KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TẬT KHÚC XẠ HỌC ĐƯỜNG TẠI QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, VIỆT NAM Lê Minh Thông*, Trần Thị Phương Thu*, Ngô Thị Thúy Phượng * TÓM TẮT Mục đích: Đánh giá tỉ l
Trang 1KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TẬT KHÚC XẠ HỌC ĐƯỜNG
TẠI QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, VIỆT NAM
Lê Minh Thông*, Trần Thị Phương Thu*, Ngô Thị Thúy Phượng *
TÓM TẮT
Mục đích: Đánh giá tỉ lệ TKX và tổn hại thị lực ở trẻ lứa tuổi đi học ở quận Tân Bình, TP HCM
Thiết kế: Nghiên cứu tiền cứu, cắt ngang
Phương pháp: Chọn ngẩu nhiên cụm theo trường để xác định trẻ từ 5- 15 tuổi Trẻ ở 6 cụm được chọn
khám từ 16 trường ở quận Tân Bình, TP HCM,Việt Nam.Đo thị lực, soi bóng đồng tử có liệt điều tiết, đo khúc xạ tự động có liệt điều tiết, đ1nh giá bán phần trước và vận nhản đựơc thực hiện từ tháng 08 năm 2002 đến tháng 06 năm 2003
Kết quả: Với 3617 học sinh đầu cấp I, II, III từ 16 trường được lên danh sách và 3427 học sinh được
khám(94,34%) Tỉ lệ chung của tật khúc xạ là 24,8%, cận thị (≤ -0.5D) là 19,43%, viễn thị (≥ + 2.0D)là 5,36%; tỉ lệ cận thị ở nam là 16,93%, nữ là 21, 88%
Kết luận: Tần xuất cận thị ở lứa tuổi đi học ơ’ quận Tân Bình rất cao Phần lớn có thể chỉnh kính cho
thị lựctốt Cần có những nghiên cứu thêm để xác định tỉ lệ cận thị trên toàn nước
SUMMARY
REFRACTIVE ERROR STUDY IN SCHOOL-AGE CHILDREN : RESULTS FROM TÂN BÌNH DISTRICT, HCMC,VIỆT NAM
Le Minh Thong, Tran Thi Phuong Thu, Ngo Thi Thuy Phuong * Y Học TP Ho Chi Minh* Vol 8
* Supplement of No 1 * 2004: 174 – 181
Purpose: To assess the prevalence of refractive error and vision impairment in school-age children in
the Tân Bình district, Hồ Chí Minh, Việt Nam
Design: A longitudinal cohort study
Methods: Random selection of school based clusters was used to identify a sample of children 5 to 15
years of age School children in the 6 selected clusters were enumerated through 16 schools of Tân Bình district, Hồ Chí Minh city, Việt Nam for examination Visual acuity mesurements, cycloplegic retinoscopy, cycloplegic autorefraction, ocular motility evaluation anterior segment were done from August 2002 through June 2003
Results: A total of 3617 school children class 1, 6, 10 from 16 schools were enumerated and 3427
school children (94,34%) were examined The mean of prevalence of refractive error was 24,8%, myopia (≤-0,5D) was 19,43%, hyperopia (≥+2.0D) was 5,36% ; myopia incidence for male was 16,93%, for female was 21,88%
Conclusions: The prevalence of refractive error is very high in school-age in Tân Bình Most of it was
correctable refractive error Further studies are needed to determine whether the prevalence of myopia in
country
* Bộ môn Mắt - Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Tật khúc xạ trong học sinh đã từ lâu là mối quan
tâm của ngành nhãn khoa nói riêng, ngành giáo dục
và phụ huynh nói chung Tỉ lệ tật khúc xạ tăng lên
như ở Hà Nội năm 1998 tăng gấp 8,69 lần ở cấp I,
tăng gấp 4,07 lần ở cấp II và 2,9 lần ở cấp III so với
năm 1994 (13)
Riêng ở TP HCM năm 1994, tỉ lệ tật khúc xạ cấp
II là 9,75%, cấp III là 18,64% nhưng đến năm 1998
cấp II tăng lên gấp 3,5 lần (34,53%) và cấp III tăng
gần gấp 2 lần (26,87%) (6)
- Một số nhà khoa học hiện nay đang nghiên cứu
nguyên nhân gây cận thị tuổi thơ để ngăn chặn ngay
từ đầu vì việc gia tăng nhanh chóng tần suất cận thị
học đường
Do đó cần thiết nghiên cứu tần suất cận thị của
cộng đồng và các phương pháp đo khúc xạ cho kết
quả chính xác
Vì vậy chúng tôi nghiên cứu dịch tễ học tần suất
cận thị một số trường học phổ thông tại quận Tân
Bình và vài yếu tố liên quan để tìm ra ảnh hưởng của
môi trường, sinh hoạt với tật cận thị Qua đó tìm giải
pháp tác động để giảm tần suất cận thị, biến chứng
do cận thị gây ra, tạo điều kiện tốt cho học tập
Hiện nay Sở y tế có chương trình điều tra tật
khúc xạ học đường của TPHCM để có số liệu phục vụ
cho công tác chăm sóc mắt, theo dõi và can thiệp lâm
sàng
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu tổng quát
Khảo sát tật khúc xạ ở học sinh đầu cấp bao gồm
lớp 1, lớp 6, lớp 10 tại các trường phổ thông nội -
ngoại thành quận Tân Bình năm học 2002- 2003
Mục tiêu chuyên biệt
Phân tích tình hình và tỉ lệ cận thị, viễn thị
(theo độ cầu tương đương) ở học sinh 3 cấp theo giới,
tuổi, địa bàn
So sánh 2 phương pháp đo KXTĐSLĐT và
SBĐTSLĐT
Phân tích tình hình ánh sáng và bàn ghế tại các trường phổ thông quận Tân Bình
ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu tiền cứu, mô tả cắt ngang tìm tỉ lệ bệnh hiện hành
Dân số đích là học sinh các lớp đầu cấp: khối lớp
1 (6 tuổi), lớp 6 (11 tuổi), lớp 10 (16 tuổi) tại quận Tân Bình
Dân số nghiên cứu: học sinh trong các cụm nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên với cơ hội như nhau từ tất cả các trường phổ thông tại quận Tân Bình
Phương pháp chọn mẫu theo cụm kết hợp theo tầng
- Số cụm = cở mẫu / kích thước cụm =385 / 70=5,5(khoảng 06 cụm)
- Cở mẫu cuối cùng = 385 x 6 = 2310
Tiêu chuẩn loại trừ: Học sinh bị giảm TL không
do TKX, mà do các bệnh lý mắt
Các biến số nghiên cứu bao gồm Độ khúc xạ cầu tương đương (SE) qua soi bóng đồng tử (có liệt điều tiết) hoặc độ khúc xạ cầu tương đương đo bằng máy tự động (có liệt điều tiết) với SE
được tính bằng công thức :
2
Trụ Cầu +
Nguyên nhân giảm thị lực: tật khúc xạ, đục giác mạc do mắt hột, đục giác mạc do nguyên nhân khác, nhược thị do lé, bất đồng khúc xạ, 2 mắt viễn thị từ > + 6.0D, đục thủy tinh thể, bệnh lý võng mạc và nguyên nhân khác
Các phương pháp đánh giá khúc xạ Chủ quan như kính Lỗ, hộp kính với phương pháp Donders cho đến khi đạt được thị lực tối đa (chỉ cho độ khúc xạ lâm sàng), với bảng chữ E (Armaignac)
Khách quan: Soi bóng đồng tử (Skiascopie) và đo máy khúc xạ kế tự động
Xử lý và phân tích số liệu SPSS 11.5 for Window Thời gian thực hiện: từ tháng 8/2002- 6/2003
Trang 3Phương tiện nghiên cứu:
- Bệnh viện mắt trang bị gồm:
Máy đo khúc xạ tự động (2), lensmeter (1), bộ
kính đo mắt (2), bảng đèn thị lực (4), đèn soi đáy mắt
(2), đèn soi bóng đồng tử (1), đèn pin (3), thuốc nhỏ
mắt cyclogyl, pilocarpine, khăn giấy, kim gim Bướm
tuyên truyền
KẾT QUẢ
Tổng số HS 3.427 được khám kiểm tra TL, đo
đạc các số liệu theo mẫu được thiết kế sẵn
Biểu đồ 1: Tỉ lệ HS được khám phân theo giới tính và
cấp học
95.1 95.4
98.4 98.2
84.9 90.1
75
80
85
90
95
100
cấp I cấp II cấp III
nam nữ
¾ Nhận xét:
3617 HS lên danh sách có 3427 HS được khám
đạt tỉ lệ 94,35%
So sánh tỉ lệ HS nam nữ được khám ở từng cấp
nhận thấy đều đạt tỉ lệ trên 95% ngoại trừ nam ở cấp
III
- Tỉ lệ HS cả 3 cấp: cấp I 95,27% (1554), cấp II
98,31% (1228), cấp III 87,51% (645) nhận thấy cấp I,
cấp II đều đạt tỉ lệ trên 90% ngoại trừ cấp III
Bảng 3.4: Tần xuất từng loại TKX phân bố theo cấp
học và giới tính
Nam Nữ
Cấp
I (6,57%) 50 (10,81%) 89 (8,9%)139 (7,11%) 52 (10,91%)67 (7,6%)119
II 136
(24,46%)
10 (1,79%)
146 (11,8%)
212 (31,54%) 8 (1,1%)
220 (18,0%) III (33,0%) 101 3 (0,9%) (16,1%)104 (34,95%) 115 (2,12%)7 (18,9%)122
TC (16,93%) 287 (6,01%) 102 (11,3%)389 (21,88%) 379 (4,73%)82 (13,4%)461
¾ Phân tích
- Tỉ lệ cận thị ở nam và nữ: nam (16,93%) và nữ (21,88%) khác biệt có ý nghĩa thống kê (P < 0,001)
- Tỉ lệ viễn thị ở nam và nữ: nam (0,06%) và nữ (0,047%) khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05) Độ cận trung bình ở nam và nữ khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05)
Bảng 3.5 : Tần xuất tật khúc xạ (độ cầu tương đương)ï
của các cấp
I 1554 258 (16,6%) 1296 (83,4%)
II 1228 366 (29,8%) 862 (70,2%) III 645 226 (35,1%) 419 (64,9%)
TC 3427 850 (24,8%) 2577 (75,2%)
¾ Phân tích :
- Tỉ lệ TKX nói chung ở 3 cấp khác biệt có ý nghĩa (P < 0,001) Tỉ lệ TKX tăng dần từ cấp I lên cấp II và cấp III (16,6% - 29,8% - 35,1% tương ứng)
Bảng 3.6: Tỷ lệ mắc TKX các cấp (%):
6.56 10
28.33
1.46
19.43 5.36 0
10 20 30
cận viễn
¾ Phân tích :
- Cận thị tăng dần theo cấp họckhác biệt có ý nghĩa thống kê (P < 0,001)
- Sự khác biệt về tỉ lệ viễn thị có ý nghĩa lâm sàng và khác biệt có ý nghĩa thống kê (P < 0,001) Tuy nhiên giữa cấp II và cấp III khác biệt không ý nghĩa thống kê (P > 0,005)
Bảng 3.7 TKX giữa các trường nội (chuyên) – ngoại
thành (không chuyên)
Lý Thường Kiệt 68 30,76 Đặng Trần Côn 62 27,31 Ngô Sĩ Liên 96 49,74 Phan Bội
Châu 33 16,41
Trang 4Nội thành Ngoại thành
Nguyễn Gia
Thiều 71 34,29
Võ Thành Trang 36 20,11 Chung 235 37,84 Chung 131 21,58
¾ Phân tích :
- TKX chung của nội thành 37,84%, và ngoại
thành 21,58%, khác biệt có ý nghĩa thống kê (P <
0,001)
Bảng 3.9 : Tình hình thị lực trước và sau khi chỉnh
kính
Thị lực
N % N %
≥ 9/10 2671 77,93 428 75,48
> 6/10 - ≤
> 4/10 - ≤
≥ 2/10 –
TC 3427 100 567 100
¾ Phân tích:
- Trong số 756 học sinh có TL chưa chỉnh kính
<8/10 có 567 HS được đeo kính và 189 HS chưa được
đeo kính
+ Trong đó 428 đạt TL với kính đang đeo
(>9/10), số còn lại đeo kính chưa đạt TL (<8/10)
Bảng 3.11 So sánh hai phương pháp đo khúc xạ
Soi bóng đồng tử sau liệt
điều tiết
Khúc xạ tự động sau liệt điều tiết
n M SD N M SD
335 - 0.665 2.326 335 - 0.754 2.814
+ Phương pháp SBĐTSLĐT có độ cầu trung bình
là 0.665 với độ lệch chuẩn là 2.326
+ Phương pháp KXTĐSLĐT có độ cầu trung
bình là 2.54 với độ lệch chuẩn là 2.814
Khác biệt của 2 phương pháp không có sự khác
biệt về mặt thống kê (P > 0,005)
Hầu hết các trường đạt độ sáng trên 100 LUX
Số liệu về chiều cao bàn ghế
- So sánh số liệu thực tế với quy định của bộ giáo
dục ta nhận thấy hầu hết các trường đều không đạt
chuẩn về chiều cao bàn ghế so với chiều cao trung bình của học sinh
- Sĩ số học sinh trong lớp quá cao vì thế có những học sinh ngồi rất xa bảng
BÀN LUẬN
Về cỡ mẫu tương đối lớn, điển hình, đủ đại diện cho dân số của quận
Chúng tôi chọn mẫu học sinh các trường phổ thông quận Tân Bình để tiện việc so sánh
* Nước ngoài + Mexico (1999): đối tượng là học sinh lứa tuổi
12 – 13t (14) + Australia: đối tượng số dân từ 40-80t nội ngoại thành (17)
+ Gopal P Pokharel nghiên cứu tật khúc xạ và sự tổn hại thị lực ở trẻ lứa tuổi đi học vùng Mechi đông Nepal chọn ngẫu nhiên cụm theo làng để xác định mẫu trẻ 5 - 15 tuổi(15)
+ Jialiang Zhao (Trung quốc) chọn mẫu trẻ 5 -
15 tuổi(16)
Chọn ngưỡng cận thị và viễn thị + Nêpal (1999): lứa tuổi 5 -15t Với ngưỡng cận thị >- 0.5D SE, và viễn thị <+ 2.00D SE (15) + Trung quốc : từ 5-15t với ngưỡng cận thị <- 0.5D SE, viễn thị <+ 2.00D SE (16)
+ Mexico (1999): học sinh lứa tuổi 12 – 13t với ngưỡng cận thị là <- 0.5D SE và viễn thị <-0.5D SE, loạn thị <- 1.5D(14)
+ Australia: từ 40-80t với ngưỡng cận thị ở 2 mức độ <-0.5D SE, <- 1.0D SE(17)
Tần xuất học sinh được khám 94,35%, phân bố nam nữ sai biệt không đáng kể, nhưng xét về cấp: cấp I và II tương đối bằng nhau đều lớn hơn 95% ngoại trừ nam cấp III 87,5% Tỷ lệ này cũng phù hợp với tỷ lệ ở Trung Quốc là 5884 (95,9%) và Nêpal là
5067 (91,7%)(15,16)
So sánh tỉ lệ cận thị ở 3 cấp của nam thấp hơn
so với nữ (P < 0,001) tương tự Trung Quốc năm 1998 nam (36,7%), nữ (55%) ở lứa tuổi 15 So sánh tỉ lệ
Trang 5viễn thị nam ở 3 cấp là 0,06%, nữ là 0,047% không
có ý nghĩa
Cận thị là tật khúc xạ chủ yếu, với tỷ lệ tăng dần
từ 6 tuổi cả nam lẫn nữ, nữ (21.88%) nhiều hơn nam
(16.93%) có ý nghĩa thống kê Tương tự kết quả
nghiên cứu của Trung Quốc 1999, cận thị <- 0,5D
gần như không có ở trẻ 5 tuổi nhưng tăng đến 36,7%
ở nam và 55% ở nữ lứa tuổi 15
Viễn thị giảm dần ở cả 2 giới từ 10,85% xuống
còn 1,51% có ý nghĩa thống kê So với kết quả
nghiên cứu của Trung Quốc 1999, viễn thị <+
2.0D giảm từ 8,8% ở nam và 19,6% ở nữ, xuống
còn < 2% cả hai giới
Tỉ lệ độ cận trung bình nam và nữ khác nhau
không có ý nghĩa thống kê
Tỷ lệ tkx theo cấp học (tuổi) tăng dần theo tuổi
phù hợp với các nghiên cứu trong cũng như ngoài
nước:
+1993 - 1994: BS Nguyễn Thị Nhung (Hà Nội)
cho tỷ lệ cận thị học đường ở cấp I 1,57%, cấp II
4,57%, Cấp III 10,34% Tỉ lệ bình quân cả 3 cấp
16,48% (13)
+ 1998 GS Hoàng Thị Lũy và cộng sự: tỉ lệ tkx
chung là 30,5%, tật khúc xạ cấp II là 34,5%, tật khúc
xạ cấp III là 26,87% Tỉ lệ này không giống với các
nghiên cứu khác(6)
Tần suất cận thị và viễn thị theo cấp
học (tuổi)
- Qua đánh giá sự khác biệt về tật cận thị ở 3 cấp,
chúng tôi nhận thấy tỉ lệ cận thị tăng dần theo tuổi
(cấp I 6,56% - cấp II 28,33% và cấp III 33,48%) và
viễn thị giảm dần (cấp I 10,0% - cấp II 1,46% và cấp
III 1,55%) Riêng viễn thị giảm từ cấp I đến cấp II có ý
nghĩa thống kê, từ cấp II đến cấp III không có ý
nghĩa Tương tự ở Trung Quốc, tuổi đó viễn thị <+
2,0 D giảm từ 8,8% nam, 19,6% nữ xuống < 2% ở cả
hai giới
Tần suất TKX theo địa bàn
So sánh tỉ lệ tật khúc xạ các trường nội thành TP
HCM 37,84% (đa số là trường chuyên) và ngoại thành
21,58%, sự khác biệt này có ý nghĩa (P < 0,001), so sánh với tỉ lệ tật khúc xạ nội – ngoại thành Hà Nội
1999 với nội thành là 31,95% và ngoại thành là 11,75%(13)
Qua đó chúng tôi nhận thấy có sự liên quan đến một số các yếu tố môi trường, như áp lực học, phương tiện học tập (máy vi tính, ) ở nội thành cao hơn ngoại thành đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự khác biệt về tỉ lệ tật khúc xạ giữa nội thành và ngoại thành Tuy nhiên để nghiên cứu về vấn đề này còn là một điều rất khó thực hiện
Theo nghiên cứu của một tác giả Australia(16) cho rằng tỉ lệ tăng rõ ràng ở người có trình độ học vấn cao, thư ký, người có nghề nghiệp chuyên môn và người có nguồn gốc ở đông nam Á Trong khi đó nghiên cứu của một tác giả khác ở Singapore(19) cho rằng tình trạng kinh tế và hoạt động ngoại khoá không liên quan đến cận thị
Đến nay cũng có ý kiến cho rằng tần suất cận thị không liên quan đến yếu tố môi trường mà do
di truyền
Bệnh lý mắt đi kèm
Cho thấy mặc dầu bất thường ở ngoài mắt và bán phần trước gặp ở lô khảo sát là 8,25% trường hợp (Trung Quốc 3,2%), bất thường đáy mắt và môi trường trong suốt là 2% (Trung Quốc 2,7%), có rất ít các bất thường này kết hợp với mất thị lực (1,3%)
Tình hình thị lực
Trong dân số nghiên cứu TLTCK 22,06% (<8/10)
tỉ lệ này giảm xuống còn 1,3% với TLCK tốt nhất (>8/10) So với Trung Quốc tương ứng: 12,8%, 1,8%(16)
Đa số trẻ được mang kính 16.54% (567/3427), số còn lại 4.1% có thể hưởng lợi ích từ việc đeo kính và 1,3 % (46/3427), vẫn còn mất thị lực không thể chỉnh được ở mức độ ở ít nhất một mắt có tỉ lệ 0.46%, 16 trẻ có thị lực >8/10 ở cả 2 mắt 0,46% (so với Trung Quốc là 1,8%, 0,4%), số liệu tương tự ở Trung Quốc
Mối quan hệ giữa thị lực và độ khúc xạ không rõ ràng, trong kết quả nghiên cứu tỉ lệ TKX 850 ca (24,80%), trong khi thị lực <8/10 có 756 học sinh
Trang 6(22,06%) Tỉ lệ mắc TKX là 20,71% (710/ 3427) dựa
vào thị lực chưa chỉnh kính <8/10 và chỉnh kính
>9/10 Tuy nhiên phương pháp đo khúc xạ tự động
liệt điều tiết (KXTĐLĐT) bằng chỉ số cầu tương
đương (SE) tỉ lệ tật khúc xạ là 24,80% Thị lực
không chỉnh kính được đánh giá trước liệt điều
tiết, nhiều trẻ viễn thị có thể thị lực bình thường
nhờ điều tiết ngược lại mắt chính thị có thị lực
giảm nhưng có thể điều chỉnh được tạo ra hiệu
ứng cân bằng, chúng góp phần vào tỉ lệ thị lực
nhưng không góp phần vào tỉ lệ tật khúc xạ đo trực
tiếp sau liệt điều tiết, sự sai biệt kết quả của hai tỉ
lệ này có thể giảm đi nhờ vào việc kéo rộng
ngưỡng độ khúc xạ để xác định cận và viễn thị
So sánh 2 phương pháp SBĐSLĐT và
KXTĐSLĐT
Cho thấy 2 phương pháp SBĐSLĐT và
KXTĐSLĐT đã biểu hiện gía trị đáng tin cậy ngang
nhau trong việc so sánh giữa hai phương pháp này ở
335 ca đầu tiên, soi bóng đồng tử có liệt điều tiết và
khúc xạ tự động có liệt điều tiết cho thấy sự khác biệt
không có ý nghĩa (p > 0,005) vì thế chúng tôi quyết
định chỉ dùng một phương pháp đo khúc xạ tự động
có liệt điều tiết cho cuộc khảo sát này (điều này cũng
được ghi nhận bởi nghiên cứu của bác sĩ Phan Hồng
Mai với 91 người tham gia nghiên cứu với độ tuổi
trung bình là 23,8 ± 1,3, tỉ số nam / nữ là 43/48 cho
kết quả như bảng sau: (7)
Bảng 16 So sánh các phương pháp đo khúc xạ
Phương pháp đo Độ nhạy Độ đặc hiệu Hệ số tương
quan
KXTĐKLĐT 0,97 0,78 0,979
KXTĐLĐT 0,97 0,98 0,991
Và một số các tác giả nước ngoài(14,15,20), cũng
theo các tác giả Trung Quốc thì chỉ số khúc xạ tự
động có liệt điều tiết và soi bóng đồng tử phù hợp đạt
tới 95% trị số trong vòng 0,75D Tuy nhiên nhìn
chung khúc xạ tự động cho số độ âm nhiều hơn xấp
xỉ 0,25D trên toàn bộ chỉ số khúc xạ Khuynh hướng
các chỉ số âm hơn với khúc xạ tự động không gặp ở
các nghiên cứu tương tự ở Nêpal và Chilê(14)
Tình hình ánh sáng
Không bàn luận vì tất cả các trường quận Tân Bình đã được trang bị đủ độ sáng (> 100 Lux) năm
2002
Tình hình bàn ghế
Bảng quy cách chiều cao bàn ghế (quy định của bộ giáo dục)
cấp khối lớp
chiều cao bàn (cm)
chiều cao ghế (cm)
hiệu số bàn ghế (cm)
chiều cao
hs tương ứng (cm)
I Một 50 - 55 30 – 33 20 – 22 120 -129
II Sáu 61 - 69 38 – 44 23 – 25 130 – 139 III Mười 74 46 28 > 154 Số liệu chiều cao bàn ghế đã đo đạc tại các trường được nghiên cứu (bảng 3.13)
STT tên trường
chiều cao bàn (cm)
chiều cao ghế (cm)
hiệu số bàn ghế (cm)
chiều cao
tb học sinh (cm)
1 N - Khuyến 70,34 42,4 27,94
2 P - C- Trinh 72,67 41,67 31,0
3 T - S - Nhất 70,5 42 28,50
4 H - V - Thụ 71 41,5 30,5
115 –
125
5 V-T- Trang 75,25 42,75 33,50
6 P - B - Châu 76,36 43,36 33,0
7 Đ - T - Côn 74,80 43,40 31,40
8 L - T - Kiệt II 74,45 45 29,45
130 –
144
9 Tân Bình 76,75 45,25 31,50
10 N - T - Bình 75 45 30,0
11 N - T - Hiền 75 45 30,0
140 –
159
So sánh với quy định chiều cao và kích cỡ bàn ghế theo quy định của bộ giáo dục
Rõ ràng số liệu này không phù hợp với chiều cao học sinh tương ứng ở đa số các trường
- Nhận xét sơ bộ bàn ghế : + Không đáp ứng được cho học sinh lớp buổi sáng và buổi chiều (khác khối lớp) vì không điều chỉnh lên xuống được
+ Không di chuyển được
- Sĩ số học sinh trong lớp quá cao vì thế có những học sinh ngồi rất xa bảng
Trang 7Tuy nhiên chúng tôi lấy số liệu này nhằm để
tham khảo thêm một số yếu tố liên quan nhưng
không bàn luận yếu tố liên quan ánh sáng và bàn
ghế với dân số khảo sát nói chung và cụ thể từng
học sinh nói riêng vì:
Trẻ mới bắt đầu vào trường (đầu cấp) học chỉ
mới 2 -3 tháng chưa đủ thời gian để nói lên mối
liên quan vả lại còn nhiều mối liên quan khác cần
phải nghiên cứu cụ thể như thời gian học tập, chơi
điện tử, xem tivi, xem truyện, cả bàn ghế, ánh
sáng nơi các em học tập ở nhà Đây là một đề tài
rộng lớn cần phải được nghiên cứu đủ sâu rộng
mới có thể đánh giá được cụ thể
KẾT LUẬN
Giảm thị lực doTKX là một vấn đề sức khoẻ
quan trọng mang tính cộng đồng ở trẻ đi học ở
quận Tân Bình Vì vậy phải nghiên cứu TKX ở dân
số học sinh là nhằm có được những dữ liệu đáng
tin cậy về tỉ lệ TKX và tình hình tổn thương thị lực
ở các trẻ đang lứa tuổi đi học có nguồn gốc dân
tộc, văn hoá khác nhau nhằm góp phần quan tâm
hơn nữa đến việc phục hồi thị lực cho trẻ bị tật
khúc xạ sớm để các em hoà nhập tốt hơn với cộng
đồng Qua nghiên cứu chúng tôi có một số kết luận
như sau:
1 Xác định được tỉ lệ cận thị học sinh các lớp
1, 6, 10 tại các trường TH, THCS và PTTH thuộc
địa bàn Quận Tân Bình, TP HCM, tỷ lệ này tăng
dần theo lứa tuổi từ cấp I đến cấp III, ở học sinh
cấp I tỉ lệ TKX trung bình là 16%, ngược lại học
sinh cấp II và III tỉ lệ này tăng lên rất nhiều gấp 2
lần trung bình khoảng 30%, tỉ lệ TKX chung là
24,8% (850) Đây là số lượng không nhỏ cần được
quan tâm giải quyết trong chương trình chăm sóc
sức khỏe ban đầu cũng như các hoạt động nhằm
nâng cao chất lượng dân số cho người Việt Nam
Tỉ lệ mắc tật khúc xạ cận thị ở nữ (21,88%)
nhiều hơn nam (16,93%) sự khác biệt này có ý
nghĩa
Cận thị ở học sinh nội thành (37,84%) chiếm tỉ
lệ cao so với học sinh các trường ngoại thành
(21,58%) qua nghiên cứu này
Ngược lại với cận thị, tỉ lệ viễn thị học đường chiếm một tỉ lệ thấp khoảng 10% ở cấp I và có khuynh hướng giảm còn khoảng 1,5% ở cấp II và III
Tỉ lệ viễn thị giữa nam và nữ từ cấp I đến cấp II khác biệt có ý nghĩa thống kê, từ cấp II đến cấp III không có ý nghĩa thống kê Điều này cũng phù hợp với sự phát triển cơ thể học, sinh lý bình thường của trẻ theo lứa tuổi Như vậy, tỉ lệ nào đó viễn thị tuổi học đường có khả năng tự điều chỉnh dần tự nhiên theo lứa tuổi mà chưa cần một can thiệp y khoa nào
2 Sau khi áp dụng 2 phương pháp đo khúc xạ SBĐTSLĐT và KXTĐSLĐT chúng tôi nhận thấy rằng có thể áp dụng phương pháp đo KXTĐSLĐT vào khảo sát tật khúc xạ trong cộng đồng, tuy đơn giản nhưng cũng cho kết quả nhanh chóng và chính xác
3 Độ sáng gần như đủ ở các trường, riêng bàn ghế thì hhông đúng chuẩn theo qui định gần như tất cả các trường
Kiến nghị các giải pháp khắc phục
- Các nhà Giáo dục – Y tế cần phải quan tâm hơn nữa khi biết được tần suất TKX ở địa phương để có thể đề ra những chiến lược phát hiện phòng ngừa và điều trị TKX trong giai đoạn sớm nhất ở trẻ đi học
- Từ mẫu khảo sát này, chúng tôi hy vọng sẽ có những nghiên cứu tiếp theo để trả lời những câu hỏi còn để ngỏ trong đề tài này, làm cho việc phòng ngừa và điều trị TKX có hiệu quả hơn và mang tính chất toàn cầu
- Cần thiết trang bị kiến thức cho học sinh, phụ huynh, giáo viên về việc bảo vệ mắt khỏi TKX bằng những giờ học chính khoá về TKX
- Đề nghị các ngành chức năng và phụ huynh cần quan tâm nhiều hơn đến việc trang bị bàn ghế, ánh sáng, màu sắc, kích thước phòng cho phù hợp với từng lứa tuổi học sinh
- Giúp phụ huynh quan tâm đến góc học tập của các em ở nhà qua các khuyến cáo đến: đèn, bàn ghế, thời gian học, thời gian giải trí : vi tính, đọc sách báo, xem tivi, đi chơi ngoài trời
Trang 8- Giúp phụ huynh hiểu biết để lựa chọn nơi
nào đáng tin cậy để đo và cắt kính chính xác cho
các em học sinh
- Giúp các cơ sở làm kính lựa chọn phương pháp
đáng tin cậy để đo khúc xạ cho học sinh
TÀI LIỆU KHAM KHẢO
1 Nguyễn Đức Anh : Đánh giá kết quả lâm sàng của
máy đo khúc xạ tự động- Báo cáo khoa học viện mắt
1997
2 Đinh Thị Kim Chi, Một số nhận xét về thể lực, bệnh
phổ biến học sinh trường năng khiếu Trần Phú, Hải
Phòng, Báo cáo tại hội nghị Y tế trường học, Bộ Y tế,
Hà Nội 9/ 1999
3 Lê Anh Dũng, Phát triển hệ thống bàn ghế tương hợp
nâng cao chất lương đào tạo nguồn nhân lực Báo cáo
tại hội thảo khoa học về hệ thống bàn ghế tương hợp
của hội đo lường và tiêu chuẩn, 8/1999
4 Đoàn Trọng Hậu, Bài giảng lý thuyết mắt, 2002
5 Nguyễn Xuân Hiệp, Tật khúc xạ: Một nguyên nhân
chính gây giảm thị lực tại Việt Nam và các nước trong
khu vực Nội san nhãn khoa 2000;129: 445-454
6 Hoàng thị Lũy và cộng sự, Khảo sát tình hình thị lực
và tật khúc xạ của học sinh, sinh viên trường phổ
thông trung học và đại học chuyên ngành Nội san
nhãn khoa 1999; 2: 74-83
7 Phan Hồng Mai, Khảo sát các phương pháp đo khúc
xạ (thực hiện tại TT Mắt 1/2002-9/2002)
8 Nguyễn Thanh Sơn và cộng sự, Khảo sát tật khúc xạ
trong học sinh phổ thông cơ sở và một số các yếu tố
dịch tễ của cận thị học đường ở thành phố Huế - niên
khóa 1988 - 1999 Nội san nhãn khoa 2002; 6: 109-115
9 Hà Huy Tài, Tình hình tật khúc xạ ở học sinh phổ
thông Nội san nhãn khoa 2000;3, trang 90-93
10 Lê Anh Triết, Lê thị kim Châu, Quang học lâm sàng
và khúc xạ mắt, 1997; 333 - 414
11 Nguyễn Xuân Trường, Giáo trình nhãn khoa, nhà xuất
bản Giáo dục 1997; 9:280 - 314
12 Trần Anh Tuấn, Bài giảng lý thuyết mắt – các phương
pháp điều chỉnh tật khúc xạ bằng phẫu thuật, 2002
13 Viện y học lao động và vệ sinh môi trường – Bộ y tế, Điều tra dịch tễ học tật khúc xạ trong học sinh phổ thông Hà Nội, 1999
14 Gerardo M Villarreal, MD Prevalence of Myopia Among 12 – 13 Year – Old Schoolchildren in in Northern Mexico Optometry and Vision Science, 2003; 80: 369 – 373
15 Gopal P Pokharel, MD Refractive error study in children Result from Mechi Zone, Nepal Am J Ophthalmol 2000; 129: 436 – 444
16 Jialiang Zhao, MD The progression of Refractive Error in school – age children: Shunyi Dictrict, China
Am J Opthalmol 2002; 134: 735 – 742
17 Matthew Wensor, Borth, MS Prevalence and Risk Factor of Myopia in Victoria, Australia Arch Ophthalmol 1999; 117: 658 – 663
18 Negrel A D, Maul E., Pokharel GP, Zhao J., Ellwein L
B Refractive error study in children: Sampling and measurement methods for a multi- country survey Am
J Ophthalmol, 2000; 129: 421 - 426
19 Pokharel GP, Negrel AD, Munoz SR, Ellwein LB Refractive error study in children: Result from La Florida, Chile Am J Ophthalmol 2000; 129: 445 - 454
20 Seang Mei Saw, MBBS, MPH, PhD, MD Factors related to the progression of Myopia in Singaporean children: Optometry and Vision Science, 2000; 77: 549 – 554
21 Zhao J, Pan X, Sui R,Munor SR, Spertudo RD,Ellwein LB., Refractive error study in children: results from Shunji District, China Am J Ophthalmol 2000; 129: 436-435
22 Gilbert CE, Anderson L, Dandona L, Foster A Prevalence of visual impairment in children: a review
of available data Ophthal Epidemiol 1999; 6: 73-82
23 Maul E, Barroso S, Munoz SR, Sperduto R, Ellwein,
LB Refractive error study in children: results from La Florida County, Chile Am J Ophthalmol 2000; 129: 445-454
24 World Health Organization Prevention of blindness and deafness Elimination of avoidable visual disability due to refractive error (WHO/PBL/00.79) Gevena: World Health Organization, 2001