1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHUONG PHAP GIAI BAI TAP DIEN MOT CHIEU LOP 9

12 10 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 40,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu một số phương pháp giải bài tập phần điện một chiều lớp 9 phù hợp với đặc điểm, tình hình, trình độ của từng đối tượng học sinh nhằm nâng cao chất lượng d[r]

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

I MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 1

3 Đối tượng nghiên cứu 1

4 Đối tượng khảo sát, thực nghiệm 1

5 Phương pháp nghiên cứu 1

5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 1

5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiển 1

6 Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu 2

6.1 Phạm vi nghiên cứu 2

6.2 Kế hoạch nghiên cứu 2

II NỘI DUNG 2

1 Cơ sở lí luận 2

2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu 2

3 Giải pháp thực hiện 4

3.1 Các bước giải một bài toán vật lí 5

3.2 Một số công thức vật lí cần ghi nhớ 5

3.3 Một số ví dụ cụ thể 6

2.4 Kết quả thực hiện 8

III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 9

1 Kết luận 9

2 Kiến nghi 10

TÀI LIỆU THAM KHẢO 11

Trang 2

PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TOÁN ĐIỆN MỘT CHIỀU LỚP 9

I MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Vật lý là môn khoa học nghiên cứu các sự vật hiện tượng trong tự nhiên và rất gần gũi với đời sống, sản xuất

Trong môn học Vật lý thì Điện Học là một phần có ứng dụng rất gần gũi với các em và có lượng kiến thức sâu rộng, bài tập đa dạng và phong phú Tuy nhiên

để các em học giỏi phần này, làm tốt bài tập phần này thì giáo viên phải có các phương pháp phù hợp để truyền tải đầy đủ kiến thức cho các em, từ đó các em

có hứng thú học tập để đạt được kết quả cao Việc tạo lòng say mê yêu thích và hứng thú môn học lại phụ thuộc rất nhiều vào nghiệp vụ sư phạm của người thầy Qua giảng dạy và khảo sát bằng thực nghiệm tôi nhận thấy khả năng học sinh vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các bài tập chưa hiệu quả, phần lớn các em không giải được bài tập

Xuất phát từ những lý do trên tôi đã suy nghĩ, tìm tòi và đưa ra sang kiến:

“Phương pháp giải bài tập phần điện một chiều lớp 9” với mong muốn phần

nào giúp các em có được sự tiến bộ trong học tập, có được phương pháp giải bài tập đúng đắn để tạo hứng thú học tập cho các em

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu một số phương pháp giải bài tập phần điện một chiều lớp 9 phù hợp với đặc điểm, tình hình, trình độ của từng đối tượng học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Vật Lý cấp trung học cơ sở

3 Đối tượng nghiên cứu

Các phương pháp giải bài tập vật lí phần điện một chiều cấp trung học cơ sở

4 Đối tượng khảo sát, thực nghiệm

Học sinh lớp 9 trường trung học cơ sở Lê Hồng Phong – Cam Lộ

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Phương pháp nghiên cứu lý luận (tham khảo các tài liệu, sách, báo và các Website có liên quan)

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiển

Khảo sát qua bài làm trên lớp và điều tra học sinh lớp 9 ở trường THCS Lê Hồng Phong

Nội dung điều tra:

Sử dụng phiếu điều tra trắc nghiệm để thu thập thông tin về tình hình thực tiễn, phương pháp giải các bài tập Vật lí phần điện một chiều và việc thường xuyên học bài và làm bài tập ở nhà của học sinh

Trò chuyện với giáo viên và học sinh trong nhà trường để thu thập một số

Trang 3

thông tin bổ sung cho phương pháp điều tra.

6 Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu

6.1 Phạm vi nghiên cứu

- Địa bàn Trường trung học cơ sở Lê Hồng Phong - xã Cam Tuyền - huyện Cam Lộ - tỉnh Quảng Trị

- Các phương pháp giải bài tập Vật lí phần điện một chiều trong chương trình lớp 9

6.2 Kế hoạch nghiên cứu

Thời gian: Bắt đầu từ đầu tháng 9 năm 2014 đến cuối tháng 4 năm 2015

II NỘI DUNG

1 Cơ sở lí luận

Phương pháp dạy học là cách thức sử dụng các nguồn lực trong giáo dục như giáo viên, trường lớp, dụng cụ học tập, các phương tiện vật chất để giáo dục người học

Phương pháp giáo dục tích cực là người học tự tìm ra kiến thức bằng hành động thao tác giáo viên đối thoại với người học, giáo viên hợp tác và trao đổi với người học và khẳng định kiến thức do người học tìm ra Học sinh học cách học, cách đặt vấn đề và giải quyết vấn đề, cách sống và trưởng thành Học sinh

tự đánh giá và điều chỉnh làm cơ sở cho giáo viên cho điểm cơ động

Đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh Để đạt được mục tiêu đó, đòi hỏi người giáo viên phải tích cực, nhiệt tình, tận tụy với học sinh, tìm hiểu sâu sát với từng đối tượng học sinh để có phương pháp dạy học phù hợp

Để hướng dẫn học sinh làm bài tập phần Điện một chiều trong chương trình lớp 9 không phải giáo viên trình bày lời giải, học sinh chép lại mà giáo viên phải

là người tổ chức hướng dẫn các em thông qua hệ thống các câu hỏi gợi mở để các em chủ động tìm ra hướng giải Trong quá trình hướng dẫn học sinh làm bài tập, người thầy cần rèn cho học sinh kĩ năng, thói quen độc lập suy nghĩ khoa học và lời giải phải có cơ sở lí luận, lôgic, chặt chẽ

2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu

Cam Tuyền là một xã có điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, ý thức tự học của các em còn nhiều hạn chế, phần lớn phụ huynh mãi lo làm ăn nên không quan tâm đến việc học của các em

Các em nắm bắt kiến thức một cách thụ động, lý thuyết chưa vững, công thức chưa nắm thật kỹ Nên việc giải bài tập gặp không ít khó khăn

Để khảo sát tình hình học tập của học sinh, chúng tôi tiến hành phát phiếu thăm dò và khảo sát bài làm trên giấy của các em

+ Phiếu thăm dò: Hãy đánh dấu X vào ô tương ứng với câu trả lời của mình

Trang 4

Với bài tập vật lí điện một chiều, em có thể giải được các bài tập ở mức độ nào?

Khó Hơi khó Dễ Không làm được

Trong tổng số 54 học sinh lớp 9 được khảo sát thì thu được kết quả như sau:

Bảng 1: Bảng kết quả thăm dò Mức độ Số học sinh chọn Tỉ lệ (%)

Qua phiếu thăm dò này ta thấy khả năng học sinh làm bài tập phần điện một chiều rất hạn chế Có đến 37,1% học sinh không làm được loại bài nào, 44,4% làm được các bài tập dễ, chỉ có 3,7% học sinh làm được các bài tập khó và 14,8% học sinh làm được các bài tập hơi khó Đây là một kết quả đáng lo ngại

Để biết một cách cụ thể học sinh có khả năng giải được các loại bài ở mức

độ dễ, khó thế nào, chúng tôi tiến hành khảo sát hai bài tập sau:

+ Bài khảo sát học sinh:

Bài 1

Cho mạch điện có sơ đồ như hình vẽ:

a) Khi công tắc mở, hai đèn có hoạt động

không? Vì sao?

b) Biết điện trở của đèn 1 là 12Ω, của đèn 2 là

7,2Ω Tính điện trở tương đương của toàn mạch

c) Gọi U1 là hiệu điện thế giữa hai đầu đèn 1,

U2 là hiệu điện thế giữa hai đầu đèn 2 Hãy so

sánh U1 và U2

Bài 2

Cho mạch điện có sơ đồ như hình vẽ

Biết R1 = 15Ω, R2 = R3 = 30Ω,

UAB = 12V

a) Tính điện trở tương đương của đoạn

mạch AB

b) Tính cường độ dòng điện qua mỗi

điện trở

Có 54 bài của 54 học sinh lớp 9 được tham gia khảo sát

Bảng 2: Bảng kết quả làm bài của học sinh

+

-K

Trang 5

Câu Số học sinh làm được Tỉ lệ (%)

Bảng 3: Bảng phân loại mức điểm của học sinh Điểm 0 - <3 3 - <5 5 - <6,5 6,5 - <8 8 - 10

Trong hai bài tập khảo sát có 5 câu ở các mức độ khác nhau, trong đó câu 1a

là câu ở mức độ nhận biết cũng chỉ có 31 em làm được Tuy nhiên có em làm được câu 1b, 1c nhưng lại không làm được 1a

Qua việc thăm dò và khảo sát, chúng tôi thấy tình hình học tập của các em chưa đạt hiệu quả cao Theo chúng tôi tìm hiểu thì do những nguyên nhân sau:

- Kiến thức toán của các em còn hạn chế nên không thể tính toán cũng như biến đổi các công thức

- Lười học, không học bài ở nhà, không tập trung nghe giảng nên không nắm được bài

- Không học thuộc công thức vật lí Có một số em mặc dù đã học thuộc công thức nhưng không xác định được công thức phù hợp để áp dụng và không biến đổi được công thức

- Một số em đã áp dụng đúng công thức nhưng kết quả giải ra vẫn sai do không đổi đơn vị của các đại lượng về cùng hệ thống

- Các em không hiểu rõ bản chất của một hiện tượng vật lí

- Một số em đọc không kỹ đề bài nên không nắm được yêu cầu đề bài

3 Giải pháp thực hiện

Để học sinh có kỹ năng giải bài tập vật lí nói chung và phần điện một chiều nói riêng, trong quá trình giảng dạy giáo viên cần thực hiện như sau:

- Trong các tiết học lý thuyết ở trên lớp giáo viên cần truyền tải kiến thức đến cho các em một cách đầy đủ, chính xác

- Cần phải rèn cho các em có một thái độ học tập nghiêm túc, đúng đắn Các

em phải có ý thức về việc học của mình, không chây lười, không ỷ lại Phải nắm chắc lí thuyết và hiểu rõ bản chất vật lí Học thuộc và vận dụng linh hoạt các công thức vật lí đã học cho từng bài toán cụ thể

- Giáo viên phải có các phương pháp dạy học phù hợp để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh Biết quan tâm đến từng đối tượng học sinh và động viên sự tiến bộ của các em

- Trong quá trình hướng dẫn học sinh làm bài tập cần cho các em nêu được phương pháp giải bài tập của từng dạng cụ thể

A

-B

R 1

+ A

R 2 R

3

Trang 6

- Chọn lọc một số bài tập điển hình từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp Chọn những bài tập có chứa đựng những mâu thuẩn, những điều mang tính chất nghịch lý so với nhận xét thông thường của học sinh, những bài tập có liên quan đến thực tế cuộc sống Phân loại các dạng bài tập có mức độ khó – dễ phù hợp với từng đối tượng học sinh

- Gợi ý nêu vấn đề để kích thích học sinh suy nghĩ đúng hướng bài tập

- Bổ túc một số kiến thức toán học cơ bản làm nền tảng cho việc giải bài tập vật lí

3.1 Các bước giải một bài toán vật lí

Bước 1: Đọc đề và tóm tắt đề bài

- Đọc kỹ đề, phân tích kỹ đề bài xem bài toán cho biết gì, bắt tìm gì và chú ý đến các điều kiện của bài toán

- Tóm tắt đề bài: Ghi ra tất cả những đại lượng và dữ kiện mà bài toán đã cho theo sơ đồ sau:

Cho biết:

Tìm

- Đổi đơn vị: sau khi tóm tắt đề bài, cần kiểm tra lại đơn vị của các đại lượng đã cho và đổi về cung một hệ thống đơn vi (thường là đổi về đơn vị SI)

Bước 2: Phân tích bài toán, xác định cách làm

Căn cứ vào yêu cầu bài toán và dữ kiện đã cho đề xác định xem cần phải vận dụng những kiến thức vật lí nào, áp dụng công thức nào Học sinh có thể liệt

kê tất cả các công thức liên quan đến các dữ kiện trong phần tóm tắt sau đó lựa chọn công thức phù hợp, đơn giản nhất nhất để áp dụng

Bước 3: Giải bài

- Dựa vào yêu cầu bài toán để đặt lời giải và áp dụng công thức phù hợp

- Dựa vào yêu điều kiện bài toán để biện luận đúng theo bản chất vật lí

- Vận dụng kiến thức toán học để biến đổi công thức và tính ra kết quả

Bước 4: Kết luận

- Biện luận, tìm ra kết quả theo yêu cầu bài toán và đúng với ý nghĩa vật lí

- Trả lời hoặc ghi đáp số

3.2 Một số công thức vật lí cần ghi nhớ

* Định luật Ôm tổng quát:

I = U R

* Định luật Ôm đối với đoạn mạch có n điện trở mắc nối tiếp:

I = I1 = I2 = = In; U = U1 + U2 + + Un; R = R1 + R2 + + Rn

* Định luật Ôm đối với đoạn mạch có n điện trở mắc song song:

Trang 7

I = I1 + I2 + + In ; U = U1 = U2 = = Un ; 1 2

* Công thức tính điện trở:

R = ρ l

S

* Công thức tính công của dòng điện:

A = P.t A = U.I.t A = I2Rt

2

U

R

* Công thức tính công suất:

P = U.I P = A t P = I2R

2

U P R

* Công thức tính nhiệt lượng:

Q = I2 R.t

3.3 Một số ví dụ cụ thể

Ví dụ 1:

Một đoạn mạch điện gồm một bóng đèn có ghi 6V - 2,4W mắc nối tiếp với biến trở Rx Một Ampe kế đo cường độ dòng điện trong mạch Hiệu điện thế giữa hai đầu đoạn mạch không đổi bằng 9V Biết đèn sáng bình thường và biến trở có giá trị nhỏ nhất

a) Vẽ sơ đồ mạch điện Giải thích ý nghĩa các số ghi trên bóng đèn?

b) Ampe kế chỉ bao nhiêu? Tìm điện trở của biến trở tham gia trong đoạn mạch?

c) Di chuyển con chạy của biến trở thì độ sáng của đèn thay đổi như thế nào? Vì sao?

Với đề bài này, giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện theo các bước như

đã nêu

Bước 1: Đọc đề và tóm tắt đề bài

Giáo viên cho học sinh đọc kỹ đề và tóm tắt đề bài

Bài toán cho biết gì và bắt tìm gì?

* Tóm tắt đề bài

Cho biết

Uđm = 6V

Pđm = 2,4W

U = 9V

a) Vẽ sơ đồ Ý nghĩa số ghi trên Đ

b) I = ? Rx = ?

c) Di chuyển con chạy của biến trở thì độ sáng của đèn thay đổi thế nào?

Bước 2: Phân tích bài toán, xác định cách làm:

- Muốn đo cường độ dòng điện trong mạch thì phải mắc ampe kế như thế nào?

- Các số ghi trên bóng đèn, trên các đồ dùng điện có ý nghĩa gì?

- Để xác định số chỉ của ampe kế, ta cần tính đại lượng nào?

- Trong mạch điện đã cho, khi đèn sáng bình thường thì cường độ dòng điện

Trang 8

trong mạch như thế nào so với cường độ dòng điện đinh mức của đèn?

- Muốn tính Rx cần áp dụng công thức nào? Trong công thức đó thì đại lượng nào đã biết, đại lượng nào chưa biết và cần tìm đại lượng chưa biết đó như thế nào?

- Hãy so sánh hiệu điện thế giữa hai đầu đèn với hiệu điện thế định mức của đèn

- Khi di chuyển con chạy của biết trở thì sẽ làm thay đổi đại lượng nào và có ảnh hưởng gì trong mạch điện không?

Bước 3: Giải bài

a) Học sinh sử dụng các kí hiệu trong sơ đồ điện để vẽ đúng mạch điện

Các số ghi trên đèn:

6V: Hiệu điện thế định mức của đèn

2,4W: Công suất định mức của đèn, nghĩa là công suất mà đèn tiêu thụ khi đèn hoạt động bình thường

b) Dựa vào điều kiện bài toán, học sinh tính được:

2, 4

6

dm

dm dm dm dm

dm

P

U

Học sinh biện luận để xác định được số chỉ của ampe kế

I = Iđm = 0,4A

Sau khi phân tích, học sinh có thể chọn cách giải sau để tính Rx

UR = U – Uđ = 9 – 6 = 3(V)

3 7,5( )

0, 4

R x

U R I

c) Vì con chạy của biến trở đang ở vị trí mà biến trở có giá trị nhỏ nhất nên khi di chuyển con chạy thì giá trị biến trở tăng lên dẫn đến điện trở tương đương của mạch tăng, do đó cường độ dòng điện trong mạch giảm, làm cho độ sáng của đèn giảm

Bước 4: Kết luận

Trả lời và ghi đáp số

Ví dụ 2: Cho mạch điện như hình vẽ:

R1 = 3 Ω ; R2 = 6 Ω ;

R3 = 4 Ω ;

Am pe kế chỉ 1A

Tính hiệu điện thế hai đầu AB?

Bước 1: Đọc đề và tóm tắt đề bài

Giáo viên cho học sinh đọc kỹ đề và tóm tắt đề bài

 

Đ

Rx C

A

B

A+

R1 R3

R

-

Trang 9

Bài toán cho biết gì và bắt tìm gì?

Cho biết:

R1 = 3 Ω

R2 = 6 Ω

R3 = 4 Ω

I2 = 1A

UAB = ?

Bước 2: Phân tích bài toán, xác định cách làm

Giáo viên hướng dẫn để học sinh phân tích được như sau:

Muốn tính UAB ta phải tính U3 và U12 : ( UAB = U3 + U12 )

Mà U3 = I3.R3

I3 = I1 + I2;

12 1 1

U I R

; U12 = I2.R2

Ở đây I2 và R2 đã biết do đó ta lần lượt tính được U12 I1 I3 U3

UAB

Bước 3: Giải bài

Giải:

U12 = I2.R2 = 1.6 = 6 (V)

I1 = U12

R1 =

6

3=2( A) I3 = I1 + I2 = 2 + 1 = 3(A)

U3 = I3 R3 = 3.4 = 12 (V)

UAB = U3 + U12 = 12 + 6 = 18 (V)

Bước 4: Kết luận

Trả lời và ghi đáp số

3.4 Kết quả thực hiện

Qua thời gian nghiên cứu và áp dụng phương pháp tôi nhận thấy:

Học sinh rèn được phương pháp tự học, tự phát hiện vấn đề, biết nhận dạng một số bài toán, nắm vững cách giải Kĩ năng trình bày một bài giải lôgic, khoa học

Đa số các em đã yêu thích giờ học Vật lí, nhiều học sinh tích cực xây dựng bài

Học sinh rất có hứng thú để giải bài tập Vật lí nói chung và phần Điện một chiều nói riêng

Để khẳng định các nhận xét trên tôi đã khảo sát lại các em bằng một bài kiểm tra sau:

Đề khảo sát sau khi áp dụng phương pháp mới Câu 1 Trên hai bóng đèn có ghi: 110V – 25W và 110V – 100W.

a) So sánh điện trở của hai bóng đèn trên

b) Có thể mắc nối tiếp hai bóng đèn này vào hiệu điện thế 220V được không? Vì sao?

Câu 2 Một ấm điện có ghi 220V – 1000W được sử dụng với hiệu điện thế

Trang 10

220V để dun sôi 2 lít nước từ nhiệt độ ban đầu 200C Hiệu suất của ấm là 90%, trong đó nhiệt lượng cung cấp để dun sôi nước là có ích

a) Tính nhiệt lượng cần cung cấp để đun sôi lượng nước trên Biết nhiệt dung riêng của nước là 4200J/kg.K

b) Tính nhiệt lượng mà ấm tỏa ra khi đó

Bảng 4: Bảng phân loại mức điểm của học sinh sau khi khảo sát

Điểm 0 - <3 3 - <5 5 - <6,5 6,5 - <8 8 - 10

Bảng 5: Bảng đối chiếu kết quả khảo sát Điểm 0 - <3 3 - <5 5 - <6,5 6,5 - <8 8 – 10

Tỉ lệ sau khi áp dụng

Tỉ lệ khảo sát ban

Qua bảng đối chiếu trên, ta thấy tỉ lệ học sinh trung bình, khá và giỏi tăng lên còn tỉ lệ học sinh yếu, kém giảm rất đáng kể Điều này đã chứng minh cho việc áp dụng các phương pháp giải bài tập trên là phù hợp và hiệu quả

III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1 Kết luận

- Để giúp học sinh hứng thú và đạt kết quả tốt trong việc giải bài tập vật lí, điều cơ bản nhất mỗi tiết dạy giáo viên phải tích cực, nhiệt tình, truyền đạt chính xác, ngắn gọn nhưng đầy đủ nội dung bài học

- Những tiết lý thuyết, thực hành cũng như tiết bài tập giáo viên phải chuẩn

bị chu đáo bài dạy, hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà đầy đủ để lên lớp các

em tiếp thu bài một cách hiệu quả và từ đó khắc sâu được kiến thức và phương pháp giải bài tập của học sinh

- Thường xuyên nhắc nhở các em yếu, động viên, biểu dương các em khá giỏi, cập nhật vào sổ theo dõi và kết hợp với giáo viên chủ nhiệm để có biện pháp giúp đỡ kịp thời, kiểm tra thường xuyên vở bài tập vào đầu giờ trong mỗi tiết học, làm như vậy để cho các em có một thái độ đúng đắn, một nề nếp tốt trong học tập

- Đối với một số học sinh chậm tiến bộ thì phải thông qua giáo viên chủ nhiệm kết hợp với gia đình để giúp các em học tốt hơn, hoặc qua giáo viên bộ môn toán để bổ túc kiến thức về toán học cho các em Từ đó gây sự đam mê, hứng thú học tập bộ môn vật lý

Ngày đăng: 27/12/2021, 14:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Ngọc Bảo (2006), Chương trình giáo dục phổ thông cấp trung học cơ sở, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục phổ thông cấptrung học cơ sở
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Bảo
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2006
2. Nguyễn Hải Châu (2007), Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS môn Vật lí, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viênTHCS môn Vật lí
Tác giả: Nguyễn Hải Châu
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2007
3. Nguyễn Thanh Hải (2006), Bài tập chọn lọc và nâng cao vật lí 9, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập chọn lọc và nâng cao vật lí 9
Tác giả: Nguyễn Thanh Hải
Nhà XB: Nhàxuất bản Giáo dục
Năm: 2006
4. Đoàn Duy Hinh (2006), Bài tập vật lí 9, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập vật lí 9
Tác giả: Đoàn Duy Hinh
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2006
5. Nguyễn Phương Hồng (2004), Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạyhọc
Tác giả: Nguyễn Phương Hồng
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2004
6. Đào Văn Phúc (2005), Bồi dưỡng Vật lí lớp 9, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng Vật lí lớp 9
Tác giả: Đào Văn Phúc
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2005
7. Vũ Quang (2005), Vật lí 9, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lí 9
Tác giả: Vũ Quang
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2005
8. Nguyễn Đức Thâm (2006), Phương pháp dạy học Vật lí, Nhà xuất bản Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Vật lí
Tác giả: Nguyễn Đức Thâm
Nhà XB: Nhà xuất bản ĐàNẵng
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Bảng kết quả thăm dò - PHUONG PHAP GIAI BAI TAP DIEN MOT CHIEU LOP 9
Bảng 1 Bảng kết quả thăm dò (Trang 4)
Bảng 3: Bảng phân loại mức điểm của học sinh - PHUONG PHAP GIAI BAI TAP DIEN MOT CHIEU LOP 9
Bảng 3 Bảng phân loại mức điểm của học sinh (Trang 5)
- Chọn lọc một số bài tập điển hình từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Chọn những bài tập có chứa đựng những mâu thuẩn, những điều mang tính chất nghịch lý so với nhận xét thông thường của học sinh, những bài tập có liên quan đến thực tế cuộc sống - PHUONG PHAP GIAI BAI TAP DIEN MOT CHIEU LOP 9
h ọn lọc một số bài tập điển hình từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Chọn những bài tập có chứa đựng những mâu thuẩn, những điều mang tính chất nghịch lý so với nhận xét thông thường của học sinh, những bài tập có liên quan đến thực tế cuộc sống (Trang 6)
Ví dụ 2: Cho mạch điện như hình vẽ: - PHUONG PHAP GIAI BAI TAP DIEN MOT CHIEU LOP 9
d ụ 2: Cho mạch điện như hình vẽ: (Trang 8)
Bảng 4: Bảng phân loại mức điểm của học sinh sau khi khảo sát Điểm0 - &lt;33 - &lt;55 - &lt;6,56,5 - &lt;8 8 - 10 - PHUONG PHAP GIAI BAI TAP DIEN MOT CHIEU LOP 9
Bảng 4 Bảng phân loại mức điểm của học sinh sau khi khảo sát Điểm0 - &lt;33 - &lt;55 - &lt;6,56,5 - &lt;8 8 - 10 (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w