1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

THỜI kỳ QUÁ độ lên CHỦ NGHĨA xã hội ở VIỆT NAM LIÊN hệ NHỮNG ĐÓNG góp lý LUẬN CHÍNH TRỊ xã hội của ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM QUA 34 năm đổi mới

35 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Liên hệ những đóng góp lý luận chính trị - xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam qua 34 năm đổi mới
Tác giả Lê Vũ Quốc Huy, Trương Minh Mẫn, Đồng Thị Kim Ngân, Huỳnh Phan Hiếu Nhân, Nguyễn Hữu Duy
Người hướng dẫn ThS. Đặng Kiều Diễm
Trường học Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội
Thể loại bài tập lớn
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 123,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại đại hội bầu cử đạibiểu Quốc hội khóa XV và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026,Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài viết khẳng định: “Ngay khi mới ra đời vàtron

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

ĐẠI HỌC BÁCH KHOA



BÀI TẬP LỚN MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

Giảng viên hướng dẫn: ThS.Đặng Kiều Diễm

Trang 2

Thành phố Hồ Chí Minh – 2021

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1

PHẦN II: NỘI DUNG 2

CHƯƠNG 1: THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 2

1.1 ĐẶC ĐIỂM QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 2

1.2 NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 4

1.2.1 Những đặc trưng bản chất của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 4

1.2.2 Phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay 6

CHƯƠNG 2: NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CỦA ĐẤT NƯỚC 10

2.1 TÍNH TẤT YẾU CỦA THỜI KÌ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 10

2.2 NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ THỜI KÌ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI 12

2.2.1 Thành tựu đạt được 12

2.2.1.1 Về chính trị 12

2.2.1.2 Về kinh tế 15

2.2.1.3 Về văn hóa, con người và xã hội 18

2.2.1.4 Về đối ngoại và hội nhập kinh tế 22

2.2.2 Những khó khăn, thách thức 24

2.4 Một số giải pháp khắc phục các hạn chế, hoàn thiện con đường đi lên xã hội chủ nghĩa của đất nước 28

PHẦN III: KẾT LUẬN 30

TÀI LIỆU THAM KHẢO 31

Trang 4

PHẦN I: MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài:

Lý luận về hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác cho thấy sự biến đổi các xã hội là quátrình lịch sử - tự nhiên Vận dụng lý luận đó vào phân tích xã hội tư bản, tìm ra cácquy luật vận động của nó, C.Mác và Ph.Ăngghen đều cho rằng, phương thức sản xuất

tư bản chủ nghĩa có tính chất lịch sử và xã hội tư bản tất yếu bị thay thế bằng xã hộimới - xã hội cộng sản chủ nghĩa

Mong muốn có ngay một chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa tốt đẹp để thay thế xã hội tưbản chủ nghĩa bất công, tàn ác là những điều tốt đẹp, là khát vọng chính đáng Trongthời đại ngày nay, mỗi quốc gia dân tộc đều có quyền lựa chọn con đường, sự pháttriển của mình sao cho phù hợp với xu thế chung của thời đại, với quy luật khách quancủa lịch sử và nhu cầu, khát vọng của dân tộc Do đó, Việt Nam đi lên chủ nghĩa xãhội là một tất yếu khách quan hoàn toàn phù hợp với xu thế chung đó

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, dù trong bất cứ hoàn cảnh nàoĐảng ta vẫn luôn kiên định với con đường xã hội chủ nghĩa Tại đại hội bầu cử đạibiểu Quốc hội khóa XV và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026,Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài viết khẳng định: “Ngay khi mới ra đời vàtrong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn khẳngđịnh: Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân ViệtNam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cáchmạng Việt Nam”

Vì vậy, nhằm để nhấn mạnh tầm quan trọng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ởViệt Nam cũng như là vai trò của Đảng trong thời kỳ quá độ ấy, nhóm đã lựa chọn đềtài: “Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và nhận thức của Đảng cộng sảnViệt Nam về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của đất nước”

Trang 5

PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 1.1 ĐẶC ĐIỂM QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Với sự kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo những lý luận của chủ nghĩa Mác –Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cùng với những đặc điểm tình hình thực

tế ở Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “con đường cách mạng Việt Nam

là tiến hành giải phóng dân tộc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến dần lên chủ nghĩa xã hội” Qua lời khẳng định của người, chúng ta có thể hiểu

quan niệm của ông cũng như của Đảng Cộng sản Việt Nam về thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội ở nước ta là quan niệm về một hình thái quá độ gián tiếp, Việt Nam quá

độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Để thực hiện được điều đó,chúng ta luôn có những thuận lợi và khó khăn, những yếu tố này luôn đi liền với nhau,

cụ thể được biểu hiện qua:

Việt Nam xuất phát từ một xã hội là thuộc địa, nửa phong kiến, lực lượng sảnxuất rất thấp Do trải qua giai đoạn hàng ngàn năm bị chiến tranh đô hộ của các chế độthực dân, phong kiến áp đặt nên tàn dư sau đó là điều không thể tránh khỏi Hơn thếnữa, các thế lực thù địch vẫn không ngừng phá hoại, xuyên tạc, chống phá chế độ xãhội chủ nghĩa và nền độc lập dân tộc của nhân dân ta

Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại với quy mô toàn cầu, thu hútmột cách mạnh mẽ đối với tất cả các nước Điều đó làm cho nền sản xuất vật chất vàđời sống xã hội đang trong quá trình quốc tế hóa chịu ảnh hưởng tích cực lẫn tiêu cựcđến sự phát triển của các quốc gia, các dân tộc Những xu thế đó vừa tạo thời cơ vàcũng đặt ra thử thách không nhỏ cho Việt Nam khi phải hòa mình vào xu thế nhưngkhông được phép hòa tan mất đi bản sắc đặc trưng của dân tộc, đất nước

Thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xãhội Các quốc gia với các chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại.Trong môi trường tập thể ấy, các quốc gia phải vừa hợp tác, vừa đấu tranh, vừa phảicạnh tranh gay gắt để bảo vệ lợi ích của quốc gia, dân tộc Cuộc đấu tranh ấy dù gặp

vô vàng khó khăn, thách thức, nhưng kết quả cuối cùng theo sự tiến hóa của lịch sử,

Trang 6

loài người nhất định phải tiến tới chủ nghĩa xã hội Vì vậy, nhân dân Việt Nam phảiluôn luôn cứng rắn, kiên quyết với niềm tin con đường mà Đảng Cộng sản Việt Nam

đã chọn, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội nhưng không thông qua chế độ tư bản chủnghĩa

Quá độ lên chủ nghĩa xã hội mà không thông qua chế độ tư bản chủ nghĩa là sựlựa chọn duy nhất đúng, khoa học và phản ánh đúng với quy luật, đường lối phát triểnkhách quan của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ hiện tại Cương lĩnh năm 1930 của

Đảng đã chỉ rõ: “Sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội Đây là sự lựa chọn dứt khoát và đúng đắn của Đảng, đáp ứng nguyện vọng thiết tha của dân tộc, nhân dân, phản ánh xu thế phát triển của thời đại, phù hợp với quan điểm khoa học, cách mạng và sáng tạo của chủ nghĩa Mác – Lênin”.

Đó chính là tư tưởng mới, nhận thức mới, tư duy mới của Đảng ta về con đường đi lênchủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Tư tưởng này cần được hiểu đầy đủvới những nội dung sau:

Thứ nhất, đây là con đường cách mạng tất yếu khách quan, con đường xâydựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Nó là con đườngđúng nhất, duy nhất mà Đảng và nhân dân ta sẽ luôn tin tưởng, kiên quyết, bất kể chocác thế lực thù địch luôn tìm cách xuyên tạc, phá vỡ niềm tin mãnh liệt ấy

Thứ hai, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Việt Nam bỏ qua việc xáclập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa.Điều này có nghĩa là trong thời kỳ này, xã hội còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu,nhiều thành phần kinh tế Tuy nhiên, sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa và thành phầnkinh tế tư nhân tư bản chủ nghĩa giờ đây không còn chiếm giữ vai trò chủ đạo trong xãhội nữa Tương tự, thời kỳ quá độ vẫn còn nhiều hình thức phân phối, ngoài phân phốitheo lao động (vẫn giữ vai trò chủ đạo) còn có hình thức phân phối theo mức độ đónggóp và quỹ phúc lợi xã hội Bên cạnh đó, tuy thời kỳ quá độ vẫn còn tồn tại quan hệbốc lột và bị bốc lột, nhưng quan hệ bốc lột tư bản chủ nghĩa giờ đây không còn giữvai trò thống trị như trước nữa

Trang 7

Thứ ba là Việt Nam phải tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạtđược dưới chủ nghĩa tư bản Đặc biệt là những thành tựu về khoa học và công nghệ,thành tựu về quản lý để phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội, đặc biệt là pháttriển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại, nâng cao năng suất laođộng, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân Tuy nhiên, chúng ta vẫnkhông được lơ là, phải tiếp thu một cách có chọn lọc, tránh để sai sót, ảnh hưởng đếnniềm tin của nhân dân vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta

Cuối cùng là Việt Nam quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủnghĩa là tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực Nó là một sựnghiệp rất khó khăn, phức tạp, lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chứckinh tế, xã hội Chính vì vậy, nó đòi hỏi phải có quyết tâm chính trị cao và khát vọnglớn của toàn Đảng, toàn dân thì mới có thể thực hiện được Chúng ta phải đồng lòng,tin tưởng vào đường lối sáng suốt, chính sách lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

để có thể bước qua được thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội một cách viên mãn, thànhcông

Như vậy, chúng ta thấy rằng, Việt Nam xuất phát điểm đi lên chủ nghĩa xã hội từ mộtnước thuộc địa nửa phong kiến, nền kinh tế còn hết sức lạc hậu, vẫn là nền kinh tếnông nghiệp lạc hậu cho nên tất yếu thời kỳ quá độ sẽ phải kéo dài hơn, khó khăn hơn,phức tạp hơn Đảng và nhà nước ta phải làm những nhiệm vụ mà đáng lẽ ra nhữngnhiệm vụ đó phải thuộc về các giai cấp tầng lớp trước thuộc chủ nghĩa tư bản nên thời

kỳ quá độ của chúng ta không thể nóng vội, chủ quan để có ngay chủ nghĩa xã hội màphải thực hiện từng bước, hoàn thành từng nhiệm vụ trong tổng thể thì mới có thể đạttới mục đích cuối cùng, đó là thực hiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tưbản chủ nghĩa

1.2 NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1.2.1 Những đặc trưng bản chất của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu và lý tưởng của toàn Đảng và toàn dân ta Từ khi ra đời,Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo toàn dân

Trang 8

đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước, dựng nên nhà nước dân chủ cộng hòa,tiến hành công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhằm thực hiện lý tưởng cao đẹp củatoàn Đảng, toàn dân: xây dựng Việt Nam thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh.

Và những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội được thể hiện rõ nét lần đầu tiên tại

Đại hội Đảng lần thứ VII (26/07/1991)1, đã xác định mô hình chủ nghĩa xã hội ở nước

ta với sáu đặc trưng cơ bản sau:

- Do nhân dân lao động làm chủ

- Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độcông hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu

- Có nền văn hóa tiên tiến , đậm đà bản sắc dân tộc

- Con người được giải phóng khỏi những áp bức, bóc lột, bất công, làm theo nănglực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc, có điều kiệnphát triển toàn diện cá nhân

- Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ

- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới

- Song đến Đại hội Đảng lần thứ XI (2011), trên cơ sở tổng kết 20 năm đổi mới,nhận thức của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xãhội ngày càng vững vàng và đã có bước phát triển mới Cương lĩnh xây dựngđất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã bổ sung và phát

+ Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

+ Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triểntoàn diện

+ Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng vàgiúp nhau cùng phát triển

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ VI, Nxb: CTQG, HN

2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XI, Nxb: CTQG, HN, 2011, tr68

Trang 9

+ Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vìnhân dân do đảng cộng sản lãnh đạo.

+ Có mối quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới

1.2.2 Phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung,

phát triển 2011) được thông qua tại Đại hội XI của Đảng đã nêu ra 8 phương hướng3

cơ bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta như sau:

“Một là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường” Do nước ta có xuất phát điểm đi lên

con đường chủ nghĩa xã hội là rất thấp, đó là vừa đi lên từ nền nông nghiệp lạc hậuvừa bỏ qua tư bản chủ nghĩa nên ta chưa có nền công nghiệp hiện đại Vì lẽ đó nêntrong thời kỳ quá độ này chúng ta phải thực hiện phương hướng công nghiệp hóa vàphải kèm theo đó là hiện đại hóa, cụ thể là công nghiệp hóa nông nghiệp và hiện đạihóa nông nghiệp nông thôn, bởi nếu chỉ có công nghiệp hóa truyền thống thì mãi mãichúng ta sẽ có khoảng cách so với các nước tư bản và các nước phát triển ngày càng xahơn Và phải phát triển thêm nền kinh tế tri thức, trước đây sau khi phân tích hiện tồn

và nhìn thấy cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trong chủ nghĩa tư bản, Mác đã dự báo

rằng: “Sự phát triển của tư bản cố định là chỉ số cho thấy tri thức xã hội phổ biến đã chuyển hóa đến mức độ nào đó thành lực lượng sản xuất trực tiếp”4, thực vậy ngàynày ta thấy hầu hết tất cả sản phẩm được tao ra có đóng góp từ yếu tố nguyên liệu và

cơ bắp là rất thấp, chủ yếu đó là hàm lượng chất xám kết tinh trong sản phẩm Nhưngđồng thời không được quên bảo vệ tài nguyên và môi trường, đây là một mâu thuẫncần giải quyết, nhiều nhà đầu tư trong nước chạy theo lợi nhuận mà sẵn sàng hi sinh

môi trường như sự kiện “Vedan giết sông Thị Vải – Đồng Nai năm 2006” nên chúng

ta phải sử dụng tài nguyên hiện nay sao cho không ảnh hưởng đến thế hệ mai sau

“Hai là, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” Mục đích

của việc phát triển nền kinh tế thị trường là để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần

3 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XI, Nxb: CTQG,HN, 2011, tr70

4 C Mác và Ph Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb: Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t 46, phần II, tr 372 – 373

Trang 10

của người dân và phải định hướng theo xã hội chủ nghĩa là vì lợi ích của nhân dân vàxuất phát từ lợi ích nhân dân.

“Ba là, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội” Tiếp tục

xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và phải xây dựng con người,con người ở đây là chỉ con người mới xã hội chủ nghĩa, như chủ tịch Hồ Chí Minh

từng nói: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải có con người xã hội chủ nghĩa và có

tư tưởng xã hội chủ nghĩa”5, con người này phải có trình độ, có tác phong công

nghiệp, phải có bản lĩnh chính trị và hiểu được mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa

xã hội, kèm theo là phải nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng

xã hội

“Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn

xã hội” Nhìn lại lịch sử của dân tộc Việt Nam, đó là lịch sử đi cùng với việc dựng

nước và giữ nước, đấu tranh chống thù trong, giặc ngoài, ngày nay cũng vậy trong

nước có các thế lực phiến loạn, “dân chủ cuội” sẵn sàng xuyên tạc, chống phá chủ

nghĩa xã hội, và đặc biệt chiến lược mà chúng đã và đang sử dụng là một chiến lược

rất thành công trong việc lật đổ các nước Liên Xô và Đông Âu đó là chiến lược “diễn biến hòa bình – bạo loạn lật đổ” trên tất cả các lĩnh vực từ chính trị đến kinh tế, văn hóa tư tưởng, chẳng hạn như sự kiện “Tây Nguyên 2001-2004” Do đó phải bảo đảm

vững chắc quốc phòng và an ninh, muốn làm được điều ấy thì trước hết phải xây dựngtrên một cơ sở kinh tế vững mạnh, thu nhập bình quân đầu người của nước ta phải caothì ta mới có thể chi ra cho quốc phòng, an ninh để mua hoặc sản xuất các loại vũ khí

để bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân

“Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” Đường lối đối ngoại

của ta phải là độc lập, tự chủ, độc lập ở đây là độc lập thực sự, trải qua mồ hôi, xươngmáu mới có được nên ta phải tự chủ không bị sự can thiệp, áp đặt của các thế lực từbên ngoài, phải hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển Đồng thời phải chủ động,tích cực hội nhập quốc tế do xu thế hội nhập quốc tế hiện nay là điều tất yếu, một quốc

5 Báo quân khu 7, Nxb: Báo quân khu 7, 2020

Trang 11

gia nào trong điều kiện hiện nay quay lưng lại với hội nhập quốc tế thì quốc gia đóchắc chắn không phát triển và tiến bộ được và nước ta muốn tích cực hội nhập thì phảidựa trên nội lực của mình đó là tài nguyên thiên nhiên và nguồn lực con người dồi dào,

ở Việt Nam hiện nay giá lao động đang rẻ, đặc biệt là trong thời kỳ dân số vàng hiệnnay,…

“Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất” Phương hướng này

nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động sức lực, trí tuệ của nhân dântrong quá trình xây dựng và phát triển đất nước

“Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” Nhân dân sẽ được thực hiện quyền của mình trực tiếp nhất

thông qua nhà nước xã hội chủ nghĩa và nhà nước này phải là nhà nước của dân, dodân và vì dân

“Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh” Vì Đảng giữ vai trò lãnh

đạo, lãnh đạo bằng đường lối, chủ trương nên đảng phải thực sự trong sạch và vữngmạnh

Những phương hướng trên vừa là kết quả tổng kết thực tiễn vừa là kết quả nghiên cứu

lý luận, học hỏi kinh nghiệm quốc tế của Đảng và nhà nước ta Và trong quá trình thựchiện tám phương hướng cơ bản kể trên thì trong cương lĩnh xây dựng đất nước trongthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta còn yêu

cầu phải đặc biệt chú trọng và giải quyết thêm “tám mối quan hệ lớn”6 Song sau 30năm tổng kết và đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn trên nhiềumặt: kinh tế, xã hội, phúc lợi, an ninh trật tự,… và tại Đại hội Đảng lần XII (2016) từbài học kinh nghiệm 30 năm đổi mới, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thutinh hoa nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam, Đảng một

6 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb: CTQG,HN, 2011, tr 72-73

Trang 12

lần nữa quán triệt và đặt mục tiêu thực hiện tốt “12 nhiệm vụ” 7 cơ bản và “9 mối quan

hệ lớn” 8

7 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XII, Nxb: CTQG,HN, 2016, tr77-80

8 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XII, Nxb: CTQG,HN, 2016, tr80

Trang 13

CHƯƠNG 2: NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ THỜI KỲ

QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CỦA ĐẤT NƯỚC 2.1 TÍNH TẤT YẾU CỦA THỜI KÌ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định, sau khi hoàn thành về cơbản những nhiệm vụ của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, nước ta chuyểnsang thực hiện những nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên CNXH, không qua chế độ tưbản chủ nghĩa (TBCN) Nhưng thực tế, cho đến nay vẫn còn không ít người hoài nghi

về tính tất yếu của bước quá độ này, thậm chí có ý kiến cho rằng, không cần sử dụngphạm trù thời kỳ quá độ hoặc nên lựa chọn một con đường khác Bởi vậy, làm rõ tínhtất yếu khách quan và nội dung của thời kỳ quá độ lên CNXH không qua chế độTBCN ở nước ta vẫn là một vấn đề lý luận và thời sự cấp bách trong hoàn cảnh hiệnnay

Khi phân tích những mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư bản và những đặc trưng của xãhội cộng sản, Các Mác đã chỉ ra rằng, từ xã hội TBCN lên xã hội cộng sản chủ nghĩa(CSCN) là cả một thời kỳ lịch sử lâu dài, từ khi giai cấp công nhân giành được chínhquyền đến khi xây dựng thành công CSCN Trong quan niệm đó, thời kỳ quá độ đượccoi là một quá trình cải biên từ xã hội TBCN lên xã hội CSCN Trên cơ sở thực tiễncủa Cách mạng XHCN Tháng Mười Nga và thực tiễn công cuộc xây dựng CNXH ởLiên Xô, Lê Nin đã phát triển nhiều luận điểm mới cho rằng, từ CNTB lên CNXH cómột thời kỳ lịch sử đặc biệt, đó là thời kỳ quá độ lên CNXH Chủ tịch Hồ Chí Minh bổsung thêm, các nước thuộc địa, nô lệ, tiền TBCN đặt trong chủ nghĩa Mác-Lênin cóthể quá độ lên CNXH Vì vậy, con đường quá độ từ CNTB lên CNXH và CNCS làmột tất yếu khách quan, không thể đảo ngược được

Nước ta đi lên CNXH là một tất yếu khách quan theo đúng quy luật tiến hóa của lịch

sử Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết luận: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không cócon đường nào khác là con đường cách mạng vô sản Chỉ có CNXH, CNCS mới giảiphóng được các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân thế giới Thời kỳ quá độ làmột thời kỳ lịch sử, thời kỳ chuyển biến cách mạng mà bất cứ quốc gia nào đi lên

Trang 14

CNXH cũng đều phải trải qua Nước ta quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN là mộttất yếu lịch sử Bởi vì, thời đại chúng ta đang sống là thời kỳ quá độ từ CNTB lênCNXH trên phạm vi toàn thế giới.

Thực tiễn lịch sử đã khẳng định, CNTB là chế độ xã hội đã lỗi thời về mặt lịch sử, sớmhay muộn cũng phải được thay thế bằng hình thái kinh tế-xã hội CSCN mà giai đoạnđầu là giai đoạn XHCN Đảng ta ngay từ khi mới ra đời, trong cương lĩnh (năm 1930)

đã khẳng định mục tiêu, lý tưởng phấn đấu của nước ta là độc lập dân tộc và CNXH.Đây là sự lựa chọn của chính lịch sử dân tộc, lại phù hợp với xu thế của thời đại Điều

đó cũng đã thể hiện sự quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN ở nước ta là một tấtyếu lịch sử

Tuy nhiên, thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta sẽ lâu dài và gian khổ Chủ tịch Hồ

Chí Minh đã nói: “Một chế độ này biến đổi thành một chế độ khác là cả một cuộc đấu tranh gay go, kịch liệt và lâu dài giữa cái xấu và cái tốt, giữa cái cũ và cái mới, giữa cái thoái bộ và cái tiến bộ, giữa cái đang suy tàn và cái đang phát triển Kết quả là cái mới, cái tiến bộ nhất định thắng” Nước ta là một nước nông nghiệp, công cuộc

thay đổi xã hội cũ thành xã hội mới sẽ gian nan và phức tạp hơn đánh giặc, vì phải đấutranh với kẻ địch nguy hiểm khác đó là nghèo nàn, đói khổ và lạc hậu

Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sửnước ta Chúng ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thànhkiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm Chúng ta phải cải biến quan hệ sản xuất cũ, xóa

bỏ giai cấp bóc lột, xây dựng quan hệ sản xuất mới Đó là cuộc cách mạng vĩ đại, vẻvang nhất trong lịch sử loài người, nhưng đồng thời cũng là một cuộc cách mạng gay

go, phức tạp và đầy khó khăn Trong bối cảnh kinh tế-xã hội hiện nay, nước ta luôn cónhững khả năng và tiền đề để quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN ngay cả trongđiều kiện không còn hệ thống XHCN thế giới

CNTB có vai trò lịch sử là phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, xã hội hóa lao độngdựa trên nền tảng chế độ tư hữu TBCN Quá trình này diễn ra một cách tự phát, tuần

tự, kéo dài hàng thế kỷ Ngày nay, trong những điều kiện lịch sử mới, chúng ta có thể

đi con đường phát triển rút ngắn, phát triển theo định hướng XHCN Sự rút ngắn này

Trang 15

chỉ có thể thực hiện thành công với điều kiện chính quyền thuộc về Nhân dân dưới sựlãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tuy nhiên, chúng ta cần nhận thức đầy đủ sự rút ngắn ở đây không phải là công việc

có thể làm nhanh chóng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Tiến lên CNXH, không thể một sớm một chiều Đó là cả một công tác tổ chức và giáo dục; CNXH không thể làm mau được mà phải làm dần dần” Do đó, chúng ta không thể nóng vội tiến ngay lên

CNXH mà còn phải duy trì và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trongmột thời gian tương đối dài

Nhận thức đúng nội dung của sự quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN có ý nghĩathực tiễn quan trọng, giúp chúng ta khắc phục được những quan niệm đơn giản, duy ýchí về thời kỳ quá độ lên CNXH từ một nước đang phát triển Đồng thời, chúng takhông ngừng tiếp thu có chọn lọc, tận dụng phù hợp với giá trị của nền văn minh nhânloại để hiện thực hóa con đường cách mạng mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhândân ta đã lựa chọn

2.2 NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ THỜI KÌ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

“đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam”9 Cơ sở tư tưởng, kim chỉ namxây dựng tổ chức và hoạt động của Đảng được khẳng định đầy đủ trong Văn

kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác Lê-nin làm hệ tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở tư tưởng và phương châm

-9 Đảng Cộng sản Việt Nam, Điều lệ Đảng, Nxb: CTQG, H 2011, tr 4

Trang 16

hành động”, dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ Công tác cán bộ của

Đảng bộ tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện cụ thể, toàn diện và đồng bộ Bộmáy Đảng trở nên cơ động, hoạt động hiệu lực, hiệu quả Công tác phòng,chống sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một số cán

bộ, đảng viên đã có kết quả ngay từ đầu Phương thức lãnh đạo của Đảngđối với hệ thống chính trị tiếp tục được cập nhật: vai trò, quyền hạn và tráchnhiệm của Đảng trong việc lãnh đạo hệ thống chính trị được xác định rõhơn, sâu sắc hơn Dân chủ trong Đảng ngày càng tiến bộ và Đảng ngày càngkhẳng định khả năng hoạch định đường lối, chỉ đạo chính trị, tư duy chiếnlược và tổ chức thực hiện các sáng kiến, chủ trương đó trong suốt quá trìnhcách mạng Việt Nam Nhân dân ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo củaĐảng

Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Quốc hội đã có những bước đổi mới quan trọng, từ bầu cử đại biểu đến đổimới tổ chức bộ máy và chế độ làm việc, tăng cường bộ phận chuyên trách.Phương thức bầu cử đại biểu Quốc hội đã được cập nhật, phù hợp với yêucầu dân chủ và pháp quyền Nhiều quy định mới, cách làm mới như chophép tự do ứng cử, tăng số lượng đại biểu chuyên trách, quan tâm đến tiêuchuẩn đại biểu nhằm cải thiện công việc của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.Quốc hội và các Ủy ban đã cải tiến nội dung, phương thức làm việc; bảo vệnhiệm vụ của đại biểu Quốc hội Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức và cơ chếlàm việc của các thiết chế của bộ máy nhà nước từng bước được cập nhật,hoàn thiện và hoạt động hiệu lực, hiệu quả Quốc hội hoạt động thườngxuyên hơn và ngày càng trở nên dân chủ hơn Việc giám sát, thảo luận và raquyết định đối với các vấn đề quốc gia quan trọng quốc gia đã trở nên chấtlượng và thực tiễn hơn

Quốc hội đã làm tốt hơn công việc đưa ra quyết định Chỉ thống kê số lượngcác luật, quy định được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua từnăm 1986 đến năm 2016 Nó đã tăng gần gấp 8 lần so với luật và quy địnhđược ban hành trong 41 năm trước (483/63); trong 4 năm 2016 - 2020, Quốc

Trang 17

hội đã ban hành 65 luật và 99 nghị định, trong đó có nhiều đạo luật quantrọng nhằm thể hiện và cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 vềquyền con người, quyền cơ bản và nghĩa vụ của xã hội, hoàn thiện tổ chức

bộ máy nhà nước phù hợp với các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa Đồng thời, có một số luật mới lần đầu tiên được Quốc hộiban hành như luật An ninh mạng, luật Quản lý Ngoại thương, luật Phòngchống tác hại của rượu bia, v.v

Chính phủ cũng đã có những thay đổi đáng kể về cơ cấu tổ chức và phươngthức hoạt động Nguyên tắc pháp quyền trong hoạt động của các cơ quannhà nước được chấp hành tốt hơn Hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nướcđược nâng lên, các nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lựcnhà nước từng bước được thực hiện Quyền lực trong tổ chức và hoạt độngcủa các cơ quan nhà nước đã có những cơ chế kiểm soát và đạt được một sốthành công nhất định Các thủ tục của chính phủ dựa trên sự đổi mới quantrọng, chủ yếu quản lý ở tầm vĩ mô thông qua chính sách, kế hoạch, phápluật Thực hiện một bước trong quản lý bền vững, với nhiều cải cách hànhchính, loại bỏ nhiều thủ tục, văn bản nhũng nhiễu, gây phiền hà Công tácthanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng,lãng phí được đẩy mạnh và đạt nhiều kết quả; trong đó đã tập trung chỉ đạo,

xử lý nghiêm và công khai kết quả xử lý nhiều vụ việc tham nhũng, gópphần củng cố niềm tin trong nhân dân Thể chế kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa đang dần được hoàn thiện theo hướng hiện đại,đồng bộ và hội nhập

Hệ thống tư pháp đã được cải thiện phù hợp với nhu cầu dân chủ và phápquyền Chức năng, nhiệm vụ và phương thức làm việc của các cơ quan tưpháp ngày càng được xác định rõ ràng hơn Tổ chức bộ máy Tòa án nhândân tối cao và cấp tỉnh có một số thay đổi; thành lập các toà án chuyên tráchmới (như toà thương mại, toà lao động, toà hành chính) Cơ cấu tổ chức củaViện Kiểm sát nhân dân tối cao đã được điều chỉnh để tập trung vào việcthực hiện các chức năng hành chính và thực thi pháp luật, giám sát và xử lý

Ngày đăng: 27/12/2021, 10:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w