TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ HỌC VIỆN NGÂN HÀNG 2021 ( có bản word )Phân tích đặc điểm xuất khẩu tư bản của chủnghĩa tư bản độc quyền? Làm rõ ảnh hưởng của đại dịchCovid 19 đến thu hút FDI vào Việt Nam?
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Học phần: Kinh tế Chính trị
ĐỀ TÀI: Phân tích đặc điểm xuất khẩu tư bản của chủ
nghĩa tư bản độc quyền? Làm rõ ảnh hưởng của đại dịch
Covid -19 đến thu hút FDI vào Việt Nam?
Giảng viên hướng dẫn : Nguyễn Đức Quỳnh
Sinh viên thực hiện : Lê Phi Yến
Lớp : CDDH20 - NHA
Mã sinh viên : 17G401044
Hà nội, ngày 19 tháng 10 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 4
I Lý thuyết cơ bản về xuất khẩu tư bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền 4 1.1 Lý thuyết về chủ nghĩa tư bản độc quyền 4
1.2 Đặc điểm sản xuất của chủ nghĩa tư bản độc quyền 5
II Thực tiễn bối cảnh đại dịch Covid – 19 ảnh hưởng đến thu hút FDI vào Việt Nam 6
2.1 Thu hút vốn đầu tư FDI vào Việt Nam trước đại dịch Covid – 19 6
2.2 Ảnh hưởng của đại dịch Covid – 19 tới thu hút nguồn vốn FDI vào Việt Nam 8
III Đề xuất giải pháp nhằm thu hút FDI vào Việt Nam trong bối cảnh Covid – 19 9
3.1 Thuận lợi 9
3.2 Khó khăn 10
3.3 Giải pháp 11
KẾT LUẬN 13
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 3MỞ ĐẦU
Độc quyền trong chủ nghĩa tư bản được thể hiện một cách rõ nét trong quan điểm về tư bản độc quyền trong Kinh tế Chính trị của C Mác - Lênin khi cho rằng khi tập trung sản xuất với quy mô lớn dẫn đến hình thành các tổ chức độc quyền đó là sự liên kết giữa những tư bản lớn nhằm tạo ra lợi nhuận cao với mặt hàng mà họ sản xuất Chính vì tư bản lớn ra sức có sự sản xuất tập chung vì thế tư bản nhỏ và vừa bị ảnh hưởng không nhỏ có thể dẫn tới phá sản Xuất khẩu tư bản tác động đến các quốc gia đối với tất cả các chủ thể tham gia như xuất khẩu tư bản hay nhập khẩu tư bản thông qua việc giao lưu, đầu tư tạo
ra lợi nhuận kinh tế tuy nhiên việc tiềm ẩn xuất khẩu những giá trị của tư bản
để thu lại giá trị thặng dư từ những nước nhập khẩu với mục đích thể hiện mục tiêu cuối cùng của giai cấp tư bản là bóc lột, thống trị, sử dụng lao động của tư bản tài chính trên phạm vi thế giới
Trong thời điểm hiện nay khi Việt Nam đánh giá quan trọng nguồn vốn đầu tư trực tiếp FDI tới phát triển kinh tế của đất nước từ đó tạo điều kiện phát triển cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội cuẩ đất nước Đây là hình thức đầu tư lâu dài biển hiện ở việc xây dựng các cơ sở hạ tầng như nhà máy, xưởng sản xuất,
cơ sở kinh doanh,… Các cá nhân hay công ty đầu tư ấy sẽ nắm quyền quản lý hoạt động và có những lợi ích trong kinh doanh Trong bối cảnh đại dịch Covid – 19 ảnh hưởng đến nền kinh tế hiện nay, đối với Việt Nam là một quốc gia tiềm năng thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp FDI từ nước ngoài bị ảnh hưởng hay cần thay đổi để thu hút nguồn vốn này để phát triển kinh tế ?
Trang 4NỘI DUNG
I Lý thuyết cơ bản về xuất khẩu tư bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền
1.1 Lý thuyết về chủ nghĩa tư bản độc quyền
Gia đoạn này chủ nghĩa tư bản nắm ưu thế độc quyền, là sự phát triển mới trong hình thái kinh tế xã hội của giai cấp tư bản Cùng với đó trong điều kiện phát triển của kinh tế - xã hội có sự tác động của các quy luật về kinh tế thị trường ngày càng mạnh mẽ làm biến đổi cơ cấu kinh tế của xã hội theo hướng tập trung sản xuất quy mô lớn, việc cơ sở nghiên cứu trong đó học thuyết giá trị và học thuyết giá trị thặng dư của chủ nghĩa Mác là nền nóng của chủ nghĩa tư bản độc quyền
C Mác cho rằng cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh quyết liệt giữa những người sản xuất, kinh doanh hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, để thu được lợi nhuận cao nhất.1
Vào năm cuối của thế kỷ XIX, việc các thành tưu khoa học và kỹ thuật phát triển sự cạnh tranh giữa cá mặt hàng hóa đỏi hỏi phải có sự phát triển sản xuất với quy mô lớn về nhiều mặt Từ đó Lênin khẳng định tự do cạnh tranh đẻ
ra tập trung sản xuất và sự tập trung sản xuất này, khi phát triển tới một mức
độ nhất định, lại dẫn tới độc quyền Trong một xã hội tư bản phát triển việc cạnh tranh dẫn đến thước đo giữa giá trị kinh tế giữa các nhà tư bản Nếu tư bản với quy mô lớn, vốn đầu tư vào tạo ra những hàng hóa có giá trị cao thì tư bản nhỏ và vừa lại có phần phát triển thấp hơn đôi khi lại bị phá sản do bị cạnh tranh về tư liệu sản xuất
Độc quyền trong chủ nghĩa tư bản được thể hiện một cách rõ nét trong quan điểm về Kinh tế Chính trị - C Mác và Lênin khi cho rằng khi tập trung sản xuất cao với quy mô lớn dẫn đến hình thành các tổ chức độc quyền đó là
1 Khoa lý luận Chính trị, Học viện Ngân hàng, “Tài liệu học tập và Bài tập thực hành Kinh tế Chính trị Mác – Lê nin”, Tr 124, H.2020
Trang 5sự liên kết giữa những tư bản lớn nhằm tạo ra lợi nhuận cao với mặt hàng mà
họ sản xuất
Do đó sự ra đời chủ nghĩa tư bản độc quyền là sự phát triển của lực lượng sản xuất dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật cuối thế kỷ XIX, sự tác động của cạnh tranh, khủng hoảng kinh tế, sự phát triển của tín dụng tư bản đã hình thành nên các xí nghiệp có quy mô sản xuất lớn Các xí nghiệp cạnh tranh nhau gay gắt để bảo vệ quyền lợi của mình từ đó hình thành
tổ chức lũng đoạn hay còn gọi là tổ chức độc quyền
1.2 Đặc điểm sản xuất của chủ nghĩa tư bản độc quyền
Trong giai đoạn trước độc quyền cũng đã có xuất khẩu tư bản, tuy nhiên chỉ là hiện tượng cá biệt với quy mô hạn chế Khi xuất khẩu tư bản trở nên tất yếu ở giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền thì việc xuất khẩu tư bản ra nước ngoài thì tỷ suất và khối lượng lợi nhuận sẽ được gia tăng
Về cơ bản việc xuất khẩu của chủ nghĩa tư bản độc quyền với mục đích đưa những giá trị ra nước ngoài với mục đích nhận lại sở hữu giá trị thặng dư
và các nguồn lợi khác từ các nước nhập khẩu Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, xuất khẩu tư bản trở thành tất yếu vì:
Một số nước phát triển đã tích lũy được một khối lượng tư bản lớn và có một số tư bản thừa tương đối cần tìm nơi đầu tư có lợi nhuận cao hơn so với đầu tư ở trong nước
Nhiều nước lạc hậu về kinh tế bị lôi cuốn vào sự giao lưu kinh tế thế giới nhưng lại rất nhiều tư bản; ở những nước này giá ruộng đất tương đối hạ, tiền lương thấp, nguyên liệu rẻ, nên tỷ suất lợi nhuận cao, rất hấp dẫn đầu tư của tư bản
Xét về hình thức đầu tư, có thể phân chia xuất khẩu tư bản thành xuất khẩu tư bản trực tiếp và xuất khẩu tư bản gián tiếp Xuất khẩu tư bản trực tiếp
là đưa tư bản ra nước ngoài để trực tiếp kinh doanh thu lợi nhuận cao Xuất khẩu tư bản gián tiếp là cho vay để thu lợi tức
Trang 6Xuất khẩu tư bản tác động đến các quốc gia đối với tất cả các chủ thể tham gia như xuất khẩu tư bản hay nhập khẩu tư bản thông qua việc giao lưu, đầu tư tạo ra lợi nhuận kinh tế tuy nhiên việc tiềm ẩn xuất khẩu những giá trị của tư bản để thu lại giá trị thặng dư từ những nước nhập khẩu với mục đích thể hiện mục tiêu cuối cùng của giai cấp tư bản là bóc lột, thống trị, sử dụng nô dịch của tư bản tài chính trên phạm vi thế giới
II Thực tiễn bối cảnh đại dịch Covid – 19 ảnh hưởng đến thu hút FDI vào Việt Nam
2.1 Thu hút vốn đầu tư FDI vào Việt Nam trước đại dịch Covid – 19
Trong quá trình phát triển kinh tế của thế giới hiện nay việc vốn FDI (vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài) thể hiện vai trò quan trọng của mình để tạo
ra lợi nhuận cho các quốc gia trên thế giới Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, nguồn vốn FDI được đầu tư từ càng nước ngoài trong nhiều năm có sự tăng lên rõ rệt và càng khẳng định hơn tầm quan trọng của mình đối với các nước đầu tư bằng tiềm năng phát triển của quốc gia.Do đó việc sử dụng tốt nguồn vồn FDI được Đảng, Nhà nước đánh giá rất quan trọng vì thế sẽ đẩy mạnh phát triển kinh tế trong nước và địa phương Tuy nhiên việc thu hút vốn FDI nhiều hay không còn phụ thuộc vào mỗi quốc gia đầu tư và quốc gia được nhận đầu tư khẳng định vị trí quan trọng của mình như thế nào đối với việc phát triển nguồn vốn làm tăng trưởng kinh tế
FDI được viết tắt của cụm Foreign Direct Investment, dịch ra là các khoản đầu tư của một cá nhân hay một công ty, tập thể nào đó thực hiện ở một quốc gia khác Đây là hình thức đầu tư lâu dài biển hiện ở việc xây dựng các
cơ sở hạ tầng như nhà máy, xưởng sản xuất, cơ sở kinh doanh,… Các cá nhân hay công ty đầu tư ấy sẽ nắm quyền quản lý hoạt động và có những lợi ích trong kinh doanh.2
2 Từ điển Kinh tế học
Trang 7Trước thời điểm dịch bệnh, nền kinh tế trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng được khẳng định là một nền kinh tế năng động và có định hướng tương lai Minh chứng cụ thể rõ ràng được thể hiện qua nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài FDI vào Việt Nam qua các năm với hơn 130 quốc gia nhưng trong đó chủ yếu là từ : Trung quốc, Mỹ, Nhật Bản,…
Các lĩnh vực đầu tư được chú trọng vào nhiều ngành kinh tế chủ yếu như sản xuất, dầu khí Nhưng khi nhận thấy được tiềm năng phát triển của Việt Nam nguồn vốn FDI được đầu tư mới vào các ngành kinh tế ít phổ biến như: Chế biến, chế tạo,…
Trước thời điểm dịch bệnh 19 nghành được đầu tư một cách nhanh chóng
từ nguồn vốn FDI tính đến tháng 08/2018 đứng đầu trong bảng thống kê FDI vào Việt Nam qua các năm là ngành công nghiệp chế biến và chế tạo với số vốn 19,05 tỷ USD, chiếm hơn một nửa với 57% tổng số vốn đăng ký Đứng ở
vị trí thứ hai, là ngành kinh doanh bất động sản với tổng số vốn là 5,68 tỷ USD, chiếm 17%.3
Từ những con số cho thấy khi trước đại dịch Covid – 19 Việt Nam là một nơi tiềm năng để thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài Không chỉ tạo ra lợi nhuận cho các nước đầu tư mà chính Việt Nam là quốc gia có cơ hội phát triển về kinh tế bằng việc sử dụng đúng mục đích các nguồn vốn đã được đầu
tư vào tập chung đẩy mạnh phát triển Kinh tế - Xã hội như: Quy mô chất lượng nguồn nhân lực có cơ hội phát triển, trình độ công nghệ và kỹ thuật được nâng cao hơn; tốc độ tăng trưởng cao và ổn định; vị thế của quốc gia được nâng cao
và đóng góp cho ngân sách nhà nước; xuất khẩu có nhiều thuận lợi do đa dạng
về ngành nghề, lĩnh vực; trong xu thế hội nhập càng được nâng cao hơn Vị trí của Việt Nam đối với các đối tác đang và có dự định đầu tư dự kiến là điểm đến thích hợp trong việc đầu tư và phát triển nguồn vốn FDI tạo ra lợi nhuận
3 Tổng cục thống kê, “Niên giám thống kê năm 2018”
Trang 82.2 Ảnh hưởng của đại dịch Covid – 19 tới thu hút nguồn vốn FDI vào Việt Nam
Kể từ khi đại dịch Covid – 19 xuất hiện việc nguồn vồn FDI có dấu hiệu giảm đi từ nước ngoài do lo ngại về tình hình cũng như việc đóng cửa một số loại hình kinh doanh để tập chung cho công tác phòng chống dịch Nguyên nhân của sự sụt giảm này có thể do dịch Covid-19 diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng đến đến hoạt động của các doanh nghiệp trong nước cũng như các doanh nghiệp nước ngoài có ý định mua cổ phần của doanh nghiệp trong nước, ảnh hưởng đến hoạt động mua bán, sáp nhập, doanh nghiệp Bên cạnh đó, việc thực hiện giãn cách xã hội, hạn chế nhập cảnh vào Việt Nam cũng ảnh hưởng đến việc nhà đầu tư nước ngoài đến tìm hiểu môi trường đầu tư và đưa ra quyết định đầu tư nói chung, bao gồm cả góp vốn, mua cổ phần Bên cạnh đó, do Chính phủ và các bộ, ngành địa phương đang phải tập trung phòng, chống dịch nên cũng chậm triển khai các chương trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, nên làm giảm sức hấp dẫn của các doanh nghiệp nước ngoài trong việc góp vốn, mua cổ phần đối với doanh nghiệp trong nước
Với dịch bệnh Covid – 19 xuất hiện, Việt Nam đang có dấu hiệu giảm sức hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài, bởi lẽ chuỗi cung ứng thị trường bị gián đoạn đứt gãy do phải đóng cửa phục vụ công tác phòng chống dịch của cả nước Việc đóng cửa từ đó các chi phí sản xuất, nguồn lao động, chi phí sản xuất tăng cao ảnh hưởng tới lượng đơn hàng Thực tế, những khó khăn mà doanh nghiệp gặp phải như cách ly xã hội và hạn chế tiếp xúc khiến doanh nghiệp khó gặp gỡ khách hàng, các chuyên gia nước ngoài khó quay trở lại Việt Nam đã tác động tới doanh thu của doanh nghiệp do đơn hàng giảm, thanh toán muộn, chậm trễ trong ra quyết định…
Thông tin về tình hình sản xuất của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 9 tháng đầu năm 2021, cả nước có 34.141 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 403,19 tỷ USD Vốn thực hiện ước đạt 245,14 tỷ USD, bằng 60,8% tổng vốn đầu tư Khu vực này phát triển nhanh và có hiệu quả, trở thành một
Trang 9bộ phận quan trọng của nền kinh tế, đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng của ngân sách, tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu, tạo việc làm và nâng cao thu nhập của người lao động Đại dịch COVID-19 đang tác động hết sức tiêu cực đến khu vực FDI, trong đó có việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài Đặc biệt, đợt dịch lần thứ 4 đã đánh trực tiếp vào các trung tâm công nghiệp lớn của cả nước như
TP Hồ Chí Minh, Bắc Giang, Bắc Ninh, Đồng Nai, Bình Dương… là những nơi tập trung nhiều doanh nghiệp FDI, khiến các doanh nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề, làm đứt gãy chuỗi cung ứng sản xuất, nhiều doanh nghiệp bị đảo lộn sản xuất kinh doanh, có doanh nghiệp phải dừng một phần, thậm chí toàn bộ hoạt động.4
Việc các tập đoàn kinh tế thế giới tập trung cho việc chống dịch, duy trì sản xuất kinh doanh nên dầu tư vào Việt Nam còn gặp nhiều hạn chế Bởi khi một môi trường kinh doanh hiệu quả, kiểm soát dịch bệnh tốt thì sẽ khẳng định được vị thế thu hút được nguồn vốn FDI Chính phủ và các cơ quan liên quan đang nỗ lực hết sức để đưa Việt Nam trở lại ổn định như phương châm “Chống dịch để sản xuất và sản xuất để chống dịch”
Tuy nhiên trong thời gian gần đây khi Việt Nam kiểm soát được dịch tại một số tỉnh, thành phố được hoạt động vì vậy tổng số nguồn vốn FDI đăng ký
có sự tăng lên 7,8%5 so với năm ngoái Vì vậy có thể thấy Việt Nam là quốc gia thu hút sự đầu tư FDI, trong đó Việt Nam được công nhận nằm trong số 20 quốc gia thu hút FDI nhiều nhất trên thế giới
III Đề xuất giải pháp nhằm thu hút FDI vào Việt Nam trong bối cảnh Covid – 19
3.1 Thuận lợi
Đứng trước những khó khăn thách thức của đại dịch Covid – 19 ảnh hưởng tới nền kinh tế của đất nước nói chung và thu hút nguồn vốn FDI vào
4 Lê Anh, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, “Covid – 19 và FDI: Tác động và triển vọng”,
(27/09/2021), https://dangcongsan.vn/kinh-te/covid-19-va-fdi-tac-dong-va-trien-vong-592195.html
5 Tổng cục thống kê, “Niên giám thống kê năm 2020”
Trang 10Việt Nam nói riêng Đảng, Chính phủ và các cơ quan liên quan cần có những
cơ chế kịp thời khắc phục những khó khăn Tuy nhiên trong bối cảnh này cũng đưa Việt Nam vào những thuận lợi nhất định như:
Đây là cơ hội lớn để Việt Nam thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI trong bối cảnh các tập đoàn đa quốc gia đang tìm kiếm những điểm đến an toàn để thiết lập lại cơ sở sản xuất sau đại dịch Covid – 19
Nếu những tiềm năng mà chúng ta đã được khẳng định để thu hút nguồn vốn từ các năm trước, việc kiểm soát dịch tốt sẽ tạo sự tin tưởng khẳng định vị thế từ đó những nguồn vốn đầu tư sẽ có cơ hội tăng lên; Việc Chính phủ đang làm tốt công tác phòng chống dịch cho thấy sự hiệu quả về những cách thức triển khai đã nêu ra cùng với đó người dân tuân thủ những nguyên tắc phòng chống dịch trong sản xuất đảm bảo việc chống dịch tuy nhiên vẫn sản xuất ra các hàng hóa, hay kể đến như những dự án được đầu tư bởi nguồn vốn FDI
Cùng với đó các đơn vị đầu tư nêu lên quan điểm tầm quan trọng của thị trường Việt Nam đối với họ, từ đó chiến lược đầu tư không chỉ ngắn hạn mà có những khoản đầu tư lâu dài được gửi đến tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội với mục tiêu ổn định tại Việt Nam
Việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư giữa các nước cũng là một thuận lợi khi một số nước bị cắt giảm nguồn vốn đầu tư, nếu nắm bắt được cơ hội thì Việt Nam có cơ hội nhận được nhiều nguồn vốn đầu tư trực tiếp đó từ nước ngoài FDI
3.2 Khó khăn
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, trong những năm vừa qua, bên cạnh những đóng góp tích cực, FDI đã có nhiều vấn đề bất cập như gia tăng ô nhiễm môi trường, áp đảo doanh nghiệp trong nước, ít sử dụng nhân sự tại chỗ, ứng dụng chuyển giao công nghệ thấp… Vấn đề thu hút vốn FDI chưa xứng tầm với tiềm năng phát triển của Việt Nam Các nước trong khu vực đang áp dụng nhiều biện pháp nhằm thu hút nguồn vốn FDI như giảm giá thành thuê, áp dụng ưu đãi,…