Để khắc phục những hạn chế, bất cập tại Nghị định 56 và với mục tiêuthiết lập đồng bộ các chính sách hỗ trợ DNNVV, dự thảo quy định phạm vi điềuchỉnh của Luật gồm các nội dung, chương tr
Trang 1CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BÁO CÁO THUYẾT MINH CHI TIẾT
Dự án Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
_
Căn cứ Nghị quyết số 89/2015/QH13 của Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ
9 thông qua ngày 09/6/2015 về điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháplệnh nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, năm 2015 và Chương trình xây dựng luật,pháp lệnh năm 2016, Chính phủ đã phân công Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì,phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức liên quan xây dựng dự
án Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (sau đây gọi là dự án Luật) Tiếp thu ýkiến của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa XIV tại Phiên họp thứ 4, Chính phủxin trình Quốc hội dự án Luật với những nội dung cơ bản như sau:
I BỐ CỤC CỦA DỰ THẢO LUẬT HỖ TRỢ DNNVV
Dự án Luật Hỗ trợ DNNVV gồm 6 chương với 45 điều, cụ thể như sau:Chương I: Những quy định chung, gồm 6 điều
Chương II: Các nội dung hỗ trợ cơ bản DNNVV, gồm 12 điều
Chương III: Chương trình hỗ trợ trọng tâm DNNVV, gồm 14 điều
Chương IV: Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm hỗ trợ DNNVV của cơquan, tổ chức, cá nhân, gồm 4 điều
Chương V: Ngân sách, cơ chế phối hợp, giám sát và đánh giá hỗ trợDNNVV, gồm 6 điều
Chương VI: Điều khoản thi hành, gồm 3 điều
II NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA DỰ THẢO LUẬT
1 Chương I Những quy định chung
Chương này gồm 6 điều (từ điều 1 đến điều 6) quy định về phạm vi điềuchỉnh, đối tượng áp dụng, giải thích từ ngữ, tiêu chí xác định DNNVV, nguyêntắc hỗ trợ DNNVV, quyền và nghĩa vụ của DNNVV tiếp cận và nhận hỗ trợ
a) Về phạm vi điều chỉnh (Điều 1)
Nghị định 56/2009/NĐ-CP (gọi tắt là Nghị định 56) hiện nay chỉ quy định
về chính sách trợ giúp nói chung và quản lý nhà nước về DNNVV, không quyđịnh về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhânliên quan đến hoạt động hỗ trợ DNNVV Quy định này dẫn đến thực tế các
Trang 2chính sách không triển khai được trong thực tiễn và không xác định rõ nhiệm vụ,quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức liên quan trong hỗ trợDNNVV Để khắc phục những hạn chế, bất cập tại Nghị định 56 và với mục tiêuthiết lập đồng bộ các chính sách hỗ trợ DNNVV, dự thảo quy định phạm vi điềuchỉnh của Luật gồm các nội dung, chương trình hỗ trợ DNNVV, quản lý nhànước về hỗ trợ DNNVV; nguồn vốn, cơ chế phối hợp, giám sát, đánh giá hỗ trợDNNVV; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cánhân trong hỗ trợ DNNVV.
b) Về đối tượng áp dụng (Điều 2)
Nghị định 56 quy định đối tượng áp dụng là các DNNVV, các tổ chức trợgiúp phát triển DNNVV và cơ quan quản lý Nhà nước về trợ giúp phát triểnDNNVV Cũng tại Điều 3 Nghị định 56, DNNVV được xác định là cơ sở kinhdoanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật Điều này có nghĩa làDNNVV không chỉ bao gồm đối tượng là doanh nghiệp mà còn bao gồm cả đốitượng là hợp tác xã và hộ kinh doanh Thực tiễn triển khai Nghị định 56 chothấy, một vài chính sách được triển khai rộng khắp trên phạm vi cả nước như hỗtrợ thông tin và đào tạo, đặc biệt là hỗ trợ DNNVV tham gia các khoá đào tạo đãthu hút cả các hộ kinh doanh, hợp tác xã tham gia
Tuy nhiên, Luật Hợp tác xã năm 2012 được ban hành đã khẳng định bảnchất của hợp tác xã không phải là doanh nghiệp Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xãphải hoạt động hiệu quả và theo đuổi mục tiêu cao nhất là đáp ứng nhu cầu vềsản phẩm, dịch vụ của thành viên Trong khi đó, mục tiêu của tổ chức doanhnghiệp (theo Luật doanh nghiệp) là cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho thị trườngđại chúng nhằm tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp; mục tiêu của các thànhviên góp vốn vào doanh nghiệp là để được chia lợi nhuận tối đa theo tỷ lệ vốngóp của mình Hơn nữa, Luật Doanh nghiệp năm 2014 (khoản 7 Điều 4) quyđịnh: doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, đượcđăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh
Xuất phát từ những thay đổi trong hệ thống pháp luật của Việt Nam thờigian qua như phân tích ở trên, đồng thời, với quan điểm hỗ trợ DNNVV có chọnlọc, phù hợp với mục tiêu và định hướng phát triển kinh tế của đất nước, lợi thếcủa từng địa phương và nguồn lực của quốc gia, các chính sách hỗ trợ của Nhànước tại Luật này cần hướng vào đối tượng là các DNNVV được thành lập theoLuật Doanh nghiệp, đáp ứng tiêu chí quy định tại dự thảo Luật
Về đối tượng hộ kinh doanh: Theo thống kê, Việt Nam hiện có khoảng3,4 triệu hộ kinh doanh, trong đó khoảng hơn 2 triệu hộ không đăng ký thuế.Đây là lực lượng kinh tế khá đông đảo, có đóng góp lớn cho nền kinh tế, nhưnghoạt động tản mạn, khả năng quản trị hạn chế, thiếu tính minh bạch Để khuyếnkhích các hộ kinh doanh phát triển thành doanh nghiệp, Chương III dự thảo Luật
đã xây dựng một chương trình hỗ trợ trọng tâm dành cho các doanh nghiệp đượcchuyển đổi từ hộ kinh doanh Như vậy, hộ kinh doanh nếu muốn được hưởng
2
Trang 3các chính sách hỗ trợ quy định tại Luật này thì cần thiết phải chuyển đổi sangthành lập doanh nghiệp.
Thực tiễn trên thế giới, cũng có một số quốc gia có quy định đối tượng ápdụng tại Luật hỗ trợ DNNVV là DNNVV do người bản địa nắm giữ hoặc sở hữu(như Phillippines, Malaysia…) và cũng có những quốc gia quy định đối tượng
áp dụng bao gồm cả các doanh nghiệp FDI (Singapore quy định hỗ trợ của nhànước không chỉ dành cho các doanh nghiệp trong nước mà còn tạo điều kiệnthuận lợi cho cả doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Singapore)
c) Giải thích từ ngữ (Điều 3)
Nghị định 56 không quy định phần giải thích các thuật ngữ cụ thể Một sốthuật ngữ được giải thích tại các Điều liên quan đến nội dung trực tiếp (ví dụ, hỗtrợ DNNVV, chương trình hỗ trợ DNNVV, cơ quan, tổ chức hỗ trợ DNNVV…).Nhằm tạo sự thống nhất về cách hiểu các nội dung tại dự thảo Luật cũng nhưxuất phát từ thực tiễn công tác hỗ trợ DNNVV, nhu cầu phát triển của khu vựcDNNVV thời gian qua, tạo điều kiện cho các tổ chức hỗ trợ DNNVV được thamgia tốt nhất vào hoạt động hỗ trợ DNNVV, dự thảo Luật đã bổ sung một Điều vềgiải thích từ ngữ Trong đó, có một số khái niệm đáng lưu ý như sau:
- Hỗ trợ DNNVV: với mục tiêu hỗ trợ DNNVV phải đồng bộ từ khâuthiết kế nội dung hỗ trợ cho đến khâu giám sát hiệu quả hỗ trợ, khoản 1 Điều 3
quy định: hỗ trợ DNNVV bao gồm việc xây dựng, tổ chức thực hiện, điều phối,
giám sát và đánh giá nội dung hỗ trợ, chương trình hỗ trợ DNNVV
- Chương trình hỗ trợ DNNVV: là một tập hợp các hoạt động, chính sách
có liên quan đến nhau, sử dụng các nguồn lực của Nhà nước hoặc tài trợ của cơquan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước nhằm đạt được mục tiêu hỗ trợ cácdoanh nghiệp nhỏ và vừa có tiềm năng phát triển trong một hoặc nhiều ngành,lĩnh vực, địa bàn trong một hoặc nhiều giai đoạn
- Doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo: là doanh nghiệp đang trongquá trình hoàn thiện sản phẩm, dịch vụ trước khi thương mại hóa được sảnphẩm, dịch vụ ra thị trường, có khả năng tăng trưởng nhanh dựa trên khai tháctài sản trí tuệ, công nghệ hoặc mô hình kinh doanh mới và có thời gian hoạtđộng dưới 05 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệplần đầu
- Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo được hình thành từ các doanhnghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và các tổ chức, cá nhân hỗ trợ tương tác lẫnnhau tạo nên một môi trường thuận lợi thúc đẩy sự hình thành và phát triển cácdoanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo
-Khu làm việc chung là khu vực cung cấp không gian làm việc tập trung,không gian trưng bày sản phẩm và cung cấp các tiện ích để hỗ trợ, chia sẻ vàliên kết các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo
3
Trang 4- Cơ sở kỹ thuật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở cung cấp cácthiết bị dùng chung để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đo lường, phân tích,giám định, kiểm định sản phẩm, hàng hóa, vật liệu
d) Về tiêu chí xác định DNNVV (Điều 4)
Dự thảo Luật tiếp tục sử dụng tiêu chí tổng nguồn vốn và số lao động bìnhquân năm để phân loại DNNVV Việc tiếp tục sử dụng tiêu chí tổng nguồn vốnnhư quy định tại Nghị định 56 vì những lý do sau:
Một là, theo đánh giá tổng kết tình hình thực hiện Nghị định 56, tiêu chí
tổng nguồn vốn tuy chưa phản ánh đúng quy mô và hoạt động của doanh nghiệpnhưng có tính ổn định và bền vững hơn tiêu chí doanh thu Hơn nữa, các nộidung hỗ trợ quy định tại dự thảo Luật nhằm hướng tới khuyến khích các doanhnghiệp trong lĩnh vực sản xuất với mục tiêu thúc đẩy nền sản xuất quốc gia, qua
đó nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia thì tiêu chí tổng nguồn vốn/tổng tàisản lại phản ánh tốt hơn quy mô và năng lực thực tế của doanh nghiệp
Hai là, tuy việc sử dụng tiêu chí phân loại DNNVV ở các quốc gia khác
nhau không hoàn toàn giống nhau song, phổ biến nhất, có 5 tiêu chí được sửdụng, đó là: vốn, tổng tài sản, doanh thu, doanh số bán hàng, số lao động sửdụng Nhật Bản sử dụng tiêu chí tổng nguồn vốn, Hàn Quốc sử dụng tiêu chítổng nguồn vốn đối với DN trong lĩnh vực sản xuất và tiêu chí doanh thu tronglĩnh vực sản xuất phần mềm và thương mại Nhiều nước khác thuộc Cộng đồngchung châu Âu, Thái Lan, Philippines, Colombia, Bolivia… sử dụng tiêu chítổng tài sản
Ba là, trong quá trình nghiên cứu, lựa chọn tiêu thức phân loại DNNVV
phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta, cơ quan soạn thảo cũng thấy rằng, tiêuchí doanh thu đang được một số cơ quan quản lý nhà nước (như cơ quan thuế,
…) sử dụng thường xuyên (hàng quý, hàng năm) để xác định nghĩa vụ thuế củadoanh nghiệp và doanh nghiệp phải khai báo thuế với cơ quan quản lý nhà nước.Đồng thời, tiêu chí doanh thu cũng được cơ quan thuế sử dụng làm căn cứ để ápdụng thuế suất thuế TNDN tại Luật thuế TNDN1, tần suất kê khai thuế giá trị giatăng 3 tháng/lần đối với DNNVV2… và một số chính sách ưu đãi thuế khác chodoanh nghiệp Tuy nhiên, DNNVV thường hoạt động không ổn định, thườngxuyên chịu sự tác động của các yếu tố về thay đổi chính sách môi trường vĩ mônói chung nên doanh thu của khu vực này cũng không ổn định Hơn nữa, đối vớicác doanh nghiệp mới khởi nghiệp, có khi phải mất 3-5 năm chưa phát sinhdoanh thu do đang trong giai đoạn đầu tư ban đầu, hoặc phát sinh doanh thunhưng vẫn bị lỗ Do đó, nếu sử dụng tiêu chí doanh thu thì các DNNVV khóđược hưởng các chính sách hỗ trợ tương ứng với thực trạng hoạt động của họ
1 Doanh nghiệp có tổng doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng áp dụng thuế suất 20% Doanh thu làm căn cứ xác định doanh nghiệp thuộc đối tượng được áp dụng thuế suất 20% tại khoản này là doanh thu của năm trước liền kề.
2 Khai thuế theo quý áp dụng đối với người nộp thuế giá trị gia tăng có tổng doanh thu bán hàng hoá
và cung cấp dịch vụ của năm trước liền kề từ 50 tỷ đồng trở xuống.
4
Trang 5Do đó, kế thừa quy định tại Nghị định 56, dự thảo Luật quy định như sau:DNNVV là doanh nghiệp đáp ứng tiêu chí tổng nguồn vốn hoặc số lao độngbình quân năm, được chia thành 3 cấp siêu nhỏ, nhỏ và vừa Cụ thể như sau: Quy mô
Ngành kinh tế
Doanh nghiệp siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Số lao động bình quân năm
Tổng nguồn vốn
Số lao động bình quân năm
Tổng nguồn vốn
Số lao động bình quân năm
1 Nông, lâm
nghiệp và thủy
sản
10 ngườitrở xuống
Từ 20 tỷđồng trởxuống
Từ trên 10người đếndưới 200người
Trên 20
tỷ đồngđến dưới
100 tỷđồng
Từ 200người đếndưới 300người
2 Xây dựng và
công nghiệp
10 ngườitrở xuống
Từ 20 tỷđồng trởxuống
Từ trên 10người đếndưới 200người
Trên 20
tỷ đồngđến dưới
100 tỷđồng
Từ 200người đếndưới 300người
3 Thương mại
và dịch vụ
10 ngườitrở xuống
Từ 10 tỷđồng trởxuống
Từ trên 10người đếndưới 50người
Trên 10
tỷ đồngđến dưới
50 tỷđồng
người đếndưới 100người
Đồng thời, để tạo sự linh hoạt cho các cơ quan hỗ trợ DNNVV, dự thảoLuật cho phép các cơ quan chủ trì hỗ trợ DNNVV quy định cụ thể tiêu chí xácđịnh DNNVV trong khung quy định nêu trên phù hợp với tính chất, mục tiêucủa nội dung, chương trình hỗ trợ Đây cũng là một nội dung kế thừa tại Nghịđịnh 56
đ) Nguyên tắc hỗ trợ DNNVV (Điều 5)
Đây là một Điều hoàn toàn mới được bổ sung tại dự thảo Luật so vớiNghị định 56 Hỗ trợ DNNVV phải đảm bảo không vi phạm nguyên tắc thịtrường, không phân biệt đối xử và không vi phạm các cam kết quốc tế mà ViệtNam là thành viên
Hỗ trợ cho DNNVV tại dự thảo Luật được thiết kế theo hai nhóm chínhsách hỗ trợ: (i) các hỗ trợ cơ bản (đào tạo, thông tin, tư vấn, v.v) và (ii) hỗ trợ cóchọn lọc, có mục tiêu, được quy định dưới hình thức các chương trình hỗ trợtrọng tâm DNNVV, tập trung vào các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng
5
Trang 6tạo; doanh nghiệp được chuyển đổi từ hộ kinh doanh; doanh nghiệp tham giachuỗi giá trị, cụm liên kết ngành.
Một số nguyên tắc cơ bản hỗ trợ DNNVV, bao gồm: (i) Hỗ trợ không viphạm nguyên tắc thị trường, không phân biệt đối xử, không vi phạm các điềuước quốc tế; (ii) Bình đẳng tiếp cận các nội dung hỗ trợ cơ bản quy định tạiChương II; (iii) Hỗ trợ có chọn lọc, ưu tiên cho các doanh nghiệp khởi nghiệpđổi mới sáng tạo, DNNVV trong lĩnh vực sản xuất chế biến, doanh nghiệp đượcchuyển đổi từ hộ kinh doanh, doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị, cụm liên kếtngành tại Chương III; (iv) Hỗ trợ chủ yếu thông qua việc tạo cơ chế chính sách,điều kiện thuận lợi để các tổ chức trung gian cung cấp dịch vụ hỗ trợ DNNVV,v.v
e) Quyền và nghĩa vụ của DNNVV trong tiếp cận hỗ trợ (Điều 6)
Nghị định 56 không quy định về quyền và nghĩa vụ của DNNVV trongtiếp cận các hỗ trợ của Nhà nước Trên thực tế, Luật Doanh nghiệp năm 2014 đãquy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ chung của doanh nghiệp Vì vậy, dự thảoLuật không quy định lại các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh mà quy định các quyền và nghĩa vụ liên quan đến tiếpcận hỗ trợ của DNNVV Cụ thể:
- Về quyền của DNNVV: được tiếp cận và nhận hỗ trợ từ nhà nước, tổchức và cá nhân khác phù hợp với mục tiêu, đối tượng và điều kiện hỗ trợ; lựachọn hình thức, nội dung hỗ trợ phù hợp theo quy định của pháp luật; phản ánhtới cơ quan có thẩm quyền về các hành vi vi phạm hoặc có quy định gây cản trởhoạt động sản xuất kinh doanh, tiếp cận nguồn lực hỗ trợ của nhà nước hoặc tổchức, cá nhân
- Về các nghĩa vụ: cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, đúng thời hạn vàchịu trách nhiệm trước pháp luật về thông tin cung cấp; bố trí nguồn lực củadoanh nghiệp để tiếp nhận và tổ chức thực hiện có hiệu quả nguồn lực hỗ trợ củanhà nước; hoạt động đúng quy định của pháp luật, tuân thủ các quy định đối vớiNhà nước; thực hiện đúng cam kết đối với cơ quan, tổ chức hỗ trợ DNNVV và
có nghĩa vụ hoàn trả mọi chi phí hỗ trợ trong trường hợp vi phạm hoặc lợi dụngchính sách hỗ trợ của Nhà nước để trục lợi
2 Chương II Nội dung hỗ trợ cơ bản DNNVV
Chương này gồm 12 điều (từ điều 7 đến điều 18) quy định về gia nhập vàrút khỏi thị trường, tín dụng, tài chính, công nghệ, mặt bằng sản xuất, xúc tiến
và mở rộng thị trường, thông tin và tư vấn, phát triển nguồn nhân lực, ươm tạo
và cung cấp dịch vụ hỗ trợ
a) Về hỗ trợ gia nhập, rút khỏi thị trường (Điều 8)
6
Trang 7Với những nỗ lực của Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương, vài năm gầnđây, môi trường kinh doanh của Việt Nam đã có sự thay đổi đáng kể3, nhưngnhìn chung còn thấp cả về thứ hạng và điểm số Một số chỉ tiêu còn thấp khá xa
so với trung bình của các nước ASEAN 6 và ASEAN 4
Nội dung về cải thiện môi trường kinh doanh chưa được quy định tại Nghịđịnh 56 Trên thực tế, các quy định liên quan đến môi trường kinh doanh và cảicách thủ tục hành chính cho doanh nghiệp được thể hiện ở nhiều văn bản khácnhau, từ Hiến pháp, Luật (Luật doanh nghiệp, Luật Đầu tư) đến Nghị quyết củaChính phủ4 Tuy nhiên, thực tiễn thời gian qua cho thấy tồn tại thực trạng trêntrải “thảm đỏ” dưới lại trải “đinh”, thể hiện ở việc chủ trương, chính sách củaĐảng và Nhà nước từ Hiến pháp, Luật đến Nghị quyết tương đối thông thoángnhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư sản xuất kinh doanhnhưng lại bị các văn bản quy pháp pháp luật hướng dẫn thực hiện làm khó chodoanh nghiệp (chủ yếu ở các Thông tư hướng dẫn, các văn bản của địa phương)
Vì vậy, nhằm tiếp tục tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, an toàn vàthân thiện cho doanh nghiệp phát triển và trở thành động lực của nền kinh tế, cụthể hoá chủ trương “Nhà nước kiến tạo, lấy doanh nghiệp là đối tượng phục vụ”tại Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ và loại bỏ cáctrường hợp phân biệt đối xử đối với DNNVV, dự thảo Luật đã bổ sung 01 Điều
về cải thiện môi trường kinh doanh, cải cách hành chính Trong đó, đặc biệt quyđịnh nghiêm cấm các cơ quan, tổ chức:
- Ban hành quy định phân biệt đối xử về điều kiện kinh doanh, phân biệt
về quy mô doanh nghiệp có thể gây bất lợi hoặc thiệt hại cho DNNVV, thựchiện thủ tục hành chính, tiếp cận các nguồn lực dựa trên các tiêu chí về quy môkinh doanh, trừ khi các quy định này được luật quy định;
- Có hành vi phân biệt đối xử, sách nhiễu, gây khó khăn đối với DNNVVhoặc không thực thi công vụ theo quy định của pháp luật
Thông lệ quốc tế cho thấy, một số quốc gia cũng quy định nội dung vềmôi trường kinh doanh trong Luật về DNNVV Ví dụ, Luật Doanh nghiệp nhỏcủa Mỹ quy định một số cải cách pháp lý quan trọng để trợ giúp kinh doanh nhỏ
Cụ thể: nới lỏng những quy định cản trở việc gia nhập trị trường của các kinhdoanh nhỏ trong những ngành như ngân hàng, điện lực và viễn thông Đồngthời, Mỹ cũng tăng cường thi hành Luật Chống độc quyền Gần đây, Mỹ đang
có dự định tiến hành những cải cách quan trọng về chính sách an sinh xã hội vàthuế khóa để tạo điều kiện cho các kinh doanh nhỏ Việc đăng ký kinh doanhcủa Mỹ ngày càng đơn giản, hiện chỉ mất vài giờ và phí đăng ký chỉ đến vài đôla
3 Năm 2015, Việt Nam được đánh giá tăng 3 bậc (từ 93 lên 90) trong bảng xếp hạng Môi trường kinh doanh toàn cầu, theo Báo cáo Doing Business 2016 của Ngân hàng Thế giới (WB).
4 Các Nghị quyết 19/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia được ban hành năm 2014, 2015, 2016
7
Trang 8b) Hỗ trợ tiếp cận tín dụng từ các ngân hàng (Điều 9)
Trong nhiều năm qua, một trong những khó khăn lớn nhất đối với cácDNNVV vẫn là tiếp cận các nguồn vốn phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh.DNNVV có thể sử dụng nguồn vốn tự có hoặc sử dụng nguồn vốn bên ngoài,chủ yếu thông qua tiếp cận vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại (NHTM)
để tìm kiếm nguồn vốn đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh Thực tiễn chothấy, DNNVV sử dụng nguồn vốn bên ngoài rẻ hơn sử dụng nguồn vốn tự cónhưng thực tế tỷ lệ tiếp cận tín dụng của DNNVV từ ngân hàng còn khá khiêmtốn, chưa thực sự góp phần tháo gỡ khó khăn cố hữu này của DNNVV Theođánh giá của nhiều chuyên gia, hiện chỉ có khoảng hơn 30% các DNNVV tiếpcận được với nguồn vốn tín dụng từ ngân hàng, gần 70% DNNVV còn lại phảitiếp tục sử dụng nguồn vốn tự có hoặc vay từ nguồn vốn khác với chi phí và rủi
ro rất cao Theo báo cáo, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã từng bước điều hànhchính sách tiền tệ để kiểm soát hoạt động tín dụng của các ngân hàng theohướng tập trung phục vụ các nhu cầu vốn đối với các lĩnh vực sản xuất, xuấtkhẩu, nông nghiệp và DNNVV, điều chỉnh lãi suất theo hướng giảm dần, phùhợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và tiền tệ góp phần tháo gỡ khó khăn cho nềnkinh tế như: điều chỉnh giảm mức trần lãi suất làm cơ sở để các tổ chức tín dụng(TCTD) giảm lãi suất cho vay; tiếp tục giảm lãi suất cho vay ngắn hạn tối đabằng đồng Việt Nam đối với một số lĩnh vực ưu tiên, trong đó có DNNVV vớimức lãi suất thấp hơn 1-2%/năm5 so với các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác,qua đó góp phần tháo gỡ khó khăn về chi phí vay vốn của DNNVV… Đồngthời, NHNN cũng thực hiện nhiều giải pháp khác như triển khai các chươngtrình kết nối Ngân hàng-Doanh nghiệp trên tất cả 63 tỉnh, thành phố; linh hoạt
xử lý các trường hợp cho vay bằng ngoại tệ nhằm tháo gỡ khó khăn cho hoạtđộng sản xuất, kinh doanh… Tuy nhiên, kết quả cho vay đối với DNNVV vẫncòn khá khiêm tốn: tỷ lệ dư nợ cho vay đối với DNNVV trong giai đoạn 2011-
2015 trung bình khoảng 25% tổng dư nợ cho vay toàn bộ nền kinh tế6
Các nội dung hỗ trợ DNNVV tiếp cận tín dụng đã được quy định tại Nghịđịnh 56 nhưng mới chỉ dừng ở mức khuyến khích các tổ chức tài chính mở rộngtín dụng cho DNNVV; đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ phù hợp vớiDNNVV; hỗ trợ DNNVV nâng cao năng lực lập dự án, phương án kinh doanhnhằm đáp ứng yêu cầu của TCTD khi thẩm định hồ sơ vay vốn Các chính sáchnày trên thực tế chưa đủ mạnh để thay đổi nhận thức cũng như khẩu vị của cácngân hàng chuyển từ cho vay doanh nghiệp lớn sang cho vay DNNVV Việc cácngân hàng không muốn cho DNNVV vay phần lớn vì họ sợ rủi ro cao hơn khicho doanh nghiệp lớn vay Trong khi đó, theo thống kê, khu vực DNNVV(chiếm hơn 97%) sử dụng tới hơn 51% lực lượng lao động, tạo ra trên 40% GDPđồng thời là khối kinh tế có tỷ lệ nợ xấu ngân hàng rất thấp so với phía doanh
5 Năm 2014, các lĩnh vực nông nghiệp, xuất khẩu, DNNVV, công nghiệp hỗ trợ được vay lãi suất 8%, sản xuất kinh doanh thông thường 9-10% (ngắn hạn) và 10,5-12%/năm (trung dài hạn).
7-6 Tính đến 31/12/2015, tổng dư nợ cho vay DNNVV đạt khoảng 1.052 nghìn tỷ đồng, chiếm gần 23% tổng dư nợ cho vay toàn bộ nền kinh tế.
8
Trang 9nghiệp lớn nhưng chỉ sở hữu dưới 40% tổng nguồn vốn của khu vực côngnghiệp Đồng nghĩa với điều này là không đầy 3% số doanh nghiệp còn lạichiếm quy mô vốn lên tới 64-68%, cũng là khu vực chiếm tỷ lệ nợ xấu cao.Theo các khảo sát, thủ tục vay vốn phức tạp và thiếu tài sản đảm bảo là hai ràocản cơ bản khiến cho các DNNVV không vay được vốn.
- Về thủ tục: quá trình xin vay vốn đòi hỏi nhiều văn bản giấy tờ; thủ tụccông chứng gây mất thời gian và chi phí; các yêu cầu xây dựng phương án/dự ánsản xuất kinh doanh và chứng minh hiệu quả của phương án/dự án vượt quá khảnăng của nhiều DNNVV
- Về tài sản đảm bảo: các ngân hàng chủ yếu yêu cầu tài sản đảm bảo làbất động sản, trong khi đó, giá trị bất động sản của các DNNVV thường rất nhỏ,không đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng Một số doanh nghiệp được giao đất
sử dụng, nhưng chưa được cấp giấy tờ chứng minh quyền sở hữu đất, do vậy,cũng không có tài sản đảm bảo để vay vốn ngân hàng Một số doanh nghiệp đã
sử dụng toàn bộ tài sản đảm bảo cho các khoản vay cũ nên không có tài sản đảmbảo để vay các khoản vay mới
Để tạo ra những điều kiện thuận lợi cho DNNVV tiếp cận được nguồnvốn tín dụng ngân hàng, khoản 1 Điều 9 dự thảo Luật quy định các ngân hàng:
- Cung cấp, thiết kế các khoản vay với lãi suất và thời hạn vay vốn phùhợp với quy mô, khả năng thanh toán của DNNVV và tình hình tài chính củaNgân hàng;
- Thiết kế điều kiện, quy trình, thủ tục cho vay phù hợp với đặc điểm vàquy mô của DNNVV và quy định của chương trình hỗ trợ DNNVV đảm bảođơn giản, thời gian giải ngân vốn nhanh, an toàn tín dụng;
- Đa dạng hoá các hình thức tín dụng phù hợp với nhu cầu của DNNVV
Quy định trên đây nhằm tiếp tục thúc đẩy sự thay đổi nhận thức của cácngân hàng về hoạt động tín dụng cho DNNVV Tuy nhiên, để khuyến khích cácngân hàng cho vay theo mục tiêu của Nhà nước, trong từng thời kỳ, Chính phủ
sẽ thực hiện cấp bù lãi suất và các hình thức khác để hỗ trợ cho vay đối vớiDNNVV quy định tại Luật này và các doanh nghiệp, tổ chức cung cấp dịch vụ
hỗ trợ DNNVV theo quy định tại dự thảo Luật (quy định tại khoản 2 Điều 9)
Việc khuyến khích các ngân hàng cho vay DNNVV thông qua một sốchính sách hỗ trợ của Chính phủ dành cho ngân hàng cũng phù hợp với thông lệquốc tế Ví dụ, tại Đài Loan, Chính phủ đã thực hiện các biện pháp khuyếnkhích ngân hàng cung cấp tín dụng cho DNNVV như điều chỉnh lãi suất, quyđịnh tỷ lệ cung cấp tín dụng cho DNNVV tăng lên hàng năm; Philippines cũngquy định tỷ lệ tín dụng nhất định dành cho DNNVV, v.v
Để tăng khả năng tiếp cận tín dụng cho DNNVV từ ngân hàng, cần thiếtphải có điều chỉnh cả từ phía cầu (từ phía các DNNVV) Vì vậy, dự thảo Luậtquy định DNNVV được hỗ trợ nâng cao năng lực tiếp cận tín dụng thông qua
9
Trang 10việc được tư vấn xây dựng phương án sản xuất kinh doanh khả thi, nâng caonăng lực quản trị, minh bạch hoạt động của doanh nghiệp
Về các nguồn vốn tín dụng chính sách và nguồn tài chính từ các chươngtrình, dự án vi mô: Hiện nay, ngoài vay vốn tín dụng thương mại truyền thống,các doanh nghiệp nói chung còn được vay vốn tín dụng chính sách theo cácchương trình đối với một số ngành, lĩnh vực:
- Đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn: Các doanh nghiệp hoạt độngtrong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn được vay vốn tín dụng phục vụ phát triểnnông nghiệp nông thôn theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 củaChính phủ; chính sách cho vay hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệptheo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; các NHTM nhà nước thực hiện chovay đối với chăn nuôi và thủy sản theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Vănbản số 1149/TTg-KTN ngày 08/8/2012; chương trình cho vay thí điểm đối vớicác mô hình liên kết trong chuỗi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, các
mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp theoQuyết định số 1050/QĐ-NHNN ngày 28/5/2014 của Ngân hàng nhà nước, v.v
- Đối với lĩnh vực bất động sản: Để tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất
động sản, NHNN thực hiện thí điểm triển khai sản phẩm tín dụng liên kết 4 nhàtrong lĩnh vực vật liệu xây dựng, xây dựng cơ bản
- Nguồn vốn tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu của Nhà nước theo Nghịđịnh 75/2011/NĐ-CP của Chính phủ Đối tượng thụ hưởng các chính sách vayvốn tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu là các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế
có dự án thuộc Danh mục vay vốn tín dụng đầu tư hoặc có hợp đồng xuất khẩuhoặc nhập khẩu hàng hóa thuộc Danh mục vay vốn tín dụng xuất khẩu Cácdoanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam (NHPT Việt Nam)thuộc các ngành nghề, lĩnh vực: kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội; nông nghiệpnông thôn; công nghiệp; dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội khókhăn, đặc biệt khó khăn, ; dự án cho vay theo Hiệp định Chính phủ, dự án đầu
tư ra nước ngoài, với quy mô chủ yếu là dự án nhóm A, B Đây là những dự án
có quy mô vốn đầu tư lớn (hạn chế các dự án có quy mô nhỏ), trình độ côngnghệ phức tạp và thường có tính liên ngành cao, do đó các DNNVV khó có đủđiều kiện để tiếp cận được nguồn vốn này
Về các chương trình, dự án tài chính vi mô: tài chính vi mô đã khẳng định
sự cần thiết và vai trò trong việc cho vay đối với cá nhân, hộ gia đình nghèo, cácdoanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ để sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế giađình, từng bước ổn định cuộc sống, vươn lên thoát nghèo, nâng cao đời sống,góp phần hiệu quả vào việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách của Nhànước về xóa đói, giảm nghèo
Nhằm mở rộng cơ hội cho các DNNVV tiếp cận được nguồn vốn tín dụngchính sách nêu trên và các nguồn tài chính vi mô, dự thảo Luật quy định Nhànước xây dựng các chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho các DNNVV tiếp cận
10
Trang 11nguồn vốn tín dụng chính sách của nhà nước và các chương trình tài chính vi môcho doanh nghiệp siêu nhỏ.
c) Hỗ trợ tiếp cận tín dụng từ các quỹ (Điều 10)
- Về Quỹ Phát triển DNNVV Việt Nam
Kể từ khi được thành lập vào năm 2013, hiện nay Quỹ đã hoàn thiện đầy
đủ các khung pháp lý cho tổ chức, hoạt động và bắt đầu triển khai các chươngtrình hỗ trợ tài chính cho DNNVV Để đáp ứng yêu cầu phát triển, Nghị quyết
số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ đã giao Bộ Kế hoạch và Đầu tưxem xét, sửa đổi và bổ sung chức năng, nhiệm vụ của Quỹ Phát triển DNNVV
để hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo
Vì vậy, để kiện toàn tổ chức và hoạt động của Quỹ Phát triển DNNVV,
dự thảo Luật quy định: bổ sung chức năng và nhiệm vụ cho Quỹ Phát triểnDNNVV thực hiện chức năng cho vay, đầu tư, tài trợ để hỗ trợ doanh nghiệpkhởi nghiệp đổi mới sáng tạo, DNNVV tham gia chuỗi giá trị bền vững, hìnhthành cụm liên kết ngành quy định tại Chương III của dự thảo Luật
- Quỹ bảo lãnh tín dụng (BLTD) cho DNNVV
Hiện nay các DNNVV có thể được bảo lãnh vay vốn tại ngân hàng thông
qua bảo lãnh của NHPT Việt Nam và các quỹ BLTD ở các tỉnh, thành phố Tuynhiên, hoạt động BLTD còn rất hạn chế do: NHPT Việt Nam dừng bảo lãnh choDNNVV từ năm 2011 đến nay và quỹ BLTD địa phương vẫn tồn tại nhiều bấtcập, hạn chế trong văn bản pháp quy điều chỉnh hoạt động của quỹ Cụ thể:
+ Về hoạt động BLTD của NHPT Việt Nam: Quy trình, thủ tục xem xét,thẩm định cho vay và bảo lãnh quy định tại Quy chế bảo lãnh chưa thể hiệnđược vai trò quyết định của việc sử dụng nguồn lực Nhà nước vào việc hỗ trợ sựphát triển của DNNVV, quy định cụ thể còn chưa tạo thuận lợi cho doanhnghiệp được bảo lãnh vay vốn và NHTM cho vay vốn: Các DNNVV muốn đượcNHPT Việt Nam bảo lãnh vay vốn ngân hàng sẽ phải qua 2 vòng xem xét, thẩmđịnh cho vay của NHTM và sau đó là thẩm định bảo lãnh của NHPT Việt Namtrong khi nguồn lực của DNNVV là hạn chế Quy định quy trình như vậy, đặcbiệt là việc thẩm định cho vay của NHTM là không cần thiết và không phù hợpvới mục tiêu trợ giúp doanh nghiệp của chính sách này vì doanh nghiệp là đốitượng được Chính phủ trợ giúp thông qua bảo lãnh của NHPT Việt Nam nêndoanh nghiệp phải chịu sự xem xét thẩm định của NHPT Việt Nam (bên chịutrách nhiệm về khoản vay)
Ngoài ra, quy định DNNVV phải có tài sản bảo đảm mới được NHPTViệt Nam bảo lãnh: Mục đích ban hành Quyết định 03 nhằm trợ giúp DNNVVtrong trường hợp DNNVV đáp ứng đủ các điều kiện vay vốn của NHTM ngoạitrừ điều kiện về tài sản bảo đảm thì sẽ được NHPT Việt Nam bảo lãnh để vayvốn NHTM Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 11 Quy chế bảo lãnh thìDNNVV phải áp dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản khi được NHPT Việt
11
Trang 12Nam bảo lãnh và tài sản để bảo đảm cho bảo lãnh đó không được sử dụng làmtài sản bảo đảm cho các giao dịch khác Theo quy định hiện hành, nếu như cácDNNVV đáp ứng được các điều kiện để được bảo lãnh quy định tại Quy chế bảolãnh thì DNNVV cũng đáp ứng được các điều kiện để được các NHTM cho vay(Điều 5 Quy chế bảo lãnh và Điều 7, Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày31/12/2001, TCTD có thể tự quyết định cho vay tín chấp đối với doanh nghiệp.Như vậy, nếu DNNVV có tài sản bảo đảm để được VDB bảo lãnh thì cũng đápứng được điều kiện cho vay của các NHTM mà không nhất thiết phải có bảolãnh của NHPT Việt Nam
Bảo lãnh của NHPT Việt Nam là bảo lãnh có điều kiện NHPT Việt Namđược quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh Quy định này dễ dẫn đến sựkhông thống nhất giữa NHPT Việt Nam và NHTM cho vay trong việc xác địnhnguyên nhân mà NHPT Việt Nam được từ chối nghĩa vụ bảo lãnh (đặc biệt làquy định NHPT Việt Nam được từ chối khi khách hàng sử dụng vốn vay saimục đích và NHTM chưa thực hiện việc kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vaycủa DN) Điều này khiến cho các NHTM phát sinh tâm lý e ngại, không muốn
mở rộng cho vay đối với các đối tượng DNNVV
+ Về quỹ BLTD cho DNNVV ở địa phương: Quỹ BLTD là mô hình đãđược triển khai ở nhiều quốc gia và cũng nhiều quốc gia thành công (Hàn Quốc,Nhật Bản, Mỹ) Đối với nước ta, mô hình này được ra đời từ năm 2001 và tiếptục được củng cố tại Nghị định 56 năm 2009 nhưng đến nay mới có 27 địaphương thành lập quỹ Có thể nói, sau hơn 15 năm triển khai, hoạt động bảolãnh qua các quỹ này tuy đã đạt được những kết quả nhất định nhưng vẫn chưathực sự là công cụ hiệu quả để bảo lãnh cho DNNVV vay vốn tại NHTM
Điều dễ thấy là, người hưởng lợi trực tiếp và đầu tiên từ việc BLTD choDNNVV là các TCTD chứ không phải DNNVV Hơn nữa, để có được các hoạtđộng bảo lãnh có hiệu quả thì cán bộ làm nhiệm vụ thẩm định của quỹ phải giỏihơn nhiều so với cán bộ tín dụng ngân hàng Mặt khác, nếu nguồn vốn của quỹđược cấp từ ngân sách chính phủ thì chính phủ cần có bộ máy giám sát quỹ hếtsức khách quan và chuyên nghiệp Đó là những kinh nghiệm đó được quốc tếhóa
Quy định hiện nay tại Quyết định 58/2013/QĐ-TTg về việc các TCTDgóp vốn vào các quỹ BLTD chưa phù hợp với Luật các Tổ chức tín dụng 2010,
do Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV thành lập theo Quyết định TTg không phải là loại hình doanh nghiệp hay quỹ đầu tư Trong khi Điều 103,
58/2013/QĐ-110, 115, 118 Luật các Tổ chức tín dụng 2010 chỉ cho phép các NHTM đượcgóp vốn vào doanh nghiệp; công ty tài chính được góp vốn doanh nghiệp, quỹđầu tư Ngoài ra, việc các TCTD góp vốn vào quỹ BLTD để bảo lãnh cho kháchhàng vay vốn của chính mình là không phù hợp với thực tế do mục tiêu hoạtđộng của hai loại hình tổ chức này là không đồng nhất
12
Trang 13Với mục tiêu khắc phục những hạn chế bất cập, đồng thời tạo ra bướcthay đổi căn bản trong trong hoạt động BLTD tại Việt Nam, dự thảo Luật quyđịnh về tổ chức và hoạt động của Quỹ BLTD như sau:
+ Về địa vị pháp lý: Quỹ BLTD là tổ chức tài chính nhà nước, hoạt động
vì mục tiêu lợi nhuận, được phép phát hành trái phiếu để huy động vốn cho quỹ
+ Về tổ chức: Quỹ BLTD ở trung ương và địa phương Trong đó:
(i) Quỹ BLTD ở trung ương thực hiện chức năng tái bảo lãnh cho các quỹBLTD ở địa phương và BLTD cho các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, DNNVVtrong lĩnh vực sản xuất chế biến, doanh nghiệp được chuyển đổi từ hộ kinhdoanh, DNNVV tham gia chuỗi giá trị, cụm liên kết ngành vay vốn tại TCTD
(ii) Quỹ BLTD ở các địa phương thực hiện chức năng BLTD choDNNVV vay vốn tại TCTD; cung cấp dịch vụ tư vấn, nâng cao năng lực xâydựng phương án, kế hoạch sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn vay hiệu quả choDNNVV
+ Một số nguyên tắc trong hoạt động BLTD: Quỹ bảo lãnh dựa trên tàisản bảo đảm hoặc xếp hạng tín nhiệm của doanh nghiệp và không được từ chốinghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết
d) Hỗ trợ tài chính (Điều 11)
- Hỗ trợ thuế cho DNNVV
Ngoài các quy định hỗ trợ về tín dụng cho DNNVV vay vốn tại cácTCTD, quỹ BLTD và quỹ Phát triển DNNVV, Nghị định 56 không đưa ra quyđịnh hỗ trợ về thuế Trước thực tế diễn biến phát triển kinh tế những năm qua(giai đoạn 2008-2013), Quốc hội và Chính phủ đã ban hành một số chính sách
về miễn, giảm, giãn thuế cho các doanh nghiệp nói chung, DNNVV nói riêng
Cụ thể:
+ Năm 2008-20097: thực hiện giảm 30% và giãn số thuế thu nhập doanhnghiệp (TNDN) phải nộp của một số quý của năm 2008 và cả năm 2009 choDNNVV, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất gia công, chế biếnnông, lâm thủy sản, dệt may, gia dày…; Giảm 50% mức thuế suất thuế giá trịgia tăng (GTGT) đối với một số hàng hóa, dịch vụ đầu vào của sản xuất, vật liệuxây dựng… Tổng số tiền thuế, lệ phí được giảm, giãn hơn 34.000 tỷ đồng, trong
đó số tiền thuế TNDN được giảm, giãn là 21.630 tỷ đồng; thuế GTGT là 9.256
13
Trang 14Theo đó, tổng số doanh nghiệp được giãn thuế trong năm 2010 là 163.783 doanhnghiệp với số thuế được giãn nộp là 20.104 tỷ đồng; Năm 2011, thực hiện giảm30% và giãn số thuế TNDN phải nộp cho DNNVV, doanh nghiệp sử dụng nhiềulao động trong một số lĩnh vực sản xuất; miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân(TNCN) đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công và thu nhập từ một số hoạtđộng khác của cá nhân… Số tiền thuế được miễn, giảm, giãn là 5.607 tỷ đồng.
+ Năm 20129: thực hiện giảm 30% và giãn số thuế TNDN cho cácDNNVV, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động trong một số lĩnh vực sản xuất,gia công chế biến; Miễn thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công và
từ một số hoạt động kinh doanh của cá nhân Các giải pháp miễn, giảm thuế này
đã hỗ trợ cho các doanh nghiệp năm 2012 là 2.468 tỷ đồng tiền thuế TNDN(trong đó có 197.719 DNNVV được giảm thuế với tổng số tiền là 1.827 tỷ đồng
và 892 doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động được giảm thuế với tổng tiền là
640 tỷ đồng); Miễn 62,4 tỷ đồng tiền thuế TNDN và thuế GTGT (1,4 tỷ đồng từthuế TNDN và 61 tỷ đồng tiền thuế GTGT) cho tổ chức, doanh nghiệp, cá nhântham gia ổn định sản xuất kinh doanh và khoảng 1.388 tỷ đồng thuế TNCNtrong 6 tháng cuối năm 2012 cho cá nhân có thu nhập tính thuế từ tiền lương,tiền công và từ kinh doanh
+ Năm 2013, giãn thời hạn nộp thuế GTGT, thuế TNDN đối vớiDNNVV; miễn thuế khoán (thuế GTGT, thuế TNCN) và thuế TNDN đối với hộ,
cá nhân và tổ chức kinh doanh nhà trọ, phòng trọ cho thuê đối với công nhân,người lao động, sinh viên, học sinh, sinh viên… Tổng số tiền được gia hạn là9.326 tỷ đồng (chưa bao gồm số tiền thuế được miễn, giảm)
+ Năm 2014, tiếp tục thực hiện việc miễn thuế khoán và thuế TNDN đốivới hộ cá nhân và tổ chức kinh doanh nhà trọ, phòng trọ cho thuê đối với côngnhân, người lao động, sinh viên, học sinh…
Về mức thuế suất: Trước ngày 01/01/2014, mức thuế suất phổ thông là25% Từ ngày 01/01/2014 mức thuế suất thuế TNDN hạ xuống còn 22%, riêngđối với các doanh nghiệp có tổng doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng được ápdụng thuế suất 20% từ 01/7/2013 Mức thuế suất phổ thông là 20% áp dụng đốivới mọi doanh nghiệp kể từ ngày 01/01/2016 Việc quy định lộ trình giảm thuếsuất như trên nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có quy mônhỏ và vừa nhằm tạo sự hấp dẫn cho doanh nghiệp để thu hút đầu tư
Có thể nói, những giải pháp về giảm, giãn thuế của Chính phủ tuy ảnhhưởng đến nguồn thu ngân sách trong ngắn hạn, nhưng đã phát huy tác dụng tíchcực, góp phần giúp doanh nghiệp giảm mức đóng góp từ lợi nhuận chịu thuế,khuyến khích những doanh nghiệp đầu tư mới, đầu tư mở rộng, đầu tư vàonhững lĩnh vực, địa bàn có nhiều khó khăn…
9 Nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội về ban hành bổ sung một số giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân
14
Trang 15Để khắc phục bất cập quy định tại Nghị định 56 và đáp ứng nhu cầu pháttriển trong từng thời kỳ, dự thảo Luật quy định hỗ trợ thuế suất thuế TNDN đốivới DNNVV, cụ thể: (i) doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa theo quy định củaLuật này được áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn mứcthuế suất thông thường áp dụng cho doanh nghiệp theo quy định của pháp luật
về thuế thu nhập doanh nghiệp; (ii) doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định củaLuật này được áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn mứcthuế suất quy định doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa Việc giảm thuế TNDNtheo 3 cấp quy mô doanh nghiệp của Nhà nước được xem như là một khoản đầu
tư để nuôi dưỡng nguồn thu, tăng mức độ tích lũy của DNNVV, góp phần tạoviệc làm, tăng thu nhập, đảm bảo an sinh xã hội Các quy định hỗ trợ thuế chodoanh nghiệp cũng phù hợp với thông lệ quốc tế tại nhiều quốc gia (TrungQuốc, Mỹ, EU, v.v)
Để đảm bảo tính đồng bộ trong hệ thống pháp luật, phù hợp với LuậtThuế TNDN, dự thảo Luật chỉ quy định bổ sung đối tượng và các trường hợpđược hưởng ưu đãi thuế TNDN và tham chiếu đến Luật Thuế TNDN Mức thuếsuất, thời hạn miễn, giảm thuế TNDN được quy định hoặc sửa đổi, bổ sung tạiLuật Thuế TNDN
Đồng thời, quán triệt tinh thần Nghị quyết 35/CP-NQ, dự thảo Luật quyđịnh Chính phủ phải tiếp tục cải cách trình tự, thủ tục về thuế, chế độ kế toáncho DNNVV theo hướng đơn giản, tạo thuận lợi cho DNNVV
- Hỗ trợ lãi suất và hỗ trợ khác cho DNNVV
Khoản 2 Điều 11 dự thảo Luật quy định: tùy theo điều kiện ngân sách củađịa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hỗ trợ lãi suất và các hỗ trợ tài chính kháccho DNNVV theo mục tiêu, định hướng ưu tiên phát triển của địa phương Đâycũng là quy định mới so với quy định tại Nghị định số 56, nhằm tạo cơ chế chocác địa phương thực hiện hỗ trợ DNNVV trên địa bàn
Quy định này nhằm tạo lập cơ chế cho các địa phương hỗ trợ lãi suất hoặc
hỗ trợ khác cho DNNVV theo mục tiêu phát triển từng thời kỳ trên cơ sở thựctiễn triển khai thời gian qua ở địa phương Thực tế thời gian qua cho thấy, nhiềuđịa phương đã chủ động có những chương trình, kế hoạch hỗ trợ lãi suấtDNNVV để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh theo mục tiêu nhất định Ví
dụ, tỉnh Quảng Ninh đã ban hành Quyết định số 4204/2015/QĐ-UBND ngày24/12/2015 về việc ban hành chính sách hỗ trợ lãi suất vốn vay đầu tư phát triểnsản xuất, kinh doanh sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh, trong đó hỗ trợ6%/năm/số dư nợ thực tế Tại Hà Nội, thành phố đã có chính sách hỗ trợ thíđiểm lãi suất vay vốn cho các doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư mới, đầu tưchiều sâu, mở rộng dự án, đổi mới kỹ thuật, công nghệ, thiết bị trên địa bàn(Quyết định 4094/QĐ-UBND ngày 01/8/2014), doanh nghiệp được hỗ trợ 2,4%lãi suất
đ) Hỗ trợ mặt bằng sản xuất kinh doanh (Điều 12)
15
Trang 16Đánh giá từ cộng đồng DNNVV cho thấy, khó khăn trong tiếp cận mặtbằng sản xuất kinh doanh vẫn là một trong những khó khăn lớn nhất củaDNNVV Theo số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tổng diện tích của cáckhu công nghiệp ngoài khu kinh tế hiện nay là 91.332 ha Trong khi đó, quỹ đấtcông nghiệp trong các khu, cụm công nghiệp chưa lấp đầy vẫn còn nhiều, chiếmkhoảng 50% trong các khu công nghiệp và khoảng 40% trong các cụm côngnghiệp Đất khu, cụm công nghiệp chưa được lấp đầy nhưng DNNVV khó tiếpcận đất công nghiệp vì bản thân các nhà đầu tư hạ tầng khu cụm không muốnchia nhỏ diện tích cho phù hợp với nhu cầu sử dụng của DNNVV vì làm tăngchi phí đầu tư hạ tầng Mặt khác, chi phí giá thuê cao so với khả năng tài chínhcủa DNNVV Bên cạnh đó, nếu không được tiếp cận đất tại các khu vực tậptrung, DNNVV sản xuất tại các khu vực sinh sống, xen lẫn với khu dân cư làmảnh hưởng lớn tới môi trường sống của các khu vực dân cư
Nội dung hỗ trợ mặt bằng sản xuất cho DNNVV tuy được quy định tạiĐiều 8 Nghị định 56 nhưng cũng chỉ dừng ở việc quy định mang tính “khẩuhiệu” và khuyến khích Thời gian qua, các địa phương đã cố gắng triển khaicông tác quy hoạch đi trước một bước và thực hiện công khai hóa, minh bạchhóa các thông tin liên quan đến quy hoạch sử dụng đất để người dân, các doanhnghiệp biết và thực hiện đầu tư kinh doanh theo đúng quy hoạch Tuy nhiên, cácbiện pháp khuyến khích xây dựng các khu, cụm công nghiệp cho các DNNVVthuê làm mặt bằng, sản xuất kinh doanh chưa được quy định rõ ràng nên hiệnchính sách trợ giúp mặt bằng sản xuất mới chỉ dừng lại ở mức công khai quyhoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn tỉnh, thành phố đã được Thủ tướngChính phủ phê duyệt; các khu, cụm công nghiệp chưa thực sự có những chínhsách ưu đãi thu hút DNNVV
Nhằm cải thiện tình trạng nêu trên, dự thảo Luật đưa ra một loạt những ưuđãi cụ thể, chủ yếu thông qua cơ chế nhằm khuyến khích các doanh nghiệp, tổchức, cá nhân đầu tư kinh doanh hạ tầng khu, cụm công nghiệp, khu kinh tế, khuchế xuất, khu công nghệ cao dành quỹ đất cho DNNVV thuê Cụ thể:
- Doanh nghiệp, tổ chức đầu tư kinh doanh phát triển hạ tầng các khucông nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế, cụm công nghiệp để cho DNNVVthuê làm mặt bằng sản xuất được miễn, giảm tiền thuê đất theo quy định củaChính phủ
- Doanh nghiệp, tổ chức đầu tư kinh doanh phát triển hạ tầng các khucông nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế cho DNNVV thuê trên 30% diệntích đất công nghiệp thì ngoài việc được hưởng ưu đãi thuế theo quy định củapháp luật thuế TNDN và ưu đãi về tiền thuê đất (nếu có), còn được hưởng ưu đãi
về giảm thuế theo quy định về pháp luật về thuế TNDN tính trên phần thu nhập
từ việc cho DNNVV thuê
- Doanh nghiệp, tổ chức đầu tư kinh doanh phát triển hạ tầng cụm côngnghiệp cho DNNVV thuê trên 50% diện tích đất công nghiệp thì ngoài việc
16