1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

quy định pháp luật về hòa giải tranh chấp lao động và hòa giải vụ án lao động theo quy định BLTTDS

30 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy Định Pháp Luật Về Hòa Giải Tranh Chấp Lao Động Và Hòa Giải Vụ Án Lao Động Theo Quy Định BLTTDS
Tác giả Vũ Thị Thu Huyền, Lưu Bình Nhưỡng, Trần Văn Quảng
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật học
Thể loại Đề Tài
Năm xuất bản 2002
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 231 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hòa giải đã được quy định trọng nhiều văn bản pháp luật do Nhà nước taban hành từ trước tới nay như Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộmáy tư pháp và luật tố tụng; Thông tư s

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:

Trong cơ chế thị trường sức lao động là hàng hóa đặc biệt quan trọng, đặcbiệt vị thế yếu thường thuộc về phía người lao động, để ngăn ngừa tình trạnglạm dụng quá đáng từ phía người sử dụng lao động, Bộ luật lao động đã cónhững quy định để bảo về quyền và lợi ích của người lao động, đồng thời bảoquyền và lợi ích của người sử dụng lao động Phương pháp hòa giải vụ án laođộng tại Tòa án là nội dung cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự và là một thủtục bắt buộc trong tố tụng dân sự Hòa giải thành giúp Tòa án giải quyết vụ án

mà không phải mở phiên tòa, tiết kiệm thời gian, tiền của cho cơ quan nhà nước

và nhân dân, góp phần nâng cao nhận thức và hiểu biết pháp luật của nhân dân.Tuy nhiên, để áp dụng chế định hòa giải có hiệu quả, các quy định về hòa giảiphải rõ ràng, cụ thể và thống nhất Do vậy, chế định hòa giải vụ án lao độngtrong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam là một trong những vấn đề không chỉđược các nhà nghiên cứu, xây dựng pháp luật mà còn cả các nhà hoạt động thựctiễn quan tâm nghiên cứu

Hòa giải đã được quy định trọng nhiều văn bản pháp luật do Nhà nước taban hành từ trước tới nay như Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộmáy tư pháp và luật tố tụng; Thông tư số 25/TATC ngày 30/11/1974 của Tòa ánnhân dân tối cao (TANDTC) hướng dẫn về công tác hòa giải trong tố tụng dânsự; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989; Pháp lệnh thủ tụcgiải quyết các vụ án kinh tế năm 1994; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ ánlao động năm 1996… Đặc biệt, các quy định về hòa giải trong tố tụng dân sựđược quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) Việt Nam năm 2004 vàđược sửa đổi bổ sung năm 2011; Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã đánh dấumột mốc quan trọng trong tiến trình hoàn thiện hệ thống pháp luật của nước tanói chung và hoàn thiện về chế định hòa giải các vụ án nói riêng

Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định về hòa giải trong việc giảiquyết vụ án dân sự nói chung và vụ án lao động tại Tòa án cho thấy nhiều quyđịnh của BLTTDS vẫn còn có những hạn chế, thiếu sót dẫn tới những khó khăn,vướng mắc trong thực tiễn áp dụng, làm ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả ápdụng chế định này trong thực tiễn tư pháp Thực tế các Tòa án còn lúng túng

Trang 2

hoặc thiếu thống nhất trong việc áp dụng các quy định về hòa giải đã không đápứng được đòi hỏi của công cuộc cải cách tư pháp là những minh chứng cho thựctrạng này Do vậy, cần phải có những nghiên cứu chuyên sâu nhằm luận giải cả

về lý luận, pháp luật và thực tiễn từ đó đề xuất những giải pháp tháo gỡ khókhăn là một việc làm hết sức cần thiết

Là thư ký Toà án được học lớp nghiệp vụ xét xử, tôi được giao làm đề tàitài về phương pháp hoà giải trong vụ án lao động Với kiến thức được học tạitruờng, kiến thức làm việc thực tế tại Toà án địa phương, cũng như tham khảocác tài liệu tôi có những ý kiến quan điểm cá nhân bổ sung cho phù hợp với tìnhhình phát triển của đời sống kinh tế, xã hội của nước ta hiện nay và trong thờigian tới

2 Tình hình nghiên cứu đề tài:

Hòa giải là một vấn đề quan trọng trong việc giải quyết các vụ việc laođộng được quy định theo Bộ luật tố tụng dân sự Vì vậy, ngoài việc được Nhànước quan tâm quy định trong các văn bản về pháp luật tố tụng dân sự thì cũng

đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học pháp lý nghiên cứu về vấn đề này

Có thể thống kê một số luận văn, luận án tiêu biểu sau đây:

- Luận văn thạc sĩ Luật học: "Giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án nhân dân – một số vấn đề lý luận và thực tiễn", của Vũ Thị Thu Huyền, Trường

Đại học Luật Hà Nội, 2002;

- Luận án tiến sĩ Luật học: "Tài phán lao động theo quy định của pháp luật Việt Nam", của Lưu Bình Nhưỡng, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2002;

- Luận án tiến sĩ Luật học: "Chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân

sự, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn", của Trần Văn Quảng, Trường Đại học

Luật Hà Nội, 2004

- Bên cạnh công trình nghiên cứu dưới hình thức luận văn, luận án, thìvấn đề lý luận về hòa giải cũng được đề cập khái quát trong Giáo trình Luật tốtụng dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Luật Thành phố

Hồ Chí Minh v.v Ngoài ra, còn có một số bài viết về thực tiễn hòa giải các vụviệc dân sự của các tác giả được đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân (TAND),Tạp chí Nhà nước và pháp luật; Tạp chí Kiểm sát, Báo Công lý như:

+ "Hòa giải và tự thỏa thuận trong tố tụng dân sự, kinh tế và lao động",

của Phan Hữu Thư, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 2, 1999;

Trang 3

+ "Vai trò và thủ tục hòa giải trong xét xử các tranh chấp lao động", của

Lê Văn Luật, Tạp chí TAND, số 16, 2004;

+ “Những điểm mới về tranh chấp lao động và giải quyết tranh chấp lao động theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động năm 2006”

của Nguyễn Thị Xuân Thu, Tạp chí Luật học, số 7/2007;

+ “Giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án nhân dân – Từ pháp luật đến thực tiễn và một số kiến nghị” của Phạm Công Bảy, Tạp chí Luật học số

9/2009…

+ Mỗi công trình và mỗi bài viết trên nghiên cứu về hòa giải vụ án laođộng trong tố tụng dân sự ở một khía cạnh riêng, nhưng phần lớn các công trìnhtrên đều được tiếp cận nghiên cứu trước khi BLTTDS được ban hành năm 2004

và sửa đổi năm 2011, BLTTDS 2015 Cho đến nay thì luật pháp và thực tiễn vềhòa giải trong tố tụng dân sự đã có nhiều thay đổi Phương pháp hòa giải vụ ánlao động trong tố tụng dân sự được hoàn thành trên cơ sở kinh tế - xã hội, phảnánh sâu sắc các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đương thời Vì vậy, chếđịnh hòa giải luôn vận động và phát triển một cách khách quan trước yêu cầucủa đời sống xã hội Việc ban hành BLTTDS là một bước phát triển vượt bậccủa hệ thống pháp luật tố tụng dân sự, trong đó có chế định hòa giải vụ án laođộng

3 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

- Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là nghiên cứu làm rõ thêm nhữngvấn đề lý luận về hòa giải, phân tích làm rõ nội dung của chế định hòa giải vụ ánlao động trong BLTTDS, văn bản hướng dẫn cũng như thực hiện áp dụng nhữngquy định này, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về hòa giải nhằmnâng cao hiệu quả của công tác hòa giải trong tố tụng dân sự

- Để đạt được những mục đích trên, việc nghiên cứu đề tài có nhữngnhiệm vụ chủ yếu như sau:

+ Nghiên cứu khái quát chung về chế định hòa giải tại Tòa án

+ Nghiên cứu quy định pháp luật về hòa giải tranh chấp lao động và hòagiải vụ án lao động theo quy định của pháp luật Việt Nam;

+ Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về hòa giải vụ án vụ ánlao động tại Toà án

Trang 4

+ Nhận diện những tồn tại, bất cập của các quy định của BLTTDS về hòagiải vụ án lao động và tìm ra những giải pháp hoàn thiện các quy định củaBLTTDS về hòa giải vụ án lao động

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về hòa giải nhưkhái niệm, bản chất, ý nghĩa, cơ sở của hòa giải vụ án trong tố tụng dân sự; quyđịnh pháp luật về hòa giải tranh chấp lao động và hòa giải vụ án lao động theoquy định BLTTDS và thực tiễn áp dụng chúng trên thực tiễn nhằm tìm kiếmnhững giải pháp giải quyết những bất cập của các quy định này để nâng cao hiệuquả của công tác hòa giải vụ án lao động trong tố tụng dân sự

- Việc nghiên cứu thực tiễn cũng chủ yếu tiến hành đối với công tác hòagiải tại các Tòa án từ sau khi BLTTDS được ban hành, có chú trọng tới thực tiễn

áp dụng chế định hòa giải hiện nay

Chương 1

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HÒA GIẢI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

1 1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và cơ sở của việc xây dựng chế định hòa giải trong tố tụng dân sự:

1.1.1 Khái niệm về chế định hòa giải:

Hòa giải trong tố tụng dân sự là việc các bên đương sự tự mình thươnglượng, thỏa thuận về vụ việc sau khi Tòa án đã thụ lý vụ việc và hoạt động tốtụng do Tòa án trực tiếp tiến hành nhằm giúp các bên đương sự hoặc người đạidiện hợp pháp của họ hiểu rõ quyền, nghĩa vụ của mình, của đương sự mà họ đạidiện, hướng dẫn, động viên các bên tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giảiquyết vụ việc theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng dân sự quy định;

Khái niệm chế định hòa giải như sau: Chế định hòa giải trong tố tụng dân

sự là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ pháp luật tố tụng dân

sự giữa Tòa án với các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự trongviệc giúp các bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự, hỗ trợcác bên ghi nhận thỏa thuận về vụ việc dân sự theo trình tự, thủ tục do pháp luật

tố tụng dân sự quy định

Trang 5

1.1.2 Đặc điểm của hòa giải trong tố tụng dân sự

Thứ nhất, Việc hòa giải vụ án tại Tòa án được thực hiện bởi tòa án với tưcách là cơ quan tài phán mang tính quyền lực nhà nước và được tiến hành theotrình tự, thủ tục chặt chẽ Tòa án là cơ quan tư pháp, việc hòa giải góp phầnquan trọng vào việc giải quyết vụ án tại Tòa án vì vậy phải tuân theo trình tự,thủ tục chặt chẽ, việc vi phạm thủ tục tố tụng sẽ dẫn đến bản án, quyết định củatòa án bị sửa, hủy Hòa giải được tiến hành sau khi Tòa án thụ lý vụ án

Thứ hai, việc hòa giải vụ án là một trong những thủ tục tố tụng bắt buộckhi giải quyết vụ án tại tòa án, khác với thủ tục hòa giải ở giai đoạn trước khinộp đơn khởi kiện Việc hòa giải tại tòa án được tiến hành có tính chất mềm dẻo,

ôn hòa và linh hoạt hơn sô với các biện pháp như thỏa thuận, thương lượng,trọng tài ở các giai đoạn trước đó đã sử dụng nhưng không đạt kết quả Hòa giải

là sự thương lượng, thỏa thuận của chính các đương sự về quyền, lợi ích củamình

Thứ ba, hòa giải vừa mang phải tích cực và kiên trì Trong quan hệ phápluật dân sự, chủ thể tham gia đều mâu thuẫn về lợi ích và không thể giải quyếtđược qua sự thỏa thuận nên mới nộp đơn đề nghị Tòa án giải quyết, vì vậy đỏihỏi công tác hòa giải phải tích cực và kiên trì thì có kết quả tích cực, nhằm bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân theo đúng quy định pháp luật

1.1.3 Ý nghĩa của hòa giải vụ án

Ý nghĩa về mặt tố tụng

Việc hòa giải thành giúp Tòa án giải quyết vụ án mà không phải mở phiêntòa, phiên họp tránh được việc kháng cáo, kháng nghị, khiếu nại, góp phần giảmbớt việc kéo dài những giai đoạn tố tụng không cần thiết như phúc thẩm, táithẩm hay giám đốc thẩm Đồng thời việc hòa giải thành cũng giải quyết dứtđiểm vụ việc Việc hòa giải thành sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thihành án, tránh được những phức tạp nảy sinh trong quá trình thi hành án dân sự

Ý nghĩa về mặt kinh tế

Đối với những vụ án được giải quyết bằng hòa giải thì thời gian giải quyết

vụ án rất ngắn, nếu sự thỏa thuận của đương sự đạt được ở giai đoạn trước khiđưa vụ án ra xét xử sơ thẩm Vì vậy, việc hòa giải thành công không chỉ tiếtkiệm thời gian, tiền của cho đương sự, mà còn ý nghĩa rất lớn đối với Tòa án,

Trang 6

góp phần giúp Tòa án có thời gian giải quyết các vụ án khác, bảo vệ quyền lợicho nhân dân

Ý nghĩa về mặt xã hội

Hòa giải thành sẽ giúp các đương sự hiểu biết, thông cảm cho nhau, khôiphục lại tình đoàn kết giữa họ, giúp họ giải quyết tranh chấp với tinh thần cởi

mở, ngăn chặn kịp thời những hành vi phạm tội

Như vậy, hòa giải đã củng cố tình đoàn kết trong nhân dân, giảm bớtnhững mâu thuẫn, góp phần vào việc giữ gìn an ninh trật tự, công bằng xã hội,đảm bảo cho các quan hệ xã hội phát triển lành mạnh

1.1.4 Cơ sở của việc xây dựng chế định hòa giải

Chế định hòa giải trong tố tụng dân sự được các nhà làm luật xây dựngdựa trên những cơ sở sau đây:

- Chế định hòa giải được xây dựng trên cơ sở đường lối của Đảng về cảicách tư pháp

- Chế định hòa giải được xây dựng trên cơ sở quyền tự do, tự nguyện camkết thỏa thuận trong các quan hệ dân sự, kinh doanh thương mại, lao động

- Chế định hòa giải được xây dựng trên cơ sở quyền quyết định và tự địnhđoạt của các đương sự trong tố tụng dân sự

- Chế định hòa giải trong TTDS được xây dựng phải bảo đảm bảo vệ cóhiệu quả và hài hòa quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự trong tố tụng dânsự

- Chế định hòa giải trong tố tụng dân sự được xây dựng trên cơ sở bảođảm phù hợp với pháp luật nội dung và đạo đức xã hội

1.2 Lược sử các quy định về hòa giải vụ án trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

1.2.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1989:

Cách mạng Tháng Tám thành công, trong các văn bản pháp luật của Nhànước Việt Nam dân chủ cộng hòa thì thể lệ hòa giải vẫn được quy định là mộtgiai đoạn tố tụng bắt buộc Văn bản đầu tiên quy định về hòa giải là Sắc lệnh số13/SL ngày 24/01/1946

Trong giai đoạn từ 1945 đến 1989, vấn đề hòa giải đã được quy địnhtrong nhiều văn bản pháp luật và được hướng dẫn trong các thông tư (ví dụ: Sắc

Trang 7

lệnh số 51/SL ngày 17/04/1946; Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/05/1950; Thông tư

số 61/HCTP ngày 09/05/1957 của Bộ Tư pháp; Luật Tổ chức Tòa án năm 1960;Thông tư 1080 ngày 25/09/1967; Thông tư số 25/TATC ngày 30/11/1974;Thông tư 81/TATC ngày 24/7/1981; Thông tư số 02/NCPL ngày 12/07/1985 ),góp phần quan trọng trong việc giải quyết các mâu thuẫn và tranh chấp dân sựtrong nhân dân Tuy nhiên, những quy định này vẫn chưa có tính hệ thống, cònnằm rải rác ở nhiều văn bản, còn có sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa các quy địnhtrong các văn bản pháp luật khác nhau

1.2.2 Giai đoạn từ 1989 đến 2005:

Ngày 29/11/1989 Hội đồng Nhà nước đã thông qua Pháp lệnh Thủ tụcgiải quyết các vụ án dân sự, tiếp đó Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hànhPháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế ngày 16/3/1994, Pháp lệnh Thủtục giải quyết các tranh chấp lao động ngày 11/4/1996

Các Pháp lệnh này đều đề cập đến việc Tòa án phải giải quyết vấn đề hòagiải trong tố tụng dân sự, tố tụng kinh tế và tố tụng lao động

Sau này TANDTC cũng đã ban hành nhiều công văn hướng dẫn các Tòa

án địa phương về hòa giải trong tố tụng dân sự Chẳng hạn như Công văn số 81/KHXX ngày 21/7/1997; Công văn số 120/KHXX ngày 27/10/1997 củaTANDTC về TTDS; Công văn số 124/KHXX ngày 31/10/1997 TANDTC trả lời

về thủ tục hòa giải; Công văn số 43/KHXX ngày 21/4/1998 của TANDTC trảlời về TTDS; Công văn số 16/KHXX/1999 của TANDTC giải đáp một số vấn

đề về hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính và tố tụng; Công văn số 81/KHXXngày 10/6/2002 của TANDTC v.v

1.2.3 Giai đoạn từ 2005 đến nay:

Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011, có hiệu lực thihành từ 01/01/2012, bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 được ban hành đã khắcphục những tồn tại, bất cập trong các văn bản pháp luật trước đó về tố tụng dân

sự, kinh doanh thương mại, lao động, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở ViệtNam hiện nay BLTTDS năm 2015 co nhiều điểm mới quy định về giao nộp,

tiếp cận cận, công khai chứng cứ và hoà giải như nguyên tắc hòa giải (điều 10); nguyên tắc tiến hành hòa giải (điều 205); nhưng vụ án dân sự không được hoà giải (điều 206 ); những vụ án không tiến hành hoà giải được (điều 207); tthông

báo về phiên họp kiểm việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải

(điều 208); thành phần phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai

Trang 8

chứng cứ và hoà giải (điều 209); trình tự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải (điều 210); biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải (điều 211); ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự (điều 212); hiệu lực của quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự (điều 213) Những quy định

này tạo cơ sở pháp lý mới cho Tòa án trong việc hòa giải các vụ án dân sự, kinhdoanh thưong mại, lao động

Chương 2 NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ HÒA GIẢI VỤ ÁN LAO ĐỘNG

THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN NAY 2.1 Hòa giải tranh chấp lao động.

2.1.1 Khái niệm, phân loại và đặc điểm tranh chấp lao động:

2.1.1.1 Khái niệm

Tranh chấp lao động (TCLĐ) là những tranh chấp về quyền lợi và lợi íchliên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác vềthực hiện hợp đồng lao động (HĐLĐ), Thoả ước tập thể (TƯTT) và trong quátrình học nghề

Một vụ việc chỉ được coi là tranh chấp lao động khi các bên đã tự bànbạc, thương lượng mà không đi đến thoả thuận chung hoặc một trong hai bên từchối thương lượng, cần phải có sự can thiệp của chủ thể thứ ba thông qua thủ tụchoà giải, trọng tài hoặc xét xử

Giải quyết TCLĐ là việc các tổ chức, cơ quan nhà nước có thẩm quyềntiến hành những thủ tục theo luật định nhằm giải quyết những tranh chấp phátsinh giữa cá nhân, tập thể người lao động với người sử dụng lao động về việcthực hiện quyền nghĩa vụ và lợi ích của hai bên trong quan hệ lao động, khôiphục các quyền và lợi ích hợp pháp đã bị xâm hại; xoá bỏ tình trạng bất bình,mâu thuẫn giữa người lao động và người sử dụng lao động, duy trì và củng cốquan hệ lao động, đảm bảo sự ổn định trong sản xuất

Tại điều 157 bộ luật lao động quy định: “Tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyền và lưọi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác, về thực hiện hợp đồng lao động, thoả ước tập thể

và trong quá trình học nghề”.

Tranh chấp lao động được chia thành tranh chấp lao động cá nhân giữangười lao động và tranh chấp lao động tập thể người lao động và người sử dụnglao động

Trang 9

Khoản 2 điều 162 và khoản 3 điều 168 bộ luật lao động quy định cho Toà

án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp laođộng tập thể

2.1.1.2 Phân loại tranh chấp lao động:

TCLĐ được chia thành:

TCLĐ cá nhân và TCLĐ tập thể

- TCLĐ cá nhân là TCLĐ giữa cá nhân người lao động và người sử dụnglao động, phát sinh trong quá trình áp dụng các quy phạm pháp luật lao độngvào từng quan hệ lao động cụ thể Nội dung của những TCLĐ này là quyền vàlợi ích của cá nhân người lao động hoặc người sử dụng lao động

- TCLĐ tập thể là tranh chấp giữa tập thể người lao động Nội dung củaTCLĐ tập thể thường liên quan đến lợi ích của cả một tập thể người lao động.Chúng có thể phát sinh trong việc thực hiện các điều khoản đã thoả thuận giữacác bên về điều kiện lao động hoặc trong việc thiết lập các quyền và nghiã vụcủa các bên mà trước đó các bên chưa thoả thuận hoặc do các yếu tố thực hiệnphátsinhtạithờiđiểmtranhchấp

TCLĐ về quyền và TCLĐ về lợi ích

- Tranh chấp về quyền là những tranh chấp phát sinh trong việc thực hiệncác quyền, nghĩa vụ đã được quy định trong pháp luật, TƯLĐTT, HĐLĐ hoặccác quy định nội bộ khác của doanh nghiệp, đơn vị

- Tranh chấp về lợi ích là những tranh chấp về quyền nghĩa vụ chưa đượcpháp luật quy định hoặc chưa được các bên cam kết, ghi nhận trong TƯTT

2.1.1.3 Đặc điểm của tranh chấp lao động:

TCLĐ có những đặc điểm riêng, giúp ta phân biệt nó với các tranh chấpkhác, bao gồm:

- TCLĐ luôn phát sinh tồn tại gắn liền với quan hệ lao động, có nghĩa là

nó phát sinh từ việc thực hiện quyền, nghĩa vụ và từ lợi ích của 2 bên chủ thểquan hệ lao động

- TCLĐ không chỉ bao gồm những tranh chấp về quyền và nghĩa vụ củachủ thể mà còn gồm cả những tranh chấp về lợi ích giữa 2 bên chủ thể Tức làTCLĐ vẫn có thể phát sinh trong những trường hợp có hoặc không có vi phạmpháp luật trong lĩnh vực lao động Phần lớn các trường hợp vi phạm pháp luậtlao động là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tranh chấp lao động song cũng không

có ít trường hợp vi phạm pháp luật lao động nhưng lại không làm phát sinhTCLĐ và ngược lại

- TCLĐ là loại tranh chấp mà quy mô và mức độ tham gia của các chủ thểlàm thay đổi cơ bản tính chất và mức độ tranh chấp Nếu TCLĐ chỉ đơn thuần là

Trang 10

tranh chấp cá nhân thì ảnh hưởng của nó đến hoạt động sản xuất của doanhnghiệp chỉ ở mức độ nhỏ Nếu tranh chấp xảy ra giữa tập thể người lao động vàngười sử dụng lao động trong phạm vi toàn doanh nghiệp thì lúc đó TCLĐ sẽ cótác động xấu đến sự ổn định của quan hệ lao động, đến sản xuất và trật tự antoàn xã hội.

- TCLĐ là loại tranh chấp có tác động trực tiếp và rất lớn đối bản thân vàgia đình người lao động tác động lớn đến an ninh công cộng, đời sống kinh tế,chínhtrịtoànxãhội

2.1.2 Nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự giải quyết tranh chấp lao động:

2.1.2.1 Nguyên tắc giải quyết TCLĐ:

Theo quy định của pháp luật lao động, TCLĐ được giải quyết theo cácnguyên tắc sau:

- Nguyên tắc thứ nhất: Thương lượng trực tiếp và tự dàn xếp giữa hai bêntranh chấp tại nơi phát sinh tranh chấp

Xuất phát từ đặc điểm đặc thù của quan hệ lao động, pháp luật lao độngquy định việc giải quyết TCLĐ phải tuân thủ nguyên tắc thương lượng trực tiếp

và tự dàn xếp giữa hai bên tranh chấp tại nơi phát sinh tranh chấp Việc tương tựthương lượng, dàn xếp trực tiếp giữa hai bên không chỉ diễn ra trước khi các bên

có đơn yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết mà còn được chấpnhận cả sau khi các bên đã gửi yêu cầu các cơ quan, tổ chức giải quyết

- Nguyên tắc thứ hai: Thông qua hoà giải, trọng tài trên cơ sở tôn trọngquyền và lợi ích của hai bên, tôn trọng lợi ích của hai bên, tôn trọng ích chungcủa xã hội Cũng xuất phát từ đặc điểm đặc thù của quan hệ lao động, việc hoàgiải được ưu tiên thực hiện xuyên suốt quá trình giải quyết TCLĐ và là thủ tụcbắt buộc ở hầu hết các trình tự giải quyết TCLĐ

- Nguyên tắc thứ ba: Giải quyết TCLĐ công khai, khách quan, kịp thời,nhanh chóng, đúng pháp luật

Ngoài yêu cầu về tính công khai, khách quan, đúng pháp luật, việc giảiquyết tranh chấp lao động phải được tiến hành kịp thời, nhanh chóng Chính vìthế pháp luật quy định thời hạn giải quyết TCLĐ ngắn hơn so với thời hạn giảiquyết tranh chấp khác

- Nguyên tắc thứ tư: Có sự tham gia của đại diện công đoàn và của đạidiện người sử dụng lao động trong quá trình giải quyết tranh chấp Đây là mộttrong những nguyên tắc đặc thù của việc giải quyết TCLĐ so với việc giải quyếtcác loại tranh chấp khác

2.1.2.2 Thẩm quyền giải quyết TCLĐ:

Các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết TCLĐ gồm:

Trang 11

- Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc Hòa giải viên của cơ quan laođộng cấp huyện Hội đồng hoà giải lao động cơ sở được thành lập trong cácdoanh nghiệp có CĐCS hoặc Ban Chấp hành công đoàn lâm thời, gồm số đạidiện ngang nhau của bên người lao động và bên người sử dụng lao động

- Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh Hội đồng trọng tài lao động cấptỉnh do Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định, gồm các thành viên là đại diện củacác cơ quan lao động, công đoàn, đơn vị sử dụng lao động và một số nhà quản

lý, luật gia có uy tín ở địa phương; và do đại diện cơ quan quản lý nhà nước làmChủ tịch

- Toà án nhân dân

2.2.2.3 Trình tự giải quyết tranh chấp lao động:

Trình tự giải quyết TCLĐ cá nhân:

- Hội đồng hòa giải lao động cơ sở, Hòa giải viên lao động cấp huyện tiếnhành hòa giải chậm nhất 7 ngày tính từ ngày nhận được đơn yêu cầu hòa giải.Tại phiên họp hòa giải phải có mặt 2 bên tranh chấp hoặc đại diện được ủyquyền của họ Hội đồng hòa giải lao động cơ sở đưa ra phương án hòa giải đểcác bên xem xét

+ Nếu chấp thuận thì lập biên bản hòa giải thành Hai bên có nghĩa vụchấp hành các thỏa thuận đã ghi trong biên bản

+ Nếu không thành thì lập biên bản hòa giải không thành Mỗi bên tranhchấp có quyền yêu cầu Toà án nhân dân giải quyết

- Các bên tranh chấp có quyền khởi kiện trực tiếp vụ án lao động ra Toà

án nhân dân mà không nhất thiết phải qua Hội đồng hoà giải lao động cơ sởhoặc Hòa giải viên lao động cấp huyện đối với một số loại việc:

+ Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc vềtrường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

+ Tranh chấp về bồi dưỡng thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng laođộng;

+ Tranh chấp giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;+ Tranh chấp giữa người lao động đã nghỉ việc theo chế độ với người sửdụng lao động hoặc với cơ quan Bảo hiểm xã hội, giữa người sử dụng lao độngvới cơ quan Bảo hiểm xã hội;

+ Tranh chấp về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanhnghiệp xuất khẩu lao động

Trình tự giải quyết TCLĐ tập thể:

Trang 12

- Hội đồng hòa giải lao động cơ sở hoặc Hòa giải viên lao động cấp huyệntiến hành hòa giải chậm nhất 7 ngày tính từ ngày nhận được đơn yêu cầu hòagiải Tại phiên họp hòa giải phải có mặt 2 bên tranh chấp hoặc đại diện được ủyquyền của họ Hội đồng hòa giải lao động cơ sở đưa ra phương án hòa giải đểcác bên xem xét.

+ Nếu chấp thuận thì lập biên bản hòa giải thành Hai bên có nghĩa vụchấp hành các thoả thuận đã ghi trong biên bản

+ Nếu không thành thì lập biên bản hòa giải không thành, ghi ý kiến của 2bên tranh chấp và của Hội đồng Mỗi bên hoặc cả 2 bên tranh chấp có quyền yêucầu Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh giải quyết

- Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh có trách nhiệm tiến hành hoà giải

và giải quyết vụ tranh chấp chậm nhất là 10 ngày kể từ khi nhận được yêu cầu.Tại phiên họp giải quyết tranh chấp phải có mặt các đại diện được ủy quyền của

2 bên tranh chấp hoặc Trường hợp cần thiết, phiên họp sẽ có đại diện của côngđoàn cấp trên của CĐCS và đại diện của cơ quan nhà nước tham dự

Hộ đồng trọng tài lao động cấp tỉnh đưa ra phương án hòa giải để các bênxem xét:

+ Nếu chấp thuận thì lập biên bản hoà giải thành Hai bên có nghĩa vụchấp hành các thoả thuận đã ghi trong biên bản;

+ Nếu không thành thì lập biên bản hoà giải không thành, thì Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh giải quyết vụ tranh chấp bằng quyết định của mình

và thông báo ngay cho 2 bên tranh chấp Nếu 2 bên không có ý kiến thì quyết định có hiệu lực thi hành Trường hợp tập thể lao động không đồng ý với quyết định của Hội đồng trọng tài, thì có quyền yêu cầu Toà án giải quyết hoặc đình công; Người sử dụng lao động có quyền yêu cầu Toà án xét lại quyết định của Hội đồng trọng tài (yêu cầu này không cản trở quyền đình công của tập thể lao

2.2 Hòa giải vụ án lao động theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự

2.2.1 Nguyên tắc hòa giải của Tòa án:

Điều 10 BLTTDS năm 2015 quy định: "Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của bộ luât này"

Việc Tòa án hỏi các đương sự có thỏa thuận với nhau về việc giải quyết

vụ án thực chất là việc Tòa án kiểm tra xem các đương sự có tự hòa giải đượcvới nhau hay không Nếu các đương sự tự thỏa thuận được với nhau và việc thỏathuận đó là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội thì Tòa án sẽ côngnhận sự thỏa thuận đó Mặc dù có kết quả giống nhau nhưng việc Tòa án tiến

Trang 13

hành hòa giải sẽ khác về bản chất với trường hợp các đương sự tự hòa giải, đây

là hai trường hợp khác nhau trong tố tụng dân sự Điều 10 BLTTDS hiện nayquy định về trách nhiệm của Tòa án trong việc tiến hành hòa giải và tạo điềukiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việcdân sự

Nguyên tắc tiến hành hòa giải phải có sự tự nguyện thỏa thuận giữa cácđương sự:

- Việc bảo đảm tính tự nguyện này được cụ thể hóa tại điều 205 BLTTDS,theo đó thì khi hòa giải Tòa án phải tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của cácđương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương

sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình Khi các đương sự đã tựnguyện thỏa thuận tức là các đương sự tự lựa chọn, quyết định các vấn đề tranhchấp bằng hòa giải và thương lượng, thỏa thuận với nhau giải quyết các vấn đềcủa vụ án Tự nguyện thỏa thuận còn có ý nghĩa các đương sự tự do về mặt ý chí

và tự do về việc bày tỏ ý chí Nếu thiếu một trong hai điều kiện này hoặc việcbày tỏ ý chí không phải từ tự do ý chí thì sẽ không có yếu tố tự nguyện thỏathuận giữa các đương sự và ngược lại

Việc hòa giải không trái pháp luật, đạo đức xã hội: Khi Tòa án tiến hànhhòa giải để giải quyết vụ việc dân sự ngoài yếu tố tự nguyện thỏa thuận của cácđương sự thì việc Tòa án hòa giải còn phải đáp ứng các điều kiện sau:

- Phải tuân thủ đúng trình tự, thủ tục hòa giải và phạm vi hòa giải vụ ándân sự theo pháp luật quy định

- Nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không được trái pháp luật hoặcđạo đức xã hội

2.2.2 Các quy định về chủ thể trong hòa giải:

2.2.2.1 Về chủ thể tiến hành hòa giải:

Điều 209 BLTTDS có quy định những người tiến hành hòa giải bao gồmThẩm phán chủ trì phiên hòa giải, thư ký Tòa án ghi biên bản hòa giải

Nhiệm vụ của Thẩm phán tại phiên hòa giải:

Theo quy định tại khoản 7 Điều 48 BLTTDS, Thẩm phán tiến hành hòagiải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án theo quy địnhcủa Bộ luật này và ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

Trang 14

Trách nhiệm hòa giải của Thẩm phán được quy định cụ thể trongBLTTDS đã khắc phục được quan niệm cho rằng Tòa án hòa giải thì bất kỳ cán

bộ nào của Tòa án cũng có thể tiến hành hòa giải Việc quy định rõ ràng quyềnhạn của Thẩm phán sẽ nâng cao trách nhiệm của họ trong việc hòa giải làm chocông tác hòa giải đạt kết quả cao

Thẩm phán trong khi tiến hành hòa giải phải có thái độ khách quan, vô tư,không cưỡng ép, không để đương sự biết dự liệu của Tòa án về xét xử vụ án,phải giải thích rõ ràng, để hiểu quyền và nghĩa vụ liên quan đến đương sự trong

vụ án Đương sự sau khi nghe Thẩm phán phổ biến pháp luật, tham khảo các vấn

đề Thẩm phán nêu ra từ đó có quan điểm giải quyết

Là Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải, phải biết phân vai:

- Người trung gian: Thẩm phán luôn giữ chuẩn mực là người không thuộc

và xử lý tình huống trong quá trình hoà giải; các kỹ năng chắt lọc thông tin, tổnghợp, ngôn ngữ và tư duy của Thẩm phán khi hoà giải

Kỹ năng Thẩm phán khi xây dựng kế hoạch hoà giải:

Để việc hoà giải có hiệu quả, thì Thẩm phán cần có nhiều công tác chuẩn

bị khác nhau, trong đó có việc xây dựng kế hoạch hoà giải Thông thường việcxây dựng kế hoạch hoà giải được tiến hành qua các bước sau:

Bước 1 Chuẩn bị các điều kiện về cơ sở, vật chất:

- Bố trí phòng hoà giải riêng biệt, sắp xếp chỗ ngồi của Thẩm phán, Thư

ký và đương sự hợp lý, vừa trang nghiêm nhưng cũng vừa cởi mở, tạo được sựthoải mái cho đương sự

Trang 15

- Tốt nhất nên bố trí bàn làm việc hình vuông hoặc hình chữ nhật Thẩmphán và Thư ký ngồi cạnh nhau, trên bàn có để biển “Thẩm phán” và biển “Thưký” ngay trước mặt; phía đối diện Thẩm phán và Thư ký là chỗ ngồi của nhữngngười có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phía bên phải Thẩm phán và Thư ký lànơi ngồi của nguyên đơn; phía bên trái của Thẩm phán và Thư ký là chỗ ngồicủa bị đơn

- Bố trí như trên thì nguyên đơn và bị đơn ngồi đối diện nhau vừa đảmbảo cho nguyên đơn và bị đơn thoải mái trình bày, nhưng cũng vừa giúp choviệc ngăn ngừa hành vi quá khích của nguyên đơn hoặc bị đơn, vì nếu họ muốnđánh nhau thì phải chồm người qua bàn làm việc

Bước 2 Thu thập, nghiên cứu đầy đủ các tài liệu, chứng cứ:

- Có thời gian thích hợp để nghiên cứu kỹ hồ sơ Nắm vững nguyên nhântranh chấp, một hoặc nhiều quan hệ pháp luật mà các bên đương sự tranh chấp,hiểu rõ được nội dung, tính chất, mức độ tranh chấp, thái độ tâm lý của các bênđương sự trong từng vụ án, xác định các yêu cầu cụ thể của đương sự trong vụ

án, những nội dung các bên thống nhất được và những nội dung còn mâu thuẫn

để xác định; những yếu tố, điều kiện nào tốt nhất, có lợi cho các bên nhằm đạtđến sự thoả thuận theo kế hoạch hoà giải của Thẩm phán

- Lập phương án xử lý tình huống có khả năng xảy ra giữa các bên đương

sự tại phiên hoà giải

- Có thể tiếp xúc và tác động theo hướng hoà giải tích cực đối với từngbên nhằm nắm rõ nguyện vọng, ý định của mỗi bên trước khi hoà giải

- Có thể gặp hoặc tiếp xúc với một số cơ quan có liên quan nhằm hỗ trợtốt cho việc hoà giải

Bước 3 Lựa chọn thời điểm hoà giải:

Sau khi Thẩm phán xử lý các thông tin cần thiết cho việc tổ chức phiênhoà giải, Thẩm phán tổ chức phiên hoà giải nếu các dữ liệu thu thập được, khihoà giải có khả năng hoà giải thành rất cao

Có phương án xử lý tốt nhất đối với các mâu thuẫn xoay quanh quan hệpháp luật mà Thẩm phán phải tác động đến, giúp đương sự dễ thoả thuận

Nắm vững điểm mạnh, điểm yếu của mỗi bên đương sự để điều đình,thương lượng, tăng giảm lợi ích của mỗi bên nhằm đạt đến sự thống nhất chung

Ngày đăng: 28/12/2021, 13:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Đề tài “Các phương pháp giải quyết tranh chấp kinh tế ở Việt Nam” thuộc dự án VIE/94/2003 của Bộ Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp giải quyết tranh chấp kinh tế ở Việt Nam
1. Giáo trình Luật Dân sự – Đại học Luật Hà Nội (năm 2007) Khác
2. Giáo trình Luật Lao động – Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2001) Khác
3. Tập bài giảng về giải quyết tranh chấp lao động - Phạm Thị Thanh Thúy – Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2013) Khác
5. Bộ Luật tố tụng dân sự (năm 2015) Khác
6. Giáo trình Luật Dân sự của Học viện tòa án.7. Bộ luật lao động Khác
8. Giáo trình Luật lao động Học viện tòa án Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w