1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quy trinh th tc sa di hin phap va c

16 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 2,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về phương diện lý luận, quan niệm phổ biến tại các nước Đông Bắc Á, xem xét sửa đổi Hiến pháp được xác định là “quá trình xem lại, bãi bỏ hoặc sửa đổi những điều khoản cụ thể của bản Hi

Trang 1

QUY TRÌNH SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP VÀ CÁCH THỨC THỂ HIỆN HIẾN PHÁP

TẠI NHẬT BẢN VÀ HÀN QUỐC: KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

Bùi Hải Thiêm Viện Nghiên cứu lập pháp

(Bài viết được trình bày tại Hội thảo “Quy trình lập hiến của một số nước trên thế giới –

Những kinh nghiệm có thể kế thừa và phát triển” do Viện Nghiên cứu lập pháp và UNDP Việt

Nam tổ chức tại Thành phố Vũng Tàu, 16-17 tháng 9 năm 2010)

I CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP

1 Nhận thức chung về xem xét sửa đổi Hiến pháp

Hiện nay, cách hiểu về vấn đề sửa đổi Hiến pháp ở Việt Nam vẫn còn nhiều tranh luận, chủ yếu liên quan đến mức độ sửa đổi và khi nào thì việc sửa đổi Hiến pháp được coi là toàn diện và căn bản, và đến mức độ nào thì việc sửa đổi dẫn đến một bản Hiến pháp mới hoàn toàn Về phương diện lý luận, quan niệm phổ biến tại các nước Đông Bắc Á, xem xét sửa đổi

Hiến pháp được xác định là “quá trình xem lại, bãi bỏ hoặc sửa đổi những điều khoản cụ thể

của bản Hiến pháp hiện tại nhưng phải duy trì được giá trị bản sắc cơ bản của Hiến pháp hiện tại, tuân thủ các điều khoản về thủ tục xem xét, sửa đổi được quy định trong Hiến pháp hiện tại”1

Như vậy trong cách hiểu hiện đại này, có hai điều kiện cơ bản để việc xem xét sửa đổi

Hiến pháp không đồng nghĩa với một bản Hiến pháp mới là: (i) Thứ nhất, việc sửa đổi đó phải

phù hợp với những điều khoản của Hiến pháp hiện thời quy định về quy trình, thủ tục sửa đổi

Hiến pháp; và (ii) Thứ hai, về mặt nội dung, việc sửa đổi đó giữ nguyên những giá trị bản sắc

cơ bản của Hiến pháp hiện tại Có thể thấy rằng nếu việc xem xét sửa đổi Hiến pháp không tuân thủ quy trình, thủ tục đã được quy định trong Hiến pháp hiện tại hoặc xóa bỏ giá trị bản sắc cơ bản của Hiến pháp hiện tại thì đó là việc làm một bản Hiến pháp mới hoàn toàn; đó

chính là ranh giới cuối cùng giữa sửa đổi Hiến pháp và một Hiến pháp mới

2 Thời điểm sửa đổi Hiến pháp

Một bản hiến pháp luôn phản ánh và điều chỉnh thế giới hiện thực của một quốc gia vào một thời điểm nhất định, bởi lẽ, “với góc độ là một sự kiện chính trị pháp lý, hay còn có

Trang 2

thể nói là chức năng chính trị, thì hiến pháp là văn bản ghi nhận mối tương quan lực lượng chính trị trong xã hội khi hiến pháp mới ra đời2” Thế giới hiện thực luôn luôn biến đổi, do đó, theo thời gian, khoảng cách giữa các quy phạm hiến pháp với thế giới hiện thực ngày càng lớn lên Nếu khoảng cách đó lớn đến mức vượt ra ngoài khuôn khổ giới hạn nhất định, các quy phạm hiến pháp hoàn toàn bị mất hiệu lực thực tế trong thế giới hiện thực và trở thành một văn bản chết Do đó, khi khoảng cách giữa hiến pháp hiện tại và thế giới hiện thực phát triển lớn đến mức không thể giải quyết được bằng các phương thức thông thường như giải thích linh hoạt các điều khoản của hiến pháp hoặc khi đa số người dân rõ ràng ủng hộ việc sửa đổi hiến pháp thì khi đó việc sửa đổi Hiến pháp là hết sức cần thiết Đây là phương pháp nghiên cứu biện chứng duy vật, đặt Hiến pháp trong mối tương quan vận động, biến đổi không ngừng,

để luôn có một bản Hiến pháp sống, bám sát với thế giới hiện thực, ấn định những quy tắc pháp lý rường cột của một quốc gia

Ở một góc độ khác, khi xem xét sửa đổi hiên pháp, một nguyên tắc quan trọng hàng đầu của bất kỳ một bản hiến pháp nào là bảo đảm các quyền hiến định của công dân và bảo vệ trật tự Hiến pháp không bị đảo lộn do việc xem xét sửa đổi quá nhiều, quá thường xuyên một cách tùy tiện hoặc chỉ vì lợi ích của giới cầm quyền Nói tóm lại, xem xét sửa đổi Hiến pháp là một phương thức để chấp nhận và đưa những thay đổi của thế giới hiện thực vào Hiến pháp và đồng thời của là phương cách để duy trì tính kế thừa và liên tục của Hiến pháp

3 Phân loại kiểu Hiến pháp theo quy trình xem xét, sửa đổi Hiến pháp

Theo quan điểm phổ biến hiện đại của các học giả Nhật Bản và Hàn Quốc, khi xét đến

quy trình, thủ tục xem xét sửa đổi và thông qua hiến pháp, có hai loại hiến pháp là hiến pháp

nhu tính và hiến pháp cương tính Về cơ bản, tiêu chí để phân biệt giữa hai loại hiến pháp này

là mức độ khó khăn và phức tạp của quy trình, thủ tục xem xét sửa đổi hiến pháp Hiến pháp nhu tính là hiến pháp có thể được sửa đổi bởi chính cơ quan lập pháp, áp dụng theo quy trình, thủ tục thông qua các các đạo luật bình thường Điều đó có nghĩa là cơ quan lập pháp có đồng thời quyền lập hiến và lập pháp Thông thường, các bản hiến pháp không thành văn3

là ví dụ điển hình cho loại hiến pháp nhu tính Tuy nhiên, hiến pháp nhu tính không hề mang ý nghĩa

là có cùng đẳng cấp về hiệu lực pháp lý như các đạo luật thông thường, mà trái lại, vẫn có ưu

2 Nguyễn Đăng Dung, Giáo trình “Luật Hiến pháp của các nước tư bản”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001,

tr.57

3 Theo GS.Nguyễn Đăng Dung, trong Giáo trình Luật Hiến pháp các nước tư sản (2001), hiện nay trên thế giới chỉ có 3 nước là Vương quốc Anh, Niu Di-lân, Ixrael là có hiến pháp không thành văn, còn tuyệt đại đa số các

Trang 3

thế chi phối các đạo luật thông thường Theo các học giả, hiến pháp nhu tính bắt nguồn từ chủ thuyết Nghị viện/Quốc hội là tối cao và được thể hiện là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất trong Hiến pháp nên Nghị viện/Quốc hội vừa có quyền lập hiến vừa có quyền lập pháp, do đó không có sự phân biệt lớn giữa quy trình xem xét sửa đổi Hiến pháp với quy trình sửa đổi luật bình thường Trong trường hợp của Trung Quốc, mặc dù là một bản Hiến pháp thành văn, nhưng lấy căn cứ là quy trình, thủ tục xem xét sửa đổi và thông qua hiến pháp, có thể coi Hiến pháp Trung Quốc là hiến pháp nhu tính, mặc dù thủ tục thông qua việc sửa đổi Hiến pháp có nghiêm ngặt hơn một đạo luật bình thường4 Xét theo tiêu chí này, Hiến pháp của hai nước Nhật Bản và Hàn Quốc được xếp vào dạng hiến pháp cương tính

Hiến pháp cương tính là hiến pháp có những ưu thế đặc biệt được phân biệt giữa quyền

lập hiến, quyền nguyên thủy, với quyền lập pháp, quyền được phái sinh từ quyền nguyên thủy

Để thực hiện quyền nguyên thủy đó, hiến pháp cương tính quy định trình tự, thủ tục xem xét, sửa đổi hiến pháp rất ngặt nghèo, và điểm cốt lõi là nhân dân phải là chủ thể làm ra và sửa đổi Hiến pháp, trực tiếp thực hiện quyền phúc quyết đối với Hiến pháp Như vậy, thực ra hiến pháp cương tính bắt nguồn từ chủ thuyết “toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” và bằng quyền lập hiến, nhân dân lập ra bộ máy nhà nước và trực tiếp trao quyền cho nhà nước Khi nói về quyền lập hiến như với tư cách là một quyền nguyên thủy, một chuyên gia về Hiến

pháp đã nhận xét: “Nếu Hiến pháp là nguồn hình thành quyền lực của chính quyền thì đương

nhiên là chính quyền không thể tự làm ra nó… Như là một hành động xây dựng chính quyền cho nhân dân, Hiến pháp là một hành động nguyên thủy của nhân dân Vì vậy, nhân dân là chủ thể của quyền lập hiến, là người chấp thuận và thông qua Hiến pháp.5” Rõ ràng, quyền sửa đổi Hiến pháp là một bộ phận không thể tách rời của quyền lập hiến, quyền nguyên thủy,

do đó, cũng chỉ có nhân dân mới có quyền sửa đổi hiến pháp Với triết lý đó, muốn sửa đổi Hiến pháp cương tính phải thông qua các quy trình, thủ tục đặc biệt, rất nghiêm ngặt và hoàn toàn khác với quy trình, thủ tục sửa đổi luật bình thường Hiến pháp cương tính chỉ có thể được làm hoặc sửa đổi bởi một cơ quan đặc biệt, có thể là quốc hội lập hiến hoặc một hội nghị lập hiến đặc biệt được ủy quyền thông qua các thủ tục rất phức tạp hoặc/và có thể cuối cùng

do nhân dân phúc quyết thông qua trưng cầu dân ý Quốc hội lập pháp không có quyền lập hiến, có nghĩa là không có toàn quyền sửa đổi Hiến pháp mà phải tuân thủ những quy định của

4 Điều 64 của Hiến pháp Trung Quốc quy định việc sửa đổi Hiến pháp phải do 2/3 tổng số đại biểu Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc (Quốc hội) trở lên biểu quyết thông qua Một đạo luật bình thường chỉ cần quá bán tổng

số đại biểu, thậm chí đa số các luật của Trung Quốc chỉ cần quá bán tổng số Ủy viên Ủy ban thường vụ Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc thông qua

5 B.O Nwabueze, S.A.N, Ideas and Facts in Constitution Making (Ibadan, Owerri, Kaduna, and

Lagos: Sectrum Book Limited, 1993), p.7 – dẫn theo Bùi Ngọc Sơn, Sửa đổi quy trình sửa đổi Hiến

pháp hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 14 (175), tháng 7-2010

Trang 4

Hiến pháp, trong đó có các điều khoản quan trọng về quy trình, thủ tục sửa đổi Hiến pháp Với đặc điểm đó, Hiến pháp cương tính thường quy định ngay trong bản văn hiến pháp một quy trình, thủ tục sửa đổi Hiến pháp rất khó khăn và phức tạp, khiến cho Hiến pháp rất hiếm khi bị sửa đổi Điển hình cho loại hiến pháp cương tính trên thế giới là hiến pháp Hoa Kỳ đối với nhà nước liên bang và hiến pháp Nhật Bản đối với nhà nước đơn nhất

4 Các hình thức xem xét sửa đổi Hiến pháp

Căn cứ vào hai loại hình hiến pháp như đã đề cập ở trên, có thể nghiên cứu đến các hình thức xem xét sửa đổi Hiến pháp Ở mỗi quốc gia khác nhau có các hình thức sửa đổi Hiến

pháp khác nhau, nhưng về cơ bản có hai hình thức Hình thức thứ nhất là bổ sung thêm những

điều khoản mới vào Hiến pháp mà giữ nguyên không thay đổi điều khoản nào của hiến pháp hiện thời Hình thức này được áp dụng điển hình ở Hoa Kỳ, còn được gọi là các Tu chính án

Hiến pháp Hình thức thứ hai là thay đổi hoặc xóa bỏ một điều khoản nào đó của Hiến pháp

hiện thời, hoặc là bổ sung thêm một điều khoản mới vào Hiến pháp hiện thời Hình thức thứ hai là hình thức phổ biến nhất trên thế giới, tuyệt đại đa số các nước áp dụng, điển hình là Cộng hòa Liên bang Đức, Cộng hòa Pháp, Nhật Bản và Hàn Quốc Dù theo hình thức xem xét sửa đổi như thế nào, ở nước nào sáng quyền sửa đổi Hiến pháp cũng phải được Quốc hội thông qua mới có giá trị pháp lý Một số nước như Thụy Sĩ, Bỉ, và Na Uy sử dụng hình thức hội nghị lập hiến đặc biệt để đưa ra đề xuất và thông qua việc sửa đổi hiến pháp Một số nước khác như Hàn Quốc của nền Cộng hòa thứ 4 (1972-1980) hay Đài Loan, sau khi Quốc hội thông qua đề xuất sửa đổi Hiến pháp thì phải có một cơ chế đặc biệt nữa chấp thuận thì đề xuất sửa đổi Hiến pháp đó mới có hiệu lực Các nhà nước liên bang như Hoa Kỳ hay Mê-hi-cô cũng có quy trình, thủ tục đề xuất sửa đổi Hiến pháp rất phức tạp, đòi hỏi sự chấp thuận của một số lượng nhất định của số Nghị sĩ Quốc hội liên bang sự đồng ý của một số lượng nhất định Quốc hội bang Ví dụ, điều 5 của Hiến pháp Hoa Kỳ quy định để đề xuất sửa đổi Hiến pháp, 2/3 số nghị sĩ của hai viện Quốc hội liên bang hoặc 2/3 số các cơ quan lập pháp bang phải đồng ý với đề xuất sửa đổi và cuối cùng, để phê chuẩn đề xuất sửa đổi đó phải cần đến ¾

số các cơ quan lập pháp bang hoặc hội nghị lập hiến bang chấp thuận Tóm lại, đa số các quốc gia có hiến pháp thành văn đều là hiến pháp cương tính và quy định rất khó khăn cho quy trình, thủ tục sửa đổi Hiến pháp

Trang 5

II QUY TRÌNH, THỦ TỤC XEM XÉT SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP Ở NHẬT BẢN VÀ HÀN QUỐC

1 Quy trình, thủ tục xem xét sửa đổi Hiến pháp tại Nhật Bản

Hiến pháp hiện thời của Nhật Bản ra đời từ năm 1946, có hiệu lực chính thức từ ngày 03/5/1947 Hiến pháp này còn gọi là Hiến pháp hòa bình, có độ “cương tính” cao, cho đến nay chưa một lần được sửa đổi

Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Nhật Bản đầu hàng phe Đồng minh Với mong muốn một nước Nhật theo đường lối hòa bình và dân chủ tự do, xóa bỏ chế độ quân phiệt và nền quân chủ tuyệt đối của Nhật Bản, tướng Mỹ MacArthur, Chỉ huy các lực lượng chiếm đóng Nhật Bản, đã giao các luật sư người Mỹ soạn thảo bản Hiến pháp mới cho nước Nhật, thay thế Hiến pháp Minh Trị 1890, dịch bản Hiến pháp mới ra tiếng Nhật và giao cho Chính phủ Nhật lúc đó thực hiện các quy trình, thủ tục bình thường về sửa đổi Hiến pháp để Hiến pháp mới có hiệu lực Về mặt hình thức, bản Hiến pháp 1946 của Nhật Bản tuân thủ theo quy trình, thủ tục sửa đổi được quy định trong Hiến pháp Minh Trị cũ, nhưng nội dung bản chất hay giá trị bản sắc của Hiến pháp đã được thay đổi hoàn toàn Như vậy, về hình thức, bản Hiến pháp mới chỉ là một văn bản sửa đổi Hiến pháp Minh Trị, không vi phạm các quy định của Hiến pháp Minh Trị, do đó duy trì tính liên tục và giá trị pháp lý của bản Hiến pháp mới Căn cứ theo Điều 73 của Hiến pháp Minh Trị 1890, dự thảo Hiến pháp mới được Nhật Hoàng trình lên Quốc hội và được thảo luận tại Quốc hội với tư cách là một dự luật sửa đổi Hiến pháp

đế chế Hiến pháp cũ quy định dự luật sửa đổi phải nhận được đa số 2/3 phiếu ủng hộ tại cả hai Viện của Quốc hội để trở thành luật Sau khi hai Viện điều chỉnh, sửa đổi bản dự thảo, Thượng viện Nhật đã thông qua dự luật sửa đổi Hiến pháp ngày 06/10/1946 và Hạ viện cũng thông qua bản dự luật đó ngay ngày hôm sau với chỉ 5 phiếu chống Cuối cùng, bản Dự thảo chính thức trở thành luật ngày 03/5/1947 sau khi Nhật Hoàng chấp thuận Theo điều khoản của luật, bản Hiến pháp mới có hiệu lực sau 6 tháng kể từ ngày Nhật Hoàng phê chuẩn, tức là ngày 03/5/1947

Hiến pháp mới của Nhật Bản là do lực lượng Mỹ chiếm đóng viết ra và không cho các nhà chính trị và chuyên gia hiến pháp của Nhật được tự quyết định nên nó đã trở thành tâm điểm tranh luận gay gắt, nhất là từ khi Nhật Bản giành lại chủ quyền của mình vào năm 1952 Tuy nhiên, trong quá trình soạn thảo Hiến pháp mới này, từ cuối năm 1945 và trong năm

1946, ở nước Nhật đã có nhiều cuộc thảo luận công khai về cải cách Hiến pháp Minh Trị và tướng MacArthur đã quyết định tiếp thu những tư tưởng tiến bộ của trường phái dân chủ tự do

ở Nhật thắng thế trong các cuộc tranh luân về cải cách Hiến pháp Chính vì thế, MacArthur đã

Trang 6

không áp đặt một bản Hiến pháp kiểu Mỹ, các giá trị Mỹ của chế độ cộng hòa tổng thống vào nước Nhật Trái lại, ông đã đề xuất một bản Hiến pháp mới theo mô hình quân chủ đại nghị của Vương quốc Anh, một mô hình được những người Nhật theo đường lối dân chủ tự do xem

là khả thi nhất để thay cho chế độ quân chủ tuyệt đối của Hiến pháp Minh Trị Chính vì bản Hiến pháp mới là kết tinh những giá trị tiến bộ mà chính người Nhật tự mình tiếp thu và thừa nhận nên nó có sức sống mạnh mẽ và chống lại được các sức ép và nỗ lực đòi thay đổi của các lực lượng bảo thủ và dân tộc chủ nghĩa ở Nhật từ sau năm 1952 đến nay

Một trong các lý do khiến các lực lượng bảo thủ và dân tộc chủ nghĩa của Nhật khó có thể thay đổi được Hiến pháp là quy trình, thủ tục để sửa đổi bản Hiến pháp này hết sức ngặt

nghèo Điều 96 của Hiến pháp Nhật Bản quy định về việc sửa đổi hiến pháp như sau:

“Tu chính Hiến pháp do Quốc hội đề xuất với số phiếu của 2/3 toàn thể thành viên hai

Viện của Quốc hội trở lên, sau đó tu chính Hiến pháp phải được đa số nhân dân chuẩn y trong một cuộc trưng cầu dân ý đặc biệt hoặc một cuộc bầu cử đặc biệt do Quốc hội quy định

Tu chính Hiến pháp sau khi được phê chuẩn phải được Hoàng đế ban hành ngay, nhân danh nhân dân và trở thành một phần không thể tách rời của Hiến pháp.”

Có thể thấy quy định trong Điều 96 của Hiến pháp Nhật Bản là một quy trình rất

“cứng”, mặc dù cho phép sửa đổi bất kỳ điều khoản nào của Hiến pháp Trong khi đối với một

số nước, 2/3 số phiếu của đại biểu Quốc hội đã đủ để sửa Hiến pháp thì ở Nhật Bản đa số tuyệt đối hay 2/3 số phiếu của Nghị sĩ cả hai Viện của Quốc hội mới chỉ đủ để cho đề xuất sửa đổi Hiến pháp được đưa ra cho toàn dân phúc quyết trong một cuộc trưng cầu dân ý Chính vì quy định cứng đó mà việc vận động sửa đổi Hiến pháp của các lực lượng khác nhau ở Nhật Bản trong suốt nhiều năm không thể thực hiện được Các đảng đối lập luôn chiếm nhiều hơn 2/3 số ghế tại ít nhất một Viện của Quốc hội Nhật Bản và luôn ủng hộ giữ nguyên trạng hiến pháp Ngay cả đối với các thành viên của Đảng Dân chủ Tự do (LDP), đảng lớn nhất và cầm quyền liên tục trong nhiều thập kỷ tại Nhật Bản, duy trì bản hiến pháp hiện tại cũng có lợi bởi họ có thể tiến hành được quá trình ra quyết sách trong khuôn khổ Hiến pháp cho phép, phù hợp với lợi ích của họ Ví dụ như ông Yasuhiro Nakasone luôn là một người ủng hộ nhiệt tình cho việc sửa đổi hiến pháp nhưng khi là Thủ tướng (1982-1987) đã không còn chú ý đến vấn đề này

Do đó, vấn đề sửa đổi Hiến pháp trong suốt những năm từ thập kỷ 1960 đến 1980 hiếm khi được đem ra tranh luận

Tuy nhiên, từ thập kỷ 1990, một số lực lượng cánh hữu và bảo thủ ở Nhật Bản đã lên tiếng phá bỏ điều ít được nhắc đến đó, ví dụ như sự kiện vào năm 1994 một tờ báo lớn của

Trang 7

Nhật là Yomiuri Shimbun đăng một bài viết đề xuất xem xét lại bản hiến pháp Giai đoạn này chứng kiến sự tranh luận giữa một bên là một số nhóm cánh hữu thúc đẩy mạnh mẽ việc sửa đổi hiến pháp còn bên kia là các tổ chức và cá nhân công khai chống lại việc xét lại hiến pháp

mà ủng hộ bản hiến pháp hòa bình hiện tại Cuộc tranh luận này rất căng thẳng và bị phân cực cao độ Các vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất là đề xuất sửa đổi Điều 9 (Điều khoản hòa bình)

và các quy định liên quan đến vai trò của Nhật Hoàng Các lực lượng cánh tả, trung tả và phong trào hòa bình bao gồm các tổ chức và cá nhân liên quan cũng như các đảng chính trị đối lập, công đoàn và tổ chức thanh niên ủng hộ duy trì (thậm chí củng cố) hiến pháp hiện tại trong những lĩnh vực đó Các nhóm cánh hữu, dân tộc chủ nghĩa và bảo thủ lại ủng hộ thay đổi

để tăng thêm uy tín và vị thế của Nhật Hoàng (mặc dù không trao cho quyền lực chính trị) và cho phép có một lập trường cứng rắn hơn trên vấn đề lực lượng phòng vệ bằng cách chính thức chuyển lực lượng này thành quân đội Một số vấn đề khác trong hiến pháp cũng được thảo luận và đề xuất có thay đổi liên quan đến địa vị của phụ nữ, hệ thống giáo dục và hệ thống cơ quan dịch vụ công (bao gồm phúc lợi xã hội, các tổ chức tôn giáo, các tổ chức phi lợi nhuận cũng như các quỹ), cải cách quy trình bầu cử,… để cho phép bầu Thủ tướng trực tiếp

Có rất nhiều lực lượng khác nhau trong xã hội, từ các hiệp hội, các NGO, các cơ sở nghiên cứu, các học giả, các chính trị gia đã công khai phát biểu ủng hộ lập trường bên nay hoặc bên kia đối với mỗi vấn đề

Tháng 8/2005, Thủ tướng của Nhật Bản khi đó là ông Junichiro Koizumi đã đề xuất sửa đổi hiến pháp để tăng cường vai trò của Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản đối với các vấn đề quốc tế Đảng Dân chủ Tự do (LDP) cầm quyền đã công bố một bản dự thảo sửa đổi hiến pháp vào ngày 22/11/2005 nhân kỷ niệm 50 năm ngày thành lập đảng Đề xuất sửa đổi hiến pháp bao gồm:

- Viết lại lời mở đầu của Hiến pháp

- Đoạn thứ nhất của Điều 9 về từ bỏ chiến tranh được giữ lại Đoạn hai về cấm duy trì

“các lực lượng lục quân, hải quân và không quân hay những tiềm lực chiến tranh khác được thay thế bằng Điều 9-2, cho phép “lực lượng phòng vệ” dưới sự kiểm soát của Thủ tướng, bảo

vệ đất nước và có thể tham gia vào các hoạt động quốc tế (thực chất là cho phép Nhật Bản cử quân đội ra nước ngoài hoạt động) Đoạn văn mới được đề xuất bổ sung thêm vào dùng thuật ngữ “quân đội” mà trong bản hiến pháp hiện tại đã tránh dùng Ngoài ra, đề xuất sửa đổi còn

bổ sung thêm tòa án quân sự vào Điều 76 Theo Hiến pháp hiện thời, các thành viên của Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản do tòa án dân sự xét xử như các công dân bình thường

- Đề xuất thay đổi cách viết tại Điều 13 liên quan đến sự tôn trọng các quyền cá nhân

Trang 8

- Đề xuất sửa đổi Điều 20, cho phép nhà nước có quyền hạn chế trong “phạm vi lễ tân

có thể chấp nhận được về mặt xã hội” đối với “các tập quán văn hóa-sắc tộc” Sửa đổi Điều 89 cho phép nhà nước tài trợ cho các tổ chức tôn giáo

- Đề xuất sửa đổi Điều 92 và Điều 95 liên quan đến chính quyền tự trị ở địa phương và mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương

- Đề xuất sửa đổi Điều 96, giảm bớt yêu cầu về số phiếu cần có để Quốc hội có thể thông qua đề xuất sửa đổi hiến pháp từ 2/3 xuống còn đa số thường (1/2); giữ lại yêu cầu phải trưng cầu dân ý

Bản dự thảo sửa đổi hiến pháp này đã thổi bùng lên cuộc tranh luận gay gắt và sự chống đối mạnh mẽ từ cả các tổ chức phi chính phủ của các quốc gia khác cũng như các tổ chức lâu đời hay vừa mới thành lập tại Nhật Bản, chẳng hạn như có tổ chức lập ra với tên gọi

là “Bảo vệ Điều 9 Hiến pháp” Theo quy định của Hiến pháp hiện tại, đề xuất sửa đổi Hiến pháp phải được tối thiểu 2/3 phiếu của Quốc hội thông qua sau đó đưa ra toàn dân phúc quyết trong một cuộc trưng cầu dân ý Tuy nhiên, đến năm 2005 vẫn chưa có đạo luật nào quy định

cụ thể về một cuộc trưng cầu dân ý như vậy tại Nhật Bản

Người kế nhiệm của Thủ tướng Koizumi là Thủ tướng Shinze Abe đã cam kết thúc đẩy mạnh mẽ việc sửa đổi hiến pháp, tiến hành một bước quan trọng chuẩn bị cho sửa đổi hiến pháp với việc cho thông qua một đạo luật về trưng cầu dân ý vào tháng 4/2007 Tuy nhiên, vào thời điểm này công chúng không mấy ủng hộ việc sửa đổi hiến pháp Một cuộc điều tra dư luận cho thấy 34,5% người Nhật không muốn bất cứ thay đổi nào; 44,5% không muốn thay đổi gì đối với Điều 9 và 54.6% ủng hộ cách giải thích hiện tại của Chính phủ về lực lượng phòng vệ, do đó không cần phải sửa đổi Điều 9 Nhân kỷ niệm 60 năm ngày Hiến pháp Nhật Bản, 03/5/2007, hàng ngàn người xuống đường biểu tình ủng hộ Điều 9 Chánh Văn phòng Nội các Nhật Bản và các quan chức chính phủ hàng đầu cho rằng cuộc điều tra dư luận đó có nghĩa là dân chúng muốn có bản hiến pháp hòa bình, từ bỏ chiến tranh và có thể cần phải được thông tin chi tiết hơn về các tranh luận xung quanh việc sửa đổi hiến pháp Sau đó, do tình hình chính trị tại Nhật Bản, các đề xuất sửa đổi hiến pháp tạm thời được gác lại vô thời hạn Hiến pháp Nhật Bản vẫn duy trì nguyên trạng cho đến nay và chưa được sửa đổi bất kỳ một điều khoản nào

2 Quy trình, thủ tục xem xét sửa đổi Hiến pháp tại Hàn Quốc

Trang 9

Hiến pháp đầu tiên của Hàn Quốc ra đời năm 1948 với ý tưởng nguồn gốc và cơ sở từ

hệ thống Vây-ma (Weimar), theo đó Tổng thống được bầu gián tiếp Bản Hiến pháp 1948 của Hàn Quốc cho đến nay đã có 9 lần sửa đổi, trong đó có 5 lần sửa đổi lớn, gần như là viết lại hoàn toàn, đó là các bản Hiến pháp năm 1960, 1962, 1980, và 1987 Hiến pháp 1948 được sửa đổi lần đầu tiên vào năm 1952 trước khi Tổng thống Syngman Rhee tái cử, quy định việc bầu

cử Tổng thống trực tiếp và chế độ lưỡng viện của Quốc hội Sau các cuộc tranh luận gay gắt,

đề xuất sửa đổi hiến pháp được thông qua mà không theo quy trình, thủ tục được quy định trước Vào năm 1954, Tổng thống Rhee lại áp đặt một điều khoản sửa đổi hiến pháp, bãi bỏ hạn chế về nhiệm kỳ của Tổng thống và nhấn mạnh mô hình kinh tế tư bản chủ nghĩa

Những động thái trên đã gặp phải sự phản đối rộng rãi của công chúng và nền Cộng

hòa thứ Hai của Hàn Quốc đã bắt đầu bằng một bản Hiến pháp dân chủ vào năm 1960, quy

định chế độ đại nghị: thành lập Nội các, Quốc hội gồm 2 viện, ủy ban bầu cử và ủy ban hiến pháp Hiến pháp 1960 cũng quy định việc bầu các thẩm phán tòa án tối cao và các thống đốc tỉnh đồng thời quy định các quyền cá nhân của con người dựa trên học thuyết pháp quyền tự nhiên Tuy nhiên, do cuộc đảo chính vào năm 1961 của Park Chung-hee, Hiến pháp 1960 đã bị

vô hiệu hóa và vào năm 1962, Hiến pháp của nền Cộng hòa thứ Ba đã được thông qua, với

nhiều điều khoản tương tự như Hiến pháp của Hoa Kỳ, ví dụ như chức năng tài phán tư pháp

về danh nghĩa Vào năm 1972, Tổng thống Park mở rộng thêm quyền hành của mình bằng bản

Hiến pháp của nền Cộng hòa thứ Tư, còn gọi là Hiến pháp Yusin, quy định nhiệm kỳ tổng

thống không giới hạn và quyền lực tập trung cao độ hơn nữa Sau khi Tổng thống Park bị ám

sát chết vào năm 1979, nền Cộng hòa thứ Năm bắt đầu bằng bản Hiến pháp 1980 dưới thời

Tổng thống Chung Doo-hwan, quy định vị thế Tổng thống yếu hơn và được bầu gián tiếp, chế

độ Quốc hội một viện và hệ thống Nội các Do các cuộc biểu tình ủng hộ dân chủ lên cao vào năm 1987 (Phong trào Dân chủ tháng Sáu) tại Hàn Quốc, bản Hiến pháp mới của nền Cộng hòa thứ Sáu đã ra đời vào năm 1987 Đạo luật sửa đổi hiến pháp được Quốc hội thông qua vào ngày 12/10/1987 và nhận được 93% phiếu ủng hộ trong cuộc trưng cầu dân ý vào ngày 28/10 Bản Hiến pháp 1987 đã có hiệu lực từ ngày 25/2/1988 khi ông Roh Tae-woo nhậm chức Tổng thống

Quy trình, thủ tục xem xét sửa đổi Hiến pháp được quy định từ điều 128-130 của bản Hiến pháp hiện hành (1987) với năm giai đoạn chính như sau:

- Giai đoạn thứ nhất là đề xuất sửa đổi Theo Điều 128, khoản 1 của Hiến pháp 1987, chỉ có Tổng thống hoặc đa số thành viên Quốc hội mới có quyền trình đề xuất sửa đổi Hiến pháp Mục 3 của Điều 89 quy định dự thảo sửa đổi hiến pháp phải được đưa ra Hội đồng Nhà

Trang 10

nước thảo luận và xem xét các đề xuất sửa đổi bản dự thảo trước khi trình dự thảo sửa đổi hiến pháp đó

- Giai đoạn thứ hai là thông báo cho công chúng Theo Điều 129 của Hiến pháp Hàn Quốc, Tổng thống phải công bố bản dự thảo đề xuất sửa đổi Hiến pháp ra công chúng trước ít nhất là 20 ngày Yêu cầu công bố dự thảo sửa đổi là một quy trình không thể thiếu được để thông tin cho nhân dân về đề xuất sửa đổi hiến pháp và thiết lập sự đồng thuận của nhân dân

về đề nghị xem xét sửa đổi hiến pháp thông qua việc thông tin, truyền thông tự do của người dân Hàn Quốc Việc công bố dự thảo trước công chúng một cách minh bạch và trọn vẹn là rất quan trọng bởi lẽ cần phải có sự minh bạch và liêm chính thì mới xây dựng được và duy trì lòng tin của nhân dân cũng như chống lại các nguy cơ bị thao túng Một nhiệm vụ quan trọng khi thông báo rộng rãi cho công chúng là đưa nhân dân tham gia tích cực vào quá trình này để thúc đẩy sự giải giữa các nhóm trước đây xung đột nhau mà các lực lượng tinh hoa chính trị cầm quyền không thể dễ dàng điều hòa được Một trong những chức năng quan trọng của hiến pháp là quá trình xây dựng và sửa đổi văn kiện chính trị-pháp lý này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc xây dựng sự đồng thuận quốc gia

- Giai đoạn thứ ba là Quốc hội thông qua đề xuất sửa đổi Theo khoản 1, Điều 130 của Hiến pháp Hàn Quốc, đề xuất sửa đổi hiến pháp phải được Quốc hội thông qua trong vòng 60 ngày kể từ khi công bố trước công chúng với số phiếu phải trên 2/3 của tổng số nghị sĩ Quốc hội Đây là số lượng phiếu quy định cao nhất trong Hiến pháp khi Quốc hội biểu quyết thông qua một vấn đề hay đạo luật nào đó Lá phiếu này được quy định không được là phiếu kín mà

là phiếu viết tay để xác định rõ trách nhiệm của người bỏ lá phiếu Khi Quốc hội bỏ phiếu biểu quyết, đề xuất sửa đổi hiến pháp không được có bất kỳ sự thay đổi nào so với bản đã được công bố trước công chúng bởi vì bất kỳ sự thay đổi nào đối với đề xuất sửa đổi hiến pháp cũng

có nghĩa là Quốc hội bỏ phiếu biểu quyết về một đề xuất sửa đổi hiến pháp mà dân chúng chưa được biết, như vậy là vi hiến

- Giai đoạn thứ tư là trưng cầu dân ý toàn quốc Theo khoản 2, Điều 130 của Hiến pháp Hàn Quốc, sau khi đề xuất sửa đổi hiến pháp được Quốc hội thông qua, đề xuất sửa đổi hiến pháp đó phải được đưa ra toàn dân phúc quyết trong vòng 30 ngày tại một cuộc trưng cầu dân

ý toàn quốc Cuối cùng, đề xuất sửa đổi chính thức sẽ có hiệu lực nếu nhận được hơn ½ tổng

số phiếu thu được trong cuộc trưng cầu dân ý với điều kiện phải có hơn ½ số cử tri hợp lệ đi

bỏ phiếu Nếu có trên 100,000 cử tri hợp lệ đặt nghi vấn về hiệu lực pháp lý của cuộc trưng cầu dân ý, những người này có thể đâm đơn kiện Chủ tịch Ủy ban Bầu cử Quốc gia ra Tòa án Tối cao trong vòng 20 ngày sau khi cuộc trưng cầu dân ý kết thúc (Điều 92 của Luật Trưng

Ngày đăng: 28/12/2021, 10:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w