Giáo dục là một lĩnh vực quan trọng có ảnh hưởng và quyết định đến sự tồn tại và phát triển của nhân loại. Giáo dục chính là một hiện tượng xã hội, diễn ra quá trình trao truyền tri thức, kinh nghiệm giữa con người với con người thông qua ngôn ngữ và các hệ thống ký hiệu khác nhằm kế thừa và duy trì sự tồn tại, tiến hóa và phát triển của nhân loại. Hoạt động giáo dục được đầu tư dựa trên nguồn ngân sách nhà nước, nguồn thu học phí và một số nguồn khác. Trong đó, học phí là nguồn thu quan trọng cho một phần chi phí đào tạo, giảng dậy của các cơ sở giáo dục, là nguồn tương đối ổn định, là cơ sở để phát triển và đầu tư lại chất lượng giáo dục cho người học. Học phí cũng đảm bảo duy trì và mở mang hoạt động của các cơ sở giáo dục nhằm giảm bớt gánh nắng cho ngân sách nhà nước. Do đó, học phí và cách xác định mức học phí phù hợp là một trong những vấn đề nóng nhất hiện nay về giáo dục đại học Việt Nam. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 20112020 đã chỉ rõ: Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế được coi là chìa khóa cho phát triển toàn diện của đất nước, trong đó đổi mới chính sách học phí được Đảng và Nhà nước xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.Nguồn ngân sách Nhà nước được tập trung ưu tiên đầu tư cho giáo dục phổ cập, giáo dục ở những vùng đặc biệt khó khăn, dân tộc thiểu số và các đối tượng chính sách xã hội, giáo dục năng khiếu và tài năng, đào tạo nhân lực chất lượng cao, đào tạo các ngành khoa học cơ bản, khoa học xã hội nhân văn, khoa học mũi nhọn và những ngành khác mà xã hội cần nhưng khó thu hút người học. Ngoài ra, các nguồn lực của nhà nước và xã hội đầu tư cho giáo dục và đào tạo còn hướng đến nâng cao tính tự chủ, phát triển năng lực hội nhập và cạnh tranh quốc tế.Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đẩy mạnh cơ chế, chính sách quy định trách nhiệm, nâng cao vai trò của các tổ chức, đoàn thể chính trị, kinh tế, xã hội trong đầu tư phát triển đào tạo nhân lực, đặc biệt đào tạo nhân lực chất lượng cao và nhân lực thuộc ngành nghề mũi nhọn. Quy định trách nhiệm của các ngành, các tổ chức chính trị xã hội, cộng đồng và gia đình trong việc đóng góp nguồn lực và tham gia các hoạt động giáo dục, tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi người, góp phần từng bước xây dựng xã hội học tập. Xây dựng và thực hiện chế độ học phí mới nhằm đảm bảo sự chia sẻ hợp lý giữa nhà nước, người học và các thành phần xã hội.Cũng chính vì lẽ đó, Chính phủ đã đưa ra hàng loạt các chính sách giáo dục và đào tạo dựa trên những nhu cầu của xã hội, mục tiêu phát triển của đất nước và dựa trên những thiếu sót trong quá trình điều hành từ trước đến nay. Bài nghiên cứu tập trung vào Chính sách hỗ trợ học phí cho sinh viên sư phạm trong giai đoạn từ năm 2015 – 2021, căn cứ theo Nghị định số 862015NĐCP của Chính phủ Quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và Nghị định số 1162020NĐCP của Chính phủ quy định về chính sách hỗ trợ tiền đóng học phí, chi phí sinh hoạt đối với sinh viên sư phạm.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ MÔN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ HỌC PHÍ CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM
Trang 2M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 4
1 Xác định vấn đề của chính sách 4
1.1 Nhận diện vấn đề 4
1.2 Nguyên nhân của vấn đề 6
2 Mục tiêu của chính sách 8
2.1 Mục tiêu tổng quát 8
2.2 Mục tiêu cụ thể 8
3 Chủ thể và đối tượng của chính sách 9
3.1 Chủ thể thực hiện chính sách 9
3.2 Đối tượng của chính sách 9
4 Một số giải pháp để giải quyết vấn đề của chính sách 10
4.1 Đảm bảo đủ tiền học đóng phí và chi trả phí sinh hoạt tối thiểu .10 4.2 Sử dụng hiệu quả ngân sách nhà nước 10
5 Kết quả đạt được của chính sách 14
5.1 Giai đoạn 2015 - 2020 14
5.2 Giai đoạn 2020 - nay 16
6 Những hạn chế của chính sách 18
7 Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả của chính sách 19
8 Kiến nghị 23
8.1 Kiến nghị lên Chính phủ 23
8.2 Kiến nghị lên Bộ Giáo dục và Đào tạo 23
8.3 Kiến nghị lên cơ sở đào tạo 24
8.4 Kiến nghị lên cơ sở tuyển dụng 24
8.5 Kiến nghị tới sinh viên 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
Trang 3ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN NHÓM 27
MỞ ĐẦU
Giáo dục là một lĩnh vực quan trọng có ảnh hưởng và quyết định đến sự tồn tại và pháttriển của nhân loại Giáo dục chính là một hiện tượng xã hội, diễn ra quá trình trao truyền trithức, kinh nghiệm giữa con người với con người thông qua ngôn ngữ và các hệ thống ký hiệukhác nhằm kế thừa và duy trì sự tồn tại, tiến hóa và phát triển của nhân loại Hoạt động giáodục được đầu tư dựa trên nguồn ngân sách nhà nước, nguồn thu học phí và một số nguồnkhác Trong đó, học phí là nguồn thu quan trọng cho một phần chi phí đào tạo, giảng dậy củacác cơ sở giáo dục, là nguồn tương đối ổn định, là cơ sở để phát triển và đầu tư lại chất lượnggiáo dục cho người học Học phí cũng đảm bảo duy trì và mở mang hoạt động của các cơ sởgiáo dục nhằm giảm bớt gánh nắng cho ngân sách nhà nước
Do đó, học phí và cách xác định mức học phí phù hợp là một trong những vấn đề nóngnhất hiện nay về giáo dục đại học Việt Nam Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn2011-2020 đã chỉ rõ: Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diệnnền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hộinhập quốc tế được coi là chìa khóa cho phát triển toàn diện của đất nước, trong đó đổi mớichính sách học phí được Đảng và Nhà nước xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng
để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
Nguồn ngân sách Nhà nước được tập trung ưu tiên đầu tư cho giáo dục phổ cập, giáodục ở những vùng đặc biệt khó khăn, dân tộc thiểu số và các đối tượng chính sách xã hội, giáodục năng khiếu và tài năng, đào tạo nhân lực chất lượng cao, đào tạo các ngành khoa học cơbản, khoa học xã hội nhân văn, khoa học mũi nhọn và những ngành khác mà xã hội cầnnhưng khó thu hút người học Ngoài ra, các nguồn lực của nhà nước và xã hội đầu tư cho giáodục và đào tạo còn hướng đến nâng cao tính tự chủ, phát triển năng lực hội nhập và cạnh tranhquốc tế
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đẩy mạnh cơ chế, chính sách quy định trách nhiệm, nângcao vai trò của các tổ chức, đoàn thể chính trị, kinh tế, xã hội trong đầu tư phát triển đào tạonhân lực, đặc biệt đào tạo nhân lực chất lượng cao và nhân lực thuộc ngành nghề mũi nhọn.Quy định trách nhiệm của các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng và gia đìnhtrong việc đóng góp nguồn lực và tham gia các hoạt động giáo dục, tạo cơ hội học tập suốt đờicho mọi người, góp phần từng bước xây dựng xã hội học tập Xây dựng và thực hiện chế độhọc phí mới nhằm đảm bảo sự chia sẻ hợp lý giữa nhà nước, người học và các thành phần xãhội
Cũng chính vì lẽ đó, Chính phủ đã đưa ra hàng loạt các chính sách giáo dục và đào tạodựa trên những nhu cầu của xã hội, mục tiêu phát triển của đất nước và dựa trên những thiếu
sót trong quá trình điều hành từ trước đến nay Bài nghiên cứu tập trung vào Chính sách hỗ
trợ học phí cho sinh viên sư phạm trong giai đoạn từ năm 2015 – 2021, căn cứ theo Nghị định
Trang 4số 86/2015/NĐ-CP của Chính phủ Quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo
dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học
tập và Nghị định số 116/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định về chính sách hỗ trợ tiền đóng
học phí, chi phí sinh hoạt đối với sinh viên sư phạm
2009 - 2015, ngành sư phạm không có quá nhiều bước tiến nổi bật và thậm chí là sức hút củangành cũng ngày càng đi xuống Trong khi sức thu hút (hấp dẫn) của nghề sư phạm là mộtnhân tố quan trọng tác động đến định hướng phát triển của ngành sư phạm nói riêng hay hệthống bộ máy giáo dục và đào tạo của Việt Nam nói chung
* Số lượng thí sinh dự thi vào các ngành đào tạo sư phạm ngày càng giảm và không thu hút được thí sinh giỏi Thực trạng này thể hiện cụ thể qua những số liệu thống kê sau:
Tháng 3.2012, tiến sĩ Nguyễn Thúy Quỳnh Loan, Phó trưởng khoa Quản lý công nghiệp
- Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh, cùng cộng sự công bố nghiên cứu về
xu hướng chọn ngành thi của thí sinh tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2006 - 2010.Kết quả cho thấy nhóm ngành kinh tế, quản lý, tài chính luôn có lượng thí sinh đăng ký rấtcao Trong khi đó, số lượng thí sinh đăng ký dự thi ngành sư phạm ngày càng giảm
Nếu như năm 2000, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh có hơn 40.000thí sinh dự thi, thì trong 3 năm trở lại đây, lượng thí sinh thi vào trường chỉ khoảng từ15.000 đến 17.000 thí sinh Con số này ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội: năm 2000 cótrên 60.000 thí sinh đăng ký dự thi thì đến năm 2012 chỉ có 16.300 thí sinh Số lượng thísinh thi vào ngành sư phạm ở các trường địa phương lại càng giảm, nhiều trường đã phảituyên bố đóng cửa ngành sư phạm vì không đủ sinh viên để mở ngành (Trường Đại họcQuảng Nam tạm dừng tuyển sinh ngành sư phạm mỹ thuật, Trường Đại học An Giang tạmdừng tuyển sinh ngành sư phạm sinh học và tin học…)
Cũng trong mùa tuyển sinh năm 2012, lãnh đạo Sở Giáo dục đào tạo Thanh Hóa chobiết lượng thí sinh của tỉnh này dự thi vào sư phạm thấp kỷ lục Trong tổng số gần 80.000
hồ sơ thí sinh dự thi vào các trường, chỉ có hơn 386 thí sinh dự thi Đại học Sư phạm HàNội, 29 thí sinh thi vào Đại học Sư phạm Huế, 41 thí sinh thi vào Đại học Sư phạm Hà Nội2; 392 thí sinh thi vào Cao đẳng Sư phạm TW
Trang 5Ông Trần Phước Đức, Hiệu trưởng Trường trung học phổ thông Nguyễn Trãi (Quận 4 Thành phố Hồ Chí Minh) cho biết: “Trong năm học vừa qua (2012), trường có 500 học sinhlớp 12 nhưng số lượng đăng ký thi ngành sư phạm chiếm chưa đến 1 phần trăm”.
-Theo tiến sĩ Bạch Văn Hợp, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ ChíMinh: “Đúng là thí sinh giỏi ngày nay không chọn học sư phạm Thực tế, nhiều em thi đạtđiểm cao ở trường sư phạm (từ 27 điểm trở lên) nếu đỗ thêm một trường khác nữa thì họ sẵnsàng chọn học trường đó và bỏ qua sư phạm"
* Điểm chuẩn vào các ngành sư phạm cũng ngày càng thấp dần
Trong những năm từ 1999 đến 2003, sư phạm là một trong ít ngành có điểm chuẩn cao.Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1999 ngành sư phạm toán lấy 20điểm, năm 2002 lấy 22 Trường Đại học Sư phạm Hà Nội những năm 1997 - 2003, thí sinhthường phải đạt 27 điểm mới đỗ vào khoa toán, 24 - 25 điểm vào khoa văn, các khoa kháccũng phải từ 18 - 22 điểm Trong thời điểm này, thí sinh nào trúng tuyển vào sư phạm đượccoi là danh giá và được bạn bè ngưỡng mộ… Bởi chỉ những thí sinh giỏi mới có khả năngtrúng tuyển
Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây, điểm chuẩn các ngành sư phạm đã ngày càng thấpdần Còn nhớ mùa tuyển sinh năm 2009, “lò sư phạm” có tiếng nhất cả nước - ĐH Sư phạm
Hà Nội, tỷ lệ chọi đã giảm hơn các năm trước Tại đây, tỷ lệ chọi trung bình chỉ là 1/8,4.Không những giảm về số người đến thi, điểm chuẩn đầu vào của ĐH Sư phạm Hà Nội năm
2009 cũng không hề cao “Đỉnh” nhất là sư phạm Toán lấy 22 điểm (KV3), sau đó là Vănkhối C 23 điểm; còn lại rất nhiều ngành khác lấy thấp, như Hóa, Sinh chỉ lấy 16 điểm; Tin16,5 điểm Đó là chưa kể đến việc trường phải lấy thêm khá nhiều sinh viên ở NV2 Đángbuồn hơn, hàng loạt trường sư phạm năm 2009 cũng phải tuyển vớt đến NV3, với điểm vàotrường chỉ sít sao điểm sàn mới đủ chỉ tiêu để đào tạo
Năm 2010, dù chưa có thống kê chính thức nhưng tại khu vực phía Nam, như SGGP đãphản ánh, số hồ sơ nộp đăng ký thi vào các trường sư phạm rất ít ỏi Tại phía Bắc, tình hìnhcũng tương tự Bà Trần Thị Kim Thanh, cán bộ thu hồ sơ thi ĐH-CĐ của trường THPTQuang Trung, Đống Đa, Hà Nội cho hay, lượng thí sinh thi vào sư phạm năm nay giảm hẳn,
cả trường với khoảng 1.500 hồ sơ nhưng chỉ có vài em đăng ký vào sư phạm
Năm 2012, điểm chuẩn nhiều ngành tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Sưphạm Thành phố Hồ Chí Minh chỉ ngang và nhỉnh hơn điểm sàn (khoảng 14 - 16 điểm) như:
sư phạm giáo dục chính trị, sư phạm giáo dục quốc phòng - an ninh, sư phạm kỹ thuật, sưphạm giáo dục đặc biệt… Còn ở các trường sư phạm địa phương, về cơ bản điểm chuẩn đềungang mức điểm sàn
Những con số thống kê trên đây cho thấy, sức hút của ngành đào tạo sư phạm ngày cànggiảm dần, ngành sư phạm đang đứng trước nguy cơ sụt giảm chất lượng vì ngày càng ít thísinh giỏi dự thi Đây là thực trạng báo động cho chất lượng giáo dục trong tương lai, bởithiếu thầy giỏi thì khó mà đào tạo ra những trò giỏi
Trang 6Sức "hấp dẫn" của ngành đào tạo sư phạm ngày càng giảm đi cũng là một nhân tố ảnhhưởng không nhỏ đến việc học sinh, sinh viên mong muốn đăng ký vào ngành sư phạm.Nhận thức được tình hình thực tế và tầm quan trọng của vấn đề nêu trên, chính phủ cũngnhư bộ giáo dục và đào tạo đã thể hiện sự quan tâm đến chất lượng đội ngũ cán bộ, sinhviên ngành sư phạm cũng như sự phát triển tích cực và bền vững của ngành thông qua một
số các chính sách nhằm nâng cao sức hút của ngành, thu hút thêm nguồn sinh viên đầu vào
Cụ thể thì trong giai đoạn 2015 - nay, Chính Phủ đã triển khai chính sách hỗ trợ học phí chosinh viên ngành sư phạm theo NĐ 86/2015/NĐ/CP và NĐ 116/2020/NĐ/CP để phần nào cóthể thu hút được thêm một lượng lớn sinh viên lựa chọn ngành, bước đầu giải quyết đượctình trạng tuyển sinh khó khăn,“chạm sàn vẫn vắng”
1.2 Nguyên nhân của vấn đề
Về việc ngành sư phạm mất dần đi sức hút, điểm chuẩn đầu vào thấp nhưng cũng thiếungười học, có thể lý giải 3 lý do như sau:
“Yêu thích ngành sư phạm lắm vì đó là ngành truyền dạy kiến thức cho mầm non của đất nước nhưng mà không có đầu ra, nên làm sao vào sư phạm được? Học 4 năm xong rồi đi ra lại ôm bằng chạy vòng vòng xin việc mà thấy ngao ngán lắm Ngành sư phạm thường đi ra thì không tìm được trường học, thường là thất nghiệp Tại vì bây giờ nhân lực đang bị dư Phải đi dạy thêm dạy kèm tại vì cần tiền và muốn không bị quên kiến thức sư phạm mình đã học, nên vừa dạy vừa ôn tập như vậy để chờ được trường nhận hồ sơ vào để dạy.”
Sau 4 năm vất vả học hành, tốt nghiệp ra trường mà lại không có đất dụng võ lànguyên nhân chủ yếu làm cho các bạn trẻ nản lòng Có vẻ như là nghịch lý trong khi có rấtnhiều địa phương ở khắp cả nước rất thiếu hụt giáo viên mà số lượng sinh viên ra trường lạikhông có việc làm Nhà nước có chính sách khuyến khích ưu đãi cho các giáo viên dạy học ởnhững vùng sâu vùng xa nhưng dường như vẫn không hấp dẫn những “kỹ sư tâm hồn” vừa tốtnghiệp đại học
Ngoài ra, sau khi ra trường sinh viên phải tự tìm trường chứ nhà nước không bổ nhiệmnhư ngày xưa nữa Tìm trường cũng là một vấn đề khó khăn Những trường ở gần trung tâmthị xã, hay thành phố thì giáo viên đủ rồi Giáo viên về hưu thì còn ít Cho nên lượng giáoviên nhận vào mỗi năm coi như có nhiều trường không cần nhận vào Vì vậy kiếm một trường
ở trung tâm thị xã hay trung tâm của tỉnh hay thành phố thì rất là khó Mà đi vùng sâu vùng xathì lớp trẻ nhiều khi không thích Vì mới ra trường thì đồng lương còn thấp đâu có bao nhiêu
Thu nhập thấp, không còn được coi trọng
Trang 7Có không ít giáo viên, sinh viên mới tốt nghiệp chia sẻ rằng với các yếu tố như đồnglương của giáo viên mới ra trường mà lại phải sống xa gia đình và công khó cực khổ học hành
4 năm đại học đủ để các bạn trẻ chọn cho mình một công việc trong công xưởng Hiện nay ởcác thành thị có nhiều công ty doanh nghiệp mở ra, để kiếm một công việc có thu nhập tươngđương với lương của một giáo viên mới ra trường không phải là khó Có nhiều bạn trẻ sẽ chọnlựa cách kiếm tiền bằng một công việc đơn giản, sống ở thành thị và cũng không là gánh nặngcho gia đình phải lo học phí sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học
Các chuyên gia giáo dục cho rằng địa vị nhà giáo không còn được coi trọng trong xãhội bây giờ cũng là nguyên nhân làm cho các bạn trẻ không mặn mà với ngành sư phạm Giáoviên không được xã hội kính trọng phần lớn cũng vì thu nhập thấp Được gọi là nghề làm thầynhưng mà thời mới bây giờ thì cái sự tôn trọng đấy cũng giảm đi tức là cũng trở thành mộtnghề bình thường như những nghề khác
Trong thời buổi giá trị đồng tiền được tôn cao, mọi ngành nghề, mọi thành phần xã hộiđều tìm cách gia tăng thu nhập thì việc thầy cô giáo dạy thêm để có cuộc sống được ổn định
và đầy đủ hơn là điều hiển nhiên Tuy vậy, xã hội lại không mấy thiện cảm với việc dạy thêmnày Từ đó, sinh viên chọn ngành không còn theo sở thích của bản thân mà vì mục tiêu làmkinh tế sau này nhiều hơn Đó là lí do vì sao các ngành quân đội, công an điểm chuẩn rất cao
vì đảm bảo được đầu ra cho sinh viên với ngành nghề ổn định, lượng cung lượng cầu có thểnói là bằng nhau Ngược lại với ngành sư phạm, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc sinhviên lựa chọn theo ngành như áp lực ngành nghề, môi trường dạy học, áp lực từ việc ký hợpđồng lao động theo thời hạn ngắn của anh chị tiền bối, sự không ổn định về công việc lâu dài
Đa số học sinh không còn lòng tôn kính thầy cô giáo của mình nữa là với lý do tất cả chỉ vìtiền Chuyên gia giáo dục Quỳnh Hương đưa ra nhận định như sau:
“Thực ra bây giờ mọi người chỉ muốn kiếm nghề gì để có thể kiếm được nhiều tiền Ai mà học giỏi thì sẽ trông vào những nghề có được nhiều tiền Những nghề ít tiền sẽ ít người đi theo Thế còn nói riêng ngành giáo-sư phạm thì trước đây nghề đó vẫn được gọi là nghề mô phạm và được xã hội tôn trọng, được gọi là nghề làm thầy nhưng mà thời mới bây giờ thì cái
sự tôn trọng đấy cũng giảm đi tức là cũng trở thành một nghề bình thường như những nghề khác Tôi nghĩ có thể vì thế nên sức hút của nó không còn được như ngày xưa.”
Giáo dục lỗi thời
Bên cạnh đó, với chính sách giáo dục xơ cứng, giáo điều theo sách vở, xa rời thực thếkhông hấp dẫn và thuyết phục học sinh cũng là nguyên nhân khiến học sinh “chán thầy” Xãhội hiện đại với những nguồn thông tin đa dạng nhiều chiều tiếp cận rất dễ dàng Học sinh cầnmột phương pháp giảng dạy mới với xu hướng được hướng dẫn sáng tạo tư duy, không nhồinhét, học thuộc lòng những điều sáo ngữ Do đó, có những thầy cô giáo mới ra trường rất giỏi
và đầy tâm huyết yêu nghề dạy học, muốn có cách giảng dạy khác với bao qui định của BộGiáo Dục buộc đã rẽ sang những ngành nghề khác
Hầu hết các giáo viên đều mong muốn có đồng lương ổn định, không còn phải bươnchải dạy thêm hay phải làm thêm những công việc khác để cải thiện thu nhập Họ ước ao một
Trang 8đời sống ổn định để có thời gian đầu tư cũng như nghiên cứu sáng tạo Từ đó bài giảng đượchay hơn, thu hút hơn cho học trò của mình, không bị gò bó trong những chương trình quyđịnh cứng nhắc, không hợp.
2 Mục tiêu của chính sách
2.1 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu chính tăng chất lượng trong công tác đào tạo đội ngũ nhà giáo, từ đó thu hútthêm nhiều sinh viên đăng ký vào ngành sư Phạm Nâng cao chất lượng tuyển dụng, sử dụngđội ngũ giáo viên sau khi tốt nghiệp, phân bố đồng đều nguồn nhân lực ở các cơ sở giáo dục,đảm bảo về số lượng cũng như chất lượng của đội ngũ nhà giáo Từ đó đảm bảo đầu ra ngànhnghề cho sinh viên theo học sư Phạm, củng cố công tác đào tạo đội ngũ giáo viên góp phầnnâng cao chất lượng dạy học, đổi mới toàn diện nền giáo dục đào tạo của nước nhà
2.2 Mục tiêu cụ thể
Chính sách như một chiếc phao cứu sinh đã tạo điều kiện và cơ hội học tập cho rấtnhiều trường hợp có hoàn cảnh khó khăn mong muốn được theo học ngành Sư phạm để thựchiện ước mơ được đóng góp và cống hiến cho nền giáo dục nước nhà
San sẻ và làm giảm áp lực kinh tế đối với sinh viên sư phạm thông qua việc xây dựngmức hỗ trợ kinh tế hợp lý đảm bảo đủ tiền đóng học phí và cơ bản đủ chi trả chi phí sinh hoạttối thiểu khi xa nhà để sinh viên yên tâm theo học ngành đào tạo giáo viên
Chính sách hướng tới mục tiêu thu hút sinh viên khá giỏi vào ngành, nhằm cải thiệnchất lượng đội ngũ giáo viên trong tương lai, nâng cao hiệu quả ngành giáo dục và đào tạo.Đào tạo sinh viên sư phạm gắn chặt với nhu cầu sử dụng và tuyển dụng giáo viên tạicác địa phương dựa trên cơ chế giao nhiệm vụ, đặt hàng và đấu thầu đào tạo sinh viên sưphạm của các địa phương và cơ sở đào tạo Đồng thời, quy định gắn trách nhiệm của các địaphương từ nhu cầu đến đặt hàng đào tạo, việc bố trí, sử dụng sinh viên sau tốt nghiệp nhằmtránh tình trạng thừa thiếu giáo viên cục bộ và thực trạng sinh viên ra trường làm trái ngành Cho phép các cơ sở đào tạo giáo viên được thực hiện theo phương thức giao nhiệm vụđặt hàng, đấu thầu hoặc đào tạo theo nhu cầu xã hội để đảm bảo công bằng với việc đào tạocác ngành khác, thúc đẩy việc tự chủ, nâng cao chất lượng đào tạo tại các cơ sở đào tạo.Làm cho ngân sách nhà nước được sử dụng một cách hợp lý, đầu tư đúng chỗ, đúng đốitượng, tránh tình trạng lãng phí, đảm bảo mục tiêu hỗ trợ cho sinh viên sư phạm làm đúngngành sư phạm Sử dụng hiệu quả ngân sách Nhà nước thông qua quy định sinh viên sư phạmđược hỗ trợ tiền đóng học phí và chi phí sinh hoạt sau 2 năm kể từ khi tốt nghiệp, nếu khôngcông tác trong ngành giáo dục hoặc công tác không đủ thời gian quy định thì phải bồi hoànkhoản kinh phí mà Nhà nước đã hỗ trợ
Trang 93 Chủ thể và đối tượng của chính sách
3.1 Chủ thể thực hiện chính sách
Chủ thể thực hiện chính sách là các cơ quan trong bộ máy nhà nước từ trung ươngxuống địa phương, trong đó chủ yếu là các cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước cùngvới đội ngũ cán bộ, công chức hành chính nhà nước có thẩm quyền triển khai thực hiện chínhsách này Trong quá trình triển khai thực hiện chính sách, các cơ quan trong bộ máy hànhchính nhà nước giữ vai trò điều tiết, định hướng các hoạt động thực hiện chính sách bằngnhững công cụ quản lý của mình, giúp cho quá trình này luôn bám sát mục tiêu của chínhsách Cụ thể:
Chính phủ: với vai trò là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất thực hiện quyền hành
pháp, là cơ quan chấp hành của quốc hội, chính phủ vừa là cơ quan ban hành chính sáchnhưng cũng đồng thời là cơ quan có trách nhiệm tổ chức thực hiện chính sách ở cấp Trungương
Các bộ, cơ quan ngang Bộ: thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh
vực được phân công, chịu trách nhiệm thực hiện các chính sách được Quốc hội và Chính phủban hành có liên quan đến ngành, lĩnh vực do Bộ phụ trách Cụ thể:
Bộ Giáo dục và đào tạo: chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan chỉ đạo, hướng
dẫn các địa phương triển khai thực hiện các nội dung quy định tại Chính sách này Xác định,thông báo chỉ tiêu tuyển sinh đối với các ngành đào tạo giáo viên cho các cơ sở đào tạo giáoviên Tổ chức kiểm tra, đánh giá việc thực hiện Chính sách, đồng thời Chỉ đạo các cơ sở đàotạo giáo viên phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các bộ, ngành liên quan thực hiện chínhsách hỗ trợ cho sinh viên Sư phạm hiệu quả
Các bộ, ngành liên quan: Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao phối hợp với
Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai thực hiện các nội dung quy định tại Chính sách này
Ủy ban nhân dân các cấp: chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, Luật, các văn bản
của cơ quan nhà nước và Nghị quyết của HĐND cùng cấp nhằm đảm bảo thực hiện chủtrương chính sách trên địa bàn
Các cơ sở đào tạo giáo viên: Căn cứ chỉ tiêu đào tạo, thực hiện tuyển sinh, đào tạo giáo
viên theo đúng quy định hiện hành Thực hiện đầy đủ các chế độ, chính sách đối với sinh viên
Sư phạm theo quy định
3.2 Đối tượng của chính sách
Tất cả những sinh viên Sư phạm trình độ đại học, cao đẳng các ngành đào tạo giáo viêntheo hình thức chính quy, liên thông chính quy Đối với văn bằng 2 có kết quả học lực vănbằng 1 đạt loại giỏi
Trang 104 Một số giải pháp để giải quyết vấn đề của chính sách
Chính phủ đã ban hành các nghị định như nghị định 86/2015 và nghị định 116/2020nhằm đưa ra một số các giải pháp giải quyết cho vấn đề ngành sư phạm không còn sức hútdẫn tới ảnh hưởng đến đầu vào của ngành bằng cách:
4.1 Đảm bảo đủ tiền học đóng phí và chi trả phí sinh hoạt tối thiểu
Sinh viên sư phạm sẽ được hỗ trợ hai khoản kinh phí là học phí và sinh hoạt phí Cụthể, sinh viên sư phạm được Nhà nước hỗ trợ tiền đóng học phí bằng mức thu học phí của cơ
sở đào tạo giáo viên nơi theo học và hỗ trợ 3,63 triệu đồng/tháng để chi trả chi phí sinh hoạttrong thời gian học tập tại trường
Thời gian hỗ trợ tiền đóng học phí và chi phí sinh hoạt được xác định theo số thángthực tế học tập tại trường theo quy định, (không quá 10 tháng/năm học) Trong trường hợp tổchức giảng dạy theo học chế tín chỉ, cơ sở đào tạo giáo viên có thể quy đổi mức hỗ trợ chophù hợp với học chế tín chỉ Tổng kinh phí hỗ trợ của cả khóa học theo học chế tín chỉ khôngvượt quá mức hỗ trợ quy định cho khóa học theo năm học
Với mức hỗ trợ này, sinh viên sư phạm sẽ yên tâm theo học ngành đào tạo giáo viêntrong suốt cả quá trình đào tạo
4.2 Sử dụng hiệu quả ngân sách nhà nước
Cho phép giao nhiệm vụ, đặt hàng, đấu thầu, đào tạo theo nhu cầu
Nghị định cho phép các cơ sở đào tạo giáo viên được thực hiện theo phương thức giaonhiệm vụ, đặt hàng, đấu thầu hoặc đào tạo theo nhu cầu xã hội để đảm bảo công bằng với việcđào tạo các ngành khác, vì thế tránh được việc trông chờ vào ngân sách nhà nước đồng thờithúc đẩy việc tự chủ, nâng cao chất lượng đào tạo tại các cơ sở đào tạo giáo viên
Để đảm bảo việc sử dụng hiệu quả ngân sách nhà nước, cấp đúng đối tượng và đúngmục tiêu hỗ trợ đào tạo sư phạm, Nghị định hướng dẫn chi tiết về các trường hợp sinh viên sưphạm không phải bồi hoàn kinh phí và sinh viên sư phạm phải bồi hoàn kinh phí
Đối tượng phải bồi hoàn kinh phí hỗ trợ tiền đóng học phí và chi phí sinh hoạt gồm:
Sinh viên sư phạm đã hưởng chính sách không công tác trong ngành giáo dục sau 02năm kể từ ngày có quyết định công nhận tốt nghiệp
Sinh viên sư phạm đã hưởng chính sách và công tác trong ngành giáo dục nhưngkhông đủ thời gian công tác theo quy định
Sinh viên sư phạm được hưởng chính sách đang trong thời gian đào tạo nhưng chuyểnsang ngành đào tạo khác, tự thôi học, không hoàn thành chương trình đào tạo hoặc bị kỷ luậtbuộc thôi học
Trang 11Đối tượng không phải bồi hoàn kinh phí hỗ trợ tiền đóng học phí và chi phí sinh hoạt gồm:
Trong thời hạn 02 năm kể từ ngày có quyết định công nhận tốt nghiệp, sinh viên sưphạm công tác trong ngành giáo dục và có thời gian công tác tối thiểu gấp hai lần thời gianđào tạo tính từ ngày được tuyển dụng
Sinh viên sư phạm sau khi tốt nghiệp đang công tác trong ngành giáo dục, nhưng chưa
đủ thời gian theo quy định và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều động bố trí công tácngoài ngành giáo dục
Sinh viên sư phạm sau khi tốt nghiệp tiếp tục được cơ quan đặt hàng, giao nhiệm vụhoặc đấu thầu cử đi đào tạo giáo viên trình độ cao hơn và tiếp tục công tác trong ngành giáodục đủ thời gian quy định
Các trường hợp như sinh viên sư phạm nghỉ học tạm thời, bị đình chỉ học tập tạm thời,dừng học do ốm đau, tai nạn, học lại, lưu ban … cũng được quy định cụ thể tại Nghị định này
★ Ưu điểm của giải pháp
Nhìn chung, các giải pháp của chính sách đều tập chung giải quyết vấn đề đầu vào củangành, như:
- Có khả năng thu hút được một lượng lớn tân sinh viên ngành sư phạm
Chính sách là một trong các yếu tố tạo động lực cho người giỏi vào học Sư phạm, đặc biệt tạođiều kiện cho sinh có hoàn cảnh gia đình rất khó khăn Theo một số bài báo, có khoảng 70-80% sinh viên học trường sư phạm là con em ở vùng nông thôn, miền núi và có hoàn cảnhkhó khăn Trước tình hình tuyển sinh khó khăn của các trường sư phạm những 2010 - 2015,nếu không có chính sách miễn học phí cũng như hỗ trợ khác thì chắc các trường chỉ tuyểnđược 40-50% chỉ tiêu là cao
- Chính sách giúp sinh viên có điều kiện học tập tốt hơn, giảm gánh nặng tài chính chosinh viên và gia đình
Vậy nên, với việc được chi trả toàn bộ học phí tính từ nghị định 86/2015 đến mức hỗtrợ trên 3,6 triệu đồng/tháng sinh hoạt phí theo nghị định 116/2020 mới này, sinh viên đủ khảnăng trang trải cho việc học đại học ngay cả ở thành phố lớn, mức hỗ trợ này sẽ tương đươngvới thù lao đi dạy kèm bên ngoài - khi đó thay vì phải vật lộn làm thêm, sinh viên an tâm họctập để đạt kết quả tốt hơn Với mức tiền hỗ trợ 'khủng' của Nghị định 116 chắc chắn sẽ tácđộng tới người học, khả năng những năm tới học sinh lại đổ dồn vào ngành Sư phạm rấtđông giúp tăng chất lượng trong công tác đào tạo, tuyển dụng, sử dụng đội ngũ nhà giáo Từ
đó, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực giáo viên, đáp ứng yêu cầu về chất và lượng giáoviên tại các địa phương; góp phần thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo
- Đối với cơ sở đào tạo giáo viên, chính sách này giúp cơ sở đào tạo giáo viên chủ độnghơn, thúc đẩy quá trình tự chủ và phát triển của nhà trường đồng thời có thêm nguồn thu từcác hợp đồng đào tạo để đầu tư nâng cao chất lượng đào tạo, tập trung phát triển cơ sở vậtchất
Trang 12- Cách triển khai các giải pháp cũng mang tính tinh gọn, người thụ hưởng dễ dàng thựchiện các bước để nhận được hỗ trợ.
Theo Quyết định, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo trúng tuyển, sinhviên sư phạm nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp, cụ thể theo đúng thủ tục quy định Thành phần
và số lượng hồ sơ: Hồ sơ cần đơn đề nghị hưởng và cam kết bồi hoàn học phí, chỉ nhà sinhhoạt đến cơ sở đào tạo giáo viên (Theo Mẫu số 01 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định116/2020/NĐ-CP ngày 25/9/2020)
★ Hạn chế của giải pháp
Bên cạnh những tích cực được nên trên, cũng như việc chính sách khi được thi hành sẽgóp phần san sẻ được phần nào khó khăn từ sự đặc thù của nghề nghiệp giáo viên, thì cũngkhông thể phủ nhận những hạn chế của các giải pháp chính sách Dù chỉ đánh giá dựa trênmặt lý luận của các giải pháp, ta cũng có thể thấy rằng, việc nhận ra những điều chưa phù hợp
ấy sẽ góp phần cải thiện chính sách trong những giai đoạn tiếp theo theo hướng tích cực nhất
Chưa giải quyết được vấn đề cân đối cung – cầu
Đặt hàng đào tạo là cơ sở để sinh viên sư phạm nhận được khoản hỗ trợ sinh hoạt phí Tuy nhiên, giải pháp chính sách này có thể dẫn đến khó khăn cho các địa phương Trước tiên
là khi cho sinh viên đăng ký chọn địa phương công tác sau tốt nghiệp thì những khu vực vùngsâu, vùng xa có nguy cơ không đủ số đăng ký theo nhu cầu tuyển dụng của địa phương Đó làchưa kể trong 4 năm tới, nhu cầu tuyển dụng vào thời điểm sinh viên ra trường có thể sẽ thayđổi
Nếu để sinh viên được chọn địa phương làm việc sau khi tốt nghiệp thì những vùng sâu, vùng xa sẽ rất khó tuyển được, dẫn đến thiếu giáo viên Bởi lẽ, chính sách về lương của
giáo viên hiện tại cũng như nhiều ngành nghề khác, trong đó có cả giáo viên vùng sâu, vùng
xa gần như không có cơ hội cải thiện thu nhập Để có những sinh viên đăng ký làm việc ởvùng sâu, vùng xa thì khả năng phải hạ chuẩn đầu vào Ngoài ra, việc xác định nhu cầu tuyểndụng cho 4 năm tới cũng khó bảo đảm về việc làm cho giáo viên bởi sự dịch chuyển dân cư,khi kinh tế địa phương khó khăn, người dân có xu hướng chuyển đến những thành phố lớn đểtìm việc làm và mang theo gia đình, con cái
Trên thực tế, khi tốt nghiệp, không có mấy sinh viên sư phạm muốn từ bỏ nghề mà bảnthân mình đã theo đuổi trong 4 năm học tập, phấn đấu nhưng đầu ra và cơ hội việc làm chưa
thực sự rộng mở Cùng với đó là công cuộc đổi mới công tác cán bộ hiện nay: việc thực hiện
tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức như một rào cản lớn đối với những sinh viên sư phạm có mong muốn được làm việc trong biên chế nhà nước
Thực trạng sinh viên sư phạm ra trường không tìm được nơi giảng dạy không còn làcâu chuyện mới trong những năm gần đây Tuy nhiên, tình trạng thất nghiệp lên đến “đỉnhđiểm” như hiện nay, là hồi chuông báo động cho toàn xã hội về việc đào tạo không theo nhucầu, thậm chí đào tạo tràn lan, gây lãng phí tiền của, công sức và nhiều hệ lụy khác không chỉđối với người học, mà còn đối với các ban quản lý
Trang 13Theo số liệu được công bố tại hội thảo khoa học quốc gia về đào tạo giáo viên tại cáctrường đại học đa ngành được tổ chức vào năm 2016, từ năm 2013, dù Bộ Giáo dục và Đàotạo chỉ đạo giảm 10% chỉ tiêu đào tạo sư phạm hàng năm nhưng mỗi năm cả nước vẫn cóthêm 4.000 sinh viên sư phạm ra trường không tìm được việc làm
Với tốc độ này, dự kiến đến năm 2020, cả nước có khoảng 70.000 cử nhân sư phạm
thất nghiệp (Phát triển, 2021) Đây là một con số gây sốc cho nhiều người Hiện cả nước có
108 cơ sở đào tạo sư phạm; trong đó gần như tỉnh, thành phố nào cũng có cơ sở đào tạo sưphạm Một thực tế trong đào tạo nguồn nhân lực thời gian qua ở nước ta là đào tạo không gắnliền với nhu cầu, bất chấp nhu cầu của xã hội ra sao Đào tạo sư phạm cũng không là ngoại lệ,thậm chí độ “vênh” giữa đào tạo và sử dụng ngày càng lớn làm cho tình trạng cử nhân sưphạm thất nghiệp tăng
Khả năng tiếp tục lãng phí nguồn ngân sách nhà nước
Theo bà Nguyễn Thu Thủy - Vụ trưởng Vụ giáo dục đại học thì chỉ tiêu các trường sư
phạm đề xuất là 84.475 chỉ tiêu (Báo Thanh Niên) Căn cứ vào nguyên tắc và tiêu chí tuyển
sinh, Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định phân bổ 69.630 chỉ tiêu sư phạm, khoảng 64% chỉ tiêu
đề xuất của các địa phương Như vậy nếu so với số tiền Nhà nước phải cho cho sinh viên saukhi Luật Giáo dục năm 2019 có hiệu lực thì có thể số tiền còn lớn hơn so với việc miễn họcphí cho sinh viên sư phạm trước đây Bởi, thực tế các trường đào tạo các ngành tương đươngvới sư phạm như Khoa học tự nhiên, Khoa học nhân văn và Xã hội thì học phí những năm quacũng chỉ gói gọn dưới 15 triệu đồng/ năm học
Bây giờ, hỗ trợ sinh viên sư phạm thì mỗi năm là 10 tháng với số tiền 36.300.000 đồng.Trong khi, năm 2020 chỉ tiêu cho các trường sư phạm là 69.630 chỉ tiêu, nếu tuyển đủ và sau
4 năm đào tạo đại học chúng ta sẽ có số tiền mà nhà nước đầu tư sẽ là rất lớn Cụ thể: Mỗisinh viên bên cạnh việc không phải đóng học phí sẽ được hỗ trợ 36.300.000 đồng, cả khóa sẽ
là 145.200.000 đồng Vậy, chúng ta sẽ có con số 69.630 (chỉ tiêu) x 145.200.000 (số tiền hỗtrợ cho 1 sinh viên/khóa học) = 1.011.027.000.000 đồng
Hàng ngàn tỉ đồng mà nhà nước hỗ trợ cho sinh viên trong suốt khóa học như vậy chắcchắn là những con số không nhỏ bởi các trường đại học phải đào tạo song hành 4 khóa học từnăm nhất đến năm tư trong mỗi năm học Số tiền này sẽ không lớn nếu sinh viên ra trườngđược phân công công việc, không phải thất nghiệp Nhưng, không có cơ sở nào đảm bảo chắcchắn 69.630 chỉ tiêu sư phạm năm nay thì sau 4 năm nữa ra trường tất cả đều có việc làm.Nếu sinh viên sư phạm ra trường trong những năm tới đây vẫn thất nghiệp như thời gian quathì không thể đo đếm hết được những lãng phí khi mà sự chênh lệch giữa nguồn tuyển sinh vàchỉ tiêu tuyển dụng quá lớn cơ hội cạnh tranh việc làm theo đó mà tăng lên từng ngày
Chỉ hỗ trợ tài chính, đãi ngộ cao thôi là chưa đủ
Mùa tuyển sinh năm nay nhóm ngành sư phạm đã thu hút được rất nhiều thí sinh Mộttrong số nguyên nhân là do tác động của nghị định 116/2020/NĐ-CP của Chính Phủ về chínhsách hỗ trợ tiền đóng học phí và chi phí sinh hoạt đối với sinh viên Sư phạm Tuy nhiên chính