CẦU THÊ HÚC: một bộ phận của tổng thể kiến trúc đền Ngọc Sơn Hà Nội, được xây dựng 1865, nối Đảo Ngọc khu đền chính với bờ phía đông của hồ Hoàn Kiếm... Sau đó, phần thi công xây d
Trang 1Cầu Thuê Húc – Hà Nội Cầu Long Biên – Hà Nội Cầu Chương Dương-Hà
Cầu Hàm Rồng–Thanh
Nẵng
Giang Cầu Rạch Miễu – Bến Tre Cầu Cần Thơ – Cần Thơ
Trang 2 CẦU THÊ HÚC: một
bộ phận của tổng
thể kiến trúc đền
Ngọc Sơn (Hà Nội), được xây dựng
1865, nối Đảo Ngọc (khu đền chính) với
bờ phía đông của hồ Hoàn Kiếm
Trang 3Cầu bằng gỗ, 14 nhịp, dài khoảng 25 m, uốn cong hình "cung nguyệt"; mặt cầu rộng khoảng 2 m, toàn
bộ trụ, thân, mặt và lan can hai bên đều bằng gỗ.
Trang 4Đây là một số ảnh của cầu Thê Húc
Trang 5 Cầu Long Biên là cây cầu thép đầu tiên
bắc qua sông Hồng tại Hà Nội, do Pháp xây dựng (1889-1902) và đặt tên là cầu Doumer (đọc như đu-me) (tên Toàn quyền Đông
Dương Paul Doumer) Dân gian còn gọi là
cầu sông Cái Hiện trên đầu cầu vẫn còn
tấm biển kim loại có khắc chữ "1899 -1902 - Daydé & Pillé - Paris“
Trang 6 Tiêu chuẩn kỹ thuật
Chiều dài toàn cầu 1.862
m, gồm 19 nhịp dầm
thép và đường dẫn xây bằng đá Cầu dành cho đường sắt đơn chạy ở
giữa Hai bên là đường dành cho xe cơ giới và đường đi bộ Đường cho các loại xe là 2,6m và
luồng đi bộ là 0,4m
Luồng giao thông của
cầu theo hướng đi xuôi ở phía trái cầu chứ không phải ở bên phải như các cầu thông thường khác
Trang 7Năm 1897, cuộc thi thiết
kế cho cầu đã được tổ chức Phương án thiết
kế của Gustave Eiffel là phương án được chọn để
xây dựng cầu chính thức Cầu được thiết kế theo kiểu dáng của cầu Tolbiac ở quận 13, Paris trên tuyến đường sắt Paris - Oóclêăng, Pháp Sau đó, phần thi công xây dựng cầu đã được tổ chức đấu thầu và hãng Daydé&Pillé trúng thầu thi công phần chính của cầu còn Nha công chính
Đông Dương thì xây dựng phần cầu dẫn.
Trang 8Giá thành xây dựng ban đầu của cầu là 6.200.000 franc Pháp Thiết kế ban đầu, chiếc cầu khi hoàn thành chỉ có đường tàu hoả thôi còn đường ô tô đi chung với đường như cầu Đuống Cho đến tận 19 năm sau, cầu mới được làm thêm đường hai bên cho các
loại xe cơ giới.
Thời đó, cầu được xếp vào hàng thứ hai trên thế giới sau cây cầu sắt Brucklin bắc qua Sông Đông (East
Trang 9 Cầu Chương Dương
sự trợ giúp kỹ thuật
của các kỹ sư nước
ngoài
.
Trang 10Đây là cây cầu nối quận Hoàn Kiếm với quận Long Biên của Hà Nội.
Cầu được xây năm 1983, đưa vào sử dụng năm 1986.
Từ 2002 cầu được sửa chữa, gia cố.
Trang 11Phân tải: cầu chia làm bốn làn xe chạy hai chiều, ở giữa có
phần cánh gà mỗi bên rộng 5 m Phía ngoài cùng có làn đường dành cho xe máy rộng 1,5 m.
Trang 12Vài hình ảnh về cây cầu
Trang 13Thanh Trì là cây cầu lớn nhất trong dự án 7 cây cầu của Hà Nội bắc qua sông Hồng, Được mệnh danh là cây cầu lớn nhất Đông Dương bắt đầu từ điểm cắt quốc lộ 1A tại Pháp Vân (Thanh Trì), điểm cuối cắt quốc lộ 5 tại Sài Đồng (Gia Lâm) Cầu Thanh Trì dài 12.8 km, trong đó cầu chính dài 3 km với 6 làn xe và 6 km đường dẫn phía Thanh Trì, 3,5 km đường dẫn phía Gia Lâm.
Trang 14Cầu Thanh Trì khởi công 2002.
Ngày 18 tháng 8 năm 2006, hợp long cầu Thanh Trì.
Ngày 02 tháng 02 năm 2007 cầu được thông xe.
Đến hết năm 2008, cầu Thanh Trì vẫn chưa được hoàn thiện ở
2 đầu.
Trang 15 Đây là công trình cầu được xây dựng với nhiều ứng dụng công nghệ mới; "chịu" được xe tải bánh lốp tải trọng dưới
Trang 16Cầu Bãi Cháy-Hạ Long
Trang 17Vị trí và vai trò:
+ Cầu Bãi Cháy nằm trên
Quốc lộ 18 nối liền 2 khu
vực trung tâm văn hóa –
kinh tế của tỉnh Quảng
Ninh là Hòn Gai và Bãi
Cháy
hoàn thành sẽ nối thông
toàn bộ Quốc lộ 18 – trục
giao thông huyết mạch
của tam giác kinh tế: Hà
Nội – Hải Phòng – Quảng
Ninh, góp phần quan
trọng trong việc thúc đẩy
phát triển kinh tế xã hội
của toàn bộ vùng Đông
Bắc đất nước
Trang 18 * Tải trọng: Loại A theo tiêu chuẩn Nhật.
* Kinh phí: khoảng 1.046 tỷ VNĐ (60.000.000 US$), thời gian thi công 40 tháng; đến 30 tháng 11, 2006 kết thúc hợp đồng.
* Chủ đầu tư: Bộ GTVT, đại diện chủ đầu tư: Ban Quản lý các dự án 18-PMU18.
* Tư vấn thiết kế - giám sát: Viện cầu và kết cấu Nhật Bản.
* Nhà thầu thi công: liên danh Shimizu-Simitomo Mitsui Nhật Bản.
15g hôm qua 2-12, sau khi lễ khánh thành và thông xe cầu Bãi Cháy kết thúc, cầu nối liền Thăng long và hạ long
Trang 19Dự án cầu Bãi Cháy được thực hiện bằng vốn vay ODA Nhật Bản và vốn đối ứng trong nước với tổng mức đầu tư 2.140 tỷ đồng
+ Cầu Bãi Cháy hoàn thành đã đáp
ứng niềm mong chờ lâu nay của người
dân thành phố Hạ Long và tỉnh Quảng
Ninh; đồng thời, cũng đánh dấu mốc
trưởng thành mới về trình độ và tay
nghề của đội ngũ thợ cầu Việt Nam
trong quá trình tiếp thu các công
nghệ, kỹ thuật xây dựng tiên tiến của
thế giới
+ Công trình hoàn thành tạo thêm một
biểu tượng nữa của tình hữu nghị Việt
Nam – Nhật Bản và cũng chứng tỏ việc
sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA
trong phát triển kết cấu hạ tầng giao
thông
Trang 20Cầu Bãi Cháy lúc hoàng hôn
Trang 22theo tiêu chuẩn cầu
dây văng đối xứng
Trang 23CẦU BÍNH THÔNG SỐ KỸ THUẬT
Cầu dài 1.280m tính từ tim của hai mố cầu Khổ cầu rộng 22,5m gồm 4 làn xe cơ giới (4 x3,75m) và hai
làn đi bộ và xe thô sơ (2 x 3,2m) Chiều cao thông
thuyền 25m , rộng 125m cho tàu 3000 tấn qua lại
Hai trụ tháp bằng BTCT hình chữ H chân xiên, chiều cao 101,6m tính từ đỉnh bệ móng, có dầm ngang trên khu vực hộp neo cáp Tổng số có 80 bó cáp loại song song từ các sợi thép 7mm cường độ cao, neo cáp loại HiAm (sản xuất tại Nhật Bản) Hai trụ tháp sử dụng móng cọc khoan nhồi BTCT đường kính 2m, chiều dài khoảng 43m - 60m bê tông 40 MPa.
Trang 24Cầu Bính-Thi công phần dưới cầu
Tổng số cọc ống thép là 231 cọc , mỗi trụ có từ 12-16 cọc, chiều dài mỗi cọc khoảng 40m , thi công theo
phương pháp đóng cọc bằng búa rơi tự do
Thi công cọc khoan nhồi đường kính 2m , sâu 43m - 60m sử dụng ống vách và dung dịch bentonite Trong công đoạn này, sử dụng máy khoan tuần hoàn ngược
và máy khoan đá kiểu mâm xoay để khoan đến tầng chịu lực, cọc được ngâm 2m vào tầng chịu lực
Bê tông 40 MPa sử dụng cho cọc khoan nhồi và cọc ống thép tuân theo chỉ dẫn kỹ thuật của Nhật Bản, đặc biệt là độ hỗn hợp bê tông trước khi bơm vào kết cấu phải thấp hơn 30oC và thoả mãn về độ sụt theo thiết kế Vì vậy, để đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, nhà thầu phải có các biện pháp như lắp đặt thiết bị làm lạnh nước từ 2 đến 9oC , làm nhà che cốt liệu và xi lô chứa xi măng tại trạm trộn bê tông
Trang 25Cầu Bính-Kết cấu phần trên
Về thi công kết cấu phần trên,khối lượng dầm thép cho toàn bộ cầu hết
6.500 tấn được sản xuất chủ yếu tại Nhật Bản, còn lại được sản xuất
tại nhà máy Mitsui Thăng Long (Hà Nội).
Dầm cầu được chế tạo bằng hàn tự động từ các thép tấm tiêu chuẩn
Nhật Bản, chiều dày 20-90mm, lắp ráp thử và sơn hoàn chỉnh 3 lớp
sơn tại nhà máy Mỗi đoạn dầm chủ dài khoảng 20m, nặng từ 18-25
tấn Phương pháp thi công lắp dầm bằng cần cẩu 150 tấn
Riêng phần cầu dây văng thực hiện theo phương pháp lắp hẫng Về thi
công bản mặt cầu BTCT được đúc sẵn tại công trường và bảo quản 6
tháng trước khi lắp đặt để giảm co ngót và từ biến của bê tông
Mặt bê tông của các bản đúc sẵn tại mối nối được tạo nhóm trong khi
đúc bằng cách phun phụ gia Sika Rugasol-F lên mặt ván khuôn Cốt thép chở của bản được bảo vệ chống gỉ bằng lớp vữa Sika Monotop
610 Công tác lắp ráp của bản mặt cầu BTCT đúc sẵn và đổ bê tông mối
nối được tiến hành theo trình tự nhất định "phương pháp Piano" để đảm bảo tính liên hợp của kết cấu.
Trang 27Cầu Hiền Luơng
Trang 29Bờ Bắc
Trang 30 Bị máy bay Mỹ ném bom làm sập vào năm 1967.
Năm 1976 cầu Hiền Lương mới được xây cách cầu cũ 35m về phía hạ lưu
Đến năm 2002, việc tôn tạo cụm di tích đặc biệt quan trọng đôi bờ Hiền Lương chính thức được khởi động với kinh phí đầu tư 45 tỉ đồng
Lần tôn tạo này ngoài việc xây dựng cầu Hiền Lương lịch sử - trục chính quan trọng nhất của cụm di tích, tất cả những di tích còn lại được bố trí cân đối, hài hòa hai bên bắc - nam sông Bến Hải gồm kỳ đài, đồn công an, nhà liên hiệp và cụm tượng đài "Khát vọng thống nhất"
Trang 33Cầu Tràng Tiền bắc qua sông hương nằm ở trung tâm thành phố Huế.
Trang 34Cầu do Kts Gustave Eiffel thiết kế.
Cầu dài 403 m, gồm 6
nhịp dầm thép hình vành lược, do Pháp xây dựng năm 1905 tại vị trí cầu
Thành Thái cũ (cầu gỗ
xây dựng 1897-1899, bị
đổ năm 1904), lúc đầu
cầu mang tên
Clê-măng-xô (cầu Clemenceau)
Năm 1945 chính phủ Trần Trọng Kim đổi tên là cầu Nguyễn Hoàng Tuy nhiên nhân dân vẫn gọi là cầu Trường Tiền, do cầu nằm cạnh xưởng đúc tiền cũ sát bờ sông Hương.
Trang 35Hình ảnh về cầu Tràng Tiền
Trang 36Cầu Thị Nại
Trang 37Đôi nét về cây cầu
Cầu Thị Nại là cây cầu vượt biển lớn nhất nằm trong hệ thống cầu
đường Nhơn Hội là dài gần 7 km nối thành phố Qui Nhơn với bán đảo Phương Mai (khu kinh tế Nhơn Hội), gồm cầu chính vượt đầm Thị Nại, 5 cầu nhỏ qua sông Hà Thanh và đường dẫn 2 đầu cầu Cầu được xây dựng trong 3 năm, khánh thành ngày 12/12/2006.
Tổng số vốn đầu tư cho xây dựng công trình là 582 tỷ đồng
Phần chính của cầu dài 2.477,3 m, rộng 14,5 m
Cầu gồm 54 nhịp có khẩu độ mỗi nhịp là 120 m
Tính cả phần hệ thống đường gom, cầu dài 6960 m với 5 cầu ngắn Cầu chịu xe trọng tải 30 tấn và xe bánh xích trọng tải 80 tấn.
Cầu ứng dụng công nghệ thi công hiện đại, dùng cọc khoan nhồi có đường kính từ 1,2-1,5 m, dầm hộp bê tông liên tục, dầm supper T ứng suất trước 5 nhịp chính thi công theo phương pháp đúc hẫng cân bằng đối xứng, bê tông dầm hộp có cáp dự ứng lực trong và ngoài, còn 49 nhịp dẫn sử dụng dầm Supper T ứng suất trước.
Trang 38Cầu Thị Nại nhìn từ trên cao
Trang 39Một số hình ảnh:
Trang 40Cầu Rạch Miễu_Bến Tre
Trang 41Đôi nét về cầu Rạch Miễu
Cầu Rạch Miễu nằm trên quốc lộ 60 bắc qua sông Tiền, cách bến phà hiện hữu khoảng 1km về phía thượng lưu
Đây là chiếc cầu dây văng lớn thứ ba được xây dựng ở đồng bằng sông Cửu Long.
Đây là cây cầu đầu tiên do chính các
kỹ sư VN thiết kế và thi công theo công nghệ mới.
Trang 42Cầu Rạch Miễu trong quá trình thi công
Trang 44Ngày 20-8-2008, cầu Rạch Miễu được hợp long trong niềm hạnh phúc vô bờ của hàng chục triệu dân tỉnh Bến Tre và các tỉnh ĐBSCL.
Trang 46Một số hình ảnh cầu Rạch miễu
Trang 47Công trình là minh chứng cho sự trưởng thành vượt bậc của ngành xây dựng Việt Nam!
Trang 49MỸ THUẬN Cầu Mỹ Thuận là một
cây cầu bắc qua sông Tiền Giang ở đồng bằng sông Cửu Long, được chính thức khởi công ngày 6 tháng 7, 1997 và hoàn thành vào 21 tháng
5 năm 2000.
Cầu do các công ty Baulderstone Hornibrook của Úc và Cienco 6 của
Bộ Giao thông Vận tải thiết kế và thi công, với chi phí 90,86 triệu đôla
Úc, trong đó chương trình AusAid của chính phủ Úc góp 66% và chính phủ Việt Nam là 34%.
Trang 50MỸ THUẬN
Cầu Mỹ Thuận được xây ở một địa điểm cách bến bắc Mỹ Thuận khoảng 1 km về phía hạ lưu, nằm giữa hai tỉnh Tiền Giang và Vĩnh Long
Cầu thuộc loại cáp kéo (cable stayed) có chiều dài khoảng 1.535 m và một tầm gió 37,5 m (khoảng cách từ mặt nước cao nhất đến sàn cầu) Vày chính của cầu sẽ dài 350
m, được neo vào hai trụ tháp bê tông cao khoảng 121 m bởi 128 dây cáp
Sàn cầu rộng khoảng 23 m, đủ cho 4 lằn xe (2 lằn xe cho mỗi chiều lưu thông) và 2 lề đường ở hai bên cho người đi bộ.
Việc xây cất cây cầu, tiếp theo lời yêu cầu của chính phủ Việt Nam gửi đến chính phủ
Úc trong năm 1993, chính thức bắt đầu sau
lễ đặt viên đá đầu tiên trong tháng 7 năm 1997
Trang 51MỸ THUẬN
Với vày chính dài 350 m, cầu Mỹ Thuận sẽ đứng hàng thứ 38 trong tổng số khoảng 80 cây cầu cáp kéo quan trọng đã được xây trên thế giới (Cầu Tatara ở Nhật Bản là cầu cáp kéo có vày chính dài nhất thế giới hiện nay (890 m)) Nhưng cầu Mỹ Thuận sẽ là cầu cáp kéo có vày chính bằng bê tông dài thứ 8 trên thế giới (Cầu cáp kéo có vày chính bằng bê tông dài nhất hiện nay là cầu Skarnsund ở Norway (530 m), còn vày chính của cầu Tatara làm bằng sắt) (5).
Chi phí cho việc xây cầu Mỹ Thuận được ước tính vào khoảng 72 triệu Mỹ Kim. Úc Đại Lợi đài thọ hai phần ba chi phí, khoảng 45 triệu Mỹ Kim, qua ngân sách ngoại viện của chính phủ liên bang (1).
Cầu Mỹ Thuận sẽ là cây cầu có tầm vóc quốc gia đầu tiên được xây dựng sau khi đất nước “hoàn toàn độc lập và thống nhất.” Có thể nói một cách chắc chắn rằng cầu Mỹ Thuận sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy cho sự phát triển toàn diện của đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và của cả nước nói chung
Trang 52MỸ THUẬN
Trang 53Cầu Cần Thơ
Trang 54Vị trí dự án
Cầu Cần Thơ – công trình lớn nhất trên Quốc lộ 1, được khởi
công xây dựng ngày 25/09/2004 và dự kiến hoàn thành vào ngày 31/03/2010
Toàn tuyến dự án dài 15,85km với điểm khởi đầu tại Km 2061 trên QL1 thuộc huyện Bình Minh tỉnh Vĩnh Long, đi tránh QL1
và thành phố Cần Thơ, vượt qua sông Hậu ở cách bến phà hiện hữu về phía hạ lưu 3.2km, nối trở lại QL1 tại Km 2077 thuộc quận Cái Răng, Cần Thơ.
Trang 55
Vốn đầu tư
Tổng mức đầu tư 4.832 tỷ (thời điểm 2001, tức là khoảng
342,6 triệu USD) bằng nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA) của chính phủ Nhật và vốn đối ứng của chính phủ Việt Nam (khoảng 15%).
Trang 56 Dự án được chia thành 3 gói thầu :
Gói thầu 1: là đoạn đường dẫn phía Vĩnh Long dài 5,41 km trong đó
có 4 cầu qua kênh Trà Và lớn, Trà Và nhỏ, sông Trà On và vượt QL 54 Gói thầu này do Liên doanh Tổng Công ty Thăng Long, Tổng Công ty 6, Tổng Công ty 8, thi công trong 42 tháng
Gói thầu 2 là cầu chính
o Nó gồm có:
o Cầu dẫn bờ Bắc bằng dầm Super T dài 0,52 km
o Cầu chính kết cấu dây văng dài 1.010 km bố trí nhịp:
2×40 + 150 + 550 + 150 + 2×40, mặt cầu hỗn hợp dầm thép và bêtông cốt thép dự ứng lực
o Cầu dẫn bờ Nam bằng dầm Super T dài 0,88km
o Cầu dầm liên tục đúc hẫng vượt nhánh sông Hậu dài 0,34km
o Tổng chiều dài cầu chính là 2,75 km
o Gói thầu này do Liên doanh 3 nhà thầu Nhật Bản là các tập đoàn Taisel, Kajima và Nippon steel thi công trong 50 tháng
Gói thầu 3 là đoạn đường dẫn phía Cần Thơ dài 7,69 km trong đó có 6 cầu qua kênh Cái Tắc, kênh Cái Da, kênh An Mỹ, kênh Cát Nai, sông Cái Răng
và vượt Quốc lộ 91B Gói thầu này do nhà thầu Tổng công ty xây dựng
Trung Quốc thi công trong 45 tháng
Trang 57 Gói thầu 3: là đoạn đường dẫn phía Cần Thơ dài 7,69km trong đó có
6 cầu qua kênh Cái Tắc, kênh Cái Da, kênh Ap Mỹ, kênh Cái Nai, sông Cái Răng và vượt QL 91B Gói thầu này do nhà thầu Tổng công ty xây dựng Trung Quốc thi công trong 45 tháng
Toàn tuyến dự án có mặt cắt ngang quy mô 4 làn xe ô tô và 2 làn xe máy và tốc độ thiết kế 80km/giờ Tiêu chuẩn thiết kế cầu theo quy trình AASHTO LRFD
Trang 59Một số đặc điểm kỹ thuật
Cầu Cần Thơ có những đặc trưng phổ biến của loại cầu dây văng :
Về móng trụ tháp: là loại cọc khoan nhồi có đường kính 2.50m, chiều
dài : 94m và mỗi cọc có 45 tấn thép với cốt thép chủ đường kính 38mm
và gần 500m 3 bê tông mác 30Mpa
Trụ bờ Bắc có 30 cọc và trụ bờ Nam có 36 cọc Máy khoan cọc nhồi làm việc theo nguyên tắc tuần hoàn ngược liên tục dùng dung dịch
bentonite có pha polymer khoảng 5% Ở trụ bờ Bắc thi công trên bờ nên dùng ống thép đường kính 2,60m dầy 22mm và dài 12m làm ống vách tạm thời Ở trụ bờ Nam thi công dưới nước có độ sâu 20m nên phải dùng ống vách chiều dài 42m cố định Chân cọc sau khi đổ bê
tông được bơm vữa xi măng bằng bơm áp lực cao để tăng cường sức chịu tải của cọc
Trang 60Cọc khoan nhồi trên bờ và dưới sông
Trang 61 Bệ trụ tháp bờ Bắc thi công trên cạn nên làm hố móng và lắp ván khuôn đổ bê tông thông thường Riêng bệ trụ tháp bờ Nam thi
công dưới nước nên mặt đáy và vòng vây xung quanh được đúc sẵn trên bờ và lắp ghép trên đâu cọc thành ván khuôn liền với bệ trụ Vòng vây xung quanh có chiều sâu ngập trong nước dưới cao trình mặt đáy bệ để che chắn bảo vệ đầu cọc Cốt thép thi công
bệ trụ có đường kính lớn nhất tới 52mm và nối dối đầu bằng đầu nối có ren , thí nghiệm kiểm chứng cho thấy khi kéo phá hoại cốt thép đứt ở thân chứ không đứt ở mối nối.
Trụ tháp có chiều cao tính từ mặt nước là 164,80m và tính từ mặt cầu là 134,70m Trụ có hình chữ Y ngược và hai chân khép vào
để thu hẹp diện tích bệ trụ, hình dạng này rất đẹp và thanh thoát, không như hình cữ H xoạc cẳng, trụ có biểu tượng như hai bàn tay chắp lại vái lên trời với tâm linh của người Á Đông.
Kết cấu phần trên: Nhịp dây văng có chiều dài 550m giữa hai trụ
tháp, có tĩnh không thông thuyền cao 39m (với chiều rộng tương
ứng 200m) đảm bảo cho tầu 10.000DWT qua lại thường xuyên.