Để đề xuất được các biện pháp hiệu quả giúp học sinh THPT có kiểu nhân cách khác nhau ứng phó tốt với stress, cần thiết có những nghiên cứu về thực trạng ứng phó với stress của học sinh
Trang 1-
LÊ THỊ PHƯƠNG NGA
ỨNG PHÓ VỚI STRESS CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
CÓ KIỂU NHÂN CÁCH KHÁC NHAU
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI – 2021
Trang 2-
LÊ THỊ PHƯƠNG NGA
ỨNG PHÓ VỚI STRESS CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
CÓ KIỂU NHÂN CÁCH KHÁC NHAU
Chuyên ngành: Tâm lí học
Mã số: 9.31.04.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS NGUYỄN ĐỨC SƠN
TS GIÁP BÌNH NGA
HÀ NỘI - 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là hoàn toàn trung thực
và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau 3 năm học tập và nghiên cứu tại Khoa Tâm lý – Giáo dục, Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội, tôi đã hoàn thành xong luận án tiến sĩ với đề tài ―Ứng phó với stress của học sinh trung học phổ thông có kiểu nhân cách khác nhau‖ Bằng tất cả tấm lòng chân thành, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới:
* PGS.TS Nguyễn Đức Sơn, TS Giáp Bình Nga - là những người Thầy đã tận tình hướng dẫn tôi về học thuật và động viên mỗi khi tôi gặp khó khăn trong công việc, trong cuộc sống Sự chân thành và sâu sắc của các Thầy đã giúp tôi trưởng thành không chỉ về chuyên môn mà còn giúp tôi hiểu hơn về ý nghĩa của cuộc sống
* Ban Giám hiệu nhà trường, Phòng Sau Đại học, Ban chủ nhiệm Khoa Tâm lí
- Giáo dục, Hội đồng khoa học Khoa và quý Thầy Cô Khoa Tâm lí - Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã nhiệt tình hướng dẫn tôi về thủ tục hành chính
và tận tình chia sẻ cùng tôi về kiến thức chuyên môn trong suốt quá trình thực hiện luận án
* Các em học sinh trường THPT L.Đ.B, trường THPT H.H2 (huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa) và các em học sinh trường THPT Đ.M, trường THPT T.V (Quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội) và cùng Ban giám hiệu nhà trường, quý Thầy Cô chủ nhiệm đã tạo điều kiện hỗ trợ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu của mình
* Ban Giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Tâm lí - Giáo dục cùng các anh chị em đồng nghiệp của tôi tại Khoa Tâm lí - Giáo dục, Trường Đại học Hồng Đức, Tỉnh Thanh Hóa đã tạo điều kiện về thời gian và hỗ trợ tôi cả về vật chất lẫn tinh thần, giúp tôi có đủ điều kiện học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận
án tiến sĩ của mình
* Gia đình tôi, bạn bè tôi đã luôn ở bên quan tâm, động viên, ủng hộ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn những tình cảm yêu thương mà tất cả
mọi người đã dành cho tôi, tôi thật sự trân quý!
Hà Nội, ngày tháng năm 2021
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
8 Đóng góp mới của luận án 6
9 Cấu trúc của luận án 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỨNG PHÓ VỚI STRESS CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CÓ KIỂU NHÂN CÁCH KHÁC NHAU 8
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu 8
1.1.1 Tổng quan nghiên cứu về ứng phó với stress 8
1.1.2 Tổng quan nghiên cứu về kiểu nhân cách 22
1.1.3 Tổng quan nghiên cứu về mối liên hệ giữa kiểu nhân cách và cách ứng phó với stress 28
1.2 Lý luận về ứng phó với stress của học sinh trung học phổ thông có kiểu nhân cách khác nhau 31
1.2.1 Ứng phó 31
1.2.2 Stress 40
Trang 61.2.3 Ứng phó với stress 48
1.2.4 Học sinh trung học phổ thông 51
1.2.5 Kiểu nhân cách 55
1.2.6 Ứng phó với stress của học sinh trung học phổ thông có kiểu nhân cách khác nhau 67
1.2.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến ứng phó với stress của học sinh trung học phổ thông có kiểu nhân cách khác nhau 71
Tiểu kết chương 1 76
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 77
2.1 Tổ chức nghiên cứu 77
2.1.1 Các giai đoạn nghiên cứu 77
2.1.2 Địa bàn và khách thể nghiên cứu 79
2.2 Các phương pháp nghiên cứu 80
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 80
2.2.2 Phương pháp chuyên gia 81
2.2.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 81
2.2.4 Phương pháp phỏng vấn sâu 90
2.2.5 Phương pháp quan sát 92
2.2.6 Phương pháp nghiên cứu trường hợp 92
2.2.7 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học 94
Tiểu kết chương 2 97
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ ỨNG PHÓ VỚI STRESS CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CÓ KIỂU NHÂN CÁCH KHÁC NHAU 98
3.1 Thực trạng về kiểu nhân cách của học sinh trung học phổ thông 98
3.1.1 Kiểu nhân cách của học sinh trung học phổ thông nói chung 98
3.1.2 Sự khác biệt về kiểu nhân cách của học sinh trung học phổ thông 100
3.2 Thực trạng về cách ứng phó với stress của học sinh trung học phổ thông 103
3.2.1 Đánh giá chung về cách ứng phó với stress của học sinh trung học phổ thông 103
Trang 73.2.2 Sự khác biệt về cách ứng phó với stress của học sinh trung học phổ thông 109
3.3 Thực trạng cách ứng phó với stress của học sinh trung học phổ thông có
kiểu nhân cách khác nhau 112
3.3.1 Thực trạng chung về cách ứng phó với stress của học sinh trung học phổ thông có kiểu nhân cách khác nhau 112
3.3.2 Thực trạng về mối quan hệ giữa kiểu nhân cách và cách ứng phó với stress của học sinh trung học phổ thông 118
3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến cách ứng phó với stress của học sinh trung học phổ thôngcó kiểu nhân cách khác nhau 122
3.4.1 Mối quan hệ giữa cách ứng phó với stress và một số yếu tố liên quan 122
3.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến cách ứng phó với stress của học sinh trung học phổ thông có kiểu nhân cách khác nhau 132
3.5 Nghiên cứu trường hợp điển hình 137
3.5.1 Trường hợp thứ nhất: N.T.L.H 137
3.5.2 Trường hợp thứ hai: L.M.V 140
3.6 Các biện pháp góp phần nâng cao khả năng ứng phó với stress của học sinh THPT có kiểu nhân cách khác nhau 144
Tiểu kết chương 3 150
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 152
DANH MỤC CÁC BÀI BÁO, CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 157
TÀI LIỆU THAM KHẢO 158 PHỤ LỤC
Trang 8Độ lệch chuẩn Kaiser-Meyer-Olkin Trung học phổ thông Thành phố
Vị thành niên
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Một số đặc điểm của mẫu khách thể nghiên cứu 80
Bảng 3.1 Thực trạng kiểu nhân cách của học sinh THPT 98
Bảng 3.2 Sự khác biệt kiểu nhân cách của học sinh THPT theo giới tính 100
Bảng 3.3 Sự khác biệt kiểu nhân cách của học sinh THPT theo khối lớp 102
Bảng 3.4 Cách ứng phó với stress của học sinh THPT 103
Bảng 3.5 Cách ứng phó với stress của học sinh THPT dưới góc độ giới tính 109
Bảng 3.6 Cách ứng phó với stress của học sinh THPT dưới góc độ khối lớp 111
Bảng 3.7 Cách ứng phó với stress của học sinh THPT có kiểu nhân cách khác nhau 113
Bảng 3.8 Mối quan hệ giữa kiểu nhân cách và cách ứng phó với stress của học sinh THPT 118
Bảng 3.9 Các chỗ dựa xã hội 122
Bảng 3.10 Hệ số tương quan giữa chỗ dựa xã hội và các cách ứng phó với stress của học sinh THPT 123
Bảng 3.11 Điểm tinh thần lạc quan của học sinh THPT 126
Bảng 3.12 Hệ số tương quan giữa tinh thần lạc quan và các cách ứng phó với stress của học sinh THPT 127
Bảng 3.13 Mức độ stress của học sinh THPT 129
Bảng 3.14 Hệ số tương quan giữa mức độ stress và các cách ứng phó với stress của học sinh THPT 130
Bảng 3.15 Phân tích hồi quy ảnh hưởng của chỗ dựa xã hội đến cách ứng phó với stress của học sinh THPT 133
Bảng 3.16 Phân tích hồi quy ảnh hưởng của các thành phần trong chỗ dựa xã hội đến cách ứng phó với stress của học sinh THPT 134
Bảng 3.17 Phân tích hồi quy ảnh hưởng của tinh thần lạc quan – bi quan đến cách ứng phó với stress của học sinh THPT 135
Bảng 3.18 Phân tích hồi quy ảnh hưởng của mức độ stress đến cách ứng phó với stress của học sinh THPT 136
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Phân loại ứng phó theo quan điểm của Ayers, Sandler, West và
Roosa (1996) 37
Sơ đồ 1.2: Phân loại ứng phó theo quan điểm của Walker, Smith, Garber và Van Slyke (1997) 37
Sơ đồ 1.3: Phân loại ứng phó theo quan điểm của Connor-Smith và các cộng sự (2000) 38
Sơ đồ 1.4: Các biểu hiện và cách ứng phó với stress của học sinh THPT có kiểu nhân cách khác nhau 70
Sơ đồ 1.5: Các yếu tố ảnh hưởng đến ứng phó với stress của học sinh THPT có kiểu nhân cách khác nhau 73
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1 Thực trạng kiểu nhân cách của học sinh THPT 99
Biểu đồ 3.2 Sự khác biệt kiểu nhân cách của học sinh THPT theo giới tính 101
Biểu đố 3.3 Sự khác biệt kiểu nhân cách của học sinh THPT theo khối lớp 102
Biểu đồ 3.4 Cách ứng phó với stress của học sinh THPT 106
Biểu đồ 3.5 Cách ứng phó với stress của học sinh THPT có kiểu nhân cách khác nhau 117
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xã hội ngày càng phát triển thì đời sống của con người ngày càng được nâng cao, nhu cầu vật chất ngày càng được đáp ứng đầy đủ Bên cạnh đó, con người cũng phải đối mặt với mọi khó khăn của cuộc sống luôn luôn thay đổi Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến các rối loạn về mặt tâm thể như: rối loạn lo âu, trầm cảm, stress… Những rối loạn này ngày càng phổ biến và ảnh hưởng tới chất lượng công việc, cuộc sống Mỗi người có thể sử dụng những cách ứng phó khác nhau và mỗi cách ứng phó đó đem lại hiệu quả khác nhau về mặt cảm xúc đối với việc giải quyết những vấn đề khó khăn
Ứng phó của cá nhân là một trong những hướng nghiên cứu nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới Theo quan điểm của Lazarus và Folkman (1984) - một trong những nghiên cứu lý luận quan trọng về ứng phó cho rằng: ―ứng phó là những nỗ lực không ngừng nhằm thay đổi về nhận thức và hành
vi của cá nhân để giải quyết các yêu cầu cụ thể, tồn tại bên trong cá nhân và trong môi trường mà cá nhân nhận định chúng có tính đe dọa, thách thức hoặc vượt quá nguồn lực của họ‖ [101] Theo đó, cá nhân sẽ giải quyết được vấn đề của mình nếu biết cách ứng phó phù hợp khi gặp phải những tình huống khó khăn trong cuộc sống Stress cũng là một vấn đề tâm lí mang tính chất nguy cơ mà không ít học sinh phải ứng phó ở các trường học Khi đối mặt với những vấn đề gây stress trong cuộc sống, cách mà học sinh ứng phó đóng vai trò rất quan trọng bởi nếu học sinh có cách ứng phó chủ động và tích cực, sẽ giúp các em giải quyết được vấn đề và có thêm kinh nghiệm cho bản thân Tuy nhiên, nếu học sinh sử dụng những cách ứng phó chưa phù hợp không những không giải quyết được stress mà còn làm cho vấn
đề ngày càng trầm trọng, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần và hiệu quả học tập của các em
Học sinh trung học phổ thông (THPT) là lứa tuổi học tập phải đối phó với nhiều áp lực, các em cần phải kết thúc chương trình học phổ thông, chuẩn bị vào đại học để lựa chọn nghề nghiệp tương lai cho mình Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ
Trang 12thông là một áp lực lớn đối với học sinh trung học phổ thông Bên cạnh những áp lực về học tập, học sinh trung học phổ thông phải chịu áp lực lớn trong quan hệ với bạn bè, thầy cô và cha mẹ Ở lứa tuổi này các em hay gặp phải các mâu thuẫn trong tình bạn khác giới, tình yêu tuổi học trò điều này làm các em mệt mỏi, thiếu tập trung trong học tập Sự kì vọng quá lớn của cha mẹ đối với các em cũng ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tâm lý của học sinh… Tất cả những điều đó nhiều khi tạo nên một sức p lớn đến các em, tạo nên stress trong cuộc sống và điều này ảnh hưởng vô cùng lớn đến không chỉ hoạt động học mà cả trong quá trình hoàn thiện nhân cách của các em
Thực tế hiện nay cho thấy, đã có những trường hợp các em bị stress nặng, rối loạn sinh lý thậm chí tự tử Đa phần các trường hợp này đều thiếu kiến thức cũng như chưa có khả năng ứng phó tốt với stress trong cuộc sống Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng những cách ứng phó thiếu thích ứng với stress của học sinh có mối liên
hệ với nhiều vấn đề, chẳng hạn như kết quả học tập giảm sút (Struthers, Perry, & Menec, 2000), trầm cảm (Aktekin và c.s, 2001); lo âu (Renk & Eskola, 2007), rối loạn ăn uống (Wichianson và c.s, 2009), hay sử dụng đồ uống có cồn (Pritchard, Wilson, & Yamnitz, 2007) Ngược lại, với những chiến lược ứng phó chủ động và tích cực, học sinh có thể có mức độ mức độ stress thấp hơn (Coiro, Bettis, & Compas, 2017), ít lo âu hơn (Renk & Eskola, 2007), có khả năng thích ứng với môi trường cao hơn (Leong, Bonz, & Zachar, 1997), và sức khỏe thể chất tốt hơn (Park & Adler, 2003) Những kết quả này cho thấy, tình trạng stress của học sinh có thể sớm được cải thiện nếu các em đánh giá đúng trạng thái tinh thần của bản thân và biết sử dụng các chiến lược ứng phó hiệu quả một cách kịp thời, thì có thể góp phần làm giảm thiểu và ngăn chặn được những hành vi tiêu cực xảy ra với các em
Ở Việt Nam, có khá nhiều nghiên cứu công phu và k lưỡng về stress cũng như các chương trình hành động kiểm soát stress nhưng phần lớn đều hướng vào đối tượng công nhân viên chức, sinh viên; còn chưa thật nhiều nghiên cứu chú trọng đến stress trên đối tượng học sinh THPT Mặc khác, các nghiên cứu trên đối tượng học sinh THPT thường chỉ tập trung vào tìm hiểu mức độ, biểu hiện và nguyên
Trang 13nhân gây ra stress mà ít quan tâm nghiên cứu cách ứng phó của họ; cũng như chưa xác định được mối liên hệ giữa các cách ứng phó với những biến số về tâm lý, sinh lý, hay xã hội Vì thế, các biện pháp đề xuất còn thiếu thiết thực và không sát đối tượng (Robotham, 2008)
Để đề xuất được các biện pháp hiệu quả giúp học sinh THPT có kiểu nhân cách khác nhau ứng phó tốt với stress, cần thiết có những nghiên cứu về thực trạng ứng phó với stress của học sinh THPT ở các kiểu nhân cách khác nhau Tiếp cận những vấn đề khá cấp thiết về ứng phó với stress trên học sinh THPT, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu “Ứng phó với stress của học sinh trung học phổ thông có kiểu
nhân cách khác nhau” như một hướng tiếp cận có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn
2 Mục đích nghiên cứu
Từ kết quả nghiên cứu lý luận và thực trạng về ứng phó với stress của học sinh THPT có kiểu nhân cách khác nhau, đề xuất một số biện pháp nhằm giúp học sinh THPT tăng khả năng kiểm soát và ứng phó với stress phù hợp với kiểu nhân cách của mình
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Biểu hiện và cách ứng phó với stress của học sinh trung học phổ thông có kiểu
nhân cách khác nhau
3.2 Khách thể nghiên cứu
Khách thể gồm 571 học sinh THPT
4 Giả thuyết khoa học
- Khi đối mặt với những vấn đề gây stress trong cuộc sống, học sinh THPT đã
sử dụng nhiều cách ứng phó khác nhau, bao gồm cả cách ứng phó hiệu quả và kém hiệu quả như cấu trúc lại nhận thức, đổ lỗi bản thân, mơ tưởng, tìm kiếm hỗ trợ xã hội, giải quyết vấn đề, lảng tránh vấn đề và cô lập bản thân
- Học sinh THPT có các kiểu nhân cách khác nhau thì cách thức ứng phó với
stress cũng có sự khác biệt Trong đó, những học sinh có kiểu nhân cách nhạy cảm
Trang 14có khuynh hướng sử dụng các cách ứng phó kém hiệu quả hơn so với những học
sinh có kiểu nhân cách khác
- Một số yếu tố chủ quan của học sinh (đặc điểm lứa tuổi, giới tính, tinh thần
lạc quan, bi quan, mức độ stress…) và yếu tố khách quan (chỗ dựa xã hội: gia đình, bạn bè, môi trường học tập trong nhà trường) có ảnh hưởng và có thể tác động làm thay đổi các cách ứng phó của học sinh THPT khi gặp phải stress Trong đó, chỗ dựa xã hội có ảnh hưởng mạnh nhất đến cách ứng phó với stress của học sinh THPT
có kiểu nhân cách khác nhau
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lí luận về ứng phó với stress của học sinh THPT có kiểu
nhân cách khác nhau như: tổng quan vấn đề nghiên cứu, xây dựng các khái niệm công cụ, các mặt biểu hiện và các cách ứng phó với stress của học sinh THPT có kiểu nhân cách khác nhau, các yếu tố ảnh hưởng đến ứng phó với stress của học
sinh THPT ở các kiểu nhân cách khác nhau
- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng ứng phó với stress của học sinh
THPT có kiểu nhân cách khác nhau; cùng những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng
ứng phó với stress của học sinh THPT ở các kiểu nhân cách khác nhau
- Đề xuất một số biện pháp nhằm giúp học sinh THPT có kiểu nhân cách khác nhau ứng phó với stress tốt hơn
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu
- Đề tài lựa chọn cách phân loại kiểu nhân cách của học sinh THPT theo mô
hình 5 yếu tố lớn của nhân cách (big-five model) hay còn gọi là Big-Five; với thang
đo năm nhân tố rút gọn Big Five Inventory – Short Form (BFI –S) của tác giả Frieder R Lang và đồng nghiệp (2011)
- Đề tài dựa trên quan điểm của Tobin và các cộng sự (1989) để tìm hiểu thực trạng các cách ứng phó với stress của học sinh THPT có kiểu nhân cách khác nhau với thang đo Bảng kiểm Chiến lược ứng phó (Coping Strategies Inventory - CSI) của Garcia và các cộng sự (2007)
Trang 15- Tìm hiểu một số yếu tố chủ quan và khách quan tác động đến cách ứng phó với stress của học sinh THPT có kiểu nhân cách khác nhau qua ba thang đo sau: (1) Thang đo lạc quan, bi quan (Life Orientation Test – Revised – LOT - R) của Scheier
và Carver (1985); (2) Thang đo stress (Percieved Stress Scale – PSS) của Cohen & Williamson (1988); (3) Thang đo hỗ trợ xã hội (The multidimensional Scale of perceived social support – MSPSS) của Zimet, Dahlem, Zimet và Farley (1988)
6.2 Giới hạn về khách thể nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện trên khách thể là học sinh THPT, bao gồm 571 học sinh nam và học sinh nữ, học sinh từ lớp 10 đến lớp 12
6.3 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại 02 trường THPT thuộc quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội (trường THPT Đ.M, trường THPT T.V) và 02 trường THPT thuộc huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (trường THPT L.Đ.B, trường THPT H.H.2)
7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên cơ sở một số nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của tâm lí học như:
7.1.1 Nguyên tắc thống nhất giữa hoạt động - nhân cách
Nghiên cứu ứng phó với stress của học sinh THPT có kiểu nhân cách khác nhau không tách rời các hoạt động - giao tiếp của học sinh THPT nhằm thỏa mãn nhu cầu của học sinh THPT khi các em gặp phải stress trong cuộc sống, đồng thời cũng dựa trên những đặc điểm nhân cách của học sinh THPT
7.1.2 Nguyên tắc đảm bảo sự phát triển
Nghiên cứu ứng phó với stress của học sinh THPT có kiểu nhân cách khác nhau không phải là một hiện tượng tâm lí bất biến, mà nó có thể thay đổi trước sự tác động của các yếu tố chủ quan và khách quan khác nhau
7.1.3 Nguyên tắc tiếp cận hệ thống
Nghiên cứu ứng phó với stress của học sinh THPT có kiểu nhân cách khác nhau trong mối quan hệ tác động qua lại với các yếu tố chủ quan và khách quan
Trang 167.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể (được trình bày ở chương 2)
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp
- Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
Những vấn đề cơ bản của phương pháp nghiên cứu, chúng tôi sẽ trình bày chi tiết trong chương 2 của luận án
8 Đóng góp mới của luận án
8.1 Về lí luận
Luận án đã hệ thống hóa những vấn đề lí luận về ứng phó với stress của học sinh THPT có kiểu nhân cách khác nhau; xác định các khái niệm công cụ (ứng phó, stress, ứng phó với stress, kiểu nhân cách, ứng phó với stress của học sinh THPT có kiểu nhân cách khác nhau); xác định được 08 cách ứng phó với stress của học sinh THPT có kiểu nhân cách khác nhau bao gồm: cấu trúc lại nhận thức, đổ lỗi bản thân, mơ tưởng, tìm kiếm hỗ trợ xã hội, giải quyết vấn đề, lảng tránh vấn đề và cô lập bản thân; chỉ ra một số yếu tố chủ quan (tinh thần lạc quan - bi quan, mức độ stress…) và yếu tố khách quan (chỗ dựa xã hội: gia đình, bạn bè, môi trường học tập trong nhà trường) có ảnh hưởng đến các cách ứng phó với stress của học sinh THPT có kiểu nhân cách khác nhau
8.2 Về thực tiễn
Luận án đã chỉ rõ thực trạng các cách ứng phó với stress của học sinh THPT trên toàn mẫu nghiên cứu và ở các kiểu nhân cách khác nhau Trong đó, đề tài phát hiện ra học sinh THPT có các kiểu nhân cách khác nhau thì việc sử dụng các cách ứng phó với stress cũng có sự khác biệt như: kiểu nhân cách nhạy cảm có khuynh hướng sử dụng các cách ứng phó như ―đổ lỗi cho bản thân‖, ―mơ tưởng‖ và ―cô lập bản thân‖; kiểu nhân cách hướng ngoại thì thường sử dụng cách ứng phó ―tìm kiếm
Trang 17hỗ trợ xã hội‖; kiểu nhân cách sẵn sàng trải nghiệm thì thường chọn cách ứng phó
―giải quyết vấn đề‖ hơn kiểu nhân cách dễ mến và tận tâm
Luận án làm rõ một số yếu tố ảnh hưởng đến ứng phó với stress của học sinh THPT có kiểu nhân cách khác nhau, bao gồm các yếu tố khách quan đó là chỗ dựa
xã hội (gia đình, bạn bè, môi trường học tập trong nhà trường…) và một số yếu tố chủ quan đó là: tinh thần lạc quan - bi quan, mức độ stress… Trong đó, yếu tố chỗ dựa xã hội có ảnh hưởng mạnh nhất và có thể tác động làm thay đổi các cách ứng phó với stress của học sinh THPT có kiểu nhân cách khác nhau
Luận án đã đề xuất một số biện pháp giúp học sinh THPT có kiểu nhân cách khác nhau phòng ngừa và ứng phó tích cực với stress
9 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội
dung chính của luận án được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về ứng phó với stress của học sinh THPT có kiểu nhân cách khác nhau
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về ứng phó với stress của học sinh THPT có kiểu nhân cách khác nhau
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỨNG PHÓ VỚI STRESS CỦA HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CÓ KIỂU NHÂN CÁCH KHÁC NHAU
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu
1.1.1 Tổng quan nghiên cứu về ứng phó với stress
Trên thế giới, vấn đề ứng phó với khó khăn tâm lý nói chung và ứng phó với stress nói riêng được nghiên cứu theo nhiều xu hướng khác nhau Qua nghiên cứu tài liệu, chúng tôi tổng hợp, phân tích theo một số xu hướng chính sau đây:
Xu hướng thứ nhất là nghiên cứu các mô hình ứng phó (coping model), chiến
lược ứng phó (coping strategies) và k năng ứng phó (coping skills)
Theo tác giả Compas và các cộng sự (2001) cho rằng, nhìn chung có 3 mô hình ứng phó phổ biến ở lứa tuổi trẻ em và VTN: 1/ ứng phó tập trung vào vấn đề
và tập trung vào cảm xúc, 2/ ứng phó kiểm soát lần thứ nhất và ứng phó kiểm soát lần thứ hai, 3/ ứng phó đối đầu và lảng tránh Tuy nhiên, các cách phân loại này bị chỉ trích là quá khái quát nên chưa phản ánh rõ một số cách ứng phó đặc trưng ở trẻ VTN Trên cơ sở đó, Compas và các cộng sự (2001) đã đưa ra mô hình kết hợp được các nhóm ứng phó trên, đó là chia ứng phó thành 02 nhóm ứng phó là: ứng phó có ý thức và ứng phó không ý thức [81]
Ngoài ra còn có một số mô hình ứng phó của Oláh như ứng phó đồng hóa, thích nghi và lảng tránh (1995) [116] hay ứng phó đặt trọng tâm vào vấn đề, vào cảm xúc và lảng tránh của Cox và Ferguson (1991) [83]; ứng phó tập trung vào nhận thức, vào vấn đề và cảm xúc (Moos và Billings, 1982) [111]
Trước đó, Tobin, Holroyd, Reynolds và Wigal (1989) cho rằng có hai phương
án ứng phó với hoàn cảnh, đó là ứng phó đối đầu và lảng tránh Ứng phó đối đầu gồm có đối đầu tập trung vào vấn đề và đối đầu tập trung vào cảm xúc; ứng phó lảng tránh gồm lảng tráng tập trung vào vấn đề và lảng tránh tập trung vào cảm xúc Trên cơ sở đó, nhóm tác giả này phân chia các phương án ứng phó một cách chi tiết hơn thành 8 nhóm: 1/ Giải quyết vấn đề; 2/ Cấu trúc lại nhận thức; 3/ Tìm kiếm chỗ
Trang 19dựa xã hội; 4/ Bộc lộ cảm xúc; 5/ Lảng tránh vấn đề; 6/ Mơ tưởng; 7/ Đổ lỗi cho bản thân; 8/ Cô lập bản thân [130]
Trong nghiên cứu ―Đánh giá các chiến lược ứng phó của thanh thiếu niên: có
sự khác nhau theo tuổi và theo giới tính hay không?” của các tác giả Bolognini
Monique, Plancherel Bernard và Halfon Olivier đã tìm hiểu các cách ứng phó theo đặc trưng giới, mối tương quan giữa việc lựa chọn các cách ứng phó với sức khỏe tâm trí theo giới tính và theo độ tuổi Các tác giả đã đưa ra những cách thức ứng phó như: sử dụng quan hệ xã hội, gia đình, tình cảm sự giải trí, hài hước, cam kết, tiêu xài Các kết quả khẳng định nữ giới tự điều chỉnh tùy theo khó khăn bằng cách tham gia nhiều hơn vào các quan hệ xã hội (bạn bè, anh chị em, bố mẹ và các người lớn khác) Trong khi đó, nam giới lại cố gắng nhiều hơn trong việc giữ ý nghĩa của
sự hài hước và tiến hành một hoạt động thể lực mạnh mẽ Về mối quan hệ sức khỏe tâm trí và các cách thức ứng phó, nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nam và nữ [69, tr 329 –337]
Các tác giả Nezu và Ronan (1988) khi nghiên cứu về k năng ứng phó của trẻ VTN đã chỉ ra rằng nếu VTN không có k năng phòng ngừa những tác động của hoàn cảnh có thể dẫn đến stress, trầm cảm và lo âu Để giải quyết được các vấn đề, VTN cần có niềm tin dựa vào năng lực, xác lập được những k năng ứng phó với hoàn cảnh khó khăn của bản thân [74, tr.1]
Ngoài ra, tác giả Frydenberg (2008) đã đề cập đến một số chương trình hình thành k năng ứng phó tích cực như: Chương trình cách ứng phó tốt nhất (The Best
of Coping); Chương trình ứng phó với cơn giận (The Anger Coping); Chương trình thời cơ cho sự phát triển (Seasons for Growth); Chương trình ứng phó với cảm xúc cho trẻ VTN (The Adolescent Coping with Emotions) Hầu hết các chương trình hình thành cách ứng phó tích cực cho trẻ VTN đều dựa trên tiếp cận nhận thức - hành vi [91] Có thể thấy, đây là hướng nghiên cứu có tính ứng dụng và thực tiễn cao, vì vậy nó thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu có liên quan (dẫn theo Nguyễn Văn Tường, 2019) [59]
Trang 20Xu hướng nghiên cứu thứ hai rất thiết thực và có giá trị thực tiễn cao khi
nghiên cứu về ứng phó là phát triển các thang đo (scale) hay bảng kiểm (inventory)
đánh giá hành vi ứng phó Theo Frydenberg (2002), xu hướng này ra đời nhằm chỉ
rõ cách thức con người đã nỗ lực ứng phó trong các tình huống, trên cơ sở đó đề xuất các chương trình hỗ trợ cá nhân phát triển và điều chỉnh khả năng ứng phó của
họ Động cơ thứ hai thúc đẩy hướng nghiên cứu này là sự cần thiết có những công
cụ đánh giá cho các nhà tâm lí nói chung và tâm lí lâm sàng nói riêng trong việc chẩn đoán và can thiệp [90]
Theo Compas và cộng sự (2001), có 4 phương pháp đã được sử dụng để đánh giá cách ứng phó nói chung và ứng phó với các cảm xúc âm tính nói riêng: 1/ bảng hỏi tự thuật, 2/ phỏng vấn bán cấu trúc, 3/ quan sát hành vi và 4/ những báo cáo từ những người thân thích, gần gũi (bố mẹ, thầy cô, bạn bè) Trong 4 phương pháp đó, bảng hỏi tự thuật được sử dụng nhiều nhất và phát triển khá mạnh Các hình thức phổ biến của bảng hỏi để đo các cách ứng phó là thang đo hoặc bảng kiểm [81] Theo Compsa (1988) và Frydenberg (2008), việc nghiên cứu những công cụ
đo lường, đánh giá cách ứng phó của con người được quan tâm từ những năm cuối thập niên 1980, từ đó cho đến nay có nhiều thang đo và bảng kiểm đã được xây dựng và phát triển Cụ thể:
Thang đo cách ứng phó (Way of Coping Scale, WCS) của Folkman và Larazus (1980) đã đo hai kiểu ứng phó cơ bản nhất là: kiểu ứng phó tập trung cảm xúc và kiểu ứng phó tập trung giải quyết vấn đề Trong đó, kiểu ứng phó tập trung cảm xúc là kiểu ứng phó chú ý nhiều đến cảm xúc cá nhân, nhằm mục đích làm giảm mức độ stress của con người khi họ rơi vào những tình huống khó khăn Còn kiểu ứng phó tập trung giải quyết vấn đề là kiểu ứng phó hướng vào việc giải quyết vấn đề hay định hướng để thay đổi hoàn cảnh
Tuy nhiên, cách ứng phó của con người trên thực tế không chỉ đơn giản là hai cách như Folkman và Lazarus đã nêu, mà nó mang tính đa dạng Nên, một thang đo khác được ra đời Đó là trắc nghiệm COPE của Carver, Sheier và Weintraub (1989) Trong trắc nghiệm này, các tác giả đã đề nghị năm thang đo là những khía cạnh
Trang 21khác nhau của cách ứng phó tập trung vào vấn đề (ứng phó tích cực, lập kế hoạch, che dấu hoạt động cạnh tranh, tìm kiếm chỗ dựa xã hội, kiềm chế), năm thang đo về cách ứng phó tập trung vào cảm xúc (tìm kiếm chỗ dựa tình cảm, diễn giải dương tính, chấp nhận, phủ nhận, đi theo tôn giáo) và ba thang đo cách ứng phó được cho
là không hữu ích (hành vi tiêu cực, quá nhấn mạnh vào cảm xúc, tinh thần tiêu cực) Tiếp đến là một thang đo khác cũng được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng là
―thang đo cách ứng phó của trẻ vị thành niên‖ ACS (The Adolescent Coping Scale) được Frydenberg và Lewis xây dựng năm (1993) Thang đo này bao gồm 8 items, được chia thành 3 nhóm ứng phó cơ bản: giải quyết vấn đề, tìm kiếm sự hỗ trợ, và các kiểu ứng phó không hiệu quả
Ngoài những thang đo được liệt kê ở trên còn có nhiều trắc nghiệm và bảng kiểm khác được xây dựng và ứng dụng trong hơn hai thập niên qua là; Bảng kiểm chiến lược ứng phó của Tobin, Holroyd, Reynolds và Wigal (1989); Bảng hỏi về ứng phó qua các tình huống – CASQ (Coping Cross Situation Questionaire) của Seiffge-Krenke (1995); Bảng kiểm về hệ thống ứng phó (Coping Schemas Inventory, CIS) của Peacok và Wong (1996); Công cụ đánh giá ứng phó với tổn thương và vấn đề sức khỏe (Coping with Heath Injuries and Problems, CHIP) của Endler và Parker (2000)…[dẫn theo 60] Các thang đo này tạo điều kiện cho hàng loạt các nghiên cứu về thực trạng ứng phó được thực hiện một cách khoa học và rộng rãi trên nhiều đối tượng khác nhau Một số nghiên cứu về ứng phó với stress trên học sinh – sinh viên đã được tiến hành nhưng chưa thật nhiều Đặc biệt, một số nghiên cứu về ứng phó với stress trên học sinh còn khá tản mạn, chủ yếu sử dụng các bảng hỏi mà không tận dụng các thang đo đã được chuẩn hóa (Barba & các cộng sự, 2004)
Xu hướng thứ ba khá phổ biến khi tiếp cận vấn đề ứng phó với stress là nghiên cứu các yếu tố tác động đến hành vi ứng phó của học sinh Các nghiên cứu theo
hướng này đã chỉra rằng, trong các yếu tố ảnh hưởng đến cách ứng phó của học sinh, có các yếu tố thuộc về cá nhân học sinh và những yếu tố thuộc về môi trường sống (như gia đình, nhà trường và xã hội)
Trang 22Các tác giả trên thế giới quan tâm nhiều nhất đến các đặc điểm tâm lí, nhân cách Các nghiên cứu đã chứng tỏ cách ứng phó có mối quan hệ với khí chất (Ebata
và Moos, 1994; Kurdek và Sinclair, 1988); tính cách (Flachsbart, 2007; Bolger và Zuckerman, 1995; Grant và Langan-Fox, 2007; Gunthert và các cộng sự, 1999; Penley và Tomaka, 2002; Suls và Martin, 2005) [dẫn theo Carver và cộng sự, 2010]; tính lạc quan - bi quan (Solberg Nes và Segerstrom, 2006; theo Carver và J Connor-Smith, 2010; Scheier và Carver, 1985), tự đánh giá về giá trị bản thân (Chapman và Mullis, 1999; Mary, 1998; Ni và các cộng sự, 2012), đánh giá về sự kiện gây ra cảm xúc âm tính (Compas và các cộng sự, 1988; Mikulincer và Florian, 1995) [dẫn theo 60]
Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng cho thấy những đặc điểm cá nhân khác cũng chi phối đến cách ứng phó của cá nhân như giới tính (Frydenberg và Lewis, 1993) [88], độ tuổi (Compas và các cộng sự, 1988; Frydenberg và Lewis, 1993; Frydenberg 1997, 2002, 2008)… [80], [88], [89], [90], [91]
Một yếu tố cá nhân khác cũng ảnh hưởng đến hành vi ứng phó của học sinh là vấn đề sức khỏe tâm thần Theo Kovacs (1989), có nhiều vấn đề tâm thần của học sinh, trẻ VTN liên quan đến sự k m hiểu biết về k năng xã hội, đây cũng là một trong những nguyên nhân làm tăng ý tưởng và hành vi tự sát của trẻ VTN [dẫn theo 13] Compas và các cộng sự (2001) đã tóm tắt 63 nghiên cứu về ứng phó ở trẻ em
và trẻ VTN từ năm 1988 đến năm 2001, trong đó có hơn 50 nghiên cứu đã tìm hiểu mối quan hệ giữa ứng phó và những vấn đề về sức khỏe tâm thần Những thang đo khảo sát về sức khỏe tâm thần được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu theo xu hướng này như bảng kiểm về các hành vi của trẻ (CBCL) - bảng tự thuật của thanh thiếu niên (YSR) của Thomas M Achenbach; thang đo lo âu (RCMAS) của Cecil
và Bert; bảng kiểm trạng thái lo âu (SSAI) của Speiberger, bảng kiểm trầm cảm (BDI) của Beck… Các kết quả nghiên cứu đã cho thấy, ứng phó có mối liên quan đến các vấn đề về cảm xúc như lo âu, căng thẳng, giận dữ, trầm cảm và các vấn đề
về hành vi như xâm kích, tăng động, không tập trung chú ý, hành vi phạm pháp, lệch lạc, sử dụng rượu và các chất kích thích [dẫn theo 60]
Trang 23Cách ứng phó của trẻ VTN, học sinh không chỉ chịu sự chi phối bởi các yếu tố
cá nhân mà còn chịu sự chi phối mạnh mẽ của các yếu tố xã hội Chỗ dựa xã hội là một yếu tố xã hội lôi cuốn được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu Có khá nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa chỗ dựa xã hội và cách ứng phó ở lứa tuổi VTN (Bal, Crombez, Van Oost và Debourdeaudhuij, 2003; Frydenberg, 2008) [65], [91] Theo các tác giả Cohen, Kamarck & Mermelstein, 1983 đã chỉ ra hiệu lực của
hỗ trợ xã hội trong việc làm giảm nhẹ tính nhạy cảm với stress Khi có những người khác đến với mình thì ta có nhiều khả năng hơn ứng phó với các tác nhân gây stress nghề nghiệp, với nạn thất nghiệp, sợ đổ vỡ của hôn nhân, tình trạng đau ốm nghiêm trọng, và những tai họa khác, cũng như ứng phó với những vấn đề thường nhật trong cuộc sống thiếu một hệ hỗ trợ xã hội rõ là làm gia tăng tính nhạy cảm với bệnh và tử vong Tình trạng giảm sút hỗ trợ xã hội trong gia đình và các môi trường lao động thấy có liên quan đến gia tăng k m thích nghi về mặt tâm lý [77]
Nhiều tác giả khác cũng đã tiến hành nghiên cứu so sánh cách ứng phó của trẻ VTN trước các tác nhân khác nhau (Bal và các cộng sự, 2003) [65] Kết quả cho thấy, với mỗi loại tác nhân, trẻ VTN có những cách ứng phó đặc thù, riêng biệt Ngoài ra, cách ứng phó còn chịu sự chi phối của các yếu tố xã hội khác như môi trường gia đình, giáo dục của nhà trường… [dẫn theo 60]
Một xu hướng khác góp phần mở rộng phạm vi tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng
đến cách ứng phó với stress là nghiên cứu hành vi ứng phó xuyên văn hóa Mục
đích của những nghiên cứu này tìm ra sự khác biệt và tương đồng trong cách ứng phó với những khó khăn trong cuộc sống con người đến từ các nền văn hóa hay các quốc gia khác nhau Theo Naughton (1997), các nghiên cứu này thường so sánh sựkhácnhau giữa các dân tộc trong quá trình ứng phó với stress Sự khác nhau này được lý giải trong mối tương quan với đặc điểm tính dân tộc, các đặc điểm về kinh
tế, văn hóa và xã hội [113] Kết quả của các nghiên cứu theo hướng này cho thấy người phương Tây thường sử dụng các kiểu ứng phó tập trung vào vấn đề (problem – focused), trong khi đó, người phương Đông lại thường sử dụng các kiểu ứng phó tập trung vào cảm xúc (emotion - focused) (Oláh, 1995; O’Connor và Shimizu,
Trang 242002) [116], [115]; người M và người châu Âu thường sử dụng các kiểu ứng phó mang tính cá nhân hơn người Nhật Bản (Kashima và Triandis, 1986; O’Connor và Shimizu, 2002) [dẫn theo 60] Việc người M hay người châu Âu thường có khuynh hướng sử dụng các kiểu ứng phó mang tính cá nhân hơn người Á Đông vì ở xã hội Tây Âu, vai trò của cá nhân và tính cá nhân thường được nhấn mạnh hơn trong xã hội phương Đông - nơi những giá trị tập thể và cộng đồng được đề cao [115]
Không chỉ dừng lại ở những nghiên cứu mang tính lý luận hay điều tra thực trạng (survey research), nhiều tác giả đã thực hiện các nghiên cứu hành động (action research) về ứng phó với stress dưới dạng các dự án (projects) nhằm tăng cường nội lực ứng phó cho học sinh Có thể kể đến một số dự án điển hình như ―Sisterhood‖ ở trường trung học quận Windham - Hoa Kỳ do Tummers, Lance và Norell (2008) tiến hành hay diễn đàn Campus Calm ở Hoa Kỳ do Maria Passcuci – một chuyên
gia được mệnh danh là “Người huấn luyện cho học sinh một cuộc sống ít stress
hơn” chủ trương (dẫn theo Chen, Wong, Ran & Gilson, 2009) Đây có thể được
xem là xu hướng nghiên cứu rất thiết thực và có ý nghĩa xã hội cao
Ở Việt Nam, vấn đề ứng phó với khó khăn tâm lý nói chung và ứng phó stress nói riêng cũng nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả, từ những nghiên cứu lí luận, đến những nghiên cứu thực tiễn Có thể xếp những nghiên cứu này theo một số xu hướng sau đây:
Xu hướng thứ nhất là nghiên cứu các mô hình ứng phó, chiến lược ứng phó và
k năng ứng phó Theo hướng nghiên cứu này, ở Việt Nam có một số tác giả tiêu
biểu như sau:
Đỗ Thị Lệ Hằng (2004, 2009) với nghiên cứu ―Cách ứng phó với những khó
khăn trong học tập của các nhóm trẻ có hoàn cảnh khác nhau”; “Các tác nhân gây stress và cách ứng phó với stress của trẻ vị thành niên” đã chỉ ra bốn nguyên nhân
chính gây ra stress cho trẻ VTN là: học tập, quan hệ với cha mẹ, bạn bè và trong những tình huống bất thường Đồng thời, tác giả cũng đưa ra cấu trúc tâm lí của ứng phó gồm 3 thành phần: 1/ Ứng phó tập trung vào tình cảm; 2/ Ứng phó tập trung vào suy nghĩ; 3/ Ứng phó tập trung vào hành động [20, 21]
Trang 25Nghiên cứu “Một số khó khăn trong học tập của trẻ vị thành niên và cách ứng
phó của các em” của tác giả Lưu Song Hà đã tập trung tìm hiểu về những khó khăn
tâm lý của trẻ VTN khi có sự thay đổi về môi trường học tập từ cấp tiểu học lên trung học cơ sở và chỉ ra các kiểu ứng phó của trẻ VTN khi gặp khó khăn trong học tập Kết quả nghiên cứu cho thấy khi gặp khó khăn, trẻ VTN thường sử dụng trước hết là những cách ứng phó bằng hành động, tiếp đến là ứng phó về tình cảm và cuối cùng là suy nghĩ [15]
Tác giả Phan Thị Mai Hương (2007) và các cộng sự đã đi sâu vào nghiên cứu
“Cách ứng phó của trẻ vị thành niên với hoàn cảnh khó khăn” Đề tài đã được tiến
hành với mục đích tìm hiểu cách ứng phó của trẻ VTN hiện nay trong những tình huống khó khăn và những nhân tố góp phần hình thành các cách ứng xử này nhằm
đề xuất những kiến nghị đối với chương trình giáo dục và rèn luyện k năng sống cho trẻ vị thành niên Nghiên cứu đã chỉ ra đặc điểm của các cách ứng phó mà trẻ sử dụng trong những tình huống khác nhau như Có những cách ứng phó mang tính ổn định nhưng cũng có cách ứng phó mang tính hoàn cảnh, đồng thời cho thấy vai trò
vô cùng quan trọng của chỗ dựa xã hội, niềm tin, khả năng nhận thức đối với việc lựa chọn hành động trong những hoàn cảnh khó khăn [32]
Tác giả Nguyễn Hữu Thụ, Nguyễn Bá Đạt (2009), với nghiên cứu “Các kiểu
ứng phó với stress trong học tập của sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội” đã chỉ ra
rằng: khi đứng trước các tình huống gây stress trong học tập sinh viên chủ yếu sử dụng phương thức thay đổi nhận thức và hành vi của mình Từ đó các em chủ động hơn trong học tập, giảm bớt sự lo lắng và stress nảy sinh trong quá trình học tập Tuy nhiên nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc miêu tả các kiểu ứng phó với stress trong học tập được một số sinh viên sử dụng, chưa chỉ ra được kiểu ứng phó nào của sinh viên là có hiệu quả cao nhất [52]
Trong nghiên cứu của tác giả Lê Thị Thanh Thủy thu được kết quả học sinh lớp 12 ứng phó với stress qua 4 cách chủ yếu Các hành vi giải tỏa stress cho thấy những học sinh bị stress càng nặng càng ít có khả năng ứng phó với stress ở cả 4 cách giải trí bằng xem phim, nghe nhạc, chia sẻ với người khác, khẳng định bản
Trang 26thân và dùng chất kích thích Trong các cách thức ứng phó, hầu hết học sinh thường tìm đến các hoạt động lành mạnh để giải toả Stress: Thư giãn bằng xem phim, nghe nhạc, gặp gỡ nhiều người để chia sẻ tâm tư [53]
Nguyễn Thị Minh Hằng (2014) nghiên cứu “ứng phó với những cảm xúc tiêu
cực của học sinh trung học cơ sở” cho thấy có 3 cách thức ứng phó của học sinh
trung học cơ sở là: 1/ Ứng phó tập trung vào nhận thức; 2/ Ứng phó tập trung vào cảm xúc; 3/ Ứng phó tập trung vào hành vi Trong đó, học sinh có xu hướng ứng phó tập trung vào nhận thức thường xuyên hơn so với ứng phó tập trung vào cảm xúc và hành vi Học sinh có biểu hiện stress, lo âu và trầm cảm có cách ứng phó tiêu cực hơn so với học sinh không có các biểu hiện này [23]
Đinh Thị Hồng Vân (2014) nghiên cứu cách ứng phó với những cảm xúc âm tính trong quan hệ xã hội của trẻ VTN thành phố Huế, tác giả đã xây dựng mô hình ứng phó với những cảm xúc âm tính của trẻ VTN thành phố Huế bao gồm ba nhóm
cơ bản: 1/Các cách ứng phó tích cực; 2/Các cách ứng phó tiêu cực; 3/Các cách ứng phó trung tính Nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng, trẻ VTN ở Huế sử dụng nhiều cách ứng phó khác nhau trước các cảm xúc âm tính, từ cách ứng phó tích cực đến cách ứng phó tiêu cực Nhìn chung, các cách ứng phó tích cực vẫn được trẻ VTN sử dụng nhiều hơn so với các cách ứng phó trung tính và tiêu cực Cách ứng phó được trẻ sử dụng nhiều nhất là ―tách mình ra khỏi vấn đề‖, ít nhất là ―tự làm hại bản thân‖ Tác giả cũng đã xây dựng được các biện pháp hình thành cách ứng phó tích cực với những cảm xúc âm tính trong quan hệ xã hội cho trẻ VTN [60]
Tác giả Nguyễn Diệu Thảo Nguyên, Trần Thị Tú Anh (2009),với nghiên cứu
“Kỹ năng ứng phó với những khó khăn trong gia đình của học sinh THPT - Thành phố Huế” cũng đã nêu lên được một số vấn đề ứng phó Các tác giả đã nghiên cứu
những khó khăn trong gia đình, từ đó chỉ ra những cách ứng phó khác nhau với những khó khăn trong gia đình của học sinh THPT thành phố Huế Đó là năm kiểu ứng phó tiêu biểu: tích cực chủ động; tìm kiếm sự hỗ trợ; xoa dịu căng thẳng; lảng tránh và ứng phó tiêu cực Đồng thời đưa ra những yếu tố ảnh hưởng tới cách ứng phó với những khó khăn trong gia đình của học sinh Nhìn chung, nghiên cứu đã
Trang 27tiếp cận và chỉ ra được những vấn đề cơ bản về ứng phó Tuy nhiên lại chưa đưa ra được thế nào là một cách ứng phó có hiệu quả, và cũng như chưa hướng dẫn được
k thuật ứng phó tốt [43; tr 138 – 146]
Tác giả Đỗ Thị Thu Hồng (2008), nghiên cứu k năng ứng phó với những khó khăn trong cuộc sống của học sinh trung học cơ sở được khảo sát tại thời điểm nghiên cứu đều có những khó khăn trong cuộc sống Khó khăn học sinh gặp phải nhiều nhất được thể hiện trong mối quan hệ giữa các em và cha mẹ; tiếp đến là mối quan hệ với bạn bè và thầy cô giáo; những khó khăn trong mối quan hệ này có ý nghĩa quan trọng tới việc lựa chọn phương án ứng phó của học sinh Khi học sinh gặp khó khăn trong cuộc sống các em đều lựa chọn các phương án ứng phó của mình Việc lựa chọn các phương án cụ thể tùy thuộc vào ứng phó đó đáp ứng với khó khăn trong từng mối quan hệ cụ thể và có sự khác biệt với các mức độ giữa các nhóm học sinh về học lực, địa bàn sinh sống, trường học, điều kiện kinh tế gia đình, giới tính [29, tr58]
Tác giả Đỗ Văn Đoạt (2013) đã xác định k năng ứng phó với stress trong học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên gồm ba nhóm k năng thành phần: 1/nhóm k năng nhận diện tác nhân gây stress và biểu hiện của stress; 2/nhóm k năng xác định các phương án ứng phó với stress; 3/nhóm k năng thực hiện các phương án giảm stress và giải quyết vấn đề Trong đó, nhóm k năng nhận diện tác nhân gây stress và biểu hiện của stress trong học tập theo học chế tín chỉ được sinh viên đại học sư phạm nhận diện tốt hơn cả Hai nhóm k năng ứng phó với stress còn lại là tương đối đồng đều nhau Trên cơ sở đó, tác giả cũng đề xuất các biện pháp nâng cao k năng ứng phó với stress trong hoạt động học tập theo học chế tín chỉ cho sinh viên [10], [11], [12], [13]
Tác giả Nguyễn Hữu Long (2015) nghiên cứu về k năng ứng phó với những khó khăn trong học tập của học sinh lớp 1 đã chỉ ra những k năng cơ bản sau: 1/K năng ứng phó với khó khăn khi thực hiện quy định về giờ giấc; 2/K năng ứng phó với khó khăn khi thực hiện quy định về vị trí chỗ ngồi và tư thế ngồi; 3/K năng ứng phó với khó khăn khi thực hiện quy định về giao tiếp học đường; 4/K năng
Trang 28ứng phó với khó khăn khi thực hiện quy định về tác phong học đường; 5/K năng ứng phó với khó khăn khi thực hiện quy định về giữ trật tự [37]
Tác giả Phan Thị Tâm (2017) đã chỉ ra thực trạng k năng ứng phó với khó khăn tâm lí trong học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên đại học sư phạm k thuật, bao gồm các k năng ứng phó sau: 1/K năng nhận diện khó khăn tâm lí trong học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên; 2/K năng xác định cách thức giải quyết khó khăn tâm lí trong học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên; 3/K năng thực hiện cách thức giải quyết khó khăn tâm lí trong học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên Mỗi k năng này lại được xem x t trong 3 hoạt động: Hoạt động lập kế hoạch; Hoạt động học theo nhóm; Và hoạt động tự học, tự nghiên cứu [48]
Tác giả Nguyễn Thị Cẩm Tú (2018) nghiên cứu “Rèn luyện kỹ năng ứng phó
với stress cho sinh viên ngành sư phạm mầm non trường Cao đẳng sư phạm Nghệ An” đã chỉ ra các nhóm k năng cần thiết để ứng phó với stress của giáo viên mầm
non bao gồm: 1/Nhóm k năng xác định các phương án ứng phó (K năng huy động các nguồn thông tin, tài liệu về các phương án ứng phó; K năng phân tích phương
án ứng phó; K năng ra quyết định lựa chọn các phương án ứng phó); 2/Nhóm k năng thực hiện các phương án ứng phó nhằm giải quyết stress và giải quyết vấn đề (K năng kiên định và thực hiện các phương án ứng phó; K năng thực hiện các phương án ứng phó; K năng quản lý thời gian) Qua đó, tác giả cũng đề xuất các biện pháp rèn luyện k năng ứng phó với stress cho sinh viên sư phạm mầm non, để
họ đạt được cân bằng tâm lí trong cuộc sống và nghề nghiệp [56; tr 24-27]
Xu hướng thứ hai là: Nghiên cứu đo lường, đánh giá hành vi ứng phó
Ở Việt Nam, Trần Thị Tú Anh (2010) đã bước đầu sử dụng thang đo ứng phó của trẻ VTN (ACS) để tìm hiểu đặc điểm ứng phó với khó khăn của trẻ VTN tại thành phố Huế Thang đo ACS gồm 79 câu, các câu được xây dựng dạng thang Likert với 5 lựa chọn, trong đó 1 ứng với ―không bao giờ làm như vậy‖, 5 ứng với
―luôn luôn làm như vậy‖ 79 câu của thang ACS được kết hợp lại trong 18 tiểu thang phần, đó là: 1/Tìm kiếm sự hỗ trợ xã hội; 2/Tập trung giải quyết vấn đề; 3/Làm việc chăm chỉ và đạt thành công; 4/Lo lắng; 5/Tập trung vào bản thân; 6/Cải
Trang 29thiện quan hệ xã hội; 7/Mơ tưởng; 8/Buông xuôi; 9/Giảm thiểu căng thẳng; 10/Hoạt động xã hội; 11/Phớt lờ vấn đề; 12/Tự trách bản thân; 13/Không để ai biết vấn đề của mình; 14/Tìm kiếm sự hỗ trợ tâm linh; 15/Tập trung vào mặt tích cực; 16/Tìm kiếm sự hỗ trợ chuyên nghiệp; 17/Thư giãn, giải trí; 18/Luyện tập thể chất [2] Nguyễn Phước Cát Tường, Đinh Thị Hồng Vân (2010, 2012) đã sử dụng các trắc nghiệm: 1/Bảng kiểm cách ứng phó với stress (Coping Strategies Inventory, CSI) của Garcia và các đồng sự (2006); 2/ Thang đo hỗ trợ xã hội (The Multidimensional Scale of Perceived Social Support - MSPSS) của Zimet, Dahlem, Zimet & Farley (1988); 3/Trắc nghiệm định hướng cuộc sống – Phiên bản chỉnh sửa (Life Orientation Test – Revised –Lot-R) của Scheier và Carver (1985) nhằm làm rõ mối quan hệ giữa các cách ứng phó với stress với chỗ dựa xã hội và tinh thần lạc quan – bi quan [57], [58]
Trần Văn Công và cộng sự (2015) tham khảo công trình nghiên cứu của Hana Machackova và cộng sự (2013) về chiến lược ứng phó cho nạn nhân của bắt nạt trực tuyến để xây dựng thang đo chiến lược ứng phó của học sinh với bắt nạt trực tuyến, nghiên cứu này sử dụng thang đo gồm 30 câu với 4 nhân tố (ứng phó bằng suy nghĩ, nhận thức; ứng phó bằng cách n tránh; ứng phó bằng cách chia sẻ; ứng phó bằng cách trả đũa) [7]
Nguyễn Thị Diễm Hằng, Trần Thị Hồng Nga, Nguyễn Thị Xuân Hương (2016) chỉ ra thực trạng cách ứng phó stress của sinh viên qua việc sử dụng trắc nghiệm Bảng kiểm Chiến lược ứng phó (Coping Strategies Inventory - CSI) của Garcia và các cộng sự (2006) thích nghi hóa tại Tây Ban Nha từ CSI phiên bản gốc của Tobin, Halroyd và Reynolds (1989) để đánh giá các cách ứng phó đối với trạng thái hoặc các
sự kiện gây stress trong một tháng qua CSI rút gọn này gồm có 40 câu (nguyên bảng CSI của Tobin và các cộng sự gồm có 72 câu), đánh giá ứng phó theo 8 loại cơ bản:
giải quyết vấn đề, cấu trúc lại nhận thức, tìm kiếm chỗ dựa xã hội, bộc lộ cảm xúc, lảng tránh vấn đề, mơ tưởng, cô lập và đổ lỗi cho bản thân [24; tr 37-42]
Nguyễn Văn Lượt (2016) sử dụng thang đo chiến lược ứng phó của trẻ khi gặp phải những khó khăn trong học tập, trong cuộc sống, phiên bản 2012 do Elena
Trang 30Camisasca và cộng sự sử dụng trên nhóm trẻ Italia từ thang đo gốc của Ayers và Sandler (1999) để tìm hiểu chiến lược ứng phó với những khó khăn trong cuộc sống của trẻ em bị bỏ lại ở nông thôn do bố mẹ đi làm ăn xa, nghiên cứu Thang đó gồm
54 mệnh đề, đo 5 chiến lược ứng phó của trẻ: 1/chiến lược tập trung giải quyết vấn đề; 2/chiến lược thay đổi nhận thức; 3/chiến lược tìm kiếm sự trợ giúp; 4/chiến lược tiêu khiển/giải trí; 5/chiến lược n tránh vấn đề [38]
Năm 2018, tác giả Nguyễn Hoàng Đông, Hồ Công Nghiệp đã sử dụng hai thang đo: trắc nghiệm stress của Cohen và Williamson (1988) và Bảng kiểm Chiến lược ứng phó (Coping Strategies Inventory - CSI) của Garcia và các cộng sự (2006) nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa cách thức ứng phó và mức độ stress trên đối tượng sinh viên Khoa Du lịch – Đại học Huế Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có mối quan
hệ giữa cách thức ứng phó với mức độ stress Những sinh viên có cách thức ứng phó chủ động thì sẽ có mức độ stress thấp và ngược lại những sinh viên có cách thức ứng phó bị động sẽ có mức độ stress cao [14; tr 75-83]
Ở hướng nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu ở Việt Nam đã bước đầu sử dụng thang đo ứng phó của nước ngoài cho các khách thể ở Việt Nam Hướng nghiên cứu này đã thúc đẩy sự ra đời của nhiều thang đo ứng phó làm cơ sở để đánh giá thực trạng, mức độ, biểu hiện ứng phó của học sinh khi các em gặp phải những tình huống stress trong cuộc sống Việc Việt hóa các thang đo ứng phó của nước ngoài cho các khách thể ở Việt Nam cũng là một nội dung quan trọng của hướng nghiên cứu này Tuy nhiên, các thang đo ứng phó trên thế giới vẫn chưa được Việt hóa và sử dụng rộng rãi ở Việt Nam
Xu hướng thứ ba là nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi ứng phó
Ở Việt Nam có một số nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố tâm lí cá nhân và tâm lí
xã hội có ảnh hưởng đến các cách ứng phó của trẻ VTN như: Phan Thị Mai Hương (2005) chỉ ra mối tương quan giữa cách ứng phó trong hoàn cảnh khó khăn (tìm kiếm chỗ dựa, lý giải tích cực, kiềm chế bản thân, lên kế hoạch, ứng phó chủ động, hành vi tiêu cực) với các nhân tố nhân cách (tự tin nhận thức, tự tin bản thân, tự tin
Trang 31xã hội, tự tin chung, tinh thần tự chủ, tinh thần trách nhiệm, sự đồng cảm, tinh thần lạc quan) [30]
Phan Thị Mai Hương và cộng sự (2007) chỉ ra các nhân tố chi phối hành vi ứng phó của trẻ VTN trước hoàn cảnh khó khăn bao gồm hai nhân tố chính là các đặc điểm nhân cách và hoàn cảnh hiện thực, ngoài ra trong một số nghiên cứu các tác giả cũng đề cập đến sự ổn định tâm lí của con người cũng chi phối sâu sắc đến cách mà con người ứng phó với khó khăn Trong đó, các đặc điểm nhân cách bao gồm (nhân tố di truyền; tính cách lạc quan hoặc bi quan; tính tự tin, tự chủ và cái tối hiệu quả; Sự đồng cảm và tinh thần trách nhiệm; ) Các nhân tố xã hội bao gồm (chỗ dựa xã hội; các sự kiện của cuộc đời; ) [32]
Nguyễn Phước Cát Tường, Đinh Thị Hồng Vân (2010) với bài viết ―Mối quan
hệ giữa chỗ dựa xã hội và cách ứng phó với stress của sinh viên trường Đại học Y Dược – Đại học Huế” cho thấy chỗ dựa xã hội có mối tương quan thuận với các cách
ứng phó hiệu quả như ―giải quyết vấn đề‖, ―tìm kiếm chỗ dựa xã hội‖ và ―cấu trúc lại nhận thức‖ Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng những sinh viên có nhiều chỗ dựa xã hội vẫn sử dụng các cách ứng phó k m hiệu quả với stress [57; tr 93-100] Nghiên cứu của Nguyễn Phước Cát Tường và Đinh Thị Hồng Vân (2012) về
“Mối quan hệ giữa các cách ứng phó với stress và tinh thần lạc quan” cũng cho
thấy sinh viên Trường Đại học Ngoại Ngữ - Đại học Huế sử dụng khá đa dạng và phong phú các loại ứng phó hiệu quả và không hiệu quả Tuy các loại ứng phó hiệu quả được sử dụng với tần suất cao, nhưng sự xuất hiện của các nhóm ứng phó không hiệu quả khiến sức mạnh của các nhóm ứng phó hiệu quả bị giảm thiểu khá nhiều [58] Trong nghiên cứu này tác giả cũng chỉ ra được sự không ổn định và nhất quán trong việc sử dụng các cách ứng phó tích cực của sinh viên phần nào cho thấy
k năng ứng phó với stress chưa thực sự cao
Đinh Thị Hồng Vân (2014) chỉ ra các yếu tố tác động đến cách ứng phó với những cảm xúc âm tính trong quan hệ xã hội của trẻ VTN bao gồm ảnh hưởng từ các yếu tố cá nhân (đánh giá của cá nhân về sự kiện gây ra cảm xúc âm tính; tính lạc quan của cá nhân; tự đánh giá về giá trị bản thân; tính chất, cường độ của các
Trang 32cảm xúc âm tính) và ảnh hưởng của các yếu tố xã hội (chỗ dựa xã hội; ảnh hưởng của các tác nhân gây ra cảm xúc âm tính) [60]
Như vậy, những nghiên cứu về ứng phó với stress của học sinh ở trên thế giới
và Việt Nam đã chỉ ra được các mô hình ứng phó, chiến lược ứng phó và kỹ năng ứng phó điển hình của các nhóm học sinh Từ đó, kéo theo những nghiên cứu đo lường, đánh giá hành vi ứng phó của học sinh thông qua việc xây dựng, hoàn thiện
và Việt hóa những thang đo ứng phó Những nghiên cứu đã có cũng chỉ ra những yếu tố tâm lí cá nhân (yếu tố chủ quan) và tâm lí xã hội (yếu tố khách quan) có ảnh hưởng đến các cách ứng phó của học sinh Một số nghiên cứu khác xem xét vấn đề này trong sự khác biệt về văn hóa giữa các vùng miền, dân tộc từ đó chỉ ra những đặc trưng riêng trong cách ứng phó của học sinh trước những tình huống gây stress trong cuộc sống Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào trực tiếp đề cập đến sự khác biệt trong cách ứng phó với stress của học sinh THPT có kiểu nhân cách khác nhau
1.1.2 Tổng quan nghiên cứu về kiểu nhân cách
Việc nghiên cứu kiểu nhân cách hiện nay cũng là một vấn đề được quan tâm nghiên cứu tương đối phổ biến ở trên thế giới Nhìn chung, nhân cách được hình thành và thể hiện trong hoạt động và giao tiếp, do đó khi phân loại các kiểu nhân cách khác nhau chỉ mang tính chất tương đối, vì trong thực tế không có một kiểu nhân cách nào thuộc về một kiểu nhân cách Một số công trình nghiên cứu về kiểu nhân cách trong tâm lý học:
Kiểu nhân cách theo Phương Đông
* Theo thuyết âm dương:
Tồn tại trong không gian và thời gian có lưỡng nghi gọi là âm và dương Âm dương giao hòa vào nhau, biến hóa vô cùng trong vũ trụ Từ đó sinh ra vạn vật Âm dương đóng vai trò xoay chuyển không bao giờ ngừng Âm dương dùng để biểu hiện trong thế giới hữu hình lẫn thế giới vô hình (tư duy, tâm linh, tâm hồn), chúng
có trong vạn vật dù có nhìn thấy hay không nhìn thấy [4; tr.15-20]
Âm dương thể hiện trong đời sống tâm lý của con người Được chia làm ba loại người: loại người âm, loại người dương, và loại người trung tính Có thể dựa
Trang 33vào vẻ mặt, hình dáng, giọng nói, dáng điệu, cử chỉ và tính tình để chia ra các loại người đó
- Người dương tạng dễ bị kích thích, nhiệt tình, sôi nổi Người dương tạng thân hình to khỏe, da nóng, sắc mặt tươi tắn, giọng nói to
- Người âm tạng khí chất lãnh đạm, trầm tĩnh Người âm tạng da ướt, mát, sắc mặt xanh, giọng nói nhỏ, tròng mắt đen hướng lên cao
- Người trung tính, đây là loại người có sự cân bằng về mặt tâm lý, đó là loại người tối ưu về thể tạng cũng như tâm lý
* Theo thuyết ngũ hành:
Tính cách con người cũng chịu ảnh hưởng bởi ngũ hành (Kim, Thổ, Hỏa, Mộc, Thủy) Mỗi hành có đặc điểm về tính cách khác nhau Người ta dựa vào 4 tiêu chí: giờ sinh, ngày sinh, tháng sinh, năm sinh để biết ngũ hành của một người Đặc điểm nhân cách của con người theo ngũ hành:
- Người hành Mộc: tính tình sôi nổi, hiếu động, thuộc nhân cách hướng ngoại,
tư duy sắc bén, có khả năng giao tiếp rộng, dễ thay đổi theo hoàn cảnh, thiếu kiên trì
- Người hành Hỏa: tính tình thì nhiệt tình, dũng cảm, có tinh thần tiến thủ, dễ kích động, tư duy nhanh, có óc sáng kiến
- Người hành Thổ: Tính tình khoan dung, đôn hậu, lễ phép, thực dụng, ý chí kiên định, tư duy chậm, phản ứng kém nhạy bén, an phận
- Người Kim: Tính tình rộng rãi, kiên định, nhìn xa trông rộng, khả năng tự lực cao, trọng tín nghĩa, thận trọng, có năng lực tổ chức, có lòng tự trọng cao
- Người Thủy: có lòng nhẫn nại, tình cảm phong phú, thông minh, đa mưu Cách chia loại người này theo ngũ hành của người Phương Đông cổ đại cũng chỉ là tượng trưng Trong thực tế, ít có người nào chỉ thuần một hành Điều này chỉ nhằm nói lên vật chất của cơ thể liên quan đến vật chất của vũ trụ
Kiểu nhân cách theo Phương Tây
Nghiên cứu của Gibert Jessup và cộng sự về việc đào tạo thí điểm 205 học viên phi công sử dụng kết hợp bảng nghiệm kê nhân cách EPI để đánh giá Kết quả cho thấy rằng việc đào tạo thí điểm thất bại có tỷ lệ cao nhất ở những người
Trang 34có nhân cách thần kinh không ổn định và thấp nhất ở những người có nhân cách
ổn định [93]
Nghiên cứu của D Bartram và cộng sự về việc lựa chọn ứng cử viên cho việc huấn luyện phi công trong quân đội điểm EPI đã được phân tích liên quan đến thành công trong việc đào tạo Những người có nhân cách ổn định và hướng ngoại có khả năng thành công trong đào tạo hơn [67]
Nghiên cứu của Jerome Kagan tại đại học Havard, trên 500 trẻ em sơ sinh (4 tháng tuổi) được bắt đầu thực hiện từ năm 1989 và vẫn tiếp tục đến hiện tại Nghiên cứu này khẳng định việc nhạy cảm với các kích thích bên ngoài chính là bản chất phân biệt giữa người hướng nội và hướng ngoại [122]
Nghiên cứu của Sánchez và cộng sự (2001) đã mô tả đặc điểm nhân cách của sinh viên đại học Kết quả cho thấy những sinh viên đang gặp thất bại trong các khóa học của
họ có điểm số cao hơn có ý nghĩa thống kê so với toàn bộ nhóm khách thể về điểm số nhạy cảm và hướng ngoại Các dữ liệu đã khuyến khích xem xét sự tồn tại của đặc điểm khác làm hạn chế sự thành công học tập như tính gây hấn, khả năng lãnh đạo kém, sự thiếu tuân thủ và sự rộng lượng, tính cao thượng ở mức thấp [124; tr 299-305]
Nghiên cứu của Dr.Kalyani Kenneth trên 41 trẻ em về mối liên quan giữa tính cách và lòng tự trọng của trẻ sử dụng bảng nghiệm kê nhân cách EPI cho thấy tương quan không có ý nghĩa thống kê giữa yếu tố thần kinh và lòng tự trọng của trẻ ( r=-0,23; p=0,23) Ngược lại có mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa yếu tố hướng ngoại - nội và lòng tự trọng của trẻ (r= 0,54; p<0,001) [85; tr 22-26]
Một nghiên cứu của tác giả Haleh Saboori năm 2016 trên 200 học sinh trung học ở Tehran-Iran sử dụng thang EPQ (Eysenck Personality Questionnaire ) cho kết quả 44,7% học sinh có nhân cách hướng nội, 55,3% học sinh có nhân cách hướng ngoại [123; tr.556-565]
Ở Việt Nam, những năm gần đây vấn đề kiểu nhân cách đã dần được quan tâm
và đã có nhiều công trình nghiên cứu được tiến hành với các khía cạnh khácnhau:
Năm 2002 tác giả Võ Thị Ngọc Châu với nghiên cứu về kiểu nhân cách, kiểu quan hệ liên nhân cách và ảnh hưởng của chúng tới bầu không khí tâm lý tập thể
Trang 35trên sinh viên trường đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh cho rằng: nữ sinh viên có kiểu nhân cách hướng ngoại thích giao tiếp hơn, hiền lành, thiếu kiên định
k m ý chí hơn nam sinh viên và dễ bị tình cảm chi phối; sinh viên nam có kiểu hướng nội, đằm tính, nhanh nhẹn, dễ nóng giận, nghiêm khắc Sinh viên khối xã hội
là người hướng ngoại, trong khi đó sinh viên khối tự nhiên là người ưa quyền lực hơn, chịu được sự căng thẳng cao hơn Còn sinh viên khối ngoại ngữ có kiểu nhân cách nhạy cảm và độc lập hơn khối tự nhiên [6]
Nghiên cứu ―Xu hướng chọn nghề của học sinh trung học phổ thông có kiểu nhân cách khác nhau‖ của Nguyễn Thạc, Nguyễn Thị Ngọc Liên (2005) đã cho thấy: Học sinh có kiểu nhân cách hướng nội thường chọn những nghề đòi hỏi phải có tính kiên trì, bền bỉ và phẩm chất điềm đạm, sâu sắc Những học sinh
có kiểu nhân cách hướng ngoại chọn những nghề yêu cầu những phẩm chất như: tính sáng tạo, linh hoạt và sự thông minh, hỏm hỉnh Như vậy, phần lớn những học sinh đã chọn cho mình những nghề có yêu cầu phù hợp với đặc điểm kiểu nhân cách mình có [47]
Năm 2006, tác giả Phan Thị Mai Hương trong bài nghiên cứu ―Đặc điểm nhân cách của lao động trẻ nước ta hiện nay – Kết quả từ trắc nghiệm NEO PI-R‖ đã phác thảo ra một bức tranh chung về nhân cách của lao động trẻ ở nước ta hiện nay
như sau: Về mặt tâm thần liên quan đến việc trải nghiệm cảm xúc âm tính thì lao
động trẻ có những biểu hiện mất cân bằng về cảm xúc ở một bộ phận không nhỏ, nhất là khả năng kiểm soát xung tính không được cao, có chút lo lắng, trầm cảm
cũng như cảm giác tự ty, mặc cảm Về mặt liên nhân cách thể hiện qua tính hướng
ngoại thì một số lớn không có tính quảng giao, tự khẳng định không cao, tính tích
cực hoạt động đạt mức trung bình Về mặt cầu thị, ham hiểu biết, một tỷ lệ lớn
những người trẻ tuổi có óc thẩm m , giàu trí tưởng tượng cũng như có khả năng trải nghiệm những cảm xúc mạnh mẽ, sâu sắc Tuy nhiên khả năng đa dạng hóa hoạt động để khám phá cái mới chỉ đạt mức trung bình [31]
Phạm Minh Hạc (2007) nghiên cứu giá trị nhân cách theo phương pháp NEO PI-R cải biên, tác giả đã xây dựng chân dung nhân cách của lao động trẻ ở nước ta
Trang 36hiện nay với những đặc điểm chính ở 5 mặt như sau: 1/ Có những biểu hiện mất cân bằng về cảm xúc ở một bộ phận không nhỏ, nhất là khả năng kiểm soát xung tính không được cao, có chút lo lắng, trầm cảm cũng như cảm giác tự ty, mặc cảm; 2/ Một số lớn không có tính quảng giao, tự khẳng định không cao, tính tích cực hoạt động đạt mức trung bình; 3/ Một tỷ lệ không nhỏ những người trẻ tuổi có óc thẩm
m , giàu trí tưởng tượng cũng như có khả năng trải nghiệm những xúc cảm mạnh
mẽ sâu sắc Tuy nhiên khả năng chấp nhận các giá trị mới chỉ đạt mức trung bình; 3/ Một bộ phận thể hiện sự thiếu tin tưởng ở người khác, thiếu sự thẳng thắn chân tình, thiếu lòng vị tha Nhưng cũng có một bộ phận không nhỏ có lòng nhân hậu và khiêm tốn trong quan hệ với người xung quanh; 5/ Phần lớn lao động trẻ có ý thức hoàn thành công việc, có trách nhiệm với bổn phận của mình, có năng lực để ứng phó với các vấn đề trong cuộc sống Tuy nhiên một số không nhỏ khác lại chưa có tính ngăn nắp, trật tự Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, nhóm những người có nhiều đặc điểm trội, có ưu thế chiếm tỷ lệ khiêm tốn hơn so với những người có một số khó khăn nhất định trong cuộc sống xã hội Nhìn chung các đặc điểm nhân cách có mối tương quan chặt chẽ với nhau theo các mức độ khác nhau tùy thuộc vào từng mặt, từng đặc điểm Điều này thể hiện tính thống nhất của các đặc điểm nhân cách trong một chỉnh thể [19]
Năm 2008, nghiên cứu của Trần Anh Châu về tác động của một số đặc điểm nhân cách đến động cơ thành đạt của thanh niên cho thấy thanh niên có những đặc điểm nhân cách nổi bật là tinh thần trách nhiệm cao và khá tự tin Tuy nhiên, những đặc điểm nhân cách khác như tính kỷ luật, thận trọng và niềm tin vào công bằng xã hội chỉ ở mức trung bình Các đặc điểm nhân cách có mức độ tác động khác nhau đến khía cạnh khác nhau của động cơ thành đạt [5]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Duyên năm 2012 về mối liên hệ giữa đặc điểm nhân cách và hiện tượng bắt nạt trên 303 học sinh THPT ở tỉnh Bắc Ninh sử dụng bảng nghiệm kê nhân cách EPI cho kết quả những học sinh có đặc điểm nhân cách thuộc nhóm đặc điểm của kiểu nhân cách ưu tư, linh hoạt, sôi nổi thì thường có xu hướng đi bắt nạt người khác nhiều hơn những người có đặc điểm nhân cách điềm
Trang 37tĩnh Trong đó, người đi bắt nạt thường có đặc điểm tính cách hướng ngoại tiêu cực; Người bị bắt nạt thường có đặc điểm tính cách cả hướng nội tiêu cực và hướng ngoại tiêu cực nhưng hướng nội tiêu cực là chủ yếu [9]
Nghiên cứu của Bùi Thị Thúy Hằng, Trần Văn Công, Nguyễn Phương Hồng Ngọc (2016) đã mô tả đặc điểm nhân cách của thanh niên Việt Nam qua thang đo NEO – 60VN Khách thể nghiên cứu gồm 633 thanh niên tại 23 tỉnh thành phố trên
cả nước Kết quả nghiên cứu cho thấy đặc điểm hướng ngoại nổi trội nhất ở thanh niên Nhạy cảm là đặc điểm it thấy nhất ở toàn bộ khách thể nghiên cứu Số liệu thống kê cũng đã cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở đặc điểm nhân cách của thanh niên về mặt giới tính Nữ giới có đặc điểm nhạy cảm, đồng thuận và
hướng ngoại nổi trội hơn nam giới [25]
Năm 2017, Bùi Thị Thúy Hằng với nghiên cứu về đặc điểm nhân cách của sinh viên trường Đại học Bách Khoa Hà Nội cũng tiếp tục sử dụng NEO-60VN làm công cụ đo đạc, được thích nghi từ trắc nghiệm NEO PI-R cho thấy n t nhân cách nổi trội của SV là sự tận tâm và tính cởi mở, ham học hỏi N t nhân cách nhạy cảm,
dễ thay đổi cảm xúc là đặc điểm ít thấy nhất trên toàn bộ mẫu nghiên cứu Sự hướng ngoại và đồng thuận không phải là n t nhân cách nổi trội của họ [26]
Đặc biệt, Trương Thị Khánh Hà và Trần Hà Thu (2017) đã sử dụng thang đo tính cách 5 nhân tố rút gọn (BFI-S) trên 344 người Việt Nam đầu tuổi trưởng thành
từ 25 đến 40 tuổi cho thấy: đặc điểm tính cách nổi trội của nhóm khách thể là dễ mến và tận tâm, đặc điểm có biểu hiện thấp nhất là sẵn sàng trải nghiệm Nữ có tính nhạy cảm và hướng ngoại cao hơn nam, trong khi nam có tính sẵn sàng trải nghiệm cao hơn nữ Tính nhạy cảm tương quan nghịch một cách có ý nghĩa với tuổi và điều kiện kinh tế, tính dễ mến tương quan thuận với tuổi, nhưng các mối tương quan này chỉ ở mức yếu [17]
Trần Hà Thu (2019) công bố kết quả nghiên cứu ―Trí tuệ cảm xúc của học sinh Trung học cơ sở‖ cho thấy: Khi xem x t đồng thời 5 đặc điểm tính cách bao gồm: tính tận tâm, sẵn sàng trải nghiệm, hướng ngoại, dễ mến và nhạy cảm, kết quả phân tích cho biết đặc điểm tính cách có ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của học
Trang 38sinh Trong đó, tính dễ mến có ảnh hưởng mạnh nhất đến sự thay đổi trí tuệ cảm xúc của học sinh [51]
Như vậy, vấn đề kiểu nhân cách trong tâm lý học đã được các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam đặc biệt quan tâm nghiên cứu Các công trình nghiên cứu
đã tìm hiểu và khám phá nhiều phương diện của vấn đề như: nghiên cứu về kiểu nhân cách của thanh niên, sinh viên, ảnh hưởng của kiểu nhân cách đến xu hướng chọn nghề, động cơ thành đạt của thanh niên haytới bầu không khí tâm lý tập thể của sinh viên… Trong đó, nghiên cứu về ảnh hưởng của kiểu nhân cách đến các biến số khác về tâm lý hay xã hội được đặc biệt quan tâm và có nhiều nghiên cứu tiêu biểu Tuy nhiên, chưa xuất hiện nghiên cứu nào tìm hiểu về ảnh hưởng của các kiểu nhân cách đến cách ứng phó với stress của học sinh THPT
1.1.3 Tổng quan nghiên cứu về mối liên hệ giữa kiểu nhân cách và cách ứng phó với stress
Kiểu nhân cách và cách ứng phó với stress có sự tác động qua lại, ảnh hưởng
và chi phối lẫn nhau Qua một số công trình nghiên cứu trên thế giới hiện nay cho thấy kiểu nhân cách của mỗi người là khác nhau, kiểu nhân cách của con người là một trong những yếu tố tạo nên sự khác nhau giữa các cá nhân về khả năng tự điều chỉnh cảm xúc, hành vi và sự chú ý, quy định ở mức độ phản ứng cảm xúc và đồng thời quy định n t đặc trưng riêng cho từng cá nhân Mỗi loại kiểu nhân cách có những mặt mạnh và hạn chế riêng Trong đó những mặt hạn chế trong từng kiểu nhân cách có thể là nguyên nhân dẫn đến việc lựa chọn cách ứng phó tiêu cực Ming Sing Chai, Chee Seong Low (2014) trong một nghiên cứu trên 148 sinh viên đại học từ một trường đại học tư thục ở Kuala Lumpur, Malaysia đã xem x t mối quan hệ giữa kiểu nhân cách, chiến lược đối phó và mức độ căng thẳng tâm lý cho thấy: những người tham gia có chiều hướng nhân cách phân tích cao có nhiều khả năng sử dụng các chiến lược đối phó tập trung vào vấn đề hơn Những người có chiều hướng tính cách quan hệ cao và tính sẵn sàng trải nghiệm thấp có nhiều khả năng sử dụng các chiến lược đối phó được xã hội ủng hộ Trái với dự đoán, mức độ căng thẳng tâm lý không bị ảnh hưởng bởi kiểu nhân cách Tuy nhiên, mức độ căng
Trang 39thẳng tâm lý cao hơn có liên quan đến các chiến lược đối phó lảng tránh và được xã hội ủng hộ [110; tr 33-38]
Tác giả Halil Eksi đến từ Đại học Marmara, Thổ Nhĩ Kỳ thực hiện nghiên cứutính cách và sự đối phó của sinh viên Thổ Nhĩ Kỳ: Một phân tích tương quan chuẩn trên 237 sinh viên đã phát hiện ra một điều rất thú vị, đó là: những người có
sự tận tâm cao thì có xu hướng sử dụng các chiến lược đối phó tự tin, lạc quan và thiên về tôn giáo nhiều hơn, trong khi đó những người có tính hướng ngoại cao hơn thì thiên về sử dụng các chiến lược đối phó tự tin và có xu hướng tìm kiếm sựhỗ trợ của xã hội hơn trong những tình huống căng thẳng [96]
Một nghiên cứu khác trên 300 sinh viên (150 nữ và 150 nam) tại trường Đại học Malayer bằng thang đo tính cách năm nhân tố rút gọn (NEO_FFI) và thang đo các chiến lược ứng phó Tehran (TCSS) đã được tiến hành Kết quả nghiên cứu cho thấy tính nhạy cảm tương quan nghịch với phong cách ứng phó tập trung vào cảm xúc tích cực và tương quan thuận với phong cách ứng phó tập trung vào cảm xúc tiêu cực ở sinh viên nữ, trong khi nó lại tương quan thuận với phong cách ứng phó tập trung vào cảm xúc tiêu cực ở sinh viên nam Tính hướng ngoại thì tương quan thuận với phong cách ứng phó tập trung vào vấn đề và tập trung vào cảm xúc tích cực ở cả nam và nữ Tính sẵn sàng trải nghiệm tương quan thuận với phong cách ứng phó tập trung vào vấn đề ở nữ Tính dễ mến tương quan thuận với phong cách ứng phó tập trung vào vấn đề và tập trung vào cảm xúc tích cực và tương quan nghịch vơi phong cách ứng phó tập trung vào cảm xúc tiêu cực ở nam, trong khi tương quan thuận với phong cách ứng phó tập trung vào vấn đề và tương quan nghịch với phong cách ứng phó tập trung vào cảm xúc tiêu cực ở nữ sinh viên Tính tận tâm tương quan thuận với phong cách ứng phó tập trung vào vấn đề và tương quan nghịch với phong cách ứng phó tập trung vào cảm xúc tiêu cực ở cả nam và nữ [62; tr 797 – 802]
Một số tác giả khác như Mark S Allen, Iain Greenlees & Marc Jones (2011) nhận thấy có sự tương tác với nhau trong mô hình năm nhân tố của tính cách đối với việc ứng phó các vấn đề liên quan thể thao khi nghiên cứu trên 253 vận động
Trang 40viên.Kết quả nghiên cứu cho thấy, những vận động viên hướng ngoại, là những người có tâm lý ổn định và cởi mở với những trải nghiệm mới, có xu hướng sử dụng những chiến lược ứng phó tập trung vào vấn đề nhiều hơn Những vận động viên tận tâm và những vận động viên hướng ngoại, sẵn sàng trải nghiệm và dễ mến
có xu hướng sử dụng những chiến lược ứng phó tập trung vào cảm xúc, còn những vận động viên ít cởi mở, hoặc những người có tính nhạy cảm có xu hướng tránh sử dụng các chiến lược ứng phó Những đặc điểm tính cách khác nhau đã được quan sát giữa vận động viên bậc cao và bậc thấp, vận động viên nam và nữ, giữa các môn thể thao cá nhân và tập thể Những kết quả này cho thấy rằng mô hình năm nhân tố giúp phân biệt mức độ tham gia khác nhau của vận động viên và nhận dạng các chiến lược ứng phó mà các vận động viên có khả năng sử dụng trong quá trình tham gia thi đấu [106]
Có thể nhận thấy mối quan hệ giữa kiểu nhân cách và cách ứng phó với stress
đã được các tác giả trên thế giới rất quan tâm nhưng tại Việt Nam, những nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ này vẫn chưa có Ngoài ra, lứa tuổi thanh niên chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của các học giả Hầu như các nghiên cứu về mối quan hệ giữa kiểu nhân cách và cách ứng phó với stress chỉ tập trung tới khách thể
là sinh viên và người trưởng thành
Tóm lại, qua tổng quan tài liệu chúng tôi nhận thấy, những nghiên cứu về ứng phó với stress và kiểu nhân cách khá nhiều trong khi các nghiên cứu về ứng phó với stress của học sinh THPT có kiểu nhân cách khác nhau thì chưa có Đây là khó khăn của người nghiên cứu trong việc tiếp cận các nghiên cứu ở cả nước ngoài và Việt Nam về ứng phó với stress ở học sinh có kiểu nhân cách khác nhau Bởi thế, đây là một khoảng trống cần được nghiên cứu, làm rõ Đề tài luận án ―Ứng phó với stress của học sinh trung học phổ thông có kiểu nhân cách khác nhau‖ được lựa chọn sẽ mang lại ý nghĩa lí luận và thực tiễn sâu sắc
Kế thừa những nghiên cứu đi trước, căn cứ vào mục tiêu và giới hạn phạm vi của luận án, trong nghiên cứu này, chúng tôi tiếp cận vấn đề nghiên cứu theo các hướng sau đây: