Kinh tế môi trường là gì “Kinh tế môi trường là công cụ kinh tế được sử dụng để nghiên cứu môi trường và điều đó cũng có nghĩa là trong tính toán kinh tế phải xét đến các vấn đề môi trường”. Những điểm cần ghi nhớ khi xem xét kinh tế môi trường: – Tài nguyên không tái tạo như dầu mỏ, than đá, khí đốt có thể bị cạn kiệt.
Trang 1KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN
-o0o -MÔN HỌC: KINH TẾ MÔI TRƯỜNG TÀI NGUYÊN
TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN VÀ CÁC VẤN ĐỀ CỦA ĐÔ THỊ XANH
GVHD: TS Phan Thị Giác Tâm HVTH: Trần Minh Tài
Nguyễn Huỳnh Như
TP Hồ Chí Minh, tháng 08 năm 2018
Trang 2KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN
-o0o -MÔN HỌC: KINH TẾ MÔI TRƯỜNG TÀI NGUYÊN
TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN VÀ CÁC VẤN ĐỀ ĐÔ THỊ XANH
GVHD: TS Phan Thị Giác Tâm HVTH: Trần Minh Tài
Nguyễn Huỳnh Như
TP Hồ Chí Minh, tháng 08 năm 2018
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC
Chương 1 KHÁI NIỆM VỀ ĐÔ THỊ XANH
1.1 Khái niệm đô thị xanh
1.2 Một số yếu tố cơ bản của đô thị xanh
1.3 Những lợi ích mà đô thị xanh mang lại
Chương 2 TỔNG QUAN VỀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ XANH
2.1 Qúa trình phát triển đô thị xanh trên thế giới
2.1.1 Lược sử hình thành và phát triển
2.1.2 Một số đô thị xanh tiêu biểu
2.1.3 Ưu và nhược điểm
2.2 Quá trình phát triển đô thị xanh tại Việt Nam
Chương 3 TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ ĐÔ THỊ XANH
3.1 Nguyên tắc xây dựng đô thị xanh
3.2 Tiêu chí đánh giá đô thị xanh
3.3 Các sơ sở pháp lý xây dựng và phát triển đô thị xanh tại Việt Nam
Chương 4 NHỮNG VẤN ĐỀ TRONG PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ XANH
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MA TRẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
1 Đỗ Tú Lan , 2013 , Phát triển đô thị Xanh trong Chiến lược Tăng trưởng Xanh, Tạp chí kiến trúc
2 Đỗ Tú Lan , 2017 , Phát triển đô thị sinh thái bền vững, Tạp chí kiến trúc
3 Lưu Đức Hải , 2001 , Vấn đề đô thị sinh thái trong phát triển đô thị ở Việt Nam, Tạp chí quy hoạch đô thị
4 Lưu Đức Hải, Nguyễn Ngọc Sinh , 2008 , Quản lý môi trường cho sự pháttriển bền vững, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
5 Nguyễn Hữu Đoàn , 2009 , Vận dụng phương pháp phân tích đa tiêu chí đánh giá mức độ đô thị hoá nhằm góp phần xây dựng các quan điểm phát triển đôthị ở Việt Nam đến năm 2020, lấy Hà Nội làm ví dụ, Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
6 Ngô Trung Hải, 2017, Cấu trúc không gian đô thị thích ứng trong quá trình chuyển hóa không gian đô thị Việt Nam, Luận án tiến sĩ chuyên ngành kiến trúc, Viện kiến trúc quốc gia
7 Nguyễn Văn Long, Ngô Thị Minh Thê, Lê Đức Viên, Nguyễn Hoàng Linh,2017, Nền tảng khoa học cho quản lý cảnh quan bền vững, Tạp chí kiến trúc số 12
Tài liệu tiếng Anh
45 City of Vancouver, 2012, Greenest city 2020
46 A strategy for urban green space
47 Green in Future, 2017, Green Pulse
48 Skanska, 2010, Green Urban Development Report
49 BOP Consulting, 2013, Green Spaces: The Benefts for London
50 Richard m Daley, mayor, 2008, Adding green to urban design, a city for us and future generations
51 UCD Urban Institute Ireland, 2008, Green City Guidelines
52 Mrs.Pankaja M.S, Ph.D Student, Dr H.N Nagendra, Associate
Professor, 2015, Green City Concept– As New Paradigm in Urban Planning
53 Paul Brown, 2009, Hallmarks of a sustainable city
54 Green City Bonds, 2015, How to issue a green city bond, the green city bonds overview
55 Food and Agriculture Organization of the United Nations, 2018, Forests and sustainable cities
56 Richard Simpson, 2012, Green Urban Economy
Trang 557 Laurie Kerr, 2017, A tale of two green cities
58 Henrik ljungman, 2014, Green-urban balance
59 Laurie Laybourn-Langton with Harry Quilter-Pinner, 2016, London global green city
60 Na Xiu, 2017, Urban Green Networks
61 European Union, 2010, Making our cities attractive and sustainable
62 Jungwon Yoon, and Jiyoung Park, 2015, Comparative Analysis of Material Criteria in Green, Certification Rating Systems and Urban Design Guidelines
63 European Green Capital, 2014, Copenhagen Smart City
64.The Nordic Eight, 2011, Nordic solutions for sustainable cities
65 Borges, L A.; Nilsson, K.; Tunström, M.; Dis, A T.; Perjo, L.; Berlina, A.; Costa, S O.; Fredricsson, C.; Grunfelder, J.; Johnsen, I.; Kristensen, I.;
Randall, L.; Smas, L.; Weber, R, 2017, White Paper on Nordic Sustainable Cities
66 Christopher a Lepczyk, myla f J Aronson, karl l Evans, mark a
Goddard, susannah b Lerman, and j Scott macivor, 2017, Biodiversity in the City: Fundamental Questions for Understanding the Ecology of Urban Green Spaces for Biodiversity Conservation
67 OECD, 2013, Green Growth in Cities, OECD Green Growth Studies, OECD Publishing.
Trang 6MA TRẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8- Quản lý khíhậu (p16-21)
- Công trình
Trang 9xanh (p22-27)
- Giao thôngxanh (p28-33)
- Chất thảitrong đô thị (p34-39)
- Nước sạch
đô thị (p52-57)
- Thực phẩmđịa phương(p64-70)
Trang 1048 P21 P13-16
49
- Lợi ích vềmôi trường(P6-9)
- Sức khỏe, thểchất, tinh thần (P10-12)
- Lợi ích xãhội (P13-15)
- Lợi ích vềkinh tế(P16_19)
Trang 11- Phúc ChâuP57
-PhiladelphiaP61
Brussels P67
Trang 12- VancouverP77
Trang 13Chương 1 KHÁI NIỆM VỀ ĐÔ THỊ XANH
1.1 Khái niệm đô thị xanh
Khái niệm đô thị xanh được hiểu là đô thị đạt 7 tiêu chí: Không gian xanh;công trình xanh; giao thông xanh; công nghiệp xanh; chất lượng môi trườngxanh; bảo tồn cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, công trình lịch sử,văn hóa; cộng đồng dân cư sống thân thiện với môi trường và thiên nhiên
Đô thị xanh (đô thị sinh thái) – Eco city được xây dựng trên nguyên tắc lấymôi trường làm nền tảng phát triển, giảm thiểu phát thải Cacbon, sử dụng nănglượng tái tạo và lồng ghép các yếu tố môi trường (cây xanh, mặt nước, hệ sinhthái tự nhiên) vào trong các hoạt động đô thị, tăng trưởng kinh tế, giảm nghèođói, tăng mật độ dân cư, tăng cường chất lượng môi trường sống
Phát triển đô thị xanh là việc làm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triểntrong khi đảm bảo rằng tài sản thiên nhiên tiếp tục cung cấp các nguồn lực vàdịch vụ môi trường mà chúng ta dựa vào Để làm được điều này, nó phải tác độngqua lại một cách tích cực và đổi mới, điều đó sẽ củng cố sự tăng trưởng bền vững
và tạo ra các cơ hội kinh tế mới trong môi trường độ thị bền vững
Ngoài ra, theo Garmendia, Apostolopoulou, Adams, & Bormpoudakis,
2016, đô thị xanh là một đô thị mà trong đó tập trung chủ yếu vào việc thúc đẩyphát triển kinh tế song song với công tác tập trung vào việc cung cấp các dịch vụthích ứng với khí hậu hoặc hệ sinh thái tại đô thị
Không gian xanh đô thị bao gồm mọi thứ ở các thành phố có thảm thực vật.Nói chung nó đôi khi được gọi là "Cơ sở hạ tầng xanh", bao gồm toàn bộ cảnhquan làm việc ở các thành phố phục vụ các vai trò như cải thiện chất lượngkhông khí, bảo vệ tốt và kiểm soát ô nhiễm (Girling và Kellett, 2005)
Hiện tại, khái niệm "Thành phố xanh" bị coi là một mở rộng phát triển bềnvững ở đô thị bối cảnh (Lewis, 2015) và đại diện cho mô hình kiến trúc củatương lai, nơi các cấu trúc đô thị tương thích với môi trường và chất lượng cuộcsống (ELCA, 2011)
Trang 14Thành phố xanh là thành phố thể hiện hiệu quả môi trường cao so với thànhlập điểm chuẩn về:
i) Chất lượng tài sản môi trường (không khí, nước, đất / đất và đa dạng sinhhọc),
ii) Sử dụng hiệu quả các nguồn lực (nước, năng lượng, đất đai và vật liệu)
và iii) giảm thiểu và thích nghi đối với các rủi ro phát sinh từ biến đổi khí hậu,đồng thời tối đa hóa lợi ích kinh tế và xã hội và xem xét bối cảnh của nó (quy môdân số, cơ cấu kinh tế xã hội và địa lý và khí hậu đặc điểm)
1.2 Một số yếu tố cơ bản của đô thị xanh
- Môi trường tự nhiên: Đất, nước, không khí
- Môi trường vật chất: Các công trình: các không gian ở, công cộng, thươngmại, dịch vụ, công viên, cây xanh, công nghiệp, kho tàng, giao thông, hạ tầng kỹthuật, không gian giao tiếp, giao lưu
- Môi trường phi vật chất: Văn hóa, tinh thần, sự an toàn, ổn định, cân bằng
và công bằng
- Điều kiện sống tốt: về vật chất (ăn, uống, thu nhập, được làm việc) và tinhthần (hưởng thụ, ngủ, nghỉ ngơi, vui chơi, sinh hoạt)
Trang 15 Không gian xanh
1.3 Những lợi ích mà đô thị xanh mang lại
Lợi ích về mặt môi trường
Làm mát không khí thông qua bóng râm và che phủ mặt đất với khả nănggiữ nhiệt ít hơn
Cơ sở hạ tầng xanh góp phần giảm lưu lượng nước bề mặt, dẫn đến giảm lũ
và chất lượng nước tốt hơn
Chất lượng không khí tốt hơn thông qua việc các chất gây ô nhiễm bị hấpthụ
Giảm thiểu biến đổi khí hậu thông qua thu nhận carbon
Khả năng đa dạng sinh học / hệ sinh thái tốt hơn bằng cách cung cấp môitrường sống tự nhiên
Lợi ích về sức khỏe thể chất, tinh thần và lợi ích phúc lợi
Trang 16Giảm béo phì và sức khỏe tim mạch và hô hấp tốt hơn thông qua khônggian để tập thể dục.
Giảm căng thẳng, mệt mỏi về tinh thần và thiếu tập trung thông qua trảinghiệm thẩm mỹ
Chương 2 TỔNG QUAN VỀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ XANH
2.1 Quá trình phát triển đô thị xanh trên thế giới
2.1.1 Lược sử hình thành và phát triển
Có nhiều tóm tắt về quá trình hình thành và phát triển của đô thị sinh thái.Nhận biết được quá trình hình thành và phát triển của đô thị sinh thái giúp ta cómột nền tảng vững chắc cho việc tiếp cận nghiên cứu về đô thị sinh thái
Tóm tắt quá trình phát triển đô thị sinh thái theo Nguyễn Văn Long, Ngô Thị Minh Thê, Lê đức Viên, Nguyễn Hoàng Linh, 2017
STHĐT buổi đầu không được khởi xướng bởi các nhà sinh học và sinh tháihọc Các thuật ngữ “hệ sinh thái” và “sinh thái học cảnh quan” đã lần lượt đượcđưa ra vào những năm 1935 và 1939 Vài thập kỷ gần đây, các nhà sinh thái họcvẫn chỉ tập trung nhiều vào nghiên cứu “thiên nhiên vắng mặt con người” Tuy
Trang 17nhiên, cũng có một số điểm sáng nghiên cứu về phân bố không gian và sự phongphú của động thực vật tại các thành phố ở châu Âu trong giai đoạn từ năm 1940tới 1950 sau thế chiến thứ II (Sukopp, 1990, 2002) Những nghiên cứu này chủyếu được thực hiện bởi các nhà thực vật – động vật học, đại diện cho một cáchtiếp cận sinh thái học – sinh học trong đô thị mà đôi khi được gọi là “trường pháiBerlin”.
Tại Bắc Mỹ, Adams (1935), một nhà sinh thái động vật học và là người tiênphong trong lĩnh vực sinh thái học năng lượng, đã thảo luận khá sâu về mối quan
hệ của sinh thái tổng quát với sinh thái học nhân văn Nội dung được trình bàytrong cuốn sách sinh thái vào năm 1940, với tiêu đề “mối quan hệ giữa sinh tháihọc và lợi ích của con người” trong một hội nghị chuyên đề tại Hoa Kỳ (Adams,1940) Stearns (1970) cũng thừa nhận rằng các nhà sinh học nhìn chung đã bỏqua môi trường đô thị trong các nghiên cứu của họ và khẳng định rằng: “Ý nghĩacủa các khái niệm sinh thái như: Sự đa dạng, diễn thế, sơ đồ năng lượng, chuỗithức ăn, động lực dân số và lãnh thổ rất quan trọng trong việc quản lý các thànhphố” Dù những nghiên cứu này là cột mốc quan trọng trong lịch sử của STHĐT,nhưng chúng vẫn không thể làm thay đổi nhận thức của các nhà sinh thái rằng:Các thành phố “không xứng đáng” là một địa điểm nghiên cứu
Do vậy, hầu như không thể tìm thấy những phát biểu về STHĐT trong cáctạp chí chính thống của khoa học sinh thái từ cuối thập niên 1980 tới đầu nhữngnăm 1990 Tuy nhiên, một số yếu tố khiến các nhà sinh thái học khi đó quan tâmnhiều hơn tới các khu vực đô thị – Đó là mối quan ngại ngày càng tăng về tácđộng xấu tới môi trường từ quá trình đô thị hóa, sự gia tăng các quan điểm sinhthái nhấn mạnh sự mất cân bằng và động lực đám sinh cảnh (patch dynamics),cũng như ảnh hưởng rộng của phong trào phát triển bền vững đang diễn ra khi
đó Việc thành lập các dự án liên ngành quy mô lớn, chẳng hạn như hai dự ánnghiên cứu sinh thái dài hạn (LTER) tại Hoa Kỳ được hỗ trợ bởi tổ chức khoahọc quốc gia Hoa Kỳ lànghiên cứu hệ sinh thái Baltimore (BES) và nghiên cứusinh thái dài hạn miền Trung Arizona-Phoenix (CAP-LTER), đã đóng một vai trò
Trang 18quan trọng trong việc trẻ hóa gần đây của STHĐT “Phiên bản mới” của STHĐTsau này có đặc trưng là tăng cường yếu tố “liên ngành” và “xuyên ngành” trongcác chuyên đề nghiên cứu.
Tóm tắt quá trình phát triển đô thị sinh thái theo Lưu Đức Hải, 2001, Vấn đề đô thị sinh thái trong phát triển đô thị ở Việt Nam
Ý tưởng về đô thị sinh thái có nguồn gốc từ những năm 80 của thế kỷ XX
và đã được công bố lần đầu tiên bởi các học giả Đức, nó liên quan trực tiếp đếncác cuộc tranh cãi về trách nhiệm đối với hệ sinh thái vốn đã được đưa ra từnhững năm 60 Các khái niệm đô thị sinh thái đầu tiên xoay quanh sự trao đổi vềnhững hoạt động diễn ra trong đô thị như: Vòng tròn năng lượng, nước, chất thải,khí thải…
Trong vài năm qua, phong trào xây dựng các đô thị sinh thái đã phát triểntrên toàn thế giới Khai sinh ra phong trào Ecocity là Richard Register, mộtchuyên gia thiết kế đô thị được quốc tế công nhận Ông đã thành lập Khoa Đô thịsinh thái ở Berkeley (Mỹ) vào năm 1975, và đã cố gắng tổ chức một số hội nghịđịa phương để biến đổi Berkeley để thành một Ecocity Nhóm Sinh thái học đôthị sau này được chuyển thành Ecocity Builders, một tổ chức phi chính phủ gắntrách nhiệm môi trường với phát triển đô thị thông qua giáo dục cộng đồng và tưvấn với các chính phủ và các nhà quy hoạch Phương châm của nhóm là “để xâydựng lại nền văn minh trong sự cân bằng với thiên nhiên.”
Năm 1990, Những gì do Register và The Ecocity Builders khởi xướng đãtrở thành một thành phần quan trọng của phong trào Ecocity Hội nghị Ecocityquốc tế, đã được tổ chức hai năm một lần sau đó, trên năm châu lục khác nhau.Tháng 8 năm 2002, hội nghị được tổ chức tại Thẩm Quyến, một đô thị vườn củaTrung Quốc Kể từ năm 1990, hội nghị đã trở thành một trong những diễn đànquan trọng nhất về phát triển bền vững
Các nguyên tắc của phong trào Ecocity khá đơn giản: mọi người có thểsống, làm việc, mua sắm tại các cửa hàng, vui chơi trong một khoảng cách gần vàgiao thông là thứ mà người dân cần sử dụng khi họ đang ở chỗ mà họ không
Trang 19muốn ở Lựa chọn giao thông đầu tiên trong ecocity phải là đi bộ, xe đạp là thứhai, thứ ba là phương tiện giao thông công cộng, và cuối cùng mới đến xe hơi.
2.1.2 Một số đô thị xanh tiêu biểu
Bắt đầu vào cuối thập niên 1950, khi những nhà quy hoạch đô thị của thànhphố bắt đầu khuyến khích việc xây dựng các tòa nhà ở cao tầng tại khu West Endcủa Vancouver đưa ra các yêu cầu nghiêm ngặt về không gian để bảo vệ tuyến,tầm nhìn và không gian xanh Sự thành công của các khu phố dày đặc này dẫnđến việc tái kiến thiết các điểm đô thị công nghiệp, như North False Creek vàCoal Harbour, bắt đầu vào giữa thập niên 1980 Kết quả là một hạt nhân đô thịchật được quốc tế công nhận là “phát triển với tiện nghi cao” và “dễ sống”
Trang 20Khung cảnh bờ biển tại Sunset Beach, Canada.
So với các thành phố khác có cùng quy mô, Vancouver được đánh giá caotrong việc kiểm soát lượng khí thải CO2 và duy trì chất lượng không khí, mộtphần nhờ sự quan tâm của thành phố trong việc thúc đẩy năng lượng xanh và ưutiên phát triển thủy điện Vancouver cam kết giảm lượng phát thải 33% vào năm2020
Trang 21Vườn thực vật VanDusen, Vancouver Trong khi các thành phố khác đang tiếp tục mở rộng các con đường và giatăng lượng xe cộ, Vancouver vẫn kiên trì theo đuổi cuộc sống đô thị bền vững.Trong đó, phải kể đến sự thay đổi trên đảo Granville, một bán đảo thân thiệndành cho người đi bộ, nơi có các chợ cộng đồng và các hoạt động nghệ thuật lớn.
Bờ biển Công viên Stanley, Vancouver Được tạo ra vào năm 1917 với mụctiêu ngăn chặn xói lở Ngày nay, đây là con đường đi bộ, chạy bộ, đi xe đạp và
trượt patin phổ biến nhất của công viên
Trang 22Nhiều khu phố khác ở Vancouver cũng rất thân thiện với môi trường, vớinhiều tuyến đường xe đạp như Đại lộ số 10 phía Tây Để bảo vệ môi trường,người dân thường xuyên sử dụng xe đạp, xe máy điện và xe đạp một bánh.
San Francisco, Mỹ
San Francisco được xếp loại là TP xanh nhất của Bắc Mỹ, với lịch sử lâudài trong việc gìn giữ môi trường trước khi thành lập các nhóm môi trườngchuyên nghiệp (Câu lạc bộ Sierra) vào thế kỷ 19
Đường Lombard Street, San Francisco, Mỹ