề ngoài màkhông xâm nhập được vào bản chất đích thực của sự vật, không phán xét được
gì về sự vật như chúng tự thân tồn tại
Như vậy, trong lĩnh vực nhận thức luận, Cantơ là một đại biểu tiêu biểu củathuyết "không thể biết" (mặc dù có khác với thuyết "không thể biết" của Hium).Nhận thức luận của Cantơ có tính chất duy tâm là sự phản ứng đối với chủnghĩa duy vật Pháp, là sự khôi phục Thượng đế Ông nói rằng, trong nhận thứccần hạn chế phạm vi của lý tính để dành cho đức tin
* Hêghen
Ông là nhà biện chứng lỗi lạc, bậc tiền bối của TH mác-xít Ănggen nhận
xét: “Hêggen không những chỉ là 1 thiên tài sáng tạo, mà còn là 1 nhà bác học
có tri thức bách khoa, nên những phát biểu của ông tạo thành thời đại”.
Hêghen coi tinh thần tuyệt đối là điểm khởi đầu, đấng tối cao sỏng tạo ra
giới tự nhiên và con người
Trang 10Mọi sự vật, hiện tượng chỉ là hiện thân của tinh thần tuyệt đối Con người
là sản phẩm, là giai đoạn phát triển cao nhất của tinh thần tuyệt đối Hoạt độngnhận thức của con người là công cụ để tinh thần tuyệt đối nhận thức chính bảnthân mình Tinh thần tuyệt đối của Ông được biểu hiện như sự hợp nhất, thốngnhất giữa tư duy và tồn tại, tinh thần và vật chất
* Lútvích Phoiơbắc: là nhà duy vật chủ nghĩa kiệt xuất thời kỳ trướcMác, đại biểu nổi tiếng của triết học cổ điển Đức, nhà tư tưởng của giai cấp
tư sản dân chủ Đức
Phoiơbắc đã có quan niệm đúng đắn rằng không thể quy các hiện tượngtâm lý về các quá trình hóa - lý, ông còn công nhận con người có khả năng nhậnthức được thế giới
Trong khi phát triển lý luận nhận thức duy vật, Phoiơbắc đã biết dựa vàothực tiễn, nhưng ông chỉ mới hiểu được thực tiễn là tổng hợp những yêu cầucủa con người về tinh thần, về sinh lý mà chưa nhận thức được nội dung cơbản của thực tiễn là hoạt động vật chất của con người, là lao động sản xuấtvật chất, đấu tranh giai cấp trong xã hội con người và hoạt động thực tiễn của
nó là cơ sở của nhận thức cảm tính và lý tính.Triết học của Phoiơbắc cũngbộc lộ những hạn chế
1.2 Quan điểm Mácxít về lý luận nhận thức
C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa ra những quan điểm, nguyên tắc có tính nềntảng về lý luận nhận thức, thực hiện bước ngoặt cách mạng trong lý luận nóichung và lý luận nhận thưc nói riêng C Mác cho rằng khuyết điểm chủ yếu củatoàn bộ chủ nghĩa duy vật, kể cả chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc, là đã khôngthấy được vai trò của thực tiễn cũng như của chủ thể nhận thức; rằng, đối với
nó, các “…sự vật, hiện thực, cái cảm giác được, chỉ được nhận thức dưới hìnhthức khách thể hay hình thức trực quan, chứ không được nhận thức là hoạt độngcảm giác của con người, là thực tiễn, không được nhận thức về mặt chủ quan”2
Trang 11Với ông, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý và “vấn đề tìm hiểu xem tư duy củacon người có thể đạt tới chân lý khách quan không, hoàn toàn không phải là mộtvấn đề lý luận mà là một vấn đề để thực tiễn”; rằng, đời sống xã hội, về bảnchất, là có tính thực tiễn Như vậy, nhận thức khoa học đã được C.Mác coi nhưmột hình thức hoạt động đặc thù, một quá trình phản ánh tích cực về hiện thựcthông qua những chủ thể xã hội và là sự thu nhận tri thức vào ý thức con người.V.I Lênin đã kế tục tư tưởng vĩ đại của C.Mác và Ph.Ăngghen, pháttriển sâu sắc lý luận nhận thức nói chung và nhận thức khoa học nói riêngnhư một bộ phận cấu thành hệ thống triết học macxít hoàn chỉnh Ông chorằng, nhận thức là sự phản ánh giới tự nhiên bởi con người, bao gồm cả mộtchuỗi những sự trừu tượng, sự cấu thành, sự hình thành các khái niệm, quy
luật…;rằng “nhận thức là quá trình, xâm nhập (của trí tuệ) vào giới tự nhiên…” và nó " là sự tiến gần mãi mãi và vô tận của tư duy đến khách thể "3 Đặc biệt, trong Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phêphán, Lênin đã chỉ ra những vấn đề cơ bản nhất của nhận thức khoa học, nhưđối tượng nhận thức, khả năng nhận thức thế giới khách quan của con người
và biện chứng phức tạp của quá trình nhận thức Điều đó đã khẳng định vấn
đề cơ bản của triết học trên lập trường duy vật biện chứng Hơn thế, trong khikhái quát về nhận thức khoa học và khả năng nhận thức của con người đốivới thế giới khách quan, Lênin đã phê phán sâu sắc các quan điểm duy vậtsiêu hình, duy tâm, thuyết không thể biết liên quan đến vấn đề này
Lý luận nhận thức trong triết học Mác - Lênin là một trong những thànhqủa vĩ đại của khoa học triết học và nó tiếp tục được các nhà triết học mácxítsau này vận dụng, phát triển Nhà triết học Nga V.I.Cúpxốp chỉ ra rằng, nhậnthức khoa học có thể chia thành kết quả nhận thức và quá trình thu nhận tri thức
đó Nếu tiếp cận nhận thức khoa học như một quá trình thì nó được bắt đầu từviệc thu thập những sự kiện Song, sự tích luỹ các sự kiện khoa học không diễn
ra một cách tự phát, mà là hoạt động có mục đích, có kế hoạch và có ý thức Bởi
3 V LêNin toàn tập, Nxb Tiến bộ, M.1984, t.29, tr.129