MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 PHẦN NỘI DUNG 2 I. Lý luận chung về vấn đề thời cơ 2 1. Khái niệm thời cơ 2 2. Vai trò của thời cơ 3 II. Vấn đề thời cơ trong Cách mạng Tháng 8 năm 1945 3 1. Hoàn cảnh lịch sử 3 2. Thời cơ trong Cách mạng Tháng 8 4 2.1. Nghệ thuật tạo thời cơ trong Cách mạng Tháng 8 4 2.2. Nghệ thuật chớp thời cơ trong Cách mạng Tháng tám 5 3. Kết quả và bài học về thời cơ sau Cách mạng Tháng 8 7 III. Vận dụng bài học thời cơ trong Cách mạng tháng 8 vào quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay 8 1. Bối cảnh đất nước 8 2. Thời cơ cho sự phát triển của Việt Nam hiện nay 9 2.1. Vận dụng bài học thời cơ trong Cách mạng Tháng 8 để tạo và chớp thời cơ trong bối cảnh hiện nay 9 2.2. Kết quả của quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay 12 3. Những thách thức của Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế từ 1986 đến nay 17 IV. Liên hệ vai trò của thanh niên trong quá trình vận dụng bài học thời cơ đối với quá trình đổi mới và hội nhập hiện nay 20 1. Bối cảnh trong nước và quốc tế tác động đến thanh niên Việt Nam 20 2. Thời cơ đối với thanh niên Việt Nam 20 3. Thách thức đối với thanh niên Việt Nam 21 4. Vai trò của thanh niên trong quá trình vận dụng bài học thời cơ đối với quá trình đổi mới và hội nhập hiện nay 22 KẾT LUẬN 25 TÀI LIỆU THAM KHẢO 26 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam chúng ta đang sống trong hòa bình, ấm no, hạnh phúc, không còn nỗi lo bom mìn, cái chết ngoài chiến trận hay sống trong cảnh “nước mất, nhà tan”. Để có được thành quả như ngày hôm nay, chúng ta phải kể đến tinh thần đoàn kết, kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam và hơn hết đó là sự lãnh đạo tài ba, mưu lược và nhạy bén của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự ra đời của đảng cộng sản Việt Nam ngày 321930 đánh dấu một bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng và việc chớp đúng thời cơ đã đem lại thắng lợi có ý nghĩa hết sức to lớn, nó đã phá tan hai tầng xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp kéo dài hơn 80 năm và của phát xít Nhật đồng thời nó còn lật đổ chế độ Phong kiến tồn tại ngót ngàn năm trên đất nước ta, lập ra nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mở ra một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Cách mạng tháng Tám được xem là một sự kiện lịch sử vĩ đại của dân tộc Việt Nam, cũng như để lại nhiều bài học quý giá cho sự phát triển về kinh tế, văn hóa, chính trị. của đất nước ta sau này, để tìm hiểu kỹ hơn về việc chớp đúng thời cơ trong Cách mạng Tháng 8 năm 1945 và sự ảnh hưởng của thời cơ đến nước ta hiện nay, nhóm chúng em đã nghiên cứu đề tài: “ Vấn đề thời cơ trong Cách mạng Tháng 8. Liên hệ với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay”. 2. Mục đích nghiên cứu Nhóm chúng em nghiên cứu đề tài này nhằm làm rõ sự sáng suốt của Đảng đặc biệt là trong việc nắm bắt thời cơ đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam, từ đó liên hệ bài học kinh nghiệm tới quá trình đổi mới và bối cảnh hội nhập của Việt Nam hiện nay. 3. Đối tượng nghiên cứu Nghệ thuật tạo và chớp thời cơ trong Cách mạng Tháng 8 năm 1945 Thực tiễn quá trình đổi mới và bối cảnh hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay 4. Phạm vi nghiên cứu Thời gian: từ năm 1945 đến nay Nội dung: Thời cơ trong Cách mạng Tháng 8 và bài học thời cơ trong bối cảnh hiện nay PHẦN NỘI DUNG I. Lý luận chung về vấn đề thời cơ 1. Khái niệm thời cơ Thời cơ là tình thế xuất hiện trong thời điểm có lợi nhất cho việc phát huy sức mạnh để đảm bảo một việc nào đó có thể tiến hành và giành thắng lợi. Thời cơ xuất hiện có thể do nhiều nguyên nhân: • Điều kiện khách quan • Sự sai lầm của đối phương • Sự năng động chủ quan Thời cơ là một thành tố khách quan, hoàn toàn không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của một cá nhân hay một tổ chức chính trị nào. Nó xuất hiện một cách bất ngờ và tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định. Nói như vậy không có nghĩa thời cơ là một cái gì đó không thể biết trước, không thể đoán định được. Thời cơ xuất hiện và qua đi rất nhanh, vì thế cần kịp thời nắm bắt và sử dụng đúng đắn. Theo quan điểm của chủ nghĩa MácLê nin, hợp thành tình thế cách mạng có ba nhân tố chủ yếu: “Thứ nhất: giai cấp và tầng lớp thống trị bên trên đã lâm vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng, không thể kiểm soát nổi tình hình, trở nên bất lực, không còn có chế độ thống trị như cũ được nữa. Thứ hai: các giai cấp và tầng lớp bị trị bên dưới cũng rơi vào tình trạng cơ cực, bị bần cùng không thể chịu đựng được nữa, không thể sống nổi nữa. Mâu thuẫn đã gay gắt đến cực độ và quần chúng đã sẵn sàng đi tới một hành động giải phóng. Thứ ba: tầng lớp, bộ phận trung gian, những người trí thức yêu nước, có tư tưởng dân chủ, tiến bộ, những người có tinh thần dân tộc, kể cả một bộ phận trong giai cấp hữu sản nhưng gần với quần chúng, nhận thức được xu thế lịch sử, ngã về phía cách mạng. Tương quan lực lượng có lợi cho phía cách mạng. Hội đủ những điều kiện đó, về cơ bản, tình thế cách mạng đã chín muồi”. Như vậy, một cuộc khởi nghĩa diễn ra thành công không phải dựa vào một âm mưu, một đảng phái mà phải dựa vào cao trào cách mạng của nhân dân, dựa vào một chuyển hướng lịch sử quyết định. 2. Vai trò của thời cơ Thời cơ là một khái niệm rất quan trọng gắn liền với sự thành bại của mỗi cá nhân, của các đảng phái chính trị và của mỗi cộng đồng với những quy mô khác nhau, khi ta biết tận dụng được hết những thuận lợi để đem đến thành công. Trong chiến tranh, vấn đề thời cơ là vấn đề vô cùng quan trọng. Bởi vì, bên nào nắm được thời cơ thì chắc chắn bên đó sẽ giành được thắng lợi và Cách mạng Tháng 81945 chính là một bài học về việc chớp thời cơ Cách mạng. II. Vấn đề thời cơ trong Cách mạng Tháng 8 năm 1945 1. Hoàn cảnh lịch sử 1.1. Quốc tế Đầu năm 1945, chiến tranh thế giới thứ Hai đã bước vào giai đoạn cuối. Hồng quân Liên Xô liên tiếp giành thắng lợi quyết định, các nước phát xít ngày càng thất bại trên chiến trường châu Âu, Liên Xô và các nước đồng minh chuẩn bị tiến thẳng vào sào huyệt cuối cùng – Béclin. Ngày 951945, phát xít Đức đầu hàng quân đồng minh vô điều kiện, chiến tranh kết thúc ở châu Âu. Ngày 881945, Hồng quân Liên Xô tiến công như vũ bão vào quân đội Nhật. Ngày 1481945, phát xít Nhật đầu hàng quân đồng minh vô điều kiện, Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc. Theo thỏa thuận của các nước Đồng minh, sau khi phát xít Nhật đầu hàng, quân đội Anh và Tưởng sẽ vào Đông Dương để giải giáp quân đội Nhật. Trong khi đó, thực dân Pháp lăm le dựa vào Đồng minh hòng khôi phục địa vị thống trị của mình; đế quốc Mỹ đứng sau các thế lực này cũng sẵn sàng can thiệp vào Đông Dương; những phần tử phản động, ngoan cố trong chính quyền tay sai Nhật đang âm mưu thay đổi chủ, chống lại cách mạng. Trước tình hình thế giới đó, nhận thấy có lợi cho ta, Đảng nhanh chóng kịp thời lãnh đạo nhân dân đứng lên đấu tranh, tiến hành cuộc tổng khởi nghĩa. 1.2. Trong nước Quân Nhật và bè lũ tay sai của chúng ở Đông Dương hoang mang đến cực độ, lính Nhật mất hết tinh thần chiến đấu. Trong khi đó, lực lượng cách mạng của ta ngày càng lớn mạnh, nhân dân ta đã sẵn sàng đứng lên đấu tranh giành lại độc lập, Đảng ta có sự chuẩn bị chu đáo trong suốt 15 năm. Trải qua các cuộc diễn tập, đến năm 1945, phong trào cách mạng dâng cao. Ngày 931945, phát xít Nhật làm cuộc đảo chính hất cẳng Pháp. Ngay trong đêm đó, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương mở rộng quyết định phát động một cao trào cách mạng làm tiền đề cho tổng khởi nghĩa, thay đổi các hình thức tuyên truyền, cổ động, tổ chức và đấu tranh cho thích hợp. Tháng 31945, Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Tháng 41945, Trung ương triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, quyết định nhiều vấn đề quan trọng, thống nhất các lực lượng vũ trang thành Việt Nam giải phóng quân. Ngày 1641945, Tổng bộ Việt Minh ra Chỉ thị tổ chức các Ủy ban Dân tộc giải phóng các cấp và chuẩn bị thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời cách mạng Việt Nam. Từ tháng 41945 trở đi, cao trào kháng Nhật cứu nước diễn ra mạnh mẽ, phong phú về nội dung và hình thức. Đầu tháng 51945, Bác Hồ từ Cao Bằng về Tuyên Quang, chọn Tân Trào làm căn cứ chỉ đạo cách mạng cả nước và chuẩn bị Đại hội quốc dân. Ngày 461945, Khu giải phóng Việt Bắc được thành lập, đặt dưới sự lãnh đạo của Ủy ban chỉ huy lâm thời, trở thành căn cứ địa của cả nước. Tháng 81945, Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào (Tuyên Quang) khẳng định: “Cơ hội rất tốt cho ta giành độc lập đã tới” và quyết định phát động toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và tay sai trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương; đề ra ba nguyên tắc bảo đảm tổng khởi nghĩa thắng lợi, đó là: Tập trung, thống nhất, kịp thời. Vào 23 giờ ngày 1381945, Ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1 hiệu triệu toàn dân tổng khởi nghĩa. Ngày 1681945, Đại hội Quốc dân họp tại Tân trào thông qua “10 chính sách lớn của Việt Minh”; thông qua “Lệnh tổng khởi nghĩa”; quy định quốc kỳ, quốc ca; thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng Trung ương, tức Chính phủ Lâm thời do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi nhân dân cả nước tổng khởi nghĩa, trong đó chỉ rõ: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. 2. Thời cơ trong Cách mạng Tháng 8 2.1. Nghệ thuật tạo thời cơ trong Cách mạng Tháng 8 Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của nhân dân ta từ khi có Đảng, mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Lịch sử đã chứng minh, thành công đó có được là nhờ nghệ thuật tạo thời cơ của Đảng thật sự khéo léo, sáng tạo, được tiếp thu chủ nghĩa Mác Lênin, được tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng, giúp Đảng ta nắm vững hoàn cảnh cụ thể của mỗi giai đoạn lịch sử, đề ra đường lối cách mạng đúng đắn; biết tạo thời cơ, xây dựng và tổ chức lực lượng; phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để dẫn dắt quần chúng đứng lên giành và giữ chính quyền. Sau khi thành lập, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm đề ra đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc một cách đúng đắn, sáng tạo, tạo dựng được cơ sở, nền tảng cách mạng vững chắc để chờ đợi thời cơ thuận lợi phát động khởi nghĩa. Có thể thấy, yếu tố chủ quan cho thắng lợi là sự chuẩn bị chín muồi của lực lượng cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng đã trải qua các đợt tập duyệt, qua đó đã tạo được một lực lượng vũ trang vững mạnh, sẵn sàng bùng nổ khi có lệnh tổng khởi nghĩa.Tuy nhiên, thắng lợi nhanh chóng, ít tổn thất lực lượng là nhờ yếu tố khách quan là thời cơ ngàn năm có một đã được tận dụng một cách triệt để. Có người đặt câu hỏi: Nếu lệnh Tổng khởi nghĩa phát ra trước mười ngày hay sau mười ngày so với ngày phátxít Nhật đầu hàng thì tình hình sẽ thế nào? Không ai có thể trả lời lịch sử bằng chữ “nếu”. Nhưng điều chắc chắn là nếu lệnh Tổng khởi nghĩa phát ra không đúng lúc thì cách mạng chẳng những không thành công suôn sẻ mà có khi còn phải trả giá đắt. Có thể khẳng định, thời cơ của Cách mạng Tháng 8 chỉ tồn tại trong một thời gian rắt ngắn từ sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh đến trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương. Trong tình thế ngặt nghèo, Đảng ta đã hết sức khôn khéo, linh hoạt đẩy lùi nguy cơ để tạo ra thời cơ thuận lợi. Theo phân tích của nhiều chuyên gia, nếu khởi nghĩa sớm hơn, khi Nhật chưa đầu hàng, ta sẽ gặp sự kháng cự quyết liệt, có thể tổn thất lớn và khó giành thắng lợi, chính quyền cách mạng chưa thể thành lập trong toàn quốc. Còn nếu để muộn hơn, khi Đồng minh đã vào Đông Dương, tình hình trở nên “vô cùng nguy hiểm”. 2.2. Nghệ thuật chớp thời cơ trong Cách mạng Tháng tám Mặc dù Cách mạng Tháng 8 diễn ra với những điều kiện thuận lợi, có thể nói là thời cơ, nhưng điều đó chỉ góp phần cho sự thành công của cuộc cách mạng, không phải là yếu tố quyết định. Yếu tố quyết định ở đây chính là sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ chí Minh, đã biết tạo ra thời cơ và đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật nắm và giành thời cơ; kết hợp nhuần nhuyễn giữa nhân tố chủ quan và điều kiện khách quan thuận lợi để đưa cách mạng đến thắng lợi cuối cùng. Tại sao chúng ta có nghệ thuật chớp thời cơ trong Cách mạng tháng 8? Đó chính bởi Đảng và nhân dân ta đã nhìn một cách có chiến lược, tinh tế, có chiều sâu, đa hướng và sự kiện Cách mạng tháng 8. Thứ nhất, đó là sự kiện bắt đầu từ ngày 1281946, sau khi nhận được tin phát xít Nhật Bản đã thua to trên hầu khắp các chiến trường châu Á Thái Bình Dương trong Thế chiến II và phải gửi công hàm cho các nước Đồng minh đề nghị ngừng bắn. Bằng nhãn quan chính trị nhạy bén, tầm nhìn chiến lược, nắm bắt thời cuộc kịp thời, đồng chí Hồ Chí Minh và Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp ngay tại Tân Trào để quyết định Tổng khởi nghĩa vũ trang trong cả nước. Ngay sau cuộc họp, “Mệnh lệnh khởi nghĩa” đã được phát ra. Đồng chí Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã nhận định và nắm bắt được tình hình có sự chuyển biến nhanh chóng: phát xít Nhật đã gục theo phát xít Đức; quân đội Nhật đã và đang tan rã, bị tước vũ khí trên khắp các chiến trường; quân Đồng minh sắp kéo vào Đông Dương. Nếu không khởi nghĩa giành chính quyền từ tay Nhật, mà để đến khi quân Đồng minh kéo vào nhận bàn giao chính quyền từ tay Nhật, thì ta không thể tiến hành khởi nghĩa được nữa, vì lúc này Việt Minh đang cùng phe với quân Đồng minh. Thứ hai, sự kiện Chính phủ cách mạng lâm thời yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị và tiếp nhận sự thoái vị của nhà vua (ngày 3081945 tại Huế). Việc vua Bảo Đại thoái vị đánh dấu sự sụp đổ của chính quyền phong kiến, đồng thời triệt tiêu một đầu mối quan trọng mà các thế lực đế quốc, phản động muốn duy trì, sử dụng để mưu toan chống phá chính quyền cách mạng, đặt lại ách thống trị trên đất nước ta. Thứ ba, sự kiện ngày 291945 tại vườn hoa Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập” tuyên bố với toàn thể nhân dân Việt Nam và với thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, độc lập và tự do đã ra đời; Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng đã chính thức ra mắt trước quốc dân đồng bào. Nếu chậm trễ không tuyên bố độc lập chủ quyền trước khi quân Đồng minh tiến vào thì dù có cướp được chính quyền cũng phải bàn giao lại cho quân Đồng minh tiếp quản. Vì vậy, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục chớp thời cơ, khẩn trương chỉ đạo sớm tiến hành tổ chức Lễ Độc lập liền sau khi cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng 8 thành công trên cả nước chính là nhằm ngay lập tức khẳng định chủ quyền của nhân dân Việt Nam trước các thế lực đế quốc, phản động đội lốt dưới danh nghĩa quân Đồng minh. Tóm lại, Cách mạng Tháng 8 và Lễ Độc lập chỉ có thể thực hiện thành công trong khoảng thời gian 22 ngày ấy. Nếu Tổng khởi nghĩa diễn ra trước ngày 1281945 sẽ không được vì khi ấy phát xít Nhật vẫn còn khá mạnh, chưa chịu ngừng bắn và đầu hàng Đồng minh. Còn nếu Lễ Độc lập tuyên bố và khẳng định chủ quyền của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa diễn ra muộn hơn sau ngày 291945 cũng không được vì khi ấy quân Anh và quân Tưởng đã vào nước ta tiếp quản chính quyền từ tay Nhật. Những thời cơ và nguy cơ nêu trên, tự nó chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng. Chúng trở thành thuận lợi và khó khăn thực tế hay không, điều đó phụ thuộc vào nhân tố chủ quan, trong đó có sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Đảng và Nhà nước ta. Trên cơ sở nhận thức sâu sắc, đầy đủ về thời cơ và nguy cơ, Đảng và Nhà nước đã chủ động xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn, kịp thời và tổ chức thực hiện hiệu quả; tranh thủ tốt các thời cơ, thuận lợi và ứng phó phù hợp trước các nguy cơ, thách thức, biến nguy cơ thành thời cơ, đẩy lùi nhiều khó khăn, thách thức. Cách mạng Tháng 8 thành công và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã làm rung chuyển cả châu Á, châu Phi và nhiều khu vực khác trên thế giới; tạo ra làn sóng cổ vũ mạnh mẽ cho phong trào đấu tranh giành độc lập tự do của các nước thuộc địa. 3. Kết quả và bài học về thời cơ sau Cách mạng Tháng 8 Kết quả của Cách mạng Tháng 8 Chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 81945 (từ 13 đến 2881945), dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, 25 triệu đồng bào ta với tinh thần đem sức ta mà giải phóng cho ta đã nhất tề vùng lên giành chính quyền, tổng khởi nghĩa thắng lợi hoàn toàn. Cách mạng Tháng 8 thành công, ngày 291945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố trước quốc dân và thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
***
TIỂU LUẬN NHÓM LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
VẤN ĐỀ THỜI CƠ TRONG CÁCH MẠNG THÁNG 8.
LIÊN HỆ VỚI QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI VÀ
HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 2
I Lý luận chung về vấn đề thời cơ 2
1 Khái niệm thời cơ 2
2 Vai trò của thời cơ 3
II Vấn đề thời cơ trong Cách mạng Tháng 8 năm 1945 3
1 Hoàn cảnh lịch sử 3
2 Thời cơ trong Cách mạng Tháng 8 4
2.1 Nghệ thuật tạo thời cơ trong Cách mạng Tháng 8 4
2.2 Nghệ thuật chớp thời cơ trong Cách mạng Tháng tám 5
3 Kết quả và bài học về thời cơ sau Cách mạng Tháng 8 7
III Vận dụng bài học thời cơ trong Cách mạng tháng 8 vào quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay 8
1 Bối cảnh đất nước 8
2 Thời cơ cho sự phát triển của Việt Nam hiện nay 9
2.1 Vận dụng bài học thời cơ trong Cách mạng Tháng 8 để tạo và chớp thời cơ trong bối cảnh hiện nay 9
2.2 Kết quả của quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay 12 3 Những thách thức của Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế từ 1986 đến nay 17
IV Liên hệ vai trò của thanh niên trong quá trình vận dụng bài học thời cơ đối với quá trình đổi mới và hội nhập hiện nay 20
1 Bối cảnh trong nước và quốc tế tác động đến thanh niên Việt Nam 20
2 Thời cơ đối với thanh niên Việt Nam 20
3 Thách thức đối với thanh niên Việt Nam 21
4 Vai trò của thanh niên trong quá trình vận dụng bài học thời cơ đối với quá trình đổi mới và hội nhập hiện nay 22
KẾT LUẬN 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
Trang 4và nhạy bén của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Sự ra đời của đảng cộng sản Việt Nam ngày 3/2/1930 đánh dấu một bước ngoặtlịch sử của cách mạng Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng và việc chớp đúng thời
cơ đã đem lại thắng lợi có ý nghĩa hết sức to lớn, nó đã phá tan hai tầng xiềng xích nô
lệ của thực dân Pháp kéo dài hơn 80 năm và của phát xít Nhật đồng thời nó còn lật đổchế độ Phong kiến tồn tại ngót ngàn năm trên đất nước ta, lập ra nhà nước Việt Namdân chủ cộng hòa mở ra một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền vớichủ nghĩa xã hội Cách mạng tháng Tám được xem là một sự kiện lịch sử vĩ đại củadân tộc Việt Nam, cũng như để lại nhiều bài học quý giá cho sự phát triển về kinh tế,văn hóa, chính trị của đất nước ta sau này, để tìm hiểu kỹ hơn về việc chớp đúngthời cơ trong Cách
mạng Tháng 8 năm 1945 và sự ảnh hưởng của thời cơ đến nước ta hiện nay, nhómchúng em đã nghiên cứu đề tài: “ Vấn đề thời cơ trong Cách mạng Tháng 8 Liên hệvới quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay”
2 Mục đích nghiên cứu
Nhóm chúng em nghiên cứu đề tài này nhằm làm rõ sự sáng suốt của Đảng đặc biệt
là trong việc nắm bắt thời cơ đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam, từ đó liên hệ bàihọc kinh nghiệm tới quá trình đổi mới và bối cảnh hội nhập của Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng nghiên cứu
- Nghệ thuật tạo và chớp thời cơ trong Cách mạng Tháng 8 năm 1945
- Thực tiễn quá trình đổi mới và bối cảnh hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay
4 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: từ năm 1945 đến nay
- Nội dung: Thời cơ trong Cách mạng Tháng 8 và bài học thời cơ trong bối
cảnh hiện nay
Trang 5PHẦN NỘI DUNG
I Lý luận chung về vấn đề thời cơ
1 Khái niệm thời cơ
Thời cơ là tình thế xuất hiện trong thời điểm có lợi nhất cho việc phát huy sứcmạnh để đảm bảo một việc nào đó có thể tiến hành và giành thắng lợi Thời cơ xuấthiện có thể do nhiều nguyên nhân:
Điều kiện khách quan
Sự sai lầm của đối phương
Sự năng động chủ quan
Thời cơ là một thành tố khách quan, hoàn toàn không phụ thuộc vào ý muốn chủquan của một cá nhân hay một tổ chức chính trị nào Nó xuất hiện một cách bất ngờ
và tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định Nói như vậy không có nghĩa thời cơ
là một cái gì đó không thể biết trước, không thể đoán định được Thời cơ xuất hiện vàqua đi rất nhanh, vì thế cần kịp thời nắm bắt và sử dụng đúng đắn
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê nin, hợp thành tình thế cách mạng có banhân tố chủ yếu:
“Thứ nhất: giai cấp và tầng lớp thống trị bên trên đã lâm vào một cuộc khủnghoảng trầm trọng, không thể kiểm soát nổi tình hình, trở nên bất lực, không còn có chế
độ thống trị như cũ được nữa
Thứ hai: các giai cấp và tầng lớp bị trị bên dưới cũng rơi vào tình trạng cơ cực, bịbần cùng không thể chịu đựng được nữa, không thể sống nổi nữa Mâu thuẫn đã gaygắt đến cực độ và quần chúng đã sẵn sàng đi tới một hành động giải phóng
Thứ ba: tầng lớp, bộ phận trung gian, những người trí thức yêu nước, có tư tưởngdân chủ, tiến bộ, những người có tinh thần dân tộc, kể cả một bộ phận trong giai cấphữu sản nhưng gần với quần chúng, nhận thức được xu thế lịch sử, ngã về phía cáchmạng Tương quan lực lượng có lợi cho phía cách mạng
Hội đủ những điều kiện đó, về cơ bản, tình thế cách mạng đã chín muồi”
Như vậy, một cuộc khởi nghĩa diễn ra thành công không phải dựa vào một âmmưu, một đảng phái mà phải dựa vào cao trào cách mạng của nhân dân, dựa vào mộtchuyển hướng lịch sử quyết định
Trang 62 Vai trò của thời cơ
Thời cơ là một khái niệm rất quan trọng gắn liền với sự thành bại của mỗi cá nhân,của các đảng phái chính trị và của mỗi cộng đồng với những quy mô khác nhau, khi tabiết tận dụng được hết những thuận lợi để đem đến thành công Trong chiến tranh,vấn đề thời cơ là vấn đề vô cùng quan trọng Bởi vì, bên nào nắm được thời cơ thìchắc chắn bên đó sẽ giành được thắng lợi và Cách mạng Tháng 8/1945 chính là mộtbài học về việc chớp thời cơ Cách mạng
II Vấn đề thời cơ trong Cách mạng Tháng 8 năm 1945
1 Hoàn cảnh lịch sử
1.1 Quốc tế
Đầu năm 1945, chiến tranh thế giới thứ Hai đã bước vào giai đoạn cuối Hồng quânLiên Xô liên tiếp giành thắng lợi quyết định, các nước phát xít ngày càng thất bại trênchiến trường châu Âu, Liên Xô và các nước đồng minh chuẩn bị tiến thẳng vào sàohuyệt cuối cùng – Béc-lin
Ngày 9/5/1945, phát xít Đức đầu hàng quân đồng minh vô điều kiện, chiến tranhkết thúc ở châu Âu Ngày 8/8/1945, Hồng quân Liên Xô tiến công như vũ bão vàoquân đội Nhật Ngày 14/8/1945, phát xít Nhật đầu hàng quân đồng minh vô điều kiện,Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc
Theo thỏa thuận của các nước Đồng minh, sau khi phát xít Nhật đầu hàng, quân độiAnh và Tưởng sẽ vào Đông Dương để giải giáp quân đội Nhật Trong khi đó, thực dânPháp lăm le dựa vào Đồng minh hòng khôi phục địa vị thống trị của mình; đế quốc
Mỹ đứng sau các thế lực này cũng sẵn sàng can thiệp vào Đông Dương; những phần
tử phản động, ngoan cố trong chính quyền tay sai Nhật đang âm mưu thay đổi chủ,chống lại cách mạng
Trước tình hình thế giới đó, nhận thấy có lợi cho ta, Đảng nhanh chóng kịp thờilãnh đạo nhân dân đứng lên đấu tranh, tiến hành cuộc tổng khởi nghĩa
1.2 Trong nước
Quân Nhật và bè lũ tay sai của chúng ở Đông Dương hoang mang đến cực độ, línhNhật mất hết tinh thần chiến đấu Trong khi đó, lực lượng cách mạng của ta ngày cànglớn mạnh, nhân dân ta đã sẵn sàng đứng lên đấu tranh giành lại độc lập, Đảng ta có sựchuẩn bị chu đáo trong suốt 15 năm
Trang 7Trải qua các cuộc diễn tập, đến năm 1945, phong trào cách mạng dâng cao Ngày9/3/1945, phát xít Nhật làm cuộc đảo chính hất cẳng Pháp Ngay trong đêm đó, Hộinghị Ban Thường vụ Trung ương mở rộng quyết định phát động một cao trào cáchmạng làm tiền đề cho tổng khởi nghĩa, thay đổi các hình thức tuyên truyền, cổ động,
tổ chức và đấu tranh cho thích hợp Tháng 3/1945, Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Nhật
- Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” Tháng 4/1945, Trung ương triệu tập Hộinghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, quyết định nhiều vấn đề quan trọng, thống nhất cáclực lượng vũ trang thành Việt Nam giải phóng quân Ngày 16/4/1945, Tổng bộ ViệtMinh ra Chỉ thị tổ chức các Ủy ban Dân tộc giải phóng các cấp và chuẩn bị thành lập
Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời cách mạng Việt Nam
Từ tháng 4/1945 trở đi, cao trào kháng Nhật cứu nước diễn ra mạnh mẽ, phong phú
về nội dung và hình thức Đầu tháng 5/1945, Bác Hồ từ Cao Bằng về Tuyên Quang,chọn Tân Trào làm căn cứ chỉ đạo cách mạng cả nước và chuẩn bị Đại hội quốc dân.Ngày 4-6-1945, Khu giải phóng Việt Bắc được thành lập, đặt dưới sự lãnh đạo của Ủyban chỉ huy lâm thời, trở thành căn cứ địa của cả nước Tháng 8/1945, Hội nghị đạibiểu toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào (Tuyên Quang) khẳng định: “Cơ hội rất tốtcho ta giành độc lập đã tới” và quyết định phát động toàn dân khởi nghĩa giành chínhquyền từ tay phát xít Nhật và tay sai trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương; đề
ra ba nguyên tắc bảo đảm tổng khởi nghĩa thắng lợi, đó là: Tập trung, thống nhất, kịpthời Vào 23 giờ ngày 13/8/1945, Ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1 hiệu triệu toàndân tổng khởi nghĩa Ngày 16/8/1945, Đại hội Quốc dân họp tại Tân trào thông qua
“10 chính sách lớn của Việt Minh”; thông qua “Lệnh tổng khởi nghĩa”; quy định quốc
kỳ, quốc ca; thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng Trung ương, tức Chính phủ Lâmthời do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọinhân dân cả nước tổng khởi nghĩa, trong đó chỉ rõ: “Giờ quyết định cho vận mệnh dântộc ta đã đến Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”
2 Thời cơ trong Cách mạng Tháng 8
2.1 Nghệ thuật tạo thời cơ trong Cách mạng Tháng 8
Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của nhân dân
ta từ khi có Đảng, mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước
Trang 8và giữ nước của dân tộc ta Lịch sử đã chứng minh, thành công đó có được là nhờnghệ
Trang 9thuật tạo thời cơ của Đảng thật sự khéo léo, sáng tạo, được tiếp thu chủ nghĩa Lênin, được tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng, giúp Đảng ta nắm vững hoàn cảnh cụ thểcủa mỗi giai đoạn lịch sử, đề ra đường lối cách mạng đúng đắn; biết tạo thời cơ, xâydựng và tổ chức lực lượng; phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để dẫndắt quần chúng đứng lên giành và giữ chính quyền.
Mác-Sau khi thành lập, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm đề ra đườnglối đấu tranh giải phóng dân tộc một cách đúng đắn, sáng tạo, tạo dựng được cơ sở,nền tảng cách mạng vững chắc để chờ đợi thời cơ thuận lợi phát động khởi nghĩa Cóthể thấy, yếu tố chủ quan cho thắng lợi là sự chuẩn bị chín muồi của lực lượng cáchmạng dưới sự lãnh đạo của Đảng đã trải qua các đợt tập duyệt, qua đó đã tạo đượcmột lực lượng vũ trang vững mạnh, sẵn sàng bùng nổ khi có lệnh tổng khởi nghĩa.Tuynhiên, thắng lợi nhanh chóng, ít tổn thất lực lượng là nhờ yếu tố khách quan là thời cơngàn năm có một đã được tận dụng một cách triệt để
Có người đặt câu hỏi: Nếu lệnh Tổng khởi nghĩa phát ra trước mười ngày hay saumười ngày so với ngày phát-xít Nhật đầu hàng thì tình hình sẽ thế nào? Không ai cóthể trả lời lịch sử bằng chữ “nếu” Nhưng điều chắc chắn là nếu lệnh Tổng khởi nghĩaphát ra không đúng lúc thì cách mạng chẳng những không thành công suôn sẻ mà cókhi còn phải trả giá đắt
Có thể khẳng định, thời cơ của Cách mạng Tháng 8 chỉ tồn tại trong một thời gianrắt ngắn - từ sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh đến trước khi quân Đồng minh vàoĐông Dương Trong tình thế ngặt nghèo, Đảng ta đã hết sức khôn khéo, linh hoạt đẩylùi nguy cơ để tạo ra thời cơ thuận lợi Theo phân tích của nhiều chuyên gia, nếu khởinghĩa sớm hơn, khi Nhật chưa đầu hàng, ta sẽ gặp sự kháng cự quyết liệt, có thể tổnthất lớn và khó giành thắng lợi, chính quyền cách mạng chưa thể thành lập trong toànquốc Còn nếu để muộn hơn, khi Đồng minh đã vào Đông Dương, tình hình trở nên
“vô cùng nguy hiểm”
2.2 Nghệ thuật chớp thời cơ trong Cách mạng Tháng tám
Mặc dù Cách mạng Tháng 8 diễn ra với những điều kiện thuận lợi, có thể nói làthời cơ, nhưng điều đó chỉ góp phần cho sự thành công của cuộc cách mạng, khôngphải là yếu tố quyết định Yếu tố quyết định ở đây chính là sự lãnh đạo sáng suốt và
Trang 10tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ chí Minh, đã biết tạo
ra thời cơ
Trang 11và đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật nắm và giành thời cơ; kết hợp nhuần nhuyễn giữanhân tố chủ quan và điều kiện khách quan thuận lợi để đưa cách mạng đến thắng lợicuối cùng Tại sao chúng ta có nghệ thuật chớp thời cơ trong Cách mạng tháng 8? Đóchính bởi Đảng và nhân dân ta đã nhìn một cách có chiến lược, tinh tế, có chiều sâu,
đa hướng và sự kiện Cách mạng tháng 8
Thứ nhất, đó là sự kiện bắt đầu từ ngày 12/8/1946, sau khi nhận được tin phát xítNhật Bản đã thua to trên hầu khắp các chiến trường châu Á - Thái Bình Dương trongThế chiến II và phải gửi công hàm cho các nước Đồng minh đề nghị ngừng bắn Bằngnhãn quan chính trị nhạy bén, tầm nhìn chiến lược, nắm bắt thời cuộc kịp thời, đồngchí Hồ Chí Minh và Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp ngay tại Tân Trào đểquyết định Tổng khởi nghĩa vũ trang trong cả nước Ngay sau cuộc họp, “Mệnh lệnhkhởi nghĩa” đã được phát ra
Đồng chí Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã nhận định và nắm bắt được tìnhhình có sự chuyển biến nhanh chóng: phát xít Nhật đã gục theo phát xít Đức; quân độiNhật đã và đang tan rã, bị tước vũ khí trên khắp các chiến trường; quân Đồng minhsắp kéo vào Đông Dương Nếu không khởi nghĩa giành chính quyền từ tay Nhật, mà
để đến khi quân Đồng minh kéo vào nhận bàn giao chính quyền từ tay Nhật, thì takhông thể tiến hành khởi nghĩa được nữa, vì lúc này Việt Minh đang cùng phe vớiquân Đồng minh
Thứ hai, sự kiện Chính phủ cách mạng lâm thời yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị vàtiếp nhận sự thoái vị của nhà vua (ngày 30/8/1945 tại Huế) Việc vua Bảo Đại thoái vịđánh dấu sự sụp đổ của chính quyền phong kiến, đồng thời triệt tiêu một đầu mối quantrọng mà các thế lực đế quốc, phản động muốn duy trì, sử dụng để mưu toan chốngphá chính quyền cách mạng, đặt lại ách thống trị trên đất nước ta
Thứ ba, sự kiện ngày 2/9/1945 tại vườn hoa Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọcbản “Tuyên ngôn Độc lập” tuyên bố với toàn thể nhân dân Việt Nam và với thế giới:Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, độc lập và tự do đã ra đời; Chính phủ lâm thờicủa nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng đã chính thức ra mắt trước quốc dânđồng bào Nếu chậm trễ không tuyên bố độc lập chủ quyền trước khi quân Đồng minhtiến vào thì dù có cướp được chính quyền cũng phải bàn giao lại cho quân Đồng minhtiếp quản Vì vậy, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục chớp thời cơ, khẩn trương chỉ
Trang 12đạo sớm tiến hành tổ chức Lễ Độc lập liền sau khi cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạngTháng 8 thành
Trang 13công trên cả nước chính là nhằm ngay lập tức khẳng định chủ quyền của nhân dânViệt Nam trước các thế lực đế quốc, phản động đội lốt dưới danh nghĩa quân Đồngminh.
Tóm lại, Cách mạng Tháng 8 và Lễ Độc lập chỉ có thể thực hiện thành công trongkhoảng thời gian 22 ngày ấy Nếu Tổng khởi nghĩa diễn ra trước ngày 12/8/1945 sẽkhông được vì khi ấy phát xít Nhật vẫn còn khá mạnh, chưa chịu ngừng bắn và đầuhàng Đồng minh Còn nếu Lễ Độc lập tuyên bố và khẳng định chủ quyền của nướcViệt Nam Dân chủ Cộng hòa diễn ra muộn hơn sau ngày 2/9/1945 cũng không được
vì khi ấy quân Anh và quân Tưởng đã vào nước ta tiếp quản chính quyền từ tay Nhật.Những thời cơ và nguy cơ nêu trên, tự nó chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng Chúngtrở thành thuận lợi và khó khăn thực tế hay không, điều đó phụ thuộc vào nhân tố chủquan, trong đó có sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Đảng và Nhà nước ta Trên cơ
sở nhận thức sâu sắc, đầy đủ về thời cơ và nguy cơ, Đảng và Nhà nước đã chủ độngxây dựng đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn, kịp thời và tổ chức thực hiệnhiệu quả; tranh thủ tốt các thời cơ, thuận lợi và ứng phó phù hợp trước các nguy cơ,thách thức, biến nguy cơ thành thời cơ, đẩy lùi nhiều khó khăn, thách thức Cáchmạng Tháng 8 thành công và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã làmrung chuyển cả châu Á, châu Phi và nhiều khu vực khác trên thế giới; tạo ra làn sóng
cổ vũ mạnh mẽ cho phong trào đấu tranh giành độc lập tự do của các nước thuộc địa
3 Kết quả và bài học về thời cơ sau Cách mạng Tháng 8
Kết quả của Cách mạng Tháng 8
Chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8/1945 (từ 13 đến 28/8/1945), dưới sự lãnh đạocủa Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, 25 triệu đồng bào ta với tinh thần "đem sức ta màgiải phóng cho ta" đã nhất tề vùng lên giành chính quyền, tổng khởi nghĩa thắng lợihoàn toàn Cách mạng Tháng 8 thành công, ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình(Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc bảnTuyên ngôn độc lập, tuyên bố trước quốc dân và thế giới: “Nước Việt Nam có quyềnhưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập Toàn thể dân tộcViệt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vữngquyền tự do, độc lập ấy!”
Trang 14Bài học về thời cơ sau Cách mạng Tháng 8
Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thắng lợi đã để lại cho Đảng và nhân dân Việt Namnhiều bài học kinh nghiệm quý báu, làm phong phú thêm hệ thống lý luận của cáchmạng Việt Nam, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc ViệtNam xã hội chủ nghĩa
Một là, chủ động, tích cực chuẩn bị mọi mặt cho phong trào cách mạng, hiểu biết sâu sắc về thời cơ cách mạng Trong suốt đầu năm 1945, Trung ương Đảng luôn chú
ý đến vấn đề “cuộc đảo chính của phát-xít Nhật” nhằm hướng công tác chuẩn bị củaĐảng và phong trào cách mạng của quần chúng chủ động đón nhận nó
Hai là, dự báo chính xác, nắm bắt kịp thời, nhận định thời cơ Thực tiễn lịch sử cho
thấy, trong Cách mạng Tháng Tám, thời cơ chỉ xuất hiện và tồn tại trong một khoảngthời gian ngắn, từ khi Nhật đầu hàng quân Đồng minh (14/8/1945) đến khi quân Đồngminh vào giải giáp quân đội Nhật (05/9/1945)
Ba là, chớp thời cơ mau lẹ, vận dụng và tận dụng thời cơ để tiến hành thành công.
Ngay khi nhận được tin Nhật chấp nhận đầu hàng quân Đồng minh, chớp lấy thời cơ
“nghìn năm có một”, ngày 13/8/1945, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh thànhlập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc, ra Quân lệnh số 1, hạ lệnh Tổng khởi nghĩa Ngày16/8/1945, Đại hội quốc dân họp tại Tân Trào, tán thành quyết định tổng khởi nghĩa,thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, lập ra Ủy ban dân tộc giải phóng ViệtNam tức Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch
III Vận dụng bài học thời cơ trong Cách mạng tháng 8 vào quá trình đổi mới
và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay
Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: “Đất nước ta chưa bao giờ
có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”
- Quốc tế
Trang 15 Việt Nam đã không ngừng mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế đối ngoại songphương và đa phương với nhiều đối tác, dưới nhiều hình thức, trên nhiều lĩnh vực, tạo
ra môi trường kinh doanh trong nước thuận lợi và khai thác hiệu quả các nguồn lựcbên ngoài phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập
Cho thấy chủ trương đúng đắn của Đảng đã đánh dấu bước khởi đầu của ViệtNam tham gia hội nhập kinh tế quốc tế
1.2 Khó khăn
- Trong nước
Nền kinh tế phát triển chưa bền vững, còn nhiều hạn chế, yếu kém, đứng trướcnhiều khó khăn, thách thức mới do tác động của đại dịch COVID-19 và khủng hoảngkinh tế toàn cầu
Đời sống xã hội có những vấn đề nổi cộm Đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốcgia, toàn vẹn lãnh thổ còn nhiều thách thức
- Quốc tế
Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang bị thách thức bởi sự cạnh tranh ảnhhưởng giữa các nước lớn và sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, cạnh tranhchiến lược, cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại diễn ra gay gắt
Thế giới rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng nhiều mặt do tác động của đại dịchCOVID-19
2 Thời cơ cho sự phát triển của Việt Nam hiện nay
2.1 Vận dụng bài học thời cơ trong Cách mạng Tháng 8 để tạo và chớp thời
cơ trong bối cảnh hiện nay
Có thể thấy rằng, bên cạnh các điều kiện thuận lợi trong nước và quốc tế thì chúng
ta vẫn đang phải đối mặt với vô vàn những thách thức Đó là nền kinh tế phát triểnchưa thật bền vững, đời sống xã hội chưa thật ổn định, vấn đề toàn cầu hóa và hộinhập quốc tế, tác động nghiêm trọng của đại dịch và khủng hoảng kinh tế toàn cầu, Chính vì vậy, để có thể vận dụng bài học thời cơ trong Cách mạng Tháng 8 cho bốicảnh hiện nay, chúng ta cần phải chuẩn bị thật sẵn sàng và đầy đủ nhất các yếu tố,những điều kiện để có thể vượt qua thách thức và đưa đất nước ta sánh ngang với bạn
bè quốc tế
Trang 16Trong tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi và khó khăn, thời cơ và tháchthức đan xen như hiện nay; nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới và phức tạp được đặt ra Theo
Trang 17quy luật vận động và phát triển của toàn xã hội, đi liền với những cơ hội mới luôn
là những thách thức Nếu biết vận dụng, nắm bắt tốt cơ hội và luôn nỗ lực vượt quakhó khăn thử thách thì điều bất lợi sẽ trở thành có lợi; ngược lại, nếu không biết nắmbắt lấy thời cơ sẽ còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại và bị tụt lùi sâu hơn nữa
Một trong những bài học kinh nghiệm quý báu mà Đảng ta đã rút ra qua thực tiễnlãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, nhất là 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIIcủa Đảng là: “Chủ động nghiên cứu, nắm bắt, dự báo đúng tình hình, tuyệt đối khôngđược để bị động, bất ngờ Kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất vàtoàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đi đôi với giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, anninh, an toàn để phát triển đất nước…Xử lý đúng đắn, hiệu quả mối quan hệ với cácnước lớn và các nước láng giềng; đánh giá đúng xu thế, nắm bắt trúng thời cơ Pháthuy hiệu quả sức mạnh tổng hợp của đất nước kết hợp với sức mạnh của thời đại”Điều đầu tiên và cũng là quan trọng nhất, chúng ta cần phải chú trọng đào tạo, bồidưỡng và sử dụng hợp lý nguồn lực con người, năng lực lãnh đạo, Chủ tịch Hồ ChíMinh tin rằng nhân tố con người chính là động lực phát triển, là yếu tố nòng cốt quyếtđịnh sự thành bại của dân tộc, sự phát triển bền bỉ và vững mạnh của đất nước Ngàynay, với bối cảnh khoa học công nghệ hiện đại ngày càng tân tiến, con người với tưduy thời đại mới, quyết tâm chính trị cao độ, có tri thức, tầm nhìn, bản lĩnh thời đại,
có đạo đức, có ý chí quyết tâm cao độ, không ngại khó và dám đương đầu với khókhăn thử thách để chớp lấy thời cơ quý báu sẽ là nhân tố quyết định hàng đầu Chính
vì vậy, việc đào tạo, bồi dưỡng nhân tài, bồi dưỡng lực lượng chất lượng cao, có bảnlĩnh, vừa có đức vừa có tài; biết tận dụng, nắm bắt cơ hội thời đại và đón đầu khoa họccông nghệ hiện đại để trở thành sức mạnh nội lực to lớn của đất nước là vô cùng cấpthiết Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực để đất nước phát triển Phát triểnđược con người sẽ đồng nghĩa với việc đất nước có tiềm lực và cơ hội để phát triển.Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định vai trò, ý nghĩa đặc biệt của việc xây dựng
và phát triển yếu tố con người Việt Nam trong định hướng phát triển đất nước giaiđoạn 2021-2030
Thứ hai, những chính sách thích hợp, nắm bắt được thời cơ quý báu cũng chính làyếu tố tạo nên thành công và góp phần phát triển đất nước Những thời cơ và nguy cơ
tự nó đã tồn tại dưới dạng tiềm năng Chúng trở thành thuận lợi hay khó khăn sẽ phụ
Trang 18thuộc vào nhân tố chủ quan, trong đó có sự lãnh đạo, sự điều hành cùng các chủtrương,
Trang 19đường lối, chính sách và các hoạt động tiến hành trên thực tế Trên cơ sở nhận thức sâusắc, đầy đủ về thời cơ và nguy cơ mà thời đại ngày nay mang lại, Đảng và Nhà nước đãchủ động xây dựng những đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn, kịp thời, phùhợp với tình hình phát triển thực tiễn của đất nước và tình hình chung của thế giới, tổchức thực hiện có hiệu quả, có thành tựu Nhà nước ta cũng đã tranh thủ tốt các thời
cơ, thuận lợi và ứng phó phù hợp trước các nguy cơ, thách thức; nhờ vậy mà đã đẩylùi nhiều thử thách khắc nghiệt Trong tình hình Covid đang diễn ra ngày càng phứctạp và ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều lĩnh vực; những chính sách dựa trên tình hình thựctiễn và nắm bắt cơ hội để vượt qua khó khăn của nhà nước ta càng được thể hiện rõràng Vừa qua, Đảng ta chủ trương thực hiện mục tiêu kép vừa phát triển kinh tế vừa rasức chống dịch Có thể thấy chúng ta đã tận dụng điểm thuận lợi, cơ hội và khắc phụckhó khăn mà COVID-19 gây ra, điển hình là chính sách phát triển bền vững hậuCOVID-19, chính sách phát triển kỹ thuật số và các sàn thương mại điện tử trong và
sau đại dịch, Tiếp đến, chủ động và tích cực tham gia vào quá trình hội nhập khu vực và thế giớicũng là cách chúng ta tạo và chớp lấy thời cơ trong bối cảnh phát triển hiện nay Ngaysau ngày tuyên bố độc lập năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Thông cáo về chínhsách đối ngoại, khẳng định mục tiêu phấn đấu cho “nền độc lập hoàn toàn và vĩnhviễn” Bác nhấn mạnh tư tưởng cơ bản là thân thiện và hợp tác với tất cả các nước, từcác nước Đồng minh, các nước láng giềng, các dân tộc đang đấu tranh giải phóng chođến nhân dân Pháp Năm 1947, chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã tiếp tục khẳng địnhphương châm đối ngoại của Việt Nam là “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ vàkhông gây thù oán với một ai” Nhận thức rõ tầm quan trọng của chiến lược hội nhậpquốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trong thời kỳ đổi mới, xác định đúng các dòngchảy của thế giới trong xu thế toàn cầu hóa, Việt Nam đã thực hiện chính sách đốingoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế vàkinh tế quốc tế Chính từ chủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế,nước ta từng bước vượt qua tình trạng bị bao vây, cấm vận; thiết lập quan hệ ngoạigiao chặt chẽ và vững mạnh với hầu hết các nước trên thế giới trong đó có tất cả cácnước lớn (Mỹ, ); tham gia các tổ chức, diễn đàn khu vực và quốc tế như Hiệp hội cácquốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM), Diễn đàn Hợp
Trang 20tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO),Liên hợp quốc ; phát huy vai trò tích
Trang 21cực, chủ động trong mọi hoạt động tại các thể chế đa phương Sau thống nhất đấtnước năm 1975, tình hình quốc tế và khu vực có nhiều chuyển biến sâu sắc, tạo ranhững thời cơ và thách thức lớn đối với Việt Nam Trong bối cảnh đó, Đại hội VI củaĐảng ta (năm 1986) đã đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn, với đường lối đối ngoạirộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, hội nhập quốc tế trên tinh thần giữ vững độclập, chủ quyền dân tộc Trong xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển của thời kỳ quá
độ, đổi mới, kiên định chiến lược hội nhập quốc tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng,Nhà nước ta luôn quán triệt và thực hiện bài học kinh nghiệm lớn “kết hợp sức mạnhdân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế” Trong đó,
để tận dụng sức mạnh thời đại, Đảng và Nhà nước chủ trương “thực hiện đường lốiđối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhậpquốc tế; nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới” Vớiphương châm chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, vị thế của nước ta ngày càngđược nâng cao trên trường quốc tế, đạt nhiều thành tựu to lớn trên các lĩnh vực của đờisống chính trị, kinh tế, xã hội Điều này một lần nữa khẳng định, trong bất kỳ giaiđoạn nào của lịch sử, nếu nhận thức đúng và nắm bắt được xu thế phát triển, các dòngchảy của cách mạng thế giới, gắn mục tiêu đấu tranh của nhân dân ta với các quốc gia,dân tộc trên thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, thì sẽtranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thếgiới Ngược lại, nếu đi ngược với xu thế thời đại, không biết tận dụng, tạo và nắm bắtthời cơ thì nhất định sẽ khó có thể thành công
Biết tạo và tận dụng, chớp lấy thời cơ sẽ là một điểm mạnh trong công cuộc xâydựng và phát triển đất nước ta hiện nay Bởi nhờ đó, cho dù thế giới có nhiều biếnđộng phức tạp, đất nước ta vẫn có thể tận dụng được những yếu tố thuận lợi, tranh thủđược những thời cơ nảy sinh từ cuộc khủng hoảng để vượt qua mọi thách thức, tiếptục ổn định, phát triển nhanh, bền vững; thực hiện thành công mục tiêu dân giàu, nướcmạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
2.2 Kết quả của quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay
Qua 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu
to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện Quy mô, trình độ nền kinh tế
Trang 22được nâng lên; đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt Đất nước chưa bao giờ cóđược cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay Đây là niềm tự hào, là động lực,nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt quamọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồngbộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước.
2.2.1 Quy mô nền kinh tế tăng nhanh
Trong suốt 35 năm qua, kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng khá ấn tượng.Nếu như trong giai đoạn đầu đổi mới (1986-1990), mức tăng trưởng GDP bình quânhằng năm chỉ đạt 4,4% thì giai đoạn 1991-1995, con số đó đã tăng gấp đôi(8,2%/năm); các giai đoạn sau đó đều có mức tăng trưởng khá cao; giai đoạn 2016-
2019 đạt mức bình quân 6,8% Năm 2020, mặc dù kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề củaCOVID-19 nhưng tốc độ tăng GDP của Việt Nam vẫn thuộc nhóm các nước tăngtrưởng cao nhất khu vực và trên thế giới
Nhờ sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã ghi nhiều dấu ấn trong năm 2020 và tronggiai đoạn 2016-2020 Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên Nếu như năm 1989mới đạt 6,3 tỷ USD/năm thì đến năm 2020 đã đạt khoảng 268,4 tỷ USD/năm Đờisống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt, năm 1985 bình quânthu nhập đầu người mới đạt 159 USD/năm thì đến năm 2020 đạt khoảng 2.750USD/năm
Những nỗ lực đổi mới trong 35 năm qua đã giúp cho môi trường đầu tư liên tụcđược cải thiện, nhờ đó đã thu hút ngày càng nhiều hơn vốn đầu tư cho phát triển Tínhriêng năm 2019, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành đạt2.046,8 nghìn tỷ đồng; tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 38,02 tỷ USD,cao nhất trong vòng 10 năm lại đây Năm 2020, trong bối cảnh đại dịch, Việt Nam vẫn
là một điểm đến tin cậy cho các nhà đầu tư với tổng vốn FDI đạt 28,5 tỷ USD
Ngoài ra, tại Việt Nam đã hình thành các vùng kinh tế trọng điểm để làm độnglực cho phát triển kinh tế vùng, miền và cả nước; phát triển các khu kinh tế, khu côngnghiệp tập trung, đồng thời hình thành các vùng chuyên môn hóa cây trồng, vật nuôigắn với chế biến công nghiệp…
Sau 35 năm, từ chỗ thiếu ăn, Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuấtkhẩu nông sản lớn trên thế giới Kim ngạch xuất khẩu của nhiều mặt hàng nông sản,