1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Tài liệu Điều trị phẫu thuật triệt để ở trẻ bên Hirschprung bằng kỹ thuật hạ đại tràng qua ngã hậu môn docx

7 983 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điều trị phẫu thuật triệt để ở trẻ bệnh Hirschsprung bằng kỹ thuật hạ đại tràng qua ngã hậu môn
Tác giả Vũ Tuấn Ngọc, Trương Nguyễn Uy Linh, Đào Trung Hiếu
Trường học Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Y học Nhi
Thể loại Bài báo khoa học
Năm xuất bản 2005
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 277,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT TRIỆT ĐỂ Ở TRẺ BỆNH HIRSCHSPRUNG BẰNG KỸ THUẬT HẠ ĐẠI TRÀNG QUA NGÃ HẬU MÔN Vũ Tuấn Ngọc*, Trương Nguyễn Uy Linh*, Đào

Trang 1

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT TRIỆT ĐỂ Ở TRẺ BỆNH HIRSCHSPRUNG

BẰNG KỸ THUẬT HẠ ĐẠI TRÀNG QUA NGÃ HẬU MÔN

Vũ Tuấn Ngọc*, Trương Nguyễn Uy Linh*, Đào Trung Hiếu**

TÓM TẮT

Mục đích: Trình bày kỹ thuật, đánh giá chỉ định và kết quả của phương pháp hạ đại tràng qua ngã

hậu môn

Tư liệu và phương pháp: Từ tháng 10 năm 2002 đến tháng 10 năm 2004, 283 bệnh nhân bệnh

Hirschsprung được phẫu thuật bằng phương pháp hạ đại tràng qua ngã hậu môn tại bệnh viện Nhi Đồng

1 Chẩn đoán được xác định bằng X quang đại tràng cản quang hoặc sinh thiết trực tràng

Kết quả: 283 bệnh nhân gồm 189 nam và 94 nữ, tuổi từ 10 ngày đến 14 tuổi thời gian phẫu thuật

trung bình 78.51 phút Máu mất trung bình 16.72ml, không có bệnh nhân nào phải truyền máu Chiều dài đoạn ruột được cắt đi trung bình 30cm Cho ăn đường miệng sau mổ trung bình 18 giờ Thời gian hậu phẫu trung bình 4.55 ngày Không có biến chứng và tất cả bệnh nhân đều tự đi tiêu được khi xuất viện

Kết luận: Hạ đại tràng qua ngã hậu môn trong điều trị bệnh Hirschsprung có thể được thực hiện

một cách dễ dàng, an toàn và có tính thẩm mỹ Bệnh nhân sau mổ ít đau, được cho ăn sớm, nhanh chóng phục hồi chức năng, ít tai biến và biến chứng

SUMMARY

TRANSANAL ENDORECTAL PULL – THROUGH IN INFANTS

WITH HIRSCHSPRUNG’S DISEASE

Vu Tuan Ngoc, Truong Nguyen Uy Linh, Dao Trung Hieu

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 9 * Supplement of No 1 * 2005: 5 – 11

Purpose: This report presents the technique and evaluates the indications, and results of Transanal

Endorectal pull – through (TEPT) in the management of Hirschsprung’s disease

Method: Between October 2002 and October 2004, 283 patients with Hirschsprung’s disease were

operated by Transanal Endorectal pull – through at Children hospital No.1 The diagnosis were confirmed

by barium enema or rectal biopsy findings

Result: There were 283 patients included 189 boys and 94 girls Age ranged from 10 days to 14

years Mean operating time was 78.51 minutes Mean blood lost was 16.72ml, and no patients required transfusion Average length of bowel resected was 30cm Mean time to oral feeding was 18 hours, and mean postoperative time was 4.55 days There was no complications and all patients could pass tool before discharge

Conclusion: In the management of Hirschsprung’s disease, Transanal Endorectal pull – through can

be performed safety, permits early feeding, causes minimal pain, facilitates early discharge, and presents

a low rate of complications

* Bộ môn Nhi - Đại học Y Dược TPHCM

** Bệnh viện Nhi đồng 1, TP HCM

Trang 2

thiểu thường gặp nhất ở trẻ em với tần suất từ 1/4400 –

1/7000 trẻ sinh sống

Tại Việt Nam đã có nhiều phương pháp phẫu thuật đã được thực hiện tại Bệnh viện Nhi đồng 1, Bệnh viện Nhi đồng 2, Viện Nhi Quốc Gia Từ năm

2002 chúng tôi áp dụng phương pháp hạ đại tràng qua ngã hậu môn cho bệnh Hirschsprung, được thực hiện tại Bệnh viện Nhi đồng 1 Mục đích của nghiên cứu này là nhằm trình bày chi tiết của phương pháp phẫu thuật, xem xét tính khả thi và đánh giá kết quả sau mổ

(2) Theo thống kê tại bệnh viện Nhi Đồng 1 mỗi năm phẫu thuật gần 150 trường hợp

chiếm tỷ lệ 10% trên tổng số các phẫu thuật đường

tiêu hóa nói chung và chiếm hàng đầu trong dị dạng

bẩm sinh đường tiêu hóa

Bệnh Hirschsprung được thể hiện trên lâm sàng

với triệu chứng tắc ruột hoàn toàn hay không hoàn

toàn, do sự thiếu vắng tế bào hạch thần kinh ruột Sự

thiếu vắng hạch thần kinh ruột này làm đoạn ruột bị

teo nhỏ mất chức năng, nhu động ruột Đoạn ruột

này thường nằm ở đoạn trực tràng và đại tràng sigma

(80% trường hợp) nhưng cũng có khi chiếm toàn bộ

đại tràng, hay lên cả hồi tràng thậm chí lên tới hổng

tràng

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Bao gồm tất cả bệnh nhân bệnh Hirschsprung được mổ bằng kỹ thuật hạ đại tràng qua ngã hậu môn tại Bệnh viện Nhi đồng 1 từ tháng 10/2002 đến tháng 10/2004 Bệnh được chẩn đoán dựa vào:

(1,2,3)

Từ năm 1948 nhờ sự phát hiện nguyên nhân

bệnh lý của bệnh Hirschsprung, nên nhiều phương

pháp phẫu thuật được ra đời, nhằm loại bỏ hoặc cô

lập đoạn ruột bệnh lý này Các phương pháp phẫu

thuật này được thực hiện một lần hay nhiều lần mổ

Vài phương pháp đã trở thành kinh điển trong điều trị

bệnh Hirschsprung, đó là phương pháp Swenson

(1948), phương pháp Duhamel (1956), phương pháp

Soave (1964)

+ Giải phẫu bệnh lý: Vô hạch trực tràng

+ Các trường hợp được chẩn đoán dựa trên lâm sàng kết hợp với X quang đại tràng có cản quang điển hình là bệnh Hirschsprung Chiều dài đọan vô hạch được xác định trên hình ảnh X quang có cản quang và trong lúc phẫu thuật, dựa vào sự thay đổi đường kính ruột của đại tràng tạo nên đoạn ruột hình phễu của vùng chuyển tiếp Tất cả các trường hợp phẫu thuật đều được gửi giải phẫu bệnh lý (đoạn ruột được cắt bỏ đi)

(5) Năm 1994 Georgeson đã đề xuất ra phương

pháp hạ đại tràng qua ngã hậu môn để phẫu thuật

triệt để trong bệnh Hirschsprung Năm 1998 De la

Torre Mondragon và Ortega – Salgado(4) lần đầu tiên

mô tả phương pháp hạ đại tràng hoàn toàn qua

đường hậu môn Phương pháp này không đòi hỏi

phải mở bụng hoặc sử dụng nội soi ổ bụng đã cho

thấy có nhiều ưu điểm Sau đó được chấp nhận ở

nhiều trung tâm Nhi trên thế giới Thực chất phương

pháp hạ đại tràng qua ngã hậu môn là phương pháp

Soave Boley cải tiến có phối hợp với một phần

phương pháp Swenson nhưng khắc phục những mặt

hạn chế của 2 phương pháp trên với những ưu điểm

như sau:

Phương pháp nghiên cứu:

Đây là một nghiên cứu tiền cứu mô tả:

Các dữ liệu nghiên cứu bao gồm:

- Các đặc điểm của bệnh nhân: giới, tuổi

- Triệu chứng lâm sàng

- Đánh giá tình trạng mất máu khi mổ, thời gian mổ

Ghi nhận thời gian phục hồi nhu động ruột sau mổ Các biến chứng hậu phẫu

- San thương thì bụng ở mức tối thiểu (nếu đoạn

vô hạch dài phải kết hợp với thì bụng)

Trang 3

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

KỸ THUẬT HẠ ĐẠI TRÀNG QUA NGÃ HẬU

MÔN

Bệnh nhân được chuẩn bị đại tràng trước mổ

bằng thụt tháo với nước muối sinh lý và nong hậu

môn

Bệnh nhân được đặt nằm tư thế sản khoa, vô

cảm bằng gây mê kết hợp gây tê xương cùng bằng

Marcain 0.25% Banh rộng hậu môn bằng khung

Lone Star, lòng hậu môn trực tràng được làm sạch

bởi dung dịch Povidone 10% Niêm mạc trực tràng

được cắt vòng phía trên đường lược khoảng 0.5 đến

1cm Khoang dưới niêm mạc được bóc tách cẩn thận

đi lên trên cho đến nếp phúc mạc (khoảng 3 – 5cm)

Mở cổ lồng thanh cơ để tạo sự thông thương với

khoang phúc mạc Bóc tách trực tràng và xử lý mạc

treo đại tràng bằng dao điện cho đến khi thấy được

vùng chuyển tiếp Đại tràng được cắt bỏ trên vùng

chuyển tiếp 10 cm Tiến hành nối đại tràng lành với

ống hậu môn

Banh hậu môn bằng vòng Lone Star

Bóc tách khoang dưới niêm mạc

Mở cổ lồng thanh cơ trực tràng tạo sự thông thương với khoang phúc mạc

Cắt mạc treo đại tràng

Trang 4

Cắt bo ại tràng trên vùng chuyển tiếp và nối đại

10/2004 đến tháng 10/2004 chúng tôi

đã

bao gồm 198 nam và

94

ứng lâm sàng được ghi nhận là:

% 27%

hợp

ệnh lý: vô hạc

u dựa vào lâm sàng và

X qu

ỏ là 30c

nhấ

2ml, không có trươ

át cả đều vô hạch thiể

Thời gian hậu phẫu trung bình là 4,55 ngày, cho ăn đ

ổ là 12 trươ

của phẫu thuật điều trị bệnh Hirs

ợc phẫu thuật hạ đại tràng

û đ

tràng với ống hậu môn

KẾT QUẢ

Từ tháng

tiến hành phẫu thuật cho 283 bệnh nhân được

chẩn đoán là bệnh Hirschsprung theo kỹ thuật hạ đại

tràng qua ngã hậu môn Trong đó có 101 trường hợp

phải kết hợp với đường mở ổ bụng (đường

Pflannestiel) và 182 trường hợp chỉ đơn thuần được

phẫu tích dưới ống hậu môn

Trong 283 trường hợp

nữ; tuổi được mổ nhỏ nhất 10 ngày tuổi, lớn

nhất 14 tuổi

Các triệu ch

ƒ Chậm tiêu phân su 97%

ƒ Tiêu bón 100%

ƒ Chướng bụng 88

ƒ Viêm ruột trước mổ:

n t ợng tháo cống chiếm đa

được chẩn đoán là bệnh Hirschsprung

Chẩn đoán xác định dựa vào giải phẫu b

h 110 trường hợp (39%)

- Có 173 trường hợp chủ yế

ang đại tràng có cản quang điển hình (61%)

- Chiều dài trung bình đoạn ruột được cắt b

m Vị trí đại tràng đem xuống nối với ống hậu

t là 45 phút, dài nhất là 190 phút

- Lượng máu mất trung bình 16,7 øng hợp nào cần phải truyền máu sau mổ và không có tai biến trong khi mổ

Giải phẫu bệnh sau mổ

+ Tại đoạn cuối trực tràng ta + Tại miệng nối ruột có 2 trường hợp vô hạch,

u hạch 102 trường hợp, bình thường 179 trường hợp

- ường miệng sau mổ trung bình 18 giờ

- Biến chứng hẹp hậu môn sau m øng hợp (4,2%) và viêm ruột nhẹ sau mổ có 24 trường hợp (8,3%) Không có trường hợp nào xì miệng nối sau mổ, chỉ một trường hợp bị nhiễm trùng vết mổ Tất cả bệnh nhân đều đi tiêu được trước khi xuất viện

BÀN LUẬN

Mục đích chsprung là lấy đi đoạn đại tràng (cả ruột non) vô hạch, mang ruột có chi phối thần kinh hạch bình thường xuống hậu môn và bảo tồn chức năng co thắt Phương pháp hạ đại tràng theo ngã hậu môn cũng đạt được mục đích này Cũng giống như các phương pháp khác (Swenson, Duhamel, Soave), nhưng phương pháp hạ đại tràng theo ngã hậu môn đạt được nhiều ưu điểm hơn(6,7,8,9) Bởi diện bóc tách nằm giữa lớp cơ và lớp niêm mạc của trực tràng nên tránh được các tổn thương thần kinh vùng chậu chi phối cho sự

đi tiểu và chức năng tình dục sau này Bóc tách từ ống hậu môn cách đường lược lên trên 1cm cũng giúp không làm tổn thương các cơ thắt vùng hậu môn, giúp cải thiện được nhiều chức năng đi cầu sau mổ Nếu phải kết hợp với thì bụng cũng chỉ là triệt mạch đơn thuần đại tràng bị bệnh, không bóc tách xuống phần đáy chậu cũng giúp không làm tổn thương thần kinh đáy chậu(3,4,12,13,14)

Qua 283 trường hợp đư

Trang 5

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

qua

rung được dựa vào lâm sàn

rực tràng vô hạch 110 trường hợp chiế

X quang đại tràng có cản quang điển

hìn

iá trị của hình ảnh vùng chuyển tiếp của

phim

ùc trường hợp (283 trươ

m chiếm 66.8% (183 trường hợp) và Nữ 33.2%

(94

ng 283 trường hợp chúng tôi chia số tuổi ra

làm

(28%);

át là 10 ngày tuổi, trươ

trường hợp, chúng tôi phải mở thê

ngã hậu môn chúng tôi nhận thấy rằng:

Xác định chẩn đoán

3: sơ sinh dưới 1 tháng, Nhũ nhi (1 tháng – 2 tuổi) và trẻ lớn trên 2 tuổi

Sơ sinh: 83 trường hợp Xác định bệnh Hirschsp

Nhũ nhi: 121 trường hợp (44%);

g với các triệu chứng chủ yếu là: bón, phân su,

chướng bụng,

- Sinh thiết t

Trẻ lớn: 78 trường hợp (27%)

Trong đó trường hợp nhỏ nha

m 39% Việc sinh thiết trực tràng chúng tôi thực

hiện ở những trường hợp được phẫu thuật lần 2 trở

lên (đã làm hậu môn tạm), triệu chứng lâm sàng và

hình ảnh X quang đại tràng không điển hình (thường

gặp ở trẻ lớn)

- Hình ảnh

ùc đây thời điểm phẫu thuật cho bệnh Hirschsprung khi trẻ phải đạt đến trọng lượng trên 10kg Nhưng ngày nay với sự phát triển của gây mê, hồi sức trọng lượng không còn là vấn đề quan trọng

Do vậy tuổi phẫu thuật ngày nay được rút ngắn lại Tuy nhiên do tính chất phức tạp của các phương pháp phẫu thuật triệt để (Swenson, Soave, Duhamel) hoặc cần những dụng cụ đắt tiền không thể áp dụng rộng rãi trong hoàn cảnh Việt Nam Chính vì thế, sự

ra đời của phương pháp hạ đại tràng qua ngã hậu môn với nhiều ưu điểm như đã nói trên sẽ làm giảm tối thiểu tổn thương vùng đáy chậu khi phẫu tích Chính nhờ ở những trẻ sơ sinh việc bóc tách các đoạn ruột bệnh lý rất dễ dàng (chưa bị viêm ruột, đoạn đại tràng phía trên vùng bệnh lý chưa giãn quá to) nên chúng tôi mạnh dạn áp dụng phương pháp này cho trẻ sơ sinh (28.2%)

Đường mổ

h 173 trường hợp (61%), đa số các trường hợp

được xác định Hirschsprung qua hình ảnh X quang

đại tràng có cản quang là đều có vùng chuyển tiếp rõ

ràng điển hình của bệnh Hirschsprung Công trình

nghiên cứu của Trương Nguyễn Uy Linh với 143

trường hợp bệnh Hirschsprung dưới 3 tháng tuổi

được chẩn đoán nhờ X quang đại tràng có cản quang

và theo nghiên cứu của Nguyễn Đức Tuấn(11) thì

87,5% trẻ sơ sinh bệnh Hirschsprung có hiện diện

vùng chuyển tiếp trên phim chụp đại tràng có cản

quang, vào khoảng 62.5% trường hợp được phát hiện

sau sinh, còn trẻ Nhũ nhi 98% bệnh nhân có xuất

hiện vùng chuyển tiếp trên phim chụp đại tràng có

cản quang

Do vậy g

đại tràng có cản quang trong bệnh

Hirschsprung có một giá trị cao

Để đối chiếu lại tất cả ca

øng hợp) sau khi mổ chúng tôi mang đoạn ruột

được cắt đều gửi giải phẫu bệnh lý: có kết quả ruột

vô hạch là 100%

Giới

Na

trường hợp) trẻ trai bị nhiều hơn trẻ gái là 3/1

Theo thống kê của Pearl và Pari (4/1) và Philipart 3/1

(y văn 3 – 4 lần trẻ nam nhiều hơn nữ)(1,2)

Tuổi

Tro

Trong 283

m đường bụng (Pflannestiel) là 101 trường hợp (36%) Các trường hợp mổ thêm đường bụng là để triệt mạch đoạn đại tràng bệnh lý và một phần đoạn ruột bị giãn Vì với đường mổ hậu môn đơn thuần chúng tôi không thể kéo đại tràng qua đường dưới được Đa số phải mở đường bụng là các trường hợp đã làm hậu môn tạm trong thời gian sơ sinh (do tắc ruột: 45 trường hợp), trong đó đặc biệt có 13 trường hợp là đưa hồi trạng xuống (vô hạch toàn bộ đại tràng) Ngoài ra, còn lại là các trường hợp đoạn vô hạch đại tràng quá dài trên 50cm, thường lên đến đại tràng ngang Hay những trường hợp đoạn giãn quá lớn (ở trẻ lớn) đường kính đại tràng trên 10cm Có một yếu tố đặc biệt cũng làm chúng tôi phải mở đường bụng là đại tràng đoạn dưới chứa những u phân rất cứng và rất

to (5 trường hợp)

Trang 6

ø 78.5 phút, trong đó nhanh nhất là 4

,72ml, không trường hợp nào pha

ỏ là 30 cm,

oave Boley thời gian phu

å cắt đoạn đại tràn

ch qua ngã hậu môn đơn thuần: pha

ạn vô hạch dài,

ùng hậu phẫu:

ät trường hợp nhiễm trùn

(4,2

được tiến hành khá dễ dàng, đặc biệt ở trẻ nhỏ và

chưa có sinh thiết trực tràng Ở trẻ lớn mạc treo dầy,

niêm mạc ruột bị viêm nhiễm hay có sinh thiết trực

tràng, thì tình trạng xơ dính sẽ gây khó khăn trong

lúc bóc tách qua dưới niêm mạc trực tràng Đại tràng

bị giãn lâu ngày dẫn đến sự bất tương xứng về khẩu

kính giữa vùng hậu môn và đại tràng tạo sự khó khăn

khi thực hiện miệng nối Để tránh tổn thương niệu

đạo ở trẻ trai và rách thành âm đạo ở trẻ gái khi mở

cổ lồng thanh cơ, chúng tôi bắt đầu tại vị trí 3 giờ

giống như tác giả Hadidi(6) Khi xử lý mạc treo đại

tràng sigma nên bám sát thành ruột vì ở đó mạch

máu mạc treo nhỏ, dễ cầm máu, tránh trường hợp

mạch máu đang chảy tuột vào trong ổ bụng

Tình trạng được mổ

Thời gian mổ

Trung bình la

5 phút, và lâu nhất là 190 phút Thời gian mổ

tùy thuộc nhiều yếu tố, với trẻ sơ sinh nếu không

mở đường bụng, chúng tôi làm rất nhanh dưới 60

phút Nhưng với trẻ lớn bóc tách vùng hậu môn lâu

hơn do tình trạng viêm nhiễm niêm mạc ruột,

khẩu kính đại tràng quá lớn, mạc treo đại tràng

dầy, chúng tôi sẽ mổ lâu hơn trên 100 phút Các

trường hợp mổ trên 150 phút là những trẻ phải

đưa hồi tràng xuống hậu môn (vô hạch toàn bộ đại

tràng), chúng tôi phải làm thêm túi chứa phân

(J.Pouch), nên thời gian chiếm lâu hơn nhiều

Lượng máu mất

Trung bình là 16

ûi truyền máu Do thời gian mổ nhanh và cầm

máu kỹ nên lượng máu mất không đáng kể

Chiều dài trung bình đoạn ruột được cắt b

và tất cả đều được làm sinh thiết sau đó ở hai vị

trí đoạn teo nhỏ và mẫu ruột nối vào ở ống hậu môn

(đoạn phình) Chúng tôi ghi nhận 100% ruột vô hạch

ở đoạn teo, điều này chứng minh chỉ định phẫu thuật

là hợp lý Tuy nhiên có 2 trường hợp còn vô hạch ở

đoạn ruột đưa xuống hậu môn, các trường hợp này

sau khi xuất viện đều đi cầu lại bình thường và chưa

thiểu hạch ở đoạn ruột đưa xuống hậu môn, hầu hết là ở tuổi sơ sinh dưới 3 tháng tuổi (78 trường hợp), nhưng về lâm sàng bé vẫn đi cầu bình thường Để lý giải cho điều này, chúng tôi cho rằng trên mẫu mô của đoạn ruột phình to, sự phân bố của tế bào hạch cũng bị ảnh hưởng thiếu sự tập trung hơn mẫu ruột bình thường, nên kết quả giải phẫu bệnh thiểu hạch là vấn đề hoàn toàn có thể xảy ra Tuy nhiên theo tác giả Marie – Klaire Farrugia(3), nghiên cứu 58 bệnh nhân có 11 trường hợp thiểu hạch ngay tại vùng chuyển tiếp, làm ảnh hưởng đến kết quả điều trị (viêm ruột, bón), cho nên sinh thiết lạnh trong lúc mổ là điều cần thiết Trong hoàn cảnh thực tế của chúng tôi do điều kiện chưa có điều kiện sinh thiết lạnh nên để khắc phục tình huống trên, chúng tôi phải cắt ruột xa trên đoạn chuyển tiếp tới 10cm

Tình trạng hậu phẫu

Trước kia với kỹ thuật S

ïc hồi nhu động ruột và cho ăn đường miệng khoảng 72 giờ Nhưng hiện nay với kỹ thuật hạ đại tràng qua ngã hậu môn đã cải thiện thời gian trên xuống một cách đáng kể, trình bày là 18 giờ nhờ 2 tính ưu việt của phương pháp này:

Không can thiệp vào bụng đe

g bệnh lý

Chỉ phẫu tí

ãu tích này nhẹ nhàng ít sang chấn

Nếu can thiệp vào ổ bụng đối với đo chúng tôi chỉ triệt mạch đoạn đại tràng bệnh lý, không phẫu tích rộng nên hạ thấp sang chấn tối thiểu đưa đến thời gian liệt ruột sau mổ hạ thấp đáng kể

Biến chư

Biến chứng gần: Chỉ có mo

g vết mổ ở hậu môn, nhưng không gây viêm phúc mạc Biến chứng này chỉ kéo dài thời gian nằm viện, trường hợp này có thể do miệng nối quá căng

Biến chứng muộn: Hẹp hậu môn 12 trường hợp

%), các trường hợp này chúng tôi chỉ cần nong

Trang 7

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

hợp (8,3%), thường ở trẻ

ật hạ đại tràng qua ngã hậu môn

tron

ẢO

B, et al:

2

3

4

5

hậu môn, mỗi ngày 1 lần, trong vòng 2 tuần Tình

trạng đi cầu bình thường trở lại và không trường hợp

nào phải mở rộng hậu môn

Viêm ruột nhẹ 24 trường

bị hẹp hậu môn sau mổ làm ứ đọng phân nên gây

viêm ruột Những trường hợp này chúng tôi chỉ sử

dụng kháng sinh một thời gian sau đó là ổn định

KẾT LUẬN

Phẫu thu

g điều trị bệnh Hirschsprung có thể được thực

hiện một cách dễ dàng, an toàn và có tính thẩm

mỹ cao Bệnh nhân sau mổ ít đau, được cho ăn

sớm, nhanh chóng phục hồi chức năng, ít tai biến

và biến chứng, do đó được xuất viện sớm góp phần

giảm chi phí điều trị

TÀI LIỆU THAM KH

Perineal one-stage pull-through for Hirschsprung’s

disease, J Pediatr Surg 34:377-380,1999

Curran TJ, Raffensperger JG: Laparoscopic Swenson

pull-through: A comparison with the open procedure, J

Pediatr Surg 31:1155-1156, 1996

Đào Trung Hiếu: Đánh giá phương pháp Soave cải

biên trong điều trị bệnh Hirschsprung Luận văn thạc

sĩ y khoa, chuyên ngành Ngoại Nhi, 2004

De la Torre Mondragon L, Ortega – Salgado JA:

Transanal endo-rectal pull-through for Hirschsprung’s

disease, J Pediatr Surg 33:1286, 1998

Georgeson KE, Fuenfer MM, Hardin WD: Primary

laparoscopic pull-through for Hirschsprung’s Disease

in infant and children, J Pediatr Surg 30:1017-1022,

1995

Hirschsprung’s disease experience with 68 patients, J Pediatr Surg 38: 1337-1340, 2003

Teitelbaum DH, Minkes RK, et al: One-stage transanal Soave pullthrough for Hirschsprung’s disease: a multicenter experience with 141 children, Ann Surg 238: 569-576, 2003

One-Stage Soave pullthrough for Hirschsprung’s disease: A comparison of the Transanal and Open Approaches, J Pediatr Surg 35, 820-822, 2000

9 Langer JC, Minkes RK, Mazziotti MV, et al: Transanal one-stage Soave procedure for infants with Hirschsprung’s disease, J Pediatr Surg 34:148-152, 1999

10 Langerer JC, Seifert M, Minkes RK: One-Stage Soave pull-through for Hirschsprung’s disease: A comparison

of the transanal adn open approaches, J Pediatr Surg 35:820-822, 2000

11 Nguyễn Đức Tuấn: Giá trị của chỉ số đường kính trực tràng – đại tràng chậu hông trong chẩn đoán bệnh phình đại tràng bẩm sinh ở trẻ dưới 1 tuổi Luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú bệnh viện, chuyên ngành Ngoại Nhi, 2003

12 Nguyễn Thanh Liêm, Bùi Đức Hậu, mổ chữa bệnh phình đại tràng bẩm sinh bằng phẫu thuật nội soi Hội nghị khoa học kỹ thuật nhi khoa Bệnh viện Nhi Đồng 2, 66-70, 2003

13 Proctor M.L., J Traubici, J.C Langer, D.L Gibbs, S.H Ein, A Daneman, and P.C.W Kim correlation between radiographic transition zone and level of anganglinosis in Hirschsprung’s disease: Implications for surgical approach, J Pediatr Surg 38:775-778,

2003

14 Sumate Teeraratkl: Transanal one-stage endorectal pull-through for Hirschsprung’s disease in infants and children, J Pediatr Surg 38: 184-187, 2003

Ngày đăng: 24/01/2014, 00:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w