1.1.1 Công dụng: Trong hệ thống truyền lực của ô tô, ly hợp là một trong những cụm chính có tácdụng là: - Nối động cơ với hệ thống truyền lực khi ô tô di chuyển.. Ở hệ thống truyền lực b
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.
HCM
VIỆN KĨ THUẬT
BÁO CÁO MÔN HỌC
ĐỒ ÁN TÍNH TOÁN THIẾT KẾ Ô TÔ
Giảng viên hướng dẫn : NGUYỄN CHÍ KHANH
Sinh viên thực hiện : HOÀNG THỊ THẢO
Trang 2Em xin chân thành cảm ơn !
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Trong quá trình phát triển của nền kinh tế xã hội của nước ta hiện nay với chủtrương “Công nghiệp hóa –Hiện đại hóa”, nền công nghiệp ô tô là một nền kinh tế mũinhọn đang được nhà nước quan tâm, và tạo điều kiện phát triển Ô tô ngày càng trở thànhmột phương tiện đi lại, vận chuyển hàng hóa và hành khách phổ biến kéo theo nó là yêucầu làm chủ phương tiện, biết cách vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa Ngoài ra đòi hỏicác tính năng của chúng ngày càng cao như an toàn, nhanh, bền, tiện lợi, không ảnhhưởng đến môi trường…là rất cần thiết
Hệ thống ly hợp trên ô tô là một trong những cụm chi tiết quan trọng , chịu ảnhhưởng lớn của điều kiện địa hình, môi trường, khí hậu và nhiệt độ, do vậy việc nắm vữngkết cấu, bảo dưỡng, sửa chữa, điều chỉnh và sử dụng hiệu quả là yêu cầu quan trọng vớisinh viên ngành Ô TÔ Trên cơ sở đó đề tài đã đi sâu tìm hiểu một số hệ thống ly hợp trên
xe tải, phân tích công dụng ưu và nhược điểm của từng loại, từ đó lựa chọn được kết cấu
và thiết kế ly hợp cho xe ô tô
Với sự nỗ lực của nhóm bản đồ án của nhóm đã hoàn thành Tuy nhiên do trình độ
và thời gian có hạn, kinh nghiệm thực tế còn thiếu, nên bản đồ án của nhóm em chắcchắn sẽ còn rất nhiều thiếu sót Em rất mong các thầy cô giáo và các bạn đóng góp ý kiến,
để bản đồ án của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Chí Khanh đã tận tình giúp đỡ nhóm em để
có thể hoàn thành đồ án này
Trang 4MỤC LỤC
Contents
LỜI NÓI ĐẦU 3
Mục Lục 4
CHƯƠNG 1 6
TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG LY HỢP TRÊN ÔTÔ 6
I Đặt vấn đề 6
1.1 Công dụng, phân loại, yêu cầu của ly hợp 7
1.1.1 Công dụng : 7
1.1.2 Phân loại ly hợp : 7
1.1.2 Yêu cầu : 9
1.2 Cấu tạo và nguyên lý làm việc của ly hợp: 9
1.2.1 Ly hợp ma sát 9
1.2.1.2 Ly hợp ma sát với lò xo đĩa 11
1.2.2 Ly hợp thuỷ lực : 12
1.2.3 Một số ly hợp khác : 15
1.3.1 Dẫn động cơ khí : 19
1.3.2 Dẫn động cơ khí có trợ lực khí nén : 21
1.3.3 Dẫn động thủy lực : 23
1.3.4 Dẫn động thủy lực có trợ lực chân không: 24
1.4 Lò xo ép ly hợp 26
1.4.1.Lò xo trụ: 28
1.4.2 Lò xo côn xoắn: 28
Trang 51.4.3 Lò xo đĩa: 29
1.5 ĐĨA BỊ ĐỘNG CỦA LY HỢP 30
Chương 2 32
TÍNH TOÁN THIẾT KẾ CỤM LY HỢP 32
2.1 Giới thiệu về các thông số cơ bản của cụm ly hợp : 32
2.2 Tính toán thiết kế ly hợp : 32
2.2.1 Xác định mômen ma sát của ly hợp cần truyền : 32
2.2.2 Xác định kích thước cơ bản của ly hợp 33
2.2.3 Tính công trượt và công trượt riêng 34
2.2.4 Tính toán hệ thống dẫn động ly hợp (loại cơ khí của ly hợp thường đóng) 36
2.2.5 Tính toán một số chi tiết 38
2.2.6 Trục ly hợp 39
2.2.7 Lò xo ép ly hợp: 41
2.7 Với bài toán kiểm nghiệm 42
2.7.1 Xác định lực ép lên đĩa ma sát 42
2.7.2 Xác định mômen ma sát của ly hợp 43
2.7.3 Xác định hệ số dự trữ của ly hợp 43
2.7.4 Kiểm tra công trượt và kiểm tra công trượt riêng 43
2.7.5 Kiểm tra hành trình bàn đạp và lực bàn đạp 44
2.7.6 Tính bền một số chị tiết bị động 45
Trang 6CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG LY HỢP TRÊN ÔTÔ
I Đặt vấn đề
Ly hợp là một trong những cụm chủ yếu trong hệ thống truyền lực của ô tô, nó nằmgiữa động cơ và hộp số chính Ly hợp dùng để nối trục khuỷu động cơ với hệ thốngtruyền lực, nó cho phép truyền mômen quay được em dịu và cắt truyền động đến hệthống truyền lực được nhanh chóng, dứt khoát Nó còn đóng vai trò như một hệ thống antoàn cho hệ thống truyền lực và động cơ Các công dụng chính của ly hợp là:
- Đảm bảo an toàn cho các chi tiết của hệ thống truyền lực khi gặp quả tải cũng nhưkhi phanh đột ngột
- Nối và tách động cơ ra khỏi hệ thống truyền lực một cách êm dịu và dứt khoát đểgiảm tải trọng động tác dụng lên hệ thống truyền lực và đảm bảo truyền được toàn bộ mômen quay từ động cơ đến hệ thống truyền lực
- Đảm bảo được khi khởi động tại chỗ, khi tăng tốc, khi sang số ôtô chuyển độngđược êm dịu Các va đập ở các răng, ở các khớp nối phải nhỏ để tăng tuổi thọ cho cácchi tiết
- Khi có hiện tượng cộng hưởng (rung động lớn) ly hợp có khả năng dập tắt nhằmnâng cao chất lượng truyền lực
Bởi vậy ly hợp có các yêu cầu sau:
- Truyền được mômen quay lớn nhất của động cơ mà không bị trượt ở bất cứ điềukiện tải nào Muốn vậy mô men ma sát của ly hợp phải lớn hơn mô men cực đại của đông
cơ một chút, tức là hệ số dự chữ β của ly hợp phải lớn hơn 1
- Đóng êm dịu để tăng từ từ mômen quay lên trục của hệ thống truyền lực, khônggây va đập các bánh răng, nhất là khi khởi động ô tô không bị giật
- Mở dứt khoát và nhanh chóng để giảm lực va đập các bánh răng Nghĩa là cắthoàn toàn truyền động từ động cơ đến hệ thống truyền lực trong thời gian ngắn nhất Nếu
Trang 7dẫn đến trục khuỷu của tất cả các chi tiết chuyển động của động cơ sẽ truyền một phầnđến trục sơ cấp của hộp số.
- Mô men quán tính của các chi tiết thụ động phải nhỏ để giảm các lực va đập lênbánh răng
- Làm nhiệm vụ bộ phận an toàn để tránh tác dụng lên hệ thống truyền lực nhữnglực quá lớn khi gặp quá tải
- Điều khiển dễ dàng, lực tác dụng lên bàn đạp nhỏ
- Các bề mặt ma sát thoát nhiệt tốt, đảm bảo sự làm việc bình thường
- Kết cấu đơn giản, trọng lượng nhỏ, làm việc bền, điều chỉnh và chăm sóc dễ dàng
1.1 Công dụng, phân loại, yêu cầu của ly hợp.
1.1.1 Công dụng:
Trong hệ thống truyền lực của ô tô, ly hợp là một trong những cụm chính có tácdụng là:
- Nối động cơ với hệ thống truyền lực khi ô tô di chuyển
- Ngắt động cơ ra khỏi hệ thống truyền lực trong trường hợp ô tô khởi hành hoặcsang số
- Đảm bảo là cơ cấu an toàn cho các chi tiết của hệ thống truyền lực không bị quátải như trong trường hợp phanh đột ngột mà không nhả ly hợp
Ở hệ thống truyền lực bằng cơ khí với hộp số có cấp, thì việc dùng ly hợp để táchtức thời động cơ ra khỏi hệ thống truyền lực sẽ làm giảm va đập giữa các đầu răng, hoặckhớp gài làm cho quá trình đổi sang số được dễ dàng
Còn khi phanh xe đồng thời với việc tách động cơ ra khỏi hệ thống truyền lực, sẽlàm cho động cơ hoạt động liên tục ( không chết máy) Do đó không phải khởi động động
cơ nhiều lần
1.1.2 Phân loại ly hợp:
1.1.2.1 Theo phương pháp truyền mô men chia ra:
- Ly hợp ma sát: mô men truyền động nhờ các mặt ma sát Ở ly hợp ma sát, sựtruyền mômen xoắn từ phần chủ động đến phần bị động, nhờ vào ma sát tiếp xúc giữa
Trang 8các bề mặt làm việc của phần chủ động và bị động của ly hợp Để tăng cường lực
ma sát tiếp xúc này, người ta dùng cơ cấu ép bằng lò xo, tay đòn hay hỗn hợp (lo xo –tayđòn) v.v…
- Ly hợp thủy lực: mô men truyền nhờ chất lỏng Ở ly hợp thuỷ lực, sự truyềnmômen xoắn, từ phần chủ động đến phần bị động, được thực hiện nhờ năng lượng củadòng chất lỏng do bơm đặt trên trục khuỷu của động cơ cung cấp
- Ly hợp nam châm điện : mô men truyền nhờ tác dụng của trường nam châm điện
- Loại liên hợp: mô men truyền nhờ các loại trên
Ở ô tô hiện nay loại ly hợp ma sát được dùng nhiều nhất Loại ly hợp thủy lực ngàycàng được dùng nhiều vì nó giảm được tải trọng động lên hệ thống truyền lực
1.1.2.2 Theo hình dạng của các chi tiết ma sát chia ra
- Ly hợp đĩa (một, hai, hay nhiều đĩa)
- Ly hợp hình nón
- Ly hợp hình trống
Ly hợp hình nón và hình trống ít dùng vì mô men quán tính phần bị động quá lớn
1.1.2.3 Theo phương pháp phát sinh lực ép trên đĩa chia ra
- Loại lò xo (lò xo đặt xung quanh, lò xo trung tâm, lò xo đĩa)
- Loại nửa ly tâm: Lực ép sinh ra ngoài lực của lò xo côn còn có lực phụ thêm và dolực ly tâm của trọng khối phụ sinh ra
- Loại ly tâm: ly hợp ly tâm thường được sử dụng khi điều khiển tự động Ở ly hợpnày lực ly tâm dùng để đóng và mở ly hợp còn áp lực ở trên đĩa được tạo ra bởi lò xo Ítkhi lực ly tâm dùng để tạo ra áp lực trên đĩa ép
1.1.2.4 Theo kết cấu cơ cấu ép chia ra:
- Ly hợp thường đóng: sử dụng nhiều trên ô tô
- Ly hợp thường mở: sử dụng trên máy kéo
Trang 91.1.2 Yêu cầu :
Ly hợp là một trong hệ thống chủ yếu của ô tô, khi làm việc ly hợp phải đảm bảocác yêu cầu sau :
- Đảm bảo truyền được mô men quay lớn nhất của động cơ mà không bị trượt ở bất
cứ điều kiện sử dụng nào
- Đóng êm dịu để giảm tải trọng va đập sinh ra trong các bánh răng của hộp số khi ô
tô khởi hành và sang số lúc ô tô đang chuyển động
- Mở ly hợp phải dứt khoát và nhanh chóng, tách động cơ ra khỏi hệ thống truyềnlực trong thời gian ngắn nhất (vì mở không dứt khoát sẽ làm cho việc gài số khó khănkhông được êm dịu)
- Mômen quán tính phần bị động của ly hợp phải nhỏ (gồm đĩa bị động, trục lyhợp…) để giảm lực va đập lên bánh răng khi sang số và khởi động
- Làm nhiệm vụ bộ phận an toàn để tránh quá tải cho hệ thống truyền lực
- Các bề mặt ma sát thoát nhiệt tốt, lực tác dụng lên bàn đạp nhỏ, điều khiển dễdàng
- Kết cấu đơn giản, trọng lượng nhỏ, tuổi thọ cao, điều chỉnh và chăm sóc dễ dàng
1.2 Cấu tạo và nguyên lý làm việc của ly hợp:
1.2.1 Ly hợp ma sát
1.2.1.1 Ly hợp ma sát với lò xo ép hình trụ
Cấu tạo : Ly hợp ma sát này (hình 1-1) gồm có: đĩa ly hợp làm bằng thép, bên ngoàigắn vành đệm ma sát, mayơ của đĩa bị động lồng vào rãnh then hoa trục sơ cấp Đĩa bịđộng này, luôn luôn bị ép giữa đĩa ép và bánh đà bằng lò xo trụ
Trang 10Hình 1-1: Ly hợp ma sát lò xo ép hình trụ.
Hoạt động : Khi tách (hay mở) ly hợp để gài số, người lái xe phải tác dụng một lực
lên bàn đạp, qua càng cắt ly hợp, cần ép, đĩa ép dịch chuyển về phía phải, ép lò xo, mởrộng khoảng cách giữa bánh đà và đĩa ép, làm cho đĩa bị động tách khỏi bánh đà Do đótruyền động từ động cơ hay bánh đà sang trục sơ cấp hay hộp số bị ngắt
Hình 1-2: Đĩa ma sát.
1- Lò xo giảm chấn; 2- mayơ ở rãnh then hoa;
3- Đinh tán; 4- bề mặt ma sát ; 5- đường rãnh làm mát và chạy đảo chiều
Trang 111.2.1.2 Ly hợp ma sát với lò xo đĩa
Cấu tạo:
Lò xo đĩa tròn và mỏng, được chế tạo từ thép lò xo Nó được tán bằng đinhtán hoặc bắt chặt bằng bu lông vào nắp ly hợp, có vòng trụ xoay ở mỗi phíacủa lò xo đĩa làm việc như một trụ xoay trong khi lò xo đĩa đang quay
Hầu hết bánh đà và đĩa ép có dấu cân bằng động Sau khi cân bằng động,chúng được làm dấu để khi bảo dưỡng hộp số hay ly hợp, lắp lại đúng vị trí
Trang 12- Khi nhả ly hợp lực đàn hồi của lò xo đĩa sẽ đẩy vòng bi chuyển động ngượclại và đĩa ép sẽ ép chặt đĩa ly hợp vào bánh đà Do vậy, khi bánh đà quay thì
mô men từ bánh đà sẽ truyền qua đĩa ly hợp làm trục sơ cấp cùng động cơquay
1.2.2 Ly hợp thuỷ lực:
Là ly hợp truyền mômen xoắn bằng năng lượng của chất lỏng (thường là dầu)
1.2.2.1 Ly hợp thủy lực dạng nối trục:
- Cấu tạo: Các bộ phận chính của ly hợp thủy lực là bơm 1 và tuabin 3 đặt đối
diện nhau Bên trong bơm và tuabin đều có các cánh dẫn hướng chấtlỏng(cánh xoắn chạy từ trong ra ngoài).Bơm 1 và vỏ của ly hợp tạo thành 1khối cứng moayơ của khối này lắp chặt trên đầu trục khủy của động cơ 2.Tuabin 3 lắp chặt trên đầu của trục thụ động( trục ra) 4 Toàn bộ cấu trúcđược ngâm trong dầu thủy lực ngay cả khi ly hợp không làm việc thì dầu vẫnđiền đầy trong ly hợp thủy lực Khi động cơ hoạt động dầu được bơm từ bơmdầu với áp suất khoảng 25bar, qua van một chiều trong ly hợp thủy lực,bơmquay đẩy dầu áp suất cao từ trong ra ngoài théo các cánh bơm ( theo chiềumũi tên 5) Động năng của chất lỏng chuyển từ bánh bơm sang tuabin, làmquay tuabin, thực hiện quay trục hộp số
Trang 13Hình 1-4 : Ly hợp thủy lực 1- bơm; 2 - động cơ; 3- tua bin; 4-trục ra; 5- hướng dòng chảy
Ưu điểm : Làm việc bền lâu( các chi tiết ít mòn), giảm được tải trọng động tác dụng
lên hệ thống truyền lực và dễ tự động hóa quá trình điều khiển xe, hệ thống truyền lựcêm
Nhược điểm : Chế tạo khó, giá thành cao, hiệu suất truyền lực nhỏ do hiện tượng
trượt, tốn nhiên liệu
Loại ly hợp thủy lực ít được sử dụng trên ôtô, hiện tại mới được sử dụng ở một sốloại xe ôtô du lịch, ôtô vận tải hạng nặng và một vài ôtô quân sự
1.2.2.2 Biến mô thuỷ lực:
Biến mô thủy lực cũng có những bộ phận giống như ly hợp thủy lực : bánh bơm 1nối với động cơ 2, bánh tuabin 3 nối với trục hộp số 4 (giống ly hợp thủy lực), nhưng cóthêm bánh phản lực 8 (có từ 1 đến 2 bánh – còn gọi là bánh dẫn hướng) Các bánh dẫnhướng được đặt trên vỏ nhờ các khớp một chiều 9 Các bánh đều có cánh (hình c).Tất cảcác bánh đều đặt kín trong dầu (không cho phép không khí xâm nhập vào trong kể cả lúcđộng cơ không làm việc) Dòng chất lỏng được bơm từ bơm dầu (nối với động cơ) vàovới áp suất khoảng 20 bar và được bánh bơm đẩy theo lực quán tính ly tâm chảy từ trong
Trang 14ra ngoài tới đập mạnh vào bánh tuabin, truyền động năng sang bánh tuabin và làm quaytrục hộp số Quá trình xảy ra với hai bánh sẽ giống như ly hợp thủy lực nếu không có mặtcủa bánh phản lực 8 Sự có mặt của bánh phản lực 8 giúp cho việc dẫn hướng dòng chấtlỏng chảy từ bánh tuabin trở về bánh bơm, và tạo nên hai trạng thái làm việc cơ bản củabánh phản lực 8 thông qua khớp một chiều 9 Khi hai bánh 1 và 3 cùng quay, dòng chấtlỏng chảy trong bánh 8 luồn qua mặt cong của cánh như hình c Nhưng khi bánh 3 dừnglại, dòng chất lỏng, chảy từ bánh 3 vào bánh 8, đẩy bánh 8 quay theo chiều ngược lại.Khớp một chiều 9 không cho phép bánh 8 quay, tạo nên phản lực rất lớn tác dụng ngượctrở lại bánh tuabin 3 Nhờ tác dụng này mô men trên bánh 3 được tăng lên đáng kể (cóthể lên tới 2,5 lần so với mô men truyền vào bánh bơm) Điều này lại xảy ra khi bánhtuabin đứng yên, có nghĩa là tương ứng với khi khởi hành ô tô, do vậy hiệu quả của biến
mô thủy lực là thích hợp với điều kiện làm việc nặng nề và cho phép tăng được mô mentruyền Ưu việt này trên ly hợp thủy lực hoàn toàn không có Để tránh hiện tượng tổn thấtdòng chảy lớn khi tốc độ hai bánh như nhau, biến mô thủy lực còn có thêm một ly hợp
ma sát làm việc trong dầu (gồm các chi tiết 6, 7).Ly hợp ma sát nối liền dòng truyền mômen từ bánh 1 sang 3, hạn chế tổn thất năng lượng Trong thực tế gọi đó là lyhợp khóa(LOOK UP) của biến mô thủy lực
Trang 15Hình 1-5 :Biến mô thủy lực 1-bơm ; 2- động cơ; 3- tuabin; 4- trục hộp số; 5- chiều dòng chảy; 6,7- ly hợp ma sát làm việc trong dầu; 8 bánh dẫn hướng; 9- khớp 1 chiều
Qua phần trên có thể thấy rõ: biến mô thủy lực là một bộ truyền thủy động có khảnăng thích ứng làm việc cao hơn so với ly hợp thủy lực và trên ô tô ngày nay sử dụng phổbiến cùng với hộp số cơ khí, còn ly hợp thủy lực không dùng cho các loại ô tô con, ô tôtải, ô tô buýt Tuy vậy còn có thể gặp ly hợp thủy lực trên một số máy chuyên dụng làmviệc ở tốc độ thấp, khoảng thay đổi momen truyền chỉ trong giới hạn nhỏ
1.2.3 Một số ly hợp khác:
Hiện nay ngoài ly hợp masát và thuỷ lực, loại điều khiển thông thường trên một sốôtô kiểu mới còn dùng ly hợp tự động, loại ly hợp chân không, loại điện tử và loại bột từ
1.2.3.1 Ly hợp loại ly tâm chân không:
Ly hợp loại ly tâm chân không (hình 1-7) gồm có hai bộ ly hợp ma sát một đĩa: bộ
ly hợp ma sát thường mở chỉ đóng lại khi xe chuyển động, nhờ lực ly tâm của các quảvăng dạng con lăn 3, di chuyển xa trục quay, đẩy đĩa ép 2 làm cho đĩa ma sát 1 được ép
Trang 16chặt vào mặt bánh đà 9 Bộ ly hợp ma sát thường đóng với đĩa hay giá 4 quay cùng vớiđĩa ma sát 1 đĩa ma sát 5 và đĩa ép 7 Bộ ly hợp này chỉ mở ra khi sang số và được điềukhiển nhờ độ chân không cưỡng bức, sau khi sang số xong ly hợp dược đóng lại một cách
Trang 17hợp điện từ (hình 1-8) gồm có: đĩa ép 4 được nối cố định với nắp 2 của ly hợp Khi đóng
ly hợp ta cùng cấp dòng điện qua chổi thanh 9, cho lõi từ 6 bị hút vê phía đĩa ép 4 ép đĩa
ma sát 1 vào bánh đà 10 Muốn tách ly hợp, cắt dòng điện và dưới tác dụng của lò xomàng 3,
Hình 1-7: Ly hợp loại điện từ 1- Đĩa masát ; 2- nắp; 3- lò xo ép loại màng; 4- đĩa ép; 5- đĩa từ tính 6- lõi từ; 7, 8- khớp khóa cứng; 9- chổi điện; 10- bánh đà
Lõi từ 6 cùng với đĩa ép 4 lại dịch chuyển về phía vị trí ban đầu Khớp nối cứng 7
và 8, do người lái điều khiển trực tiếp, khi dừng động cơ điều khiển hãm hay phanh xehoặc khởi động động cơ bằng cách dùng xe khác kéo hay đẩy Trong trường hợp này,trục động cơ và trục hộp số được cố định với nhau
Ly hợp bột từ không dùng lực ma sát, qua các đĩa ma sát, để truyền mômen như các
ly hợp thông thường khác mà dùng lực điện từ để truyền mômen giữa hai trục vớinhau Ly hợp lại bột từ (hình 1-9) gồm có: cuộn dây điện từ hình vành khăn 1 nằm trongđĩa sắt từ 2 cố định với trục khuỷu 6 của động cơ đĩa bị động 3 của ly hợp lắp cứng trên
Trang 18trục sơ cấp 5 của hộp số Đĩa sắt từ 2 và đĩa bị động 3 được làm bằng vật có độ dẫn từtốt Bột từ hay bột sắt từ được đổ đầy trong không gian giữa các đĩa 2 và 3
Hình 1-8: Ly hợp bột từ 1- Cuộn dây điện; 2- đĩa sắt từ; 3- đĩa bị động; 4- vỏ ly hợp;
5- Trục sơ cấp của hộp số; 6- trục khuỷu động cơ.
Khi đóng ly hợp hay muốn nối hoặc truyền chuyển động từ trục 6 sang trục 5, tacung cấp dòng điện cho cuộn dây 1, tạo ra các đường từ khép kín (đường nét đứt), đồngthời làm từ kết cứng với nhau thành mạch từ Số lượng và cường độ các mạch từ phụthuộc cường độ đi trong cuộn dây 1, mà số lượng và cường độ mạch từ lại ảnh hưởng đếnkhả năng truyền mômencủa ly hợp Do đó, khi tăng dần cường độ dòng điện trong cuộndây 1 có thể giúp đóng ly hợp một cách êm dịu
1.2 Phương pháp dẫn động ly hợp
Hệ thống dẫn động ly hợp có tác dụng truyền lực bàn đạp của người lái tác độngvào bàn đạp đến ly hợp để thực hiện việc đóng ngắt ly hợp
Trang 19Dẫn động ly hợp thường là dẫn động cơ khí hoặc thủy lực Dẫn động cơ khí có ưuđiểm chung là kết cấu đơn giản dễ chế tạo tuy nhiên chúng cũng có nhược điểm là lựcbàn đạp thường phải lớn và khó bố trí với những ôtô có động cơ đặt xa người lái Dẫnđộng cơ khí được thường được sử dụng trên một số ôtô con và ôtô tải do ôtô con có yêucầu lực bàn đạp nhỏ và ôtô tải thường có bình khí nén nên việc bố trí trợ lực thuận lợi,dẫn động thủy lực hiện nay được sử dụng trên hầu hết các loại ôtô con và ôtô chở khách
do có ưu điểm rất lớn là nhỏ gọn, tạo được lực bàn đạp lớn, dế bố trí trên ôtô và thời giantác động nhanh
Để giảm lực của người lái tác dụng lên bàn đạp, trong hệ thống dẫn động có thể có
bố trí bộ phận trợ lực bằng cơ khí, thủy lực, khí nén hoặc chân không Hiện nay, được sử
dụng phổ biến hơn cả trên các loại ôtô là dẫn động thủy lực kết hợp với bộ trợ lực Trợlực trên ôtô con có thể là trợ lực chân không, còn các ôtô tải thì thường sử dụng hệ thốngtrợ lực bằng khí nén do có sẵn bình khí nén
Mục đích của việc thiết kế hệ dẫn động ly hợp là dễ bố trí, điều khiển dễ dàng, đảmbảo độ tin cậy đồng thời đảm bảo tính kinh tế Do đó phương án dẫn động phải đáp ứngđược các yêu cầu của hệ thống dẫn động đã nêu ở trên
Trang 20Người lái tác dụng lực vào bàn đạp, lực bàn đạp thông qua đòn dẫn động 9 và càng
mở 6 làm cho bi T 4 dịch chuyển sang trái tỳ vào đầu đòn mở, đòn mở kéo đĩa ép và đĩa
bị động tách khỏi các bề mặt làm việc làm mở ly hợp
- Khi đóng ly hợp: Người lái thôi không tác dụng lực vào bàn đạp, lò xo hồi vị bànđạp kéo bàn đạp trở về vị trí ban đầu Đồng thời lò xo hồi vị bi T kéo bi T dịch chuyểnsang phải và thôi không ép vào đòn mở nữa Khi đó lò xo ép lại ép đĩa ép và đĩa bị độngtrở lại trạng thái làm việc ban đầu
c) Ưu nhược điểm :
Trang 2187
Hình 2.0.Sơ đồ dẫn động ly hợp bằng cơ khí có trơ lực khí nén.
1.Ống dẫn khí 2.Xy lanh công tác 3.Càng mở.
Trang 22ly hợp được ngắt Đồng thời sự chuyển động tương đối giữa pittông và xy lanh của xylanh phân phối 10 làm mở van khí nén Khí nén từ bình khí đi qua xy lanh phân phối, quaồng dẫn 1 vào xy lanh công tác 2 đẩy pittông của xy lanh này dịch chuyển sang phải đẩyvào càng mở 3 làm giảm bớt một phần lực cho người lái.
- Khi đóng ly hợp:
Khi người lái thôi tác dụng lực vào bàn đạp, lò xo hồi vị bàn đạp kéo bàn đạp trở về
vị trí ban đầu Đồng thời kéo xy lanh phân phối 10 sang phải làm kéo càng mở 3 thôikhông ép vào bi T nữa Khi đó bi T thôi không ép vào đầu đòn mở nữa và các lò xo ép lại
ép ly hợp đĩa ép và đĩa bị động trở về trạng thái làm việc ban đầu Khi xy lanh phân phối
10 được kéo về vị trí ban đầu thì đồng thời làm van khí nén đóng lại Lúc này khoangtrong xy lanh 10 thông với khí trời và do đó không còn áp suất khí nén tác dụng lên xylanh công tác nữa và xy lanh công tác cũng thôi không tác dụng lực lên càng mở 3 nữa
- Khi giữ bàn đạp ở một vị trí nào đó :Khi người lái giữ nguyên bàn đạp ở một vị trí nào đó thì xy lanh phân phối 10 cũngdừng tại một vị trí nhất định Lúc này van khí nén vẫn mở và khí nén vẫn vào xy lanhcông tác tuy nhiên lượng khí nén vào trong xy lanh công tác là không đổi cho nên ly hợpđược mở ở một vị trí nhất định
c) Ưu nhược điểm:
- Ưu điểm:
Giảm được lực của người lái tác dụng lên bàn đạp
Vẫn đảm bảo an toàn vì nếu trợ lực hỏng thì ly hợp vẫn làm việc được