Quy định về nhiệm vụ của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhândân tối cao, tại Điểm c khoản 2 Điều 22 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 ghirõ: “Lựa chọn quyết định giám đốc thẩm của Hội đồn
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc cải cải cách và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa hiện nay, không chỉ đòi hỏi phải quản lý nhà nước và xã hội bằng pháp luật màcòn đòi hỏi phải áp dụng pháp luật một cách thống nhất Việc áp dụng thống nhất phápluật của Tòa án thể hiện ở chỗ những vụ án giống nhau thì phải được xử một cách giốngnhau, tức phải hướng đến sự công bằng
Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cảicách tư pháp đến năm 2020, xác định: “Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kếtkinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xửgiám đốc thẩm, tái thẩm” Quy định về nhiệm vụ của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhândân tối cao, tại Điểm c khoản 2 Điều 22 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 ghirõ: “Lựa chọn quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tốicao, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn mực của các Tòa án,tổng kết phát triển thành án lệ và công bố án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trongxét xử”
Quá trình thực hiện nhiệm vụ cải cách tư pháp, Đảng đã đề ra quan điểm cầnphát triển án lệ và áp dụng án lệ trong xét xử Điều này phù hợp với thông lệ quốc tế vàgóp phần tháo gỡ những khó khăn của thực tiễn xét xử Quan điểm của Đảng cũng đãđược cụ thể hóa thành những quy định cụ thể trong Luật Tổ chức Tòa án nhân dân vàcác luật tố tụng
Án lệ được sử dụng trong những vụ án có tình tiết và sự kiện pháp lý giống nhau
để thống nhất giải quyết vụ án đúng pháp luật Đây cũng là những vụ án được Tòa ánnhân dân tối cao chọn lọc qua các quy trình xét duyệt để trở thành vụ án mẫu mực, ápdụng cho các thẩm phán giải quyết những vụ án có tình tiết tương tự
Thực tiễn xét xử các vụ án nói chung, các vụ án dân sự nói riêng cho thấy cònnhiều bất cập Còn rất nhiều vụ án dân sự có những quan điểm khác nhau trong đườnglối giải quyết Việc áp dụng pháp luật mỗi địa phương, mỗi cấp Tòa án, mỗi Thẩm phánvới cùng một nội dung còn khác nhau Dẫn đến tình trạng án bị hủy, sửa nhiều, ảnhhưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, làm giảm sút uy tín của Tòa án
Trang 2Việc áp dụng án lệ trong quá trình giải quyết vụ việc là một bước tiến mới trongquá trình cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước ta, vì án lệ mang tính thực tiễn cao, cókhả năng khắc phục những lỗ hổng pháp luật một cách nhanh chóng và kịp thời.
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số03/NQ-HĐTP ngày 28-10-2015 hướng dẫn về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng
án lệ Theo quy định tại Điều 1 của Nghị quyết thì án lệ là những lập luận, phán quyếttrong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể đượcHội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Toà án nhândân tối cao công bố là án lệ để các Toà án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề về án lệ đã được đề cập ở nhiều mức độ khác nhau trong một số côngtrình nghiên cứu độc lập hoặc đăng tải dưới các bài viết trên các tạp chí pháp luật như:
Đề tài khoa học (2015) “Án lệ - Lý luận và thực tiễn” của nhóm tác giả Nguyễn Hữu
Cường, Trường Đại học kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh; Bài
giảng của Đinh Văn Mậu và Phạm Hồng Thái (2001) “Lý luận chung về nhà nước và
pháp luật”; Bài viết (1999) “Pháp luật thực tiễn và án lệ” của Đinh Văn Quế; Bài viết
(2015) “Án lệ: lịch sử, hiện tại và triển vọng phát triển ở Việt Nam” của Đào Trí Úc, Phòng Tư pháp Tp Tam Kỳ, Quảng Nam; Bài viết (2013) “Án lệ: Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn” của Đỗ Thành Trung, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh;
TS Nguyễn Thị Hồi “Về khái niệm nguồn của pháp luật”, Tạp chí Luật học, số 2/2008; Dương Bích Ngọc và Nguyễn Thị Thúy “Vấn đề áp dụng án lệ ở Việt Nam”, Tạp chí Luật học, số 5/2009; Ths Lê Mạnh Hùng “Án lệ trong hệ thống Tòa án Australia và
kinh nghiệm cho Việt Nam trong phát triển án lệ”, Tạp chí Luật học, số 6/2011; Đặng
Thị Thơm và Nguyễn Đình Phong “Vai trò của án lệ và kinh nghiệm áp dụng án lệ của
một số quốc gia trên thế giới”, Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, số 5/2013
Đây là các tài liệu tham khảo hết sức quý giá về án lệ để tác giả nghiên cứu trongquá trình làm đề tài Tuy nhiên, các đề tài còn hạn chế về số lượng và chưa đi sâu về nộidung Đặc biệt là từ khi Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hànhNghị quyết số 03/NQ-HĐTP ngày 28-10-2015 hướng dẫn về quy trình lựa chọn, công
bố và áp dụng án lệ (Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP) ban hành chưa có bài viết nào thểhiện rõ nét nội dung án lệ và việc áp dụng án lệ và việc áp việc áp dụng án lệ trong giảiquyết vụ án dân sự ở Việt Nam hiện nay
Trang 33 Phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu ở phương diện lý luận và thực tiễn án lệ và việc áp việc ápdụng án lệ trong giải quyết vụ án dân sự ở Việt Nam hiện nay Đồng thời tập trungnghiên cứu các quy định, cách thức áp dụng án lệ trên thế giới, thực tiễn giải quyết các
vụ án dân sự ở Việt Nam để có thể đưa ra một số giải pháp nhằm áp dụng án lệ tronggiải quyết các vụ án dân sự tại Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là nhằm xây dựng và hoàn thiện hệ thống giảipháp bảo đảm việc áp dụng án lệ trong giải quyết vụ án dân sự của Tòa án nhân dân(TAND) ở Việt Nam một cách hợp pháp và có hiệu quả
Tiểu luận giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ những vấn đề lý luận án lệ
- Phân tích việc áp dụng án lệ trên thế giới
- Thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự ở Việt Nam
- Phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về án lệ
- Thực tiễn áp dụng án lệ ở Việt Nam
- Đưa ra một số giải pháp nhằm áp dụng án lệ trong giải quyết các vụ án dân sựtại Việt Nam
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủnghĩa duy vật biện chứng trong triết học Mác -Lênin như: Phân tích, Tổng hợp, Lịch sử -
cụ thể để nghiên cứu tất cả các chương trong nội dung tiểu luận
Ngoài ra, đề tài còn kết hợp các phương pháp thống kê như: Kế thừa các công trìnhnghiên cứu trước đó; Tổng hợp các nguồn số liệu thông qua các báo cáo, tổng kết của cácnguồn thông tin chính thức; Tìm thông tin thông qua các phương tiện thông tin đại chúng:Báo chí, Internet
5 Đóng góp của đề tài
- Nguyên cứu một cách toàn diện về án lệ Góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về
áp dụng án lệ trong giải quyết các vụ án dân sự của TAND ở Việt Nam
- Phân tích, đánh giá được các quy định của pháp luật về án lệ và thực tiễn ápdụng án lệ trong việc giải quyết các vụ án dân sự tại Việt Nam cũng như đề xuất cácgiải pháp hoàn thiện
Trang 4- Đề tài là tài liệu để các nhà nghiên cứu, các giảng viên, sinh viên, học viên tạiHọc viện Tòa án và các cơ sở đào tạo pháp luật tham khảo trong việc thực hiện cáccông trình nghiên cứu, giảng dạy và học tập các vấn đề liên quan
6 Kết cấu của tiểu luận
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luận được chia làm
3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về án lệ
Chương 2: Thực trạng áp dụng án lệ trong giải quyết các vụ việc dân sự của tòa
án nhân dân ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Các giải pháp nâng cao chất lượng án lệ và áp dụng án lệ trong giảiquyết các vụ án dân sự tại Việt Nam
Trang 5nguyên và tồn tại dưới hình thức các phán quyết, nhằm điều chỉnh các mối quan hệ phùhợp với sự phát triển của xã hội La Mã thời cổ đại Có thể nói án lệ thực sự có nguồngốc từ nước Anh Án lệ xuất hiện từ thế kỉ XI (1066) ở Anh sau cuộc chinh phục củangười Norman và là hệ quả của quá trình xây dựng chế độ phong kiến tập trung củaHoàng gia Anh1 Hiện nay ở Anh án lệ vẫn là nguồn luật chủ yếu tồn tại bên cạnh luậtthành văn và các nguồn luật khác Về nguyên tắc, luật thành văn luôn được ưu tiên ápdụng nhưng có thể thấy rằng các Thẩm phán Anh vẫn luôn tìm cách để áp dụng án lệ.
Trên thế giới hiện nay đã hình thành hai hệ thống án lệ chủ yếu như đã nói ở trêngồm có hệ thống pháp luật thông luật (Common Law) và hệ thống pháp luật dân sự(Civil Law) Và để có cái nhìn toàn diện nhất và chính xác nhất về án lệ cũng như tiếntrình hình thành, quy trình sửa đổi chúng ta cần có kiến thức khái quát nhất về kháiniệm án lệ
Theo từ điển Black’s Law thì án lệ được hiểu như sau: “Án lệ là việc làm luậtcủa tòa án khi công nhận và áp dụng các quy tắc mới trong quá trình xét xử; vụ việc đãđược giải quyết làm cơ sở để đưa ra phán quyết cho những trường hợp có tình tiết hoặcvấn đề tương tự sau này”2
Một án lệ là một quyết định của Tòa án chứa đựng trong nó một nguyên tắc.Nguyên lý cơ bản giống như mẫu mà phần có căn cứ đích xác của nó thường được gọi
là nguyên tắc pháp lý cho một phán quyết trong một trường hợp cụ thể là bắt buộc đốivới các bên, nhưng nó là bản tóm tắt của nguyên tắc pháp lí cho một phán quyết trongmột trường hợp cụ thể mà chỉ có nó có hiệu lực pháp luật
Thường cũng có thể chấp nhận, tôn trọng một án lệ không phải bởi nó bao quátmột logic ổn định mà bởi từ các phần của nó có thể nảy sinh ra ý tưởng về mẫu mới củaquyết định
Từ điển này còn giải thích: Án lệ bắt buộc là án lệ mà tòa án bắt buộc phải tuântheo, ví dụ, tòa án cấp thấp hơn bị giới hạn bởi một cách áp dụng của một toà án cấpcao hơn trong một vụ xét xử tương tự Án lệ để giải thích là án lệ chỉ có thể được ápdụng cho một quy định pháp luật hiện đã có rồi Án lệ gốc là án lệ tạo ra và áp dụngmột quy định mới của pháp luật Án lệ có sức thuyết phục là một án lệ mà tòa án có thểhoặc là tuân theo hoặc là từ chối, nhưng điều khoản của nó phải được tôn trọng và cânnhắc cẩn thận
1 Dương Bích Ngọc và Nguyễn Thị Thúy “Vấn đề áp dụng án lệ ở Việt Nam”, Tạp chí Luật học, số 5/2009, tr.37.
2 Black's Law Dictionary, 1979, 5th edition, tr.1059.
Trang 6Từ quan niệm trên có thể hiểu án lệ là quyết định hoặc lập luận, nguyên tắc hoặc
sự giải thích pháp luật do tòa án đưa ra khi giải quyết một vụ việc cụ thể được nhà nướcthừa nhận làm mẫu hoặc làm cơ sở để tòa án dựa vào đó đưa ra quyết định hoặc lậpluận để giải quyết vụ việc khác xảy ra về sau có nội dung hoặc tình tiết tương tự3
Án lệ được coi là nguồn của pháp luật và được chia làm hai loại là án lệ mangtính bắt buộc áp dụng (binding precedent,authoritative precedent) như án lệ của Toà áncấp trên bắt buộc Toà án cấp dưới cùng phân hệ phải tuân thủ và án lệ không mang tínhbắt buộc áp dụng (persuasive precedent) như án lệ của Toà án cùng cấp có thể áp dụnghoặc chỉ để tham khảo
1.2 Đặc điểm
Thứ nhất, án lệ trước hết phải là bản án, quyết định của Tòa án Bản án và quyếtđịnh này phải chứa đựng cách thức chung, quan điểm chung được Tòa án áp dụng trongviệc giải quyết vấn đề pháp luật trong bản án, quyết định đó
Thứ hai, án lệ đề cập đến sự lặp đi lặp lại của một giải pháp được Tòa án ápdụng cho nhiều vụ án tạo ra cái gọi là tiền lệ Chính do đặc điểm này mà không phảimọi bản án, quyết định của Tòa án đều có giá trị án lệ mà chỉ những bản án, quyết địnhchứa đựng những vấn đề về giải thích và áp dụng pháp luật để từ đó có thể rút ranguyên tắc chung áp dụng cho những vụ án khác mới có giá trị nâng lên trở thành án lệ.Tuy nhiên, tính tiền lệ này khác nhau ở từng nước Tại các nước theo hệ thống CivilLaw, tính tiền lệ này không bắt buộc, còn ở các nước theo hệ thống Common Law, việctuân thủ nguyên tắc này gần như là triệt để
Thứ ba, bản án, quyết định có giá trị án lệ phải là cơ sở cho Tòa án cấp dưới vậndụng khi xét xử một vụ án tương tự Cơ sở này có thể mang tính chất bắt buộc hoặcmang tính chất tham khảo Tính tương tự ở đây được hiểu là tương tự nhau về tình tiết,
sự kiện cơ bản và tương tự về pháp lý
1.3 Quy trình hình thành án lệ
Án lệ cũng như các nguồn pháp luật khác cũng có cơ chế hình thành riêng Vềnguyên tắc, mỗi bản án là một quyết định cá biệt chỉ có hiệu lực áp dụng đối với vụ việc
mà nó giải quyết chứ không có hiệu lực áp dụng chung đối với các vụ việc khác
Thông thường để hình thành án lệ trước hết phải có bản án Bản án chính là chấtliệu đầu tiên hình thành nên án lệ Nội dung của bản án thường bao gồm hai phần: Phần
3 Đặng Thị Thơm và Nguyễn Đình Phong “Vai trò của án lệ và kinh nghiệm áp dụng án lệ của một số quốc gia trên thế giới”, Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, số 5/2013, tr.16
Trang 7nội dung của vụ việc và phần quyết định của toà án Phần nội dung của vụ việc bao gồmhai phần là phần trình bày của các bên và phần nhận định của Toà án Trong các phầntrên, phần nhận định của Toà án chính là phần có giá trị nhất trong việc hình thành án
lệ Trong phần nhận định này, Thẩm phán thể hiện quan điểm của mình về hướng giảiquyết vụ việc cũng như về những vấn đề pháp lý đặt ra trong vụ việc Và nếu quan điểmnày phù hợp với yêu cầu thực tế và phù hợp với trật tự pháp lý thì sẽ có xu hướng trởthành một quy phạm án lệ có khả năng áp dụng cho các vụ việc tương tự
Hạt nhân đầu tiên để hình thành nên một án lệ chính là bản án, trong đó phầnnhận định của Thẩm phán là phần quan trọng nhất Tuy nhiên, để trở thành án lệ, quanđiểm nhận định này phải trở thành quan điểm chung của các Toà án khi giải quyết các vụviệc tương tự Như vậy, ở đây xuất hiện một yếu tố thứ hai tham gia vào quá trình hìnhthành án lệ đó là yếu tố tiền lệ Nói cách khác, để có án lệ thì phải có tiền lệ, tức là trước
đó đã từng có nhiều bản án đưa ra cách giải quyết tương tự đối với những trường hợptương tự, rồi dần hình thành nên một tiền lệ trong việc giải quyết các trường hợp đó
Ngoài hai yếu tố trên (bản án và tiền lệ) còn có một yếu tố thứ ba tham gia vàoviệc hình thành án lệ đó là yếu tố thống nhất hoá thông qua vai trò giám sát của Toà áncấp trên đối với Toà án cấp dưới Chính vai trò giám sát này thể hiện qua cơ quankháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm sẽ đảm bảo hình thành một án lệthống nhất cho một địa phương hoặc cho toàn quốc
Trong quá trình hình thành án lệ, còn có một yếu tố nữa có vai trò rất quan trọng
đó là công tác thông tin tuyên truyền về án lệ nhằm công khai hoá và phổ biến rộng rãicác bản án và quyết định của toà án các cấp Sẽ không thể có án lệ nếu các bản án quyếtđịnh của Toà án không được công khai rộng rãi để mọi người cùng biết và tham khảo.Đây cũng chính là một trong những quy trình thể hiện tính thực tế của án lệ, để án lệthực sự đi vào tư duy pháp lý của mọi người dân
Tóm lại, quá trình hình thành án lệ bao gồm ba yếu tố cơ bản: Bản án, tiền lệ vàyếu tố thống nhất hoá Với quy trình này việc hiện diện của án lệ sẽ không còn quá xa lạvới tất cả mọi người và nó cũng đảm bảo cho sự tồn tại khách quan của án lệ trong hệthống pháp luật trên thế giới
2 Vai trò của án lệ
Thứ nhất, án lệ mang tính thực tiễn cao Nghĩa là dựa vào thực tiễn, tập trungvào việc giải quyết những vấn đề cụ thể của đời sống thực tế chứ không phải giải quyết
Trang 8vấn đề bằng các lý thuyết chung chung trừu tượng
Thứ hai, đó không phải là những giả thuyết có tính lý luận về những tình huống
có thể xảy ra trong tương lai, vì vậy nó thường phong phú và đa dạng hơn so với phápluật thành văn Án lệ góp phần bổ sung cho những thiếu sót, những lỗ hổng của phápluật thành văn và khắc phục được tình trạng thiếu pháp luật
Án lệ cũng góp phần giải thích và vận dụng pháp luật trong từng trường hợp cụthể Những trường hợp Thẩm phán phải giải thích và vận dụng pháp luật rất đa dạng, dopháp luật quy định không rõ ràng, quy định một cách vô lý hay đã bị lạc hậu so với tìnhhình thực tế mà nhà lập pháp chưa có điều kiện hay vì một lý do nào đó chưa thay thếbằng một quy định mới Do đó chức năng bổ khuyết cho pháp luật giúp cho án lệ có vaitrò lớn trong việc tạo nguồn quy phạm cho pháp luật Với sự trợ giúp của án lệ các vụviệc được giải quyết nhanh chóng hơn khi chưa có luật thành văn điều chỉnh
Thứ ba, tạo ra sự công bằng và chống oan sai, có một nguyên tắc mà đến nay đãtrở thành tiêu chí chung ở hầu hết các nước: Trong cùng một quốc gia, không thể xửnhững vụ án giống nhau bằng những bản án khác nhau Áp dụng án lệ là cách đểnguyên tắc này được thể hiện rõ ràng nhất Bởi lẽ, những lập luận, phán quyết có tínhchuẩn mực của Tòa án trong một vụ việc cụ thể được vận dụng để giải quyết một vụviệc cụ thể khác, bảo đảm rằng những vụ việc như nhau được giải quyết giống nhau,đảm bảo áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử đồng thời án lệ là biện pháp hữuhiệu để phòng chống tham nhũng trong ngành tư pháp Đối với các vụ án tương tự nhauhoặc giống nhau thì Thẩm phán không thể tham nhũng để xử ưu đãi cho một bên được
Thứ tư, án lệ cũng góp phần nâng cao trình độ của các Thẩm phán, Kiểm sátviên, Luật sư…do đòi hỏi của việc xét xử và tranh tụng nên họ cần phải tìm hiểu về rấtnhiều án lệ Các án lệ của Toà án tối cao cũng có đóng góp quan trọng trong việc thiếtlập các biện pháp bảo đảm các quyền của công dân trong quan hệ tố tụng
3 Tình hình áp dụng án lệ trên thế giới
3.1 Áp dụng án lệ tại Anh
Án lệ đã có quá trình sử dụng lâu dài trong truyền thống Common Law (tiêu biểucho truyền thống pháp luật này là Anh) Anh được coi là nơi sinh ra của khái niệm “ánlệ”, vương quốc Anh cho đến nay luôn được coi là một hình mẫu điển hình cho việc ápdụng cũng như coi án lệ là một nguồn pháp luật chủ chốt Bắt đầu được hình thành từnăm 1066, tính đến năm 1980, sau hơn 9 thế kỉ tồn tại và phát triển, ở Anh đã công bố
Trang 9350.000 án lệ Con số trên là rất áp đảo so với con số 3000 đạo luật được Nghị việnAnh ban hành từ năm 1235 đến nay4.
Vai trò của án lệ trong các Tòa án cùng cấp cũng được nhấn mạnh Đối với hệthống Tòa phúc thẩm, có hai Tòa phúc thẩm đó là Tòa phúc thẩm dân sự và Tòa phúcthẩm hình sự Tòa phúc thẩm dân sự thì không chấp nhận việc xem xét lại những phánquyết trước đây để đưa ra những phán quyết mới phủ nhận án lệ Còn với Tòa phúcthẩm hình sự thì lai sẵn sàng không chấp nhận những phán quyết trước đây nếu thấyrằng những phán quyết đó đã giải thích sai hoặc áp dụng không đúng luật pháp Đối vớiTòa án tối cao Anh, Thẩm phán Tòa án tối cao không có nghĩa vụ ràng buộc bởi nhữngphán quyết trước đây của mình, nhưng trên thực tế họ thường tuân thủ án lệ của chínhmình
Các án lệ được công bố trong các tuyển tập án lệ: Law reports, Weekly lawreports, All England law reports được xem như một nguồn chính thống, thậm chí cóphần thông dụng hơn các bộ luật thành văn của nước này
3.2 Áp dụng án lệ tại Hoa Kỳ
Mặc dù được coi là một nước thông luật nhưng Hoa Kỳ lại có hệ thống luậtthành văn rất đồ sộ Với một bản hiến pháp lâu đời, đạt trình độ cao và khá trừu tượng,việc áp dụng án lệ tại nước này gắn liền với cách giải thích hiến pháp của Tòa án tốicao Án lệ tại đây được áp dụng với các nguyên tắc sau:
Tòa án tối cao Liên bang không có nghĩa vụ phải tuân thủ cứng nhắc các phánquyết trước đây của mình, tức là thừa nhận việc không cần phải tuân theo bất kì một án
lệ nào đã có từ trước đó, bởi lẽ nó là cơ quan tối cao có trách nhiệm đối với chính sáchpháp lý tổng thể của đất nước Còn đối với các Tòa án cấp dưới của liên bang và cácTòa án của các bang, các tòa án này có nghĩa vụ tuân theo các quyết định trước đây củaTòa án tối cao liên bang Đối với các phán quyết của Tòa án cấp dưới của liên bang vềnhững vấn đề mang tính liên bang thì Tòa án các bang không bắt buộc phải tuân theo,tuy nhiên chúng được xem xét và cân nhắc rất cẩn thận
Tương tự, các phán quyết của Tòa án bang về những vấn đề mang tính liên bangcũng không ràng buộc các Tòa án liên bang Đối với các phán quyết của Tòa án phúcthẩm khu vực của liên bang thì các phán quyết này chỉ mang tính bắt buộc tuân theo đốivới các tòa án cấp dưới nằm trong lãnh thổ khu vực đó chứ không ràng buộc các Tòa án
4 Nguyễn Văn Nam “Án lệ và hệ thống Tòa án nước Anh”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, số 02/2003, tr.12.
Trang 10khu vực khác Tương tự, các phán quyết trước đây của Tòa án cấp trên của bang chỉ cógiá trị ràng buộc đối với các Tòa án cấp dưới của bang đó mà thôi.
3.3 Áp dụng án lệ tại Australia
Ở Australia, án lệ được xác lập bởi Toà án tối cao Liên bang, Toà án Liên bang,Toà án tối cao tiểu bang và Toà phúc thẩm của tiểu bang5 Có bốn loại nguồn pháp luậtđược áp dụng tại Australia là án lệ, luât của nghị viện, luật quy định chi tiết của nghịviện và tập quán, trong đó án lệ là nguồn pháp luật quan trọng bậc nhất
Về cơ bản, việc tuân thủ án lệ ở Australia được dựa trên những nguyên tắc: Tòa
án tối cao của các bang có quyền không tuân thủ phán quyết trước đây của mình vớinhững lý do khác nhau, nhưng trên thực tế, họ sẽ cố gắng đảm bảo tính thống nhất trongxét xử thông qua việc tôn trọng án lệ của chính mình Đối với Tòa án tối cao của bangnày không bị ràng buộc bởi án lệ của Tòa án tối cao bang khác, nhưng trên thực tế, cácTòa án tối cao của các bang ở Australia rất chủ ý tham khảo án lệ của nhau Khi xétthấy án lệ đó sai, thì cần phải sửa
Tuy nhiên cũng cần phải cân nhắc việc bản án lệ sai đó có thể chấp nhận đượctrên thực tế hay không Nếu cơ quan lập pháp chấp nhận cách giải thích luật pháp theohướng phán quyết sai đó, thì Tòa án tối cao phải tuân thủ phán quyết đó
Án lệ trong lĩnh vực luật dân sự là yếu tố bổ sung cho sự trường tồn của BLDSPháp Phạm vi bao quát trong các quy định của BLDS Pháp là rất rộng Thực tiễn đã
5 Ths Lê Mạnh Hùng “Án lệ trong hệ thống Tòa án Australia và kinh nghiệm cho Việt Nam trong phát triển án lệ”, Tạp chí Luật học, số 6/2011, tr.68.
Trang 11cho thấy, án lệ trong lĩnh vực luật dân sự đã và đang đóng một vai trò quan trọng cho sựphát triển pháp luật dân sự ở Pháp Điều này có thể hiểu là, các Thẩm phán nên giảithích các quy định, nguyên tắc của BLDS Pháp một cách linh hoạt để nó phù hợp với sựthay đổi của đời sống xã hội Án lệ trong luật dân sự chính là nguồn luật bổ trợ cho luậtthành văn Nhiều điều luật trong BLDS được giải thích bởi các Toà án Điều này làmcho các án lệ trong lĩnh vực luật dân sự trở thành phương tiện để hiểu được BLDS.Những án lệ quan trọng nhất trong lĩnh vực luật dân sự ở Pháp được thiết lập bởi Toàphá án6
3.5 Áp dụng án lệ tại Đức
Không ai có thể phủ nhận vai trò quan trọng của các bộ luật và luật thành văn ởĐức, tuy nhiên trong rất nhiều lĩnh vực, chúng ta không thể hiểu được nội dung thực sựcủa các văn bản luật nếu không tìm hiểu các án lệ liên quan đến việc giải thích phápluật Án lệ không có hiệu lực pháp lý bắt buộc tại Đức hay nói cách khác, không mộtTòa án nào có nghĩa vụ phải tuân thủ các phán xét của các Tòa án cấp trên hoặc cùngcấp Tuy nhiên thực tế lại tìm cách chứng minh rằng, việc áp dụng án lệ ở Đức vẫn cónhững ngoại lệ Đó là:
Thứ nhất, các phán quyết của Tòa án Hiến pháp Liên bang về tính hợp hiến củavăn bản pháp luật nào đó hoặc tính tuân thủ của văn bản pháp luật của bang đối vớipháp luật liên banmg được coi là quyết định mang tính pháp lý có giá trị như một đạoluật áp dụng chung chứ không phải đối với vụ việc cụ thể đó
Thứ hai, khi Tòa án cấp phúc thẩm đã hủy án sơ thẩm và giao Tòa án cấp sơthẩm xét xử lại vụ án thì Tòa án cấp sơ thảm khi xét xử lại vụ án đó có trách nhiệm phảituân thủ những nhận định mang tính áp dụng pháp luật mà Tòa án cấp phúc thẩm đãnêu ra
Thứ ba, thực tế xét xử cho thấy các Tòa án Đức cố gắng đảm bảo việc áp dụng
và giải thích pháp luật của Tòa án cấp trên được thi hành một cách thông nhất Thực tếcác bản án, các quyết định của Tòa án cấp trên có những ảnh hưởng rất lớn đối với cácphán quyết của các Tòa án cấp dưới Khi xảy ra mâu thuẫn giữa Tòa cấp trên và Tòacấp dưới thì chiến thắng của Tòa án cấp trên là điều có thể dự đoán được bởi lẽ cuốicùng Tòa án cấp trên cũng sẽ xét lại vụ án này một lần nữa nếu như Tòa án cấp dưới
6 Tòa phá án: Pháp, cũng như các quốc gia theo dân luật khác (và cả của Việt Nam dưới thời thuộc Pháp), tổ chức một cấp Tòa phá án, có nhiệm vụ xem xét lại vấn đề áp dụng pháp luật của các tòa cấp dưới Ở đây, Tòa Phá án Pháp (Cour de Cassation) được xem như Tòa án tối cao trong nhánh Tòa tư pháp.
Trang 12không chịu thống nhất với phán quyết của họ hoặc đương sự tiếp tục kháng cáo, trừ khitòa án cấp trên từ bỏ nhân định trước đây của mình
Sự hiểu biết và thông thạo các án lệ trong lĩnh vực dân sự có lẽ là cách tốt nhất
để các Thẩm phán và Luật sư ở Đức áp dụng đúng các qui định của BLDS Đức năm
1900 Trong BLDS Đức, các quy định về hợp đồng, bồi thường thiệt hại v.v đã được
hỗ trợ bởi hàng loạt những án lệ
Đây có thể xem như là điều khẳng định sự ảnh hưởng khó có thể phủ nhận của
án lệ lên ngay cả những nước có truyền thống không chấp nhận án lệ như Đức
3.6 Áp dụng án lệ tại Nhật Bản
Án lệ của Tòa án tối cao Nhật Bản được lựa chọn dựa trên quyết định của Ủyban án lệ (theo Quy chế Ủy ban án lệ tháng 9/1947) bao gồm nội dung quyết định, tríchyếu án lệ, điều khoản tham chiếu ghi kèm Ủy ban án lệ được quy định là một tập thể có
ít hơn 7 Thẩm phán Tòa án tối cao là ủy viên, có Ban thư ký gồm Thẩm tra viên vànhân viên Tổng cục Hành chính thuộc Tòa án7 Các Thẩm tra viên phụ trách các vụ việc
có bản án, quyết định dự kiến đề xuất phát triển thành án lệ sẽ biên soạn nội dung quyếtđịnh, trích yếu án lệ và điều khoản tham chiếu Các đề xuất liên quan đến vụ việc dân
sự, hành chính sẽ được đưa ra nghiên cứu nội bộ trong ban phụ trách dân sự, hànhchính; vụ việc hình sự sẽ được nghiên cứu nội bộ trong ban phụ trách hình sự sau đótổng kết lại Như vậy, án lệ tại Nhật Bản là bản án, quyết định đã được tuyển chọn mộtcách khách quan và có tính chuyên môn cao thông qua một tổ chức phản ánh ý chí củatập thể Tòa án
Về tiêu chuẩn lựa chọn án lệ, đó phải là những vấn đề quan trọng liên quan đếnHiến pháp, pháp luật chưa có tiền lệ ở Tòa án tối cao; án lệ đã có từ thời Đại thẩm viện(tên gọi cũ của Tòa án tối cao Nhật Bản giai đoạn 1875-1947) nhưng là quyết định xuấthiện lần đầu trong Tòa án tối cao; bản án, quyết định của Đại hội đồng xét xử (Đại phápđình) làm thay đổi tiền lệ của Tòa án tối cao Ngoài ra, trường hợp tình tiết vụ việcđóng vai trò quan trọng như lẽ công bằng, sự thừa nhận mặc nhiên cũng dần trở thành
án lệ; giải thích pháp luật mới của Tòa án tối cao, hoặc bản án, quyết định hướng dẫnnhưng có thể tham khảo để xử lý các vụ việc khác, hoặc bản án, quyết định hướng dầnnhưng do tích lũy mà dẩn trở thành khái niệm có cả ngoại vi lẫn nội hàm cũng là nguồn
án lệ
7 Trần Minh Giang, ban-hoc-hoi-kinh-nghiem-de-hoan-thien-che-dinh-an-le-o-viet-nam-191046.html.
Trang 13http://congly.vn/hoat-dong-toa-an/tieu-diem/toa-dam-tim-hieu-ve-he-thong-an-le-cua-nhat-Án lệ được công bố công khai trên trang web của Toà án tối cao Nhật Bản vàmột số các trang web của tư nhân khác Toà án tối cao Nhật Bản có một tạp chí nhỏphát hành 2 lần mỗi tháng và được phát tới tay tất cả các nhân viên Toà án trong đó cóđăng các án lệ Các báo, tạp chí khác cũng hay đăng các bản án đã được công bố trởthành án lệ Việc áp dụng máy tính tra cứu các án lệ theo các tiêu chí định sẵn khiếncho việc tra cứu rất nhanh, tiện lợi, tuy nhiên điều này đòi hỏi phải sắn có một cơ sở dữliệu tương đối đầy đủ.
Thực tế BLDS Nhật Bản ban hành năm 1898 gồm 1044 điều, các án lệ về cácđiều khoản này chứa đựng trong các án lệ của Toà án tối cao Nhật Bản gồm 9700 án lệ,trong đó của Đại thẩm viện (Toà án tối cao trước kia) là 7500 án lệ và của Toà án tốicao hiện nay là 3200 án lệ Cho đến nay Bộ luật dân sự Nhật Bản đã hơn 100 năm tuổinhưng các án lệ vẫn liên tục được bổ sung Điều đó cho thấy chỉ có các văn bản quyphạm pháp luật không thôi thì không thể đủ mà chúng cần được làm rõ thông qua cácgiải thích cụ thể, đó chính là việc áp dụng các án lệ
Một cơ sở nữa để xây dựng và áp dụng án lệ tại Nhật Bản là xuất phát từ tâm lýcủa con người, con người có thói quen tâm lý tuân theo những tiền lệ và những nhậnđịnh của cấp trên cho nên xây dựng một chế độ án lệ cũng phải dựa trên những yếu tốtâm lý như vậy Khi thiết chế về án lệ có đủ sức mạnh thì mọi bản án nhận định của Toà
án tối cao đều trở thành pháp luật
Pháp luật Nhật Bản quy định quyền kháng cáo 2 cấp Để áp dụng án lệ thì cầnthiết phải tạo cho án lệ có sức mạnh, những bản án, nhận định của Toà án tối cao phảiđược tôn trọng và tuân theo, tuy nhiên sức mạnh của án lệ ở Nhật Bản không mạnh như
ở Anh, Hoa Kỳ Mục tiêu của Nhật Bản chỉ là hy vọng các án lệ sẽ được tôn trọng vàtuân theo
Ở Nhật Bản hiện tại đang xen giữa hai hình thức, vừa có luật thành văn, vừa có án
lệ Nhật Bản cho rằng cơ chế hiện tại là tối ưu vì khi xét xử Thẩm phán tuân theo phápluật và tôn trọng những án lệ
Chỉ xét xử của Toà án cấp cao nhất mới có thể trở thành án lệ, tuy nhiên, ở NhậtBản trong trường hợp không có án lệ đối với vấn đề của một vụ án cụ thể thì Thẩmphán hoàn toàn có thể tham khảo những bản án của những Toà án khác (thậm chí Toà
án cấp dưới) về vụ án tương tự (tham khảo tiền lệ xét xử) Nếu Thẩm phán tán thànhquan điểm pháp lý thể hiện trong các bản án đó thì sẽ tiến hành xét xử trên quan điểm
Trang 14pháp lý đó về vấn đề tương tự Ở Nhật bản, ngoài tập án lệ của Toà án tối cao thì cũng
có những tập giống như án lệ nhưng của của Toà án cấp dưới và nó không phải quanhững bước thẩm định, biên soạn khắt khe như biên soạn án lệ Những bản án này cũngđược đăng công khai và là nguồn tài liệu tham khảo rất có ý nghĩa đối với các Thẩmphán trong hoạt động xét xử
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG ÁP DỤNG ÁN LỆ TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC DÂN
SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1 Nguồn nội dung của pháp luật Việt Nam
“Nguồn của pháp luật là tất cả các căn cứ được các chủ thể có thẩm quyền sửdụng làm cơ sở để xây dựng, ban hành, giải thích pháp luật cũng như để áp dụng vàoviệc giải quyết các vụ việc pháp lý xảy ra trong thực tế”8 Ngoài án lệ, pháp luật ViệtNam còn có các nguồn nội dung sau:
1.1 Đường lối, chính sách của Đảng
Đường lối, chính sách của Đảng Đường lối, chính sách của Đảng được coi lànguồn nội dung của pháp luật bởi vì chúng định ra mục tiêu, phương hướng phát triểnkinh tế – xã hội của đất nước trong một giai đoạn nhất định cũng như những phươngpháp, cách thức cơ bản để thực hiện những mục tiêu, phương hướng này Và nhữngmục tiêu, phương hướng, phương pháp và cách thức đó sẽ được Nhà nước thể chế hoáthành pháp luật và tổ chức thực hiện trong thực tế Nội dung các quy định trong các vănbản quy phạm pháp luật, từ Hiến pháp, luật cho đến các văn bản dưới luật đều phải phùhợp, không được trái với đường lối, chính sách của Đảng Về mặt lý luận, đường lối,chính sách của Đảng chỉ có thể là nguồn nội dung mà không thể là nguồn hình thức củapháp luật Nói chung, việc áp dụng thẳng đường lối, chính sách của Đảng vào các lĩnhvực của xã hội là một hạn chế cần khắc phục, vì về mặt nguyên tắc, đường lối, chínhsách của Đảng chỉ có giá trị bắt buộc phải tôn trọng hoặc thực hiện nghiêm chỉnh đốivới các đảng viên và các tổ chức Đảng Và dĩ nhiên, đường lối, chính sách đó chỉ có thể
có giá trị bắt buộc phải tôn trọng và thực hiện đối với toàn xã hội khi nó được Nhà nướcthể chế hoá thành pháp luật
8 TS Nguyễn Thị Hồi “Về khái niệm nguồn của pháp luật”, Tạp chí Luật học, số 2/2008, tr 29, 30.
Trang 151.2 Nhu cầu quản lý kinh tế – xã hội của đất nước
Đây cũng là một trong những nguồn nội dung quan trọng của pháp luật, mộttrong những cơ sở để xây dựng, ban hành pháp luật Để tổ chức, quản lý và điều hànhnền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước phải ban hành cácquy định pháp luật cụ thể nhằm xây dựng đồng bộ các loại thị trường (thị trường laođộng, thị trường hàng hoá, thị trường bất động sản, thị trường tài chính…); cụ thể hoácác chính sách tài chính, thuế, tiền tệ, giá cả, đầu tư, thu nhập…; sắp xếp, cơ cấu lại cácngành kinh tế, điều chỉnh các quan hệ kinh tế theo chiều hướng mà Nhà nước mongmuốn, chiều hướng vừa thúc đẩy sự tăng trưởng, vừa bảo đảm sự cân đối và ổn địnhcủa nền kinh tế – xã hội
1.3 Các tư tưởng, học thuyết pháp lý
Các tư tưởng, học thuyết pháp lý cũng có thể trở thành nguồn nội dung của phápluật Chẳng hạn, theo Điều 2 của Hiến pháp hiện hành của nước ta thì: “Nhà nước Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng làliên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Quyền lựcnhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trongviệc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” Quy định này của Hiến phápđược xây dựng trên cơ sở sự kế thừa tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng HồChí Minh về nhà nước và pháp luật; tư tưởng chủ quyền nhân dân; tư tưởng nhà nướcpháp quyền và tiếp nhận các yếu tố hợp lý của học thuyết phân chia quyền lực nhà nước
1.4 Các nguyên tắc chung của pháp luật
Đây là những nguyên lý, những tư tưởng cơ bản làm cơ sở cho toàn bộ quá trìnhxây dựng và thực hiện pháp luật trong thực tế Có những nguyên tắc chỉ là nguồn nộidung của pháp luật Song, có những nguyên tắc vừa là nguồn nội dung, vừa là nguồnhình thức của pháp luật Ví dụ, nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa Nguyên tắc nàyđược coi là nguồn nội dung của pháp luật vì các quy định của pháp luật trong nhiều lĩnhvực được ban hành ra nhằm thực hiện các chính sách xã hội của Nhà nước phục vụ cho
sự phát triển tự do, toàn diện của mỗi cá nhân, bảo đảm công bằng xã hội, xoá đói, giảmnghèo…
1.5 Văn bản quy phạm pháp luật
Đây là loại nguồn hình thức chủ yếu, cơ bản và quan trọng nhất của pháp luật,
Trang 16bởi lẽ, các cơ quan nhà nước ở Việt Nam khi giải quyết các vụ việc pháp lý thực tếthuộc thẩm quyền của mình đều chủ yếu dựa vào các VBQPPL Văn bản quy phạmpháp luật là văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục,trình tự luật định, trong đó có quy tắc xử sự chung được Nhà nước bảo đảm thực hiện,nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa Văn bản quyphạm pháp luật ở nước ta bao gồm nhiều loại với giá trị pháp lý cao, thấp khác nhau.Đứng đầu thang bậc giá trị pháp lý là Hiến pháp, đạo luật gốc, luật cơ bản của Nhànước Tiếp đó là các đạo luật và các nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội,… Các quy định của nó được trình bày thành văn nênthường rõ ràng, cụ thể, bảo đảm có thể được hiểu và được thực hiện thống nhất ở phạm
vi rộng; nhờ vậy, nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc đáp ứng các yêu cầu cơ bản củanguyên tắc pháp chế Hơn nữa, VBQPPL cũng có thể đáp ứng được kịp thời các yêucủa cuộc sống nên nó được coi là loại nguồn hình thức cơ bản, chủ yếu và quan trọngnhất của pháp luật nước ta hiện nay Tuy nhiên, VBQPPL không phải là loại nguồnhình thức duy nhất của pháp luật bởi VBQPPL vẫn có những điểm hạn chế nhất địnhcần được khắc phục như: Các quy định của nó thường mang tính khái quát cao nênnhiều khi không dự kiến được hết các tình huống, điều kiện, hoàn cảnh có thể xảy ratrong cuộc sống để điều chỉnh, vì thế có thể dẫn đến tình trạng thiếu pháp luật hoặc tạo
ra những lỗ hổng, khoảng trống trong pháp luật VBQPPL có tính ổn định tương đốicao nên nhiều khi kém linh hoạt hơn các nguồn khác Quy trình xây dựng và ban hànhVBQPPL cũng lâu dài và tốn kém hơn một số nguồn khác
1.6 Các điều ước quốc tế
“Theo cách tiếp cận của Công ước Viên 1969 về Luật Điều ước quốc tế ký kếtgiữa các quốc gia và các quy định của luật quốc tế hiện hành thì điều ước quốc tế đượcxác định là thoả thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và các chủthể luật quốc tế và được luật quốc tế điều chỉnh, không phụ thuộc vào việc thoả thuận
đó được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hay hai hoặc nhiều văn kiện có quan hệvới nhau, cũng như không phụ thuộc vào tên gọi cụ thể của những văn kiện đó”9 Nóichung, các điều ước quốc tế do Việt Nam ký kết, phê chuẩn hoặc gia nhập thực tế vừa
là nguồn nội dung, vừa là nguồn hình thức của pháp luật nước ta
1.7 Phong tục tập quán
Có nhiều quan niệm khác nhau về phong tục tập quán, song dưới góc độ coi nó
9 Giáo trình Luật quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2004, Tr 26.
Trang 17là một dạng quy phạm xã hội thì có thể hiểu phong tục tập quán là những cách ứng xửhay những thói quen ứng xử hoặc những quy tắc xử sự chung được hình thành một cách
tự phát trong một cộng đồng dân cư nhất định, được bảo đảm thực hiện bằng thói quen,bằng sức thuyết phục của chúng, bằng dư luận xã hội và có thể bằng cả một số biệnpháp cưỡng chế phi nhà nước Phong tục tập quán vừa có thể là nguồn nội dung, vừa cóthể là nguồn hình thức của pháp luật Những phong tục tập quán tiến bộ, tốt đẹp, phùhợp với ý chí của Nhà nước, được Nhà nước thừa nhận sẽ trở thành nguồn nội dung củapháp luật Việc thừa nhận phong tục tập quán là nguồn hình thức của pháp luật đã đượcthể hiện cụ thể trong một số đạo luật của nước ta Ví dụ, Điều 5 Bộ luật Dân sự năm
2015 quy định: “Trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy địnhthì có thể áp dụng tập quán” Nói chung, phong tục tập quán chỉ được coi là nguồn thứyếu của pháp luật Việt Nam bởi các quy định của nó chủ yếu tồn tại dưới dạng bấtthành văn nên thường chỉ được hiểu một cách ước lệ, thiếu rõ ràng, cụ thể, khó bảo đảmcho việc hiểu và áp dụng thống nhất trong phạm vi rộng Song, ưu điểm của phong tụctập quán là hình thành từ thực tiễn cuộc sống, từ những thói quen ứng xử hàng ngày nênrất gần gũi với nhân dân và thường được nhân dân tự giác thực hiện Vì vậy, phong tụctập quán có thể góp phần bổ sung cho chỗ thiếu của pháp luật, khắc phục những lỗ hổngcủa pháp luật nên cần được tiếp tục sử dụng cùng với các VBQPPL
2 Các quy định pháp luật về án lệ
2.1 Tiến trình hình thành án lệ ở Việt Nam
Từ năm 2004, TAND tối cao đã thường xuyên chọn lọc và công bố các Quyếtđịnh giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao Đây là điều kiện tiền đềcho việc thừa nhận án lệ ở Việt Nam Với ý nghĩa quan trọng của án lệ, trong bối cảnhtoàn cầu hóa, Đảng và Nhà nước ta đã nhìn nhận ra yêu cầu khách quan cần chấp nhận
án lệ là nguồn của pháp luật và bắt đầu có chủ trương xây dựng án lệ
Ngày 24-11-2014, tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Tổchức TAND Đây là một trong những đạo luật quan trọng về tổ chức, chức năng, nhiệm
vụ của hệ thống TAND Trong đó, có quy định về TAND tối cao là thực hiện việc tổngkết thực tiễn xét xử, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử Luật Tổ chứcTAND năm 2014 đã thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng về cải cách tưpháp, làm cho hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành cóhiệu quả và hiệu lực cao Tại điểm c, khoản 2, Điều 22 Luật Tổ chức TAND năm 2014
Trang 18quy định Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao có nhiệm vụ “Lựa chọn quyết định giámđốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, bản án, quyết định đã có hiệu lựcpháp luật, có tính chuẩn mực của các tòa án, tổng kết, phát triển thành án lệ và công bố
án lệ để các tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử” Tại khoản 5, Điều 27 Luật Tổchức TAND năm 2014 quy định một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh ánTAND tối cao là “Chỉ đạo việc tổng kết thực tiễn xét xử, xây dựng và ban hành nghịquyết của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luậttrong xét xử; tổng kết, phát triển án lệ, công bố án lệ”
Tại phiên họp ngày 19/10/2015 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, có sựtham dự của đại diện lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đại diện lãnh đạo Bộ
Tư pháp, Hội đồng Thẩm phán đã thông qua Nghị quyết về quy trình lựa chọn, công bố
và áp dụng án lệ Ngày 28/10/2015, thay mặt Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao,Chánh án TAND tối cao Trương Hòa Bình đã ký ban hành Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP
2.2 Các quy định pháp luật về án lệ
2.2.1 Quy định của Hiến pháp về Tòa án nhân dân
Theo bản Hiến pháp 2013, vị thế của TAND được nâng lên rõ rệt Ngoài việcxác định là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp; quy định nhiệm vụ bảo vệ công
lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ Xã hội chủ nghĩa, bảo vệlợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thể hiện vị trítrung tâm trong hệ thống tư pháp , Hiến pháp có những quy định mới thể hiện vị thếquan trọng của Tòa án nhân dân trong bộ máy nhà nước ta
Các nguyên tắc cơ bản trong tổ chức, hoạt động của TAND được hiến định cụthể tại Điều 103 Hiến pháp 2013 Hiến pháp 2013 kế thừa, phát triển một số nguyên tắc
đã được các bản Hiến pháp trước đây quy định Nguyên tắc độc lập xét xử của Tòa ánđược nhấn mạnh và ở tầm hiến định nghiêm cấm mọi tổ chức, cá nhân can thiệp vàohoạt động xét xử của Tòa án; quy định mở về hệ thống Tòa án mở đường cho việc tổchức Tòa án theo cấp xét xử, không theo đơn vị hành chính là những quy định mới,không chỉ khẳng định vị thế của TAND trong Nhà nước pháp quyền mà còn là các cơ
sở hiến định quan trọng để TAND thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ củamình Các nguyên tắc như xét xử có hội thẩm tham gia, nguyên tắc Thẩm phán và Hộithẩm xét xử độc lập, nguyên tắc xét xử công khai, xét xử tập thể, nguyên tắc bảo đảm
Trang 19quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự đượctiếp tục ghi nhận và phát triển ở mức cao hơn, chính xác hơn
Đồng thời, Hiến pháp 2013 bổ sung một số nguyên tắc mới thể hiện tinh thần đổimới trong cải cách tư pháp ở nước ta, phù hợp với các công ước quốc tế mà Việt Namtham gia Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử là một bảo đảm quan trọng giúp cho việcxét xử toàn diện, khách quan, bảo đảm quyền con người, quyền tố tụng của nhữngngười tham gia tố tụng, hạn chế thấp nhất các trường hợp oan sai trong hoạt động tốtụng tư pháp nói chung, trong xét xử của Tòa án nói riêng Nguyên tắc thực hiện chế độxét xử sơ thẩm, phúc thẩm được quy định trong Hiến pháp là việc nâng lên tầm hiếnđịnh nguyên tắc đã được quy định trong Luật tổ chức TAND và các văn bản tố tụngtrước đây nhằm bảo đảm cho việc xét xử đúng đắn, khách quan, bảo vệ quyền conngười, bảo vệ công lý
Việc Hiến pháp 2013 quy định giao cho TAND tối cao thẩm quyền bảo đảm ápdụng thống nhất pháp luật (Điều 104) cũng là bảo đảm quan trọng trong hoạt động củaTòa án, phù hợp chức năng áp dụng pháp luật của cơ quan tư pháp Điều này có nghĩa
là ngoài tổng kết thực tiễn xét xử, hướng dẫn áp dụng pháp luật, TAND tối cao còn cóthể bằng các hình thức khác nhau bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xửnhư thực hiện giám đốc xét xử, ban hành án lệ
2.2.2 Quy định về công bố và áp dụng án lệ
Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP về Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án
lệ là văn bản pháp luật chính thức đầu tiên có nội dung quy định về việc công bố và ápdụng án lệ
Theo Điều 8 Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP quy định nguyên tắc áp dụng án lệtrong xét xử như sau:
- Án lệ được nghiên cứu, áp dụng trong xét xử sau 45 ngày kể từ ngày công bốhoặc được ghi trong quyết định công bố án lệ của Chánh án Toà án nhân dân tối cao
- Khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm phải nghiên cứu, áp dụng án lệ để giải quyếtcác vụ việc tương tự, bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý giống nhauphải được giải quyết như nhau Trường hợp áp dụng án lệ thì số bản án, quyết định củaToà án có chứa đựng án lệ, tính chất, tình tiết vụ việc tương tự được nêu trong án lệ vàtính chất, tình tiết vụ việc đang được giải quyết, vấn đề pháp lý trong án lệ phải đượcviện dẫn, phân tích, làm rõ trong bản án, quyết định của Toà án; trường hợp không áp