1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố công nghệ tới độ nhám bề mặt gỗ khi gia công trên máy bào cuốn

99 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Một Số Yếu Tố Công Nghệ Tới Độ Nhám Bề Mặt Gỗ Khi Gia Công Trên Máy Bào Cuốn
Tác giả Hoàng Nam, Nguyễn Văn Lập
Người hướng dẫn Ts. Quách Văn Thiêm
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Công Nghệ Chế Tạo Máy
Thể loại Đồ Án Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2016
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 6,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ môn Công nghệ Chế tạo máyPHIẾU NHẬN XÉT ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP Dành cho giảng viên hướng dẫn Họ và tên sinh viên: Hoàng Nam MSSV: 12143511 Nguyễn Văn Lập MSSV: 12143103 Tên đề tài: “Nghiên

Trang 1

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP NGÀNH CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO MÁY

NGHIÊN CỨU ẢNH HUỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ CÔNG NGHỆ TỚI ÐỘ NHÁM BỀ MẶT GỖ KHI

GIA CÔNG TRÊN MÁY BÀO CUỐN

GVHD: TS QUÁCH VĂN THIÊM

SKL004836

Tp Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2016

Trang 2

KHOA CƠ KHÍ CHẾ TẠO MÁY

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU

TỐ CÔNG NGHỆ TỚI ĐỘ NHÁM BỀ MẶT GỖ KHI GIA CÔNG TRÊN MÁY BÀO CUỐN

Giảng viên hướng dẫn: TS QUÁCH VĂN THIÊM

Sinh viên thực hiện: HOÀNG NAM

Trang 3

Bộ môn Công nghệ Chế tạo máy

PHIẾU NHẬN XÉT ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

(Dành cho giảng viên hướng dẫn)

Họ và tên sinh viên: Hoàng Nam MSSV: 12143511

Nguyễn Văn Lập MSSV: 12143103

Tên đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố công nghệ

tới độ nhám bề mặt gỗ trên máy bào cuốn ”

Ngành đào tạo: Công nghệ Chế tạo máy

Họ và tên GV hướng dẫn: Ts Quách Văn Thiêm

2 Nhận xét về tinh thần, thái độ làm việc của sinh viên:

3 Nhận xét về kết quả thực hiện của ĐATN: 2.1.Kết cấu, cách thức trình bày ĐATN:

Trang 4

có thể tiếp tục phát triển)

2.3.Kết quả đạt được:

2.4 Những tồn tại (nếu có):

Trang 5

Mục tiêu, nhiệm vụ, tổng quan của đề tài 10

Khả năng ứng dụng kiến thức toán học, khoa học và kỹ 5

thuật, khoa họchội

Khả năng thực hiện/phân tích/tổng hợp/đánh giá 10

Khả năng thiết kế chế tạo một hệ thống, thành ph n, hoặc 15

quy trình đáp ứng yêu c u đưa ra với những ràng buộc

thực tế.

Khả năng sử dụng công cụ kỹ thuật, ph n mềm chuyên 5

Trang 6

Bộ môn Công nghệ Chế tạo máy

PHIẾU NHẬN XÉT ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

(Dành cho giảng viên phản biện)

Họ và tên sinh viên: Hoàng Nam MSSV: 12143511

Nguyễn Văn Lập MSSV: 12143103

Tên đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố công nghệ

tới độ nhám bề mặt trên máy bào cuốn ”

Ngành đào tạo: Công nghệ Chế tạo máy

Họ và tên GV phản biện: Th.S Trần Quốc Hùng

Ý KIẾN NHẬN XÉT 1.Kết cấu, cách thức trình bày ĐATN:

2 Nội dung đồ án: (Cơ sở lý luận, tính thực tiễn và khả năng ứng dụng của đồ án, các hướng nghiên cứu có thể tiếp tục phát triển)

Trang 7

4 Những thiếu sót và tồn tại của ĐATN:

5 Câu hỏi:

Trang 8

Mục tiêu, nhiệm vụ, tổng quan của đề tài 10

Khả năng ứng dụng kiến thức toán học, khoa học và kỹ 5

thuật, khoa họchội

Khả năng thực hiện/phân tích/tổng hợp/đánh giá 10

Khả năng thiết kế, chế tạo một hệ thống, thành ph n, hoặc 15

quy trình đáp ứng yêu c u đưa ra với những ràng buộc

thực tế.

Khả năng sử dụng công cụ kỹ thuật, ph n mềm chuyên 5

Trang 10

Bộ môn Công nghệ Chế tạo máy

PHIẾU CHẤM ĐIỂM ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

Tên đề tài: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố công nghệ

tới độ nhám bề mặt trên máy bào cuốn

Họ và tên sinh viên: Hoàng Nam MSSV: 12143511

Mục tiêu, nhiệm vụ, tổng quan của đề tài 10

Khả năng ứng dụng kiến thức toán học, khoa học và kỹ 5

thuật, khoa học hội

Khả năng thực hiện/phân tích/tổng hợp/đánh giá 10

Khả năng thiết kế chế tạo một hệ thống, thành ph n, hoặc 15

quy trình đáp ứng yêu c u đưa ra với những ràng buộc

thực tế.

Khả năng sử dụng công cụ kỹ thuật, ph n mềm chuyên 5

ngành

Trang 12

Trả lời câu hỏi phản biện với kiến thức về các vấn đề liên 15

quan, hiểu được ảnh hưởng của các giải pháp của mình

Hiểu được trách nhiệm nghề nghiệp và đạo đức nghề 3

C KẾT LUẬN

Ngày tháng năm 20…

Người nhận xét

(Ký và ghi rõ họ tên)

Trang 15

Chương 1 GIỚI THIỆU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Gỗ là nguyên liệu, vật liệu được sử dụng lâu đời và rộng rãi nhất, là một trongnhững vật tư chủ yếu của nền kinh tế quốc dân Gỗ được dùng rộng rãi trong côngnghiệp, nông nghiệp giao thông vận tải, kiến trúc xây dựng, giao thông vận tải

Ngành gỗ Việt Nam đã vươn lên vị trí thứ 4 trên thế giới (sau Trung Quốc, Đức,Italy) trong cuộc đua chiếm thị phần xuất khẩu đồ gỗ Sản phẩm đồ gỗ của Việt Nam

đã xuất khẩu sang 120 nước, trong đó EU, Mỹ, Nhật Bản là những thị trường tiêu thụsản phẩm lớn nhất, chiếm hơn 70% tổng sản phẩm gỗ xuất khẩu của cả nước Theo BộCông Thương, mặt hàng đồ gỗ XK đã có sự phát triển vượt bậc Hiện đồ gỗ đã trởthành mặt hàng XK chủ lực đứng thứ 5 của Việt Nam sau dầu thô, dệt may, giày dép

và thủy sản Sự phát triển này đã đưa Việt Nam vượt Indonesia và Thái Lan trở thànhmột trong hai nước xuất khẩu đồ gỗ đứng đầu Đông Nam Á Chất lượng sản phẩm đồ

gỗ Việt Nam luôn được nâng cao, có khả năng cạnh tranh được với các nước trong khuvực và trên thế giới

Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, ngành chế biến gỗ xuất khẩu của Việt Namđược giảm thuế nhập khẩu gỗ nguyên liệu cũng như giảm thuế xuất khẩu sản phẩmhàng hóa vào thị trường các nước Đây là những yếu tố tạo ra lợi thế kinh doanh trênthị trường Bên cạnh đó, việc Mỹ đánh thuế chống bán phá giá khá cao đối với TrungQuốc cũng là một trong những lợi thế để các doanh nghiệp tăng cường xuất khẩu vàothị trường này Ngoài những lợi thế nêu trên, theo Hội mỹ nghệ và chế biến gỗ TP.HCM (HAWA), Việt Nam còn nhiều thế mạnh khác mà chúng ta chưa tận dụng hết

Đó là Việt Nam có nguồn nhân công dồi dào, có các cảng biển trải dài trên địa bàn cảnước, rất phù hợp cho việc vận chuyển những container cồng kềnh, chiếm nhiều chỗnhư đồ gỗ Kim ngạch tăng trưởng xuất khẩu của ngành gỗ cũng đang dẫn đầu trongcác mặt hàng xuất khẩu Tính đến nay, lượng doanh nghiệp tham gia sản xuất chế biến

gỗ đã lên đến gần 4000 Con số này vẫn tiếp tục tăng cả doanh nghiệp bản địa lẫndoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Điều này cho thấy sự hấp dẫn của ngành làkhông hề nhỏ

Trang 16

Liên tục trong những năm qua, nhóm hàng đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam luônđứng trong nhóm hàng xuất khẩu có tốc độ tăng trưởng cao nhất, với mức tăng trưởngtrung bình 15%/ năm Số liệu mới nhất của Bộ Công Thương cho thấy, trong 5 thángđầu năm 2016, kim ngạch xuất khẩu của gỗ và sản phẩm gỗ đạt 2.68 tỷ USD, tăng2,08% so với cùng kỳ 2015 Với tốc độ tăng tưởng như hiện nay, dự báo kim ngạchxuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ trong nữa đầu năm 2016 tăng 3,5% so với cùng kỳ nămngoái Dự kiến năm 2016, kim ngạch xuất xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sẽ vượt trên 7

tỷ USD

Đi cùng với sự phát triển của ngành gỗ, thì thị trường máy gia công gỗ cũngphát triển theo Hiện nay có rất nhiều loại máy để gia công chế biển gỗ nhưng khôngthể thiếu được các loại máy phải kể đến như: Máy cưa, máy bào cuốn, máy bào thẩm,máy chà nhám, máy tiện, máy phay nhưng quan trọng nhất và hơn cả đó là máy bàocuốn

Để đánh giá chất lượng bề mặt gia công người ta thường dựa vào độ nhám bềmặt Thực tế cho thấy chất lượng bề mặt gia công của chi tiết không chỉ phụ thuộc vàotính chất cơ lý của vật liệu mà còn phụ thuộc vào trạng thái của lớp bề mặt, các chi tiếtđược chế tạo từ một vật liệu như nhau, nhưng theo các phương pháp công nghệ và chế

độ cắt khác nhau sẽ có độ nhẵn bề mặt khác nhau Hiện nay, nghiên cứu ảnh hưởngcủa chế độ cắt đến độ nhám bề mặt chi tiết gia công trên các máy gia công kim loại đã

có công trình nghiên cứu và đã được đúc kết thành sách, giáo trình, các sổ tay tra cứu, Nhưng bên cạnh đó, để giải quyết vấn đề về độ nhám bề mặt khi gia công gỗ, đặcbiệt là trên máy bào cuốn, một trong những yêu cầu quan trọng được đạt ra là chế độcắt cần được chú trọng, tính toán và lựa chọn một cách hợp lý để đảm bảo tăng năngsuất, nâng cao chất lượng của bề mặt, độ chính xác của chi tiết Vấn đề này hiện nayvẫn còn ít công trình nghiên cứu và chưa được phổ biến rộng nên việc khảo sát nó làrất cần thiết giúp cho việc sử dụng máy bào cuốn đạt hiệu quả cao nhất có thể

Xuất phát từ những yêu cầu như vậy nên nhóm đồ án chúng tôi đã chọn đề tài:

“Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố công nghệ ảnh hướng tới độ nhám bề mặt gỗ khi gia công trên máy bào cuốn”.

Trang 17

1.2 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần bổ sung và hoàn thiện hệ thốngnghiên cứu lý luận về nguyên liệu gỗ, khoa học cắt gọt gỗ cũng như các yếu tố côngnghệ ảnh hướng tới quá trình cắt gọt gỗ Nghiên cứu này sẽ là tài liệu tham khảo chocác nghiên cứu mới về hình thức gia công này đầy tiềm năng hơn

Đề tài có thể giúp người vận hành máy bào gia công các chi tiết nhanh hơn với

độ chính xác cao từ đó giúp tăng năng suất lao động và nâng cao giá trị cho ngành giacông chế biến gỗ

1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài nghiên cứu nhằm mục tiêu sau:

Tìm hiểu về máy bào cuốn: Tìm hiểu tổng quan về máy bào cuốn

Nghiên cứu lý thuyết độ nhám bề mặt nhằm để xác định: Xác định ảnh hưởng

của loại gỗ tới độ nhám bề mặt gỗ; ảnh hưởng của độ nhô của lưới dao tới độ nhám bềmặt gỗ; ảnh hưởng của chiều dày phoi tới độ nhám bề mặt gỗ

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: Trong thời gian có hạn của một đồ án tốt nghiệp cũng

như kinh phí không cho phép nên nhóm đồ án chỉ nghiên cứu trên 3 loại gỗ: gỗ Keo,Bằng Lăng, Thông

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố công nghệ tới độ nhám

bề mặt có nội dung rất lớn cần có thời gian dài cũng như kinh khí, vì thế trong nộidung của đồ án chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau:

- Về nội dung nghiên cứu: Đồ án chỉ tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của củamột số yếu tố công nghệ: độ nhô của lưới dao, chiều dày phoi, ảnh hưởng của một sốloại gỗ tới độ nhám bề mặt gỗ khi gia công trên máy bào cuốn trên máy bào

- Về thiết bị nghiên cứu: Để phục vụ cho quá trình nhiên cứu của đề tài cần cócác thiết bị nghiên cứu sau: Máy bào cuốn tại xưởng gỗ trường ĐH SPKT TP.HCM,thước kẹp, đồng hồ so và máy đo độ nhám Mitutoyo SJ-210

Trang 18

1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đề tài nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm

- Nghiên cứu lý thuyết về khoa học gỗ, cơ sở cắt gọt gỗ, máy bào cuốn và lý thuyết nhám bề mặt

- Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành bào và đo độ nhám bề mặt, sau đó xử lý

số liệu (sử dụng phương pháp bình phương bé nhất) để tìm ra ảnh hưởng của các yếu tố:loại gỗ, đô nhô lưới dao, chiều dày phoi đến độ nhám bề mặt gỗ khi gia công trên máybào cuốn

Giả sử ta cần tìm hàm số y=f(x) Bằng thực nghiệm chúng

đúng hàm số tại một điểm xi là yi f (xi) (i=1,2 n) Điều quan

chúng ta muốn tìm hàm f(x) được định dạng:

f (x) = a 1 f 1 (x) + a 2 f 2 (x) + + a k f k (x)

Trong đó fi(x) là những hàm số ta chọn

ta biết giá trị gần trọng hơn nữa là

Việc chọn fi(x) thực hiện trên cơ sở đặc điểm hàm f(x) mà ta biết Và hơn nữa,

đó là những hàm số đơn giản, đử tính chất để giúp ta xử lý vấn đề

Khi đó, chúng ta cần đến phương pháp bình phương bé nhất

Nội dung phương pháp: Đặt

S = ( f (x 1 ) – y 1 ) 2 + + ( f (x n ) – y n ) 2 = ∑ ( ( ) – )

S được hiểu là tổng bình phương sai số i tại các nút (xi, yi) Do đó chúng ta cầntìm các hệ số ai sao cho S nhỏ nhất có thể tìm được Khi đó, đường cong tìm được có thểhiểu là gần nhất với các số liệu so với các đường cong khác cùng dạng

Trang 19

Người ta chứng minh được rằng S nhỏ nhất với các giá trị ai là nghiệm hệ phương

Xét với trường hợp tuyến tính y = a1 + a2x

Áp dụng hệ phương trình ta (1.1)có kết quả sau

Tính các tổng trong hệ trên và giải hệ ta được a 1, a 2 cần tìm

Để đánh giá mức độ phụ thuộc tuyến tính của hai biến ngẫu nhiên X và Y người ta

dùng hệ số hồi quy (rxy), và được xác định bởi công thức:

(1.3)

Trong đó: x , y là độ lệch chuẩn mẫu của x, y

Trong thực hành, người ta phân loại |rxy| đối với mối liên hệ tuyến tính như sau:

0.8 1: Sự liên hệ rất cao, rất đáng tin cậy

0.6 0.79: Sự liên hệ từ vừa phải đến rõ rệt

0.4 0.59: Sự liên hệ ở mức trung bình

0.2 0.39: Sự liên hệ ở mức thấp

0 0.19: Sự liên hệ không đảng kể, có thể do ngấu nhiên

1.6 KẾT CẤU CỦA ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

Đồ án tôt nghiệp gồm 5 chương

Chương 1: Giới thiệu

 Tính cấp thiết của đề tài

 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Trang 20

 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu

 Ý nghĩa của đề tài

Chương 2: Tổng quan nghiên cứu đề tài

 Tổng quan về

 Tổng quan về khoa học cắt gọt gỗ

Chương 3: Cơ sở lý thuyết

 Tìm hiểu về đặc điểm của gỗ

 Cách đo độ nhám bề mặt

 Nguyên lý cắt gọt gỗ

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

 Máy gia công và dụng cụ thí ngiệm

 Nghiên cứu ảnh hưởng của loại gỗ tới độ nhấp nhô bề mặt

 Nghiên cứu ảnh hưởng của độ nhô lưới dao tới độ nhấp nhô bề mặt

 Nghiên cứu ảnh hưởng của chiều dày phoi tới độ nhấp nhô bề mặt

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

 Kết luận

 Kiến nghị

Trang 21

Chương 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP GỖ

2.1.1 Tình hình phát triển của ngành công nghiệp gỗ trên thế giới

Gỗ là mặt hàng nguyên liệu có quy mô buôn bán lớn thứ ba thế giới chỉ sau dầulửa và than đá Có khoảng 12.000 dạng sản phẩm gỗ được trao đổi, buôn bán trên thịtrường thế giới Sản phẩm gỗ được dùng trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống

xã hội Những năm gần đây, nhu cầu về gỗ trên thế giới rất lớn do thương mại đồ nộithất trên thế giới và nhu cầu xây dựng tăng nhanh Hiện nay nhu cầu tiêu thụ sản phẩm

gỗ trên thế giới tăng đáng kể, với mức tăng tối thiểu 8%/năm Theo thống kê sơ bộ củaTổng cục Thống kê Liên hiệp quốc (Comtrade Data), nhập khẩu các mặt hàng đồ gỗcủa thị trường thế giới đã lên đến gần 200 tỉ đô la Mỹ năm 2002 Trong đó, nước nhậpkhẩu nhiều nhất là Mỹ, kế đến là Đức, Pháp, Anh và Nhật Bản

Trước tình hình đó, ngành công nghiệp chế biến hàng mộc của thế giới cũng đãthay đổi đáng kể, đặc biệt là ở Trung Quốc và một số nước Châu Á khác nhưInđonêxia, Thái Lan, Malaysia, Việt Nam… đã phát triển vô cùng nhanh chóng cả về

số lượng và chất lượng Tính đến năm 2009, Thái Lan và Indonexia vẫn là 2 nước xuấtkhẩu đồ gỗ lớn nhất khu vực Đông Nam Á Nhưng từ đầu năm 2010 đến nay, ViệtNam đã vượt hai quốc gia này và trở thành nước xuất khẩu đồ gỗ đứng đầu Đông Nam

Á Năm 2014 Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu gỗ đứng thứ 2 châu Á chỉ sauTrung Quốc Tuy nhiên mặt hàng gỗ luôn là thị trường cạnh tranh gay gắt từ các nướcTrung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, các nước Đông Âu và Mỹ La Tinh RiêngTrung Quốc đã có trên 50.000 cơ sở sản xuất với hơn 50 triệu công nhân và sản xuất vớidoanh số gần 20 tỷ USD

2.1.2 Tình hình phát triển của ngành công nghiệp gỗ Việt Nam

Quy mô năng lực sản xuất

Ngành chế biến gỗ Việt Nam đang phát triển với tốc độ rất nhanh trong những nămgần đây, vươn lên là một trong 7 mặt hàng đem lại kim ngạch xuất khẩu hàng gỗ chếbiến lớn nhất ở khu vực Đông Nam Á Hiện cả nước có khoảng 2.000 doanh nghiệpchế biến gỗ với năng lực chế biến 2,2 – 2,5 triệu mét khối gỗ tròng mỗi năm

Trang 22

Các doanh nghiệp sản xuất và chế biến gỗ ở Việt Nam bao gồm các công ty nhà nước (374 doanh nghiệp), các công ty trách nhiệm hữu hạn và do chính sách đầu tư nước ngoài từ Singapore, Đài Loan, Malayxia, Na Uy, Trung Quốc, Thụy Điển… đanghoạt động trong lĩnh vực sản xuất và chế biến các sản phẩm gỗ tại Việt Nam, với tổng

số vốn đăng ký lên đến 105 triệu USD Đa số các công ty sản xuất và chế biến các sản phẩm gỗ tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Nam (T.P Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai…), các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên (Bình Định, Gia Lai, Đắc Lắc…), một số công ty, thường là các công ty sản xuất và xuất khẩu đồ gỗ mỹ nghệ, tập trung

ở các tỉnh phía Bắc và khu vực đồng bằng sông Hồng như Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Tây,Vĩnh Phúc…

Thị trường

Thị trường xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam đã có nhiều biến chuyển mạnh mẽtrong những năm gần đây, từ chỗ tập trung vào các thị trường trung chuyển như ĐàiLoan, Singapore, Hàn Quốc… để tái xuất khẩu sang một nước thứ ba, đến nay đã xuấtkhẩu trực tiếp sang các thị trường của người tiêu dùng

Trong những năm tới, ngoài việc duy trì và phát triển các thị trường truyền thống(cả thị trường trung chuyển và thị trường người tiêu dùng trực tiếp) để thông qua đó uytín và chất lượng của sản phẩm gỗ xuất khẩu Việt Nam tiếp cận nhanh hơn tới ngườitiêu dùng, ngành gỗ Việt Nam sẽ tập trung phát triển mạnh một số thị trường mục tiêu,

có nền kinh tế phát triển ổn định, sức mua ổn định và nhu cầu liên tục tăng, các thể chế

về kinh doanh, thương mại hoàn thiện, hệ thống phân phối rộng khắp và năng động,bao gồm: EU, Mỹ, Nhật Bản, và Cộng hòa liên bang Nga

Khách hàng chủ đạo đối với các sản phẩm gỗ Việt Nam được xác định là nhà nhậpkhẩu và các nhà phân phối Thực tế năng lực tài chính tiếp thị, nghiên cứu thị trường

và phát triển sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu, nên nếu trực tiếp thiếtlập các kênh phân phối, mạng lưới tiêu thụ và nghiên cứu nhu cầu phát triển của thịtrường sẽ thực sự rất khó khăn đối với mỗi doanh nghiệp Việc sử dụng những kênhphân phối hiện có và khả năng phát triển thị trường của các nhà phân phối và nhậpkhẩu tại các thị trường lớn và giải pháp hữu hiệu nhất đề tăng sản lượng thâm nhập thịtrường đồng thời tiết kiệm chi phí cho công tác tiếp thị

Trang 23

Nhìn chung quy mô của các xí nghiệp sản xuất đồ gỗ xuất khẩu là các xí nghiệpvừa và nhỏ, sản xuất kết hợp giữa thủ công và cơ khí Các doanh nghiệp sản xuất cácmặt hàng đồ gỗ công nghiệp thường có sự đầu tư mới về các trang thiết bị và côngnghệ tiên tiến phục vụ sản xuất, trong khi đó đại bộ phận các doanh nghiệp sản xuất đồ

gỗ mỹ nghệ có hệ thống thiết bị khá lạc hậu, không đáp ứng được yêu cầu của các đơnhàng lớn hay các thị trường yêu cầu chất lượng cao

Các sản phẩm gỗ xuất khẩu.

Sản phẩm gỗ xuất khẩu của Việt Nam từ chỗ chỉ là sản phẩm thô (gỗ tròn, gỗ xẻ)

đã phát triển lên một trình độ gia công cao hơn, áp dụng công nghệ tẩm, sấy, trang trí

bề mặt… xuất khẩu các sản phẩm hoàn chỉnh, sản phẩm có giá trị gia tăng về côngnghệ và lao động Có thể chia các sản phẩm gỗ xuât khẩu của Việt Nam thành 4 nhómchính:

Nhóm thứ nhất: nhóm sản phẩm đồ mộc ngoài tròi bao gồm các loại bàn ghế vườn,ghế băng, dù che nắng, ghế xích đu làm hoàn thành từ gỗ hoặc kết hợp với các vậtliệu khác như sắt, nhôm, nhựa

Nhóm thứ hai: Nhóm sản phẩm đồ mộc trong nhà bao gồm các loại bàn ghế,giường tủ, giá kê sách, đồ chơi, ván sàn làm hoàn toàn từ gỗ hay kết hợp với các vậtliệu khác như da, vải

Nhóm thứ ba: Nhóm đồ mỹ nghệ chủ yếu từ gỗ rừng tự nhiên bao gồm bàn, nghế,

Nguyên liệu gỗ

Nguồn nguyên liệu cho sản phẩm gỗ xuất khẩu từ chỗ dựa vào rừng tự nhiên làchính đã chuyển sang dựa vào nguồn gỗ nhập khẩu và gỗ rừng trồng Theo số liệu của

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, diện tích rừng tự nhiên hiện có của Việt Nam

là 9.44 triệu ha, trữ lượng 720.9 triệu m3 gỗ Để bảo vệ môi trường và đảm bảo sự pháttriển bền vững, Chính phủ đã giới hạn khai thác gỗ từ những rừng tự nhiên tại địa

Trang 24

phương chỉ khoảng 300.000m3 mối năm trong giai đoạn 2000 đến 2010, củ yếu đểphục vụ cho nhu cầu xây dựng, sản xuất đồ gỗ trong nước (250.000 m3) và sản xuấthàng mỹ nghệ xuất khẩu (50.000 m3) Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũngđang triển khai chương trình trồng mới 5 triệu rừng và cho đến năm 2010 Việt Nam sẽ

có thêm 2 triệu ha rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và 3 triệu ha rừng sản xuất

Để bù đắp sự thiếu hụt về nguyên liệu gỗ rừng tự nhiên, hàng năm Viêt Nam phảinhập khẩu khoảng 250.000 đến 300.000 m3 gỗ từ các nước lân cận và tăng cường sửdụng gỗ rừng trồng, ván nhân tạo để sản xuất hàng xuất khẩu Nguồn gỗ nhập khẩu từcác nước Đông Nam Á như Campuchia, Lào, Indonesia, Malaysia thường không ổnđịnh do chính sách lâm sản của các quốc gia này luôn thay đổi, trong khi nguồn nhậpkhẩu từ các quốc gia khác như New Zealand, Australia, Thụy Điển, Đan Mạch, PhầnLan, Canada, Mỹ, Châu Phi lại cách xa về địa lý nên giá thành nguyên liệu bị đội lêncao

Nhằm chủ động chuẩn bị nguồn gỗ, bên cạnh việc trồng rừng, Việt Nam cũngđang tích cực phát triển các nhà máy sản xuất ván nhân tạo, đóng một vai trò quantrọng cho ngành chế biến gỗ xuất khẩu: Nhà máy ván sợi MDF Gia Lai công suất54.000m3 sản phẩm/năm, MDF Sơn La với công suất 15.000 m3 sản phẩm/năm, MDFBình Thuận với công suất 10.000 m3 sản phẩm/năm, Nhà máy Ván dăm Thái Nguyênvới 16.500m3 sản phẩm/năm, Thái Hòa (Nghệ An) 15.000m3 và Hoành Bồ (QuảngNinh)3.000m3/năm

Hiện nay, ở Việt Nam chưa có khu rừng nào có chứng chỉ rừng (FSC), trong khi

đó nhu cầu sử dụng các sản phẩm có chứng chỉ nguồn gốc xuất xứ ngày càng cao ởhầu hết các thị trường lớn Để phát huy hết tiềm nưang của ngành chế biến gỗ ViệtNam, các cơ quan quản lý nhà nước và các doanh nghiệp cần hết sức chú ý đến xuhướng “môi trường hóa” thương mại đồ gỗ Với 3 xu hướng nguyên liệu chính: gỗnhân tạo, gỗ có chứng nhận FSC và gỗ tái chế, các tiêu chuẩn về môi trường sẽ đượcthị trường đặt ra ngày càng nhiều cho thương mại đồ gỗ, kể cả việc xác định tính hợppháp và khả năng tái sinh của khu vực khai thác Do đó, đối với các sản phẩm gỗ khaithác tại Việt Nam cần mời các tổ chức quốc tế có thẩm quyền kiểm tra việc quản lý,khai thác gỗ và cấp giấy chứng chỉ xác nhận gỗ được khai thác Đặc biệt, việc xây

Trang 25

dựng và các tiêu chí quản lý rừng bền vững cần được tiến hành nhanh chóng, triệt đểnhằm đạt được một số lợi thế cho ngành lâm nghiệp Việt Nam.

Mặc dù đạt nhiều thành tựu đáng kể trong những năm vừa qua, ngành chế biến

gỗ còn tồn đọng nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được những yêu cầu đặt ra của quốc tế,đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập WTO Có thể kể đến những hạn chế sau:

Thứ nhất: Nguồn nguyên liệu chưa ổn định, chủ yếu phụ thuộc vào nguồnnguyên liệu nhập khẩu từ nước ngoài Đây là một trong những hạn chế lớn nhất củangành gỗ nước ta Lượng nguyên liệu gỗ nhập khẩu hàng năm chiếm 80% tổng nhucầu gỗ cho chế biến

Thứ hai: Quy mô sản xuất của các doanh nghiệp chế biến gỗ nước ta chủ yếu lànhỏ và vừa Với quy mô này, các doanh nghiệp rất khó thực hiện được các hợp đồnglớn của nước ngoài nên chủ yếu vẫn là gia công, chưa xây dựng được thương hiệu chomình, sản phẩm vẫn chủ yếu được bán qua các khâu trung gian Công tác đào tạonguồn nhân lực cho ngành chế biến gỗ chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức

Thư ba: Công nghệ chế biến còn thô sơ, mang tính thủ công, đơn lẻ, thiếu sự kếthợp và phát triển đồng bộ Các doanh nghiệp còn chưa chủ động đầu tư thiết bị, côngnghệ, thiết kế mẫu mã sản phẩm, tìm kiếm thị trường, thông tin xúc tiến thươngmại v v đa số các doanh nghiệp còn ở quy mô nhỏ

Những hạn chế trên làm giảm khả năng phát triển và vị thế ngành chế biến gỗcủa nước ta trên thị trường thế giới do đó cần có những giải pháp thích hợp, kịp thời

để ngành chế biến gỗ Việt Nam phát triển trong những năm tới

2.2 TỔNG QUAN VỀ KHOA HỌC CẮT GỌT GỖ.

Nguyên lý cắt gọt gỗ là một trong những thành phần quan trọng nhất của cơ sởcông nghệ gia công gỗ Nó được xây dựng và phát triển vào thế kỷ XIX ở một số nướccông nghiệp phát triển có ngành chế biến gỗ thịnh vượng Trong số các nước đó cóNga, Đức, Mỹ, Nhật Từ cuối nửa thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX xuất hiện một

số nhà khoa học đã nghiên cứu vấn đề này, họ là những người thầy đạt nền móng cho

sự phát triển cho khoa học cắt gọt gỗ và vật liệu gỗ sau này Ở Việt Nam nghiên cứu

về cắt gọt gỗ có TS, Nguyễn Văn Minh (1966) và PGS.TS Hoàng Hữu Nguyên (1967)

Về sau có nhiều nhà khoa học khác đã nghiên cứu, phát triển rộng và sâu lý thuyết cắt

Trang 26

gọt gỗ trong các trường hợp chuyên dùng và vật liệu gỗ Trong lĩnh vực dao cụ, cơ giớihóa và tự động hóa cũng đã xuất hiện nhiều tác giả ở nhiều nước khác nhau.

Tổng hợp các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trên, chúng ta thấy các học thuyết hiện đại về cắt gọt gỗ đi theo ba hướng sau đây:

- Hướng thứ nhất là dùng phương pháp toán cơ để phân tích, nghiên cứu các

hiện tượng xẩy ra trong quá trình cắt gọt gỗ Giải các bài toán thuận, bài toán nghịchtrong công nghệ gia công gỗ cũng trên cơ sở này Đây là một hướng đi khá khó, đòihỏi kiến thức rộng, nhiều lĩnh vực, nhưng rất phù hợp với các quá trình gia công gỗ

- Hướng thứ hai là xây dựng học thuyết cắt gọt gỗ trên cơ sở phân tích các giá

trị của các hiện tượng lý hóa xẩy ra trong quá trình gia công cắt gọt gỗ và trên cơ sở đóxây dựng các công thức thực nghiệm, áp dụng trong việc xử lý các bài toán thuận vànghịch Trong cắt gọt gỗ, hướng này đòi hỏi hệ thống thiết bị đo rất tinh vi, hiện đại vàtốn kém, bởi trong cắt gọt gỗ tốc độ thường rất cao

- Hướng thứ ba là xây dựng lý thuyết cắt gọt gỗ bằng thực nghiệm, nói cách

khác là trên cơ sở các số liệu thu được trong quá trình nghiên cứu, phân tích các hiệntượng xẩy ra trong quá trình cắt gọt, dùng toán xác suất thống kê để xây dựng các côngthức thực nghiệm, áp dụng trong việc giải các bài toán của công nghệ và thiết kế.Hướng này đơn giản, dễ tiến hành, song thụ động, nhất là trong gia công gỗ nhiềutrường hợp phoi là thành phẩm, cần có cơ sở lý thuyết để giải quyết bài toán công nghệcủa chúng

Tóm lại, các học giả đã đi theo ba hướng khác nhau nhưng tất cả đều nhằm mộtmục đích là khám phá bức tranh trung thực nhất của quá trình cắt gọt gỗ, đưa ra nhữngkết luận và công thức chính xác, phù hợp với quy luật khách quan nhất để phục vụ choviệc thực hiện tốt các bước công nghệ , thiết kế dao cụ, máy móc trong việc cơ giớihóa và tự động hóa trong công nghệ gia công gỗ

Trong thực tế, để xách định được quá trình gia công cần giải quyết hai vấn đềthường gọi là hai bài toán: một là cần có những thông số cơ bản ban đầu (lực, côngsuất, mối liên quan giữa các yếu tố ), dựa trên những thông số cơ bản ban đầu đó đểtính toán thiết kế mới, cải thiện công cụ, giải quyết các bài toán gia công, bài toán kinhtế Hai là từ những điều kiện cho trước: máy, thiết bị, dụng cụ, vật liệu gia công cầnxác định chế độ cắt hợp lý để đạt được độ bóng bề mặt cũng như năng suất cao nhất có

Trang 27

thể, trên cơ sở chất lượng theo yêu cầu cho trước và để giảm chi phí thấp nhất Hai vấn

đề này có liên quan mật thiết với nhau và là một thể thống nhất của quá trình chế tạo

và sử dụng máy Giải quyết vấn đề thứ nhất là bài toán thuận, giải quyết vấn đề thứ hai

là bài toán nghịch Cả hai bài toán đó đều xuất phát từ lý thuyết cắt gọt gỗ Như vậy, từnhững vấn đề nêu trên cho thấy khoa học cắt gọt gỗ có nhiệm vụ cụ thể: xác định mộtcách khoa học và chính xác mối tương quan của các yếu tố thuộc ba đối tượng thamgia vào quá trình gia công cắt gọt gồm: vật liệu gia công (gỗ, vật liệu gỗ), dao và máy

để đưa ra các thông số nhằm giải quyết hai bài toán thuận và nghịch nêu trên

Tất nhiên, ngoài việc phục vụ cho sự thay đổi nguyên nhiên liệu và sản phẩmmới, khoa học cắt gọt gỗ còn có nhiệm vụ tìm các phương pháp gia công mới, tiến bộhơn để nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm

Giải quyết tốt đối với khoa học cắt gọt gỗ, vật liệu gỗ sẽ tạo ra khả năng to lớntrong gia công sản xuất, đẩy mạnh sản xuất và đáp ứng được nhu cầu kinh tế cho đấtnước trước mắt và lâu dài mãi mãi về sau

Trang 28

sử dụng cho thích hơp, trước hết cần nắm vững những kiến thức cơ bản về cấu tạo.Trong thực tế có rất nhiều loại gỗ rất giống nhau cần đi sâu phân loại một cách chínhxác, phải tiến hành khảo sát cấu tạo hiển vi của gỗ Mặt khác do ảnh hưởng của hoàncảnh bên ngoài, không những các loại gỗ khác nhau mà từng cây trong cùng một loài vàngay cả từng bộ phận khác nhau trong cùng một cây cũng có sự khác nhau Muốn phântích được những hiện tượng đó, cần có những kiến thức sâu sắc và toàn diện về cấu tạohiển vi của gỗ.

Tóm lại muốn nhận biết được tên gỗ cho chính xác, muốn tìm hiểu về tính chất gỗ,muốn áp dụng các biện pháp kỹ thuật thích hợp cho quá trình gia công chế biến, muốn

sử dụng hợp lý và tiết kiệm gỗ Trước hết cần phải hiểu biết về cấu tạo của gỗ; Đây làmột trong những biện pháp cơ bản để nâng cao chất lượng sử dụng gỗ

3.1.1 Ưu nhược điểm của gỗ

 Cách điện, cách nhiệt, ngăn âm tốt, nhiệt dãn nở bé

 Mền, nên có thể dùng các máy móc, công cụ để cưa xẻ, bào, khoan, tách chẻ với vận tốc cao

 Dễ nối gép bằng đinh, mộng, keo dán

 Gỗ có vân thớ đẹp, dễ nhuộm màu, dễ trang sức bề mặt

 Dễ phân ly bằng điện hóa chất dùng sản xuất giấy và tơ nhân tạo

Trang 29

 Gỗ là nguyên liệu thiên nhiên, chỉ cần trồng, chăm sóc và sử dụng máy móc đơn giản để khai thác nó.

Nhược điểm

 Sinh trưởng chậm, đường kính có hạn và có nhiều khuyết tật tự nhiên

 Dễ mục, dễ biến màu và dễ cháy

 So với kim loại thì đây là loại vật liệu mềm, môdun đàn hồi thấp

 Trong quá trình phơi sấy thường dễ bị nứt nẻ, cong vênh, biến hình

 Tính chất bị biến động tùy theo điều kiện sinh trưởng Ngay trong cùng một cây cũng có sự thay đổi về tính chất

 Do cấu tạo không đều theo các chiều nên cường độ và sức co dãn theo theo các phương dọc thớ, xuyên tâm và tiếp tuyến khác nhau

 Hút ẩm và thoát hơi nước mạnh nên dễ bị cong vênh, biến hình, nứt nẻ, cường độ

và các tính chất khác thay đổi

3.1.2 Cấu tạo của gỗ

Hình 3.1: Mặt cắt ngang thân cây

Cấu tạo của thân cây

 Vỏ cây

 Sợi vỏ cây

 Lớp hình thành

Trang 30

Mặt cắt ngang là mặt cắt thẳng góc với trục dọc thân cây và đi ngang thân cây.

Biểu hiện của vòng năm trên mặt cắt là những vòng tròn đồng tâm vây quanh tủy cây

Mặt cắt xuyên tâm là mặt cắt song song với trục dọc thân cây và đi qua tủy cây.

Biểu hiện của vòng tròn năm trên mặt cắt là những đường thẳng song song trục dọc thâncây

Mặt cắt tiếp tuyến là mặt cắt song song với trục dọc thân cây và tiếp tuyến với

vòng năm Biểu hiện của vòng năm trên mặt cắt tiếp tuyển là hình chữ v

Trang 31

Cấu tạo gỗ sinh nhựa (Lá kim )

Hình 3.3: Cấu tạo gỗ lá kim

 Tế bào đạo quản (quản bào ) là loại tế bào vách dày, sắp xếp theo chiều dọc thân cây Là thành phần chủ yếu, chiếm 90% thể tích

 Tế bào đạo quản có 2 loại:

+ Đạo quản gỗ sớm

+ Đạo quản gỗ muộn

 Tế bào mô mền (nhu mô ) là loại tế bào vách mỏng, hình trụ ngắn, xếp theo chiềudọc thân cây Tế bào mô mền gỗ lá kim ít, chiến khoảng 1% thể tích cây

 Tia gỗ (tua lõi ) là tổ chức của tế bào mô mềm xếp theo chiều ngang thân cây Tia

gỗ chiếm khoảng 5 – 6% thể tích cây

 Ống dẫn nhựa là tổ chức của tế bào mô mềm

 Có 2 loại ống dẫn nhựa:

+ Ống dẫn nhựa dọc

+ Ống dẫn nhựa ngang

Trang 32

Cấu tạo của gỗ rậm lá (Lá rộng )

Hình 3.4: cấu tạo gỗ lá rộng

 Mạch gỗ là loại tế bào dày, có kích thước lớn, có dạng hình trống hoặc hình trụ,xếp theo chiều dọc thân cây Mạch gỗ chỉ có ở gỗ lá rậm chiếm khoảng 20 – 30% thể tíchcây và là thành phần quan trọng để nhận mặt gỗ

 Quản bào là loại tế bào vách dày xếp theo chiều dọc thân cây Quản bào gỗ rậm

lá ít, không có vai trò quan trọng

 Tế bào sợi là loại tế bào vách dày xếp theo chiều dọc thân cây Là thành phần chủyếu cấu tạo nên gỗ lá rộng chiếm khoảng 50% thể tích gỗ

 Tế bào mô mềm là loại tế bào vách mỏng, làm nhiệm vụ dự trữ chất dinh dưỡngnuôi cây Tế bào mô mềm chiếm từ 2-15% thể tích cây Tế bào mô mềm có màu trắngnhạt nên dễ phân biệt

Trang 33

 Tua lõi là tổ chức

cây lá rộng chiếm rộng

lớn hơn gỗ lá

của tế bào mô mềm xếp theo chiều ngang thân cây Tia gỗ ở

từ 10-15% thể tích cây, có loại tới 20-30% Tia gỗ ở cây lákim, ,một số loại tia có hiện tượng tụ hợp

3.1.3 Tính chất vật lý của gỗ

Độ ẩm của gỗ

Độ ẩm tương đối của gỗ: Độ ấm tương đối của gỗ là tỷ lệ % giữa lượng nước

có trong gỗ so với khối lượng gỗ tươi

Độ ẩm tuyệt đối của gỗ: Độ ấm tuyệt đối của gỗ là tỷ lệ % giữa lượng nước có

trong gỗ so với khối lượng gỗ khô kiệt

Độ ẩm bão hòa thớ gỗ: nếu đặt gỗ tươi, gỗ ướt trong môi trường nào đó (môi

trường không khí) có nhiệt độ, độ ẩm tương đối của không khí, nước trong gỗ sẽthoát ra ngoài Khi nước tự do thoát hết, nước thẩm còn bão hòa trong vách tế bào.Điểm đó gọi là điểm bão hòa thớ gỗ và độ ẩm của gỗ lúc này gọi là độ ẩm bão hòacủa thớ gỗ Ngược lại nếu đặt gỗ khô kiệt hoặc gỗ khô trong môi trường nào đó ( môitrường nhân tạo ) với nhiệt độ và độ ẩm nhất định của môi trường, gỗ sẽ hút hơinước Khi nước thấm bão hòa trong vách tế bào và nước tự do bắt đầu xuất hiện thìđiểm đó gọi là điểm bão hòa thớ gỗ và độ ẩm đó gọi là độ ẩm bão hòa thớ gỗ Nóicách khác: Điểm bão hòa thớ gỗ là ranh giới giữa nước thấm và nước tự do Độ ẩmbão hòa là độ ẩm xách định bởi nước lượng nước thấm tối đa trong gỗ

Gỗ Việt Nam, phạm vi biến động của độ ẩm bão hòa thớ gỗ từ 20-38%, bìnhquân số học là 27,5%, nhiệt độ không khí lúc thí nghiệm là 26 0C, nếu nhiệt độ khôngkhí ở 200C thì độ ẩm bão hòa thớ gỗ bình quân của các loại gỗ nước ta cũng gần 30%

Độ ẩm thăng bằng: Trong không khí với nhiệt độ và độ ẩm nhất định, gỗ để lâu

trong môi trường này sẽ hút hoặc thoát hơi nước cho đến khi độ ẩm tương đối ổn định.Nghĩa là quá trình trao đổi hơi nước giữa gỗ và không khí trong điều kiện như vậy sẽtiến hành mãi cho đến khi áp suất hơi nước của không khí và áp suất hơi nước trên bềmặt gỗ cân bằng nhau Độ ẩm của gỗ lúc này là độ ẩm thăng bằng của gỗ

Nếu để trong môi trường không khí có nhiệt độ và độ ẩm không đổi(0%¨φ¨100% ) 2 mẫu gỗ: một mẫu có độ ẩm lớn hơn 30% và một mẫu khác có độ ẩm

Trang 34

dưới 30% Trong quá trình theo dõi sẽ thấy mẫu gỗ có độ ẩm cao dần dần khô đi vàmẫu khô bị ẩm dần lên Quá trình đó gọi là quá trình cân bằng độ ẩm của gỗ.

Độ ẩm của gỗ nằm trong giới hạn W2¨Wtb¨W1 là độ ẩm thăng bằng của gỗ.Theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 356-70) quy định độ ẩm thăng bằng của khu vựcmiền Bắc Việt Nam là 18% Từ Đà Nẵng trở vào do điều kiện thời tiết nóng và khôcạn hơn, độ ẩm thăng bằng có thể trong khoảng 15%

Quá trình co dãn của gỗ

Co rút: khi phơi, sấy gỗ, nước từ gỗ từ từ bốc hơi ra, kích thước gỗ thu nhỏ

lại, hiện tượng đó gọi là hiện tượng co rút

Dãn nở: Khi gỗ khô kiệt hút hơi nước làm cho kích thước của gỗ tăng lên,

hiện tượng đó gọi là sự dãn nở

Sức co dãn

Chiều dọc thớ thường rất nhỏ, không quá 1%

Chiều xuyên tâm từ 2-7%

Chiều tiếp tuyến từ 2-4%

Co, dãn thể tích là sự tổng hợp co, dãn theo 3 chiều

Tính dẫn điện, dẫn nhiệt của gỗ

Tính dẫn điện: Gỗ là chất cách điện nhưng nếu đó là gỗ thật khô Nếu gỗ bị ẩm

ướt thì sức cản điện sẽ bị yếu đi Sức dẫn điện càng mạnh thì mức ẩm càng cao, và đếnlúc ẩm độ bão hòa thì bất biến Vì vậy gỗ tươi là chất dẫn điện Sức dẫn điện còn tùythuộc vào thớ gỗ:

 Chiều doc thớ gỗ lớn chiều ngang thớ gỗ

 Chiều tiếp tuyến lớn hơn chiều xuyên tâm

Tính dẫn nhiệt: Gỗ dẫn nhiệt rất kém vì cấu trúc của gỗ xốp và trong tế bào

có nhiều khí trời li ti làm gỗ cản nhiệt Tính dẫn nhiệt thay đổi theo sắc mộc, ẩm độ

và hướng thớ gỗ Dẫn nhiệt mạnh theo chiều dọc thớ và ít nhất là chiều ngang thớ

3.1.4 Độ cứng vững và đàn hồi của gỗ

Nói đến tính chất cơ học của gỗ là nói đến khả năng chống lại ngoại lực.Trong đó đáng chú ý nhất là độ cứng, độ bền vững theo kéo, nén, uốn, tách

Trang 35

Gỗ là hợp chất tự nhiên mang 3 tính chất: Đàn hồi, dẻo và dai Vì vậy dưới tácdụng của ngoại lực gỗ sẽ bị biến dạng Song khi ngoại lực thôi tác dụng gỗ có xuhướng trở lại trạng thái ban đầu, nhưng do tính dẽo nên sau khi thôi tác dụng gỗ vẫn

bị biến dạng Tuy nhiên do tính không đồng nhất, nên hiện tượng biến dạng ko đềunhau ở các chiều thới gỗ, đặc trưng là tỉ số:

ε =

là lượng biến dạng (mm)

L kích thước ban đâu

ε biến dạng tương đối

3.1.5 Ứng suất nén

Gỗ có cấu tạo xốp, lúc bị nén lại gỗ có hiện tượng co lại theo chiều của lựcnén, mặt khác theo chiều vuông góc với lực nén gỗ có xu hướng dãn ra Nếu chúng tatìm ra cách khống chế sự dãn ra đó thì quá trình biến dạng của gỗ lúc đó sẽ khác đi,

đó là đặc điểm của quá trình nén gỗ, có hai loại quá trình:

Nén cục bộ: là quá trình được thực hiện theo hai mặt đối diện của vật, còn

cách mặt khác hoàn toàn tự do Biến dạng tăng từ lúc có lực tác dụng đến lúc ứngsuất phá hủy Tất nhiên biến dạng này khác nhau khi ta nén các chiều thớ gỗ khácnhau: Nén dọc thớ, nén tiếp tuyến và nén xuyên tâm Khi nén gỗ, gỗ co lại theo chiềulực nén, song lại có xu hướng nở ra theo chiều vuông góc với lực nén

Nén toàn bộ: là quá trình nén mà các phía khác nhau của vật nén đều bị giới

hạn Trong quá trình cắt gọt, tùy từng dạng, hiện tượng nén kín toàn phần, môt phầnhoặc hở đều có thể xảy ra

3.1.6 Hiện tượng trượt của gỗ

Dưới tác dụng của ngoại lực, các lớp gỗ thường bị trượt hoặc xê dịch lẫnnhau Đặc trưng là ứng suất trượt [t] ứng suất trượt của gỗ biểu thị khả năng chống lại

sự xê dịch hoặc trượt giữa các lớp gỗ dưới tác dụng của ngoại lực theo 1 tiết diện nào

đó cùng nằm trong phương tác dụng của ngoại lực Vì vậy nó được tính bằng N/cm2.Khi lực tác dụng lên gỗ thì hiện tượng trượt của gỗ xảy ra phức tạp hơn so với một sốvật liệu khác Điều này có thể thấy được khi nén gỗ theo hướng xuyên tâm, tách hoặcchẻ

Trang 36

3.2.1 Nhiệm vụ và nội dung của khoa học cắt gọt gỗ

Để thực hiện được quá trình gia công gỗ bằng cơ giới, trong thực tiễn cần giảiquyết hai vấn đề:

Một là cần có những thông số cơ bản ban đầu như lực, công suất, mối tươngquan giữa các yếu tố Dựa trên những thông số cơ bản đó để tính toán thiết kế mới,cải tiến công cụ, máy thiết bị, giải quyết các quá trình gia công, tính toán kinh tế

Hai là từ những điều kiện cho trước, như máy móc thiết bị, công cụ gỗ cầnxác định chế độ gia công hợp lý để đạt được năng suất cao nhất, hao tốn ít nhất vềnguyên, nhiên liệu Mà thành phẩm đạt được chất lượng cao nhất hoặc theo yêu cầucho trước Hai vấn đề này có liên quan mật thiết với nhau, là một thể thống nhất củaquá trình chế tạo và sử dụng Giải quyết vấn đề thứ nhất là giải quyết bài toán thuận,giải quyết vấn đề thứ hai là giải quyết bài toán nghịch Từ đó chúng ta thấy khoa họccắt gọt gỗ có nhiệm vụ cụ thể sau đây: Xác định mối tương quan giữa các yếu tố của

ba đối tượng vật liệu được gia công, công cụ cắt gọt và máy Ngoài ra khoa học cắt gọt

gỗ phải tìm các biện pháp gia công mới khoa học hơn, đạt kết quả cao hơn về năngsuất, chất lượng, ứng dụng vào thực tế sản xuất để tạo ra các sản phẩm mới

Giải quyết đúng đắn đối với khoa học cắt gọt gỗ sẽ tạo ra khả năng lớn cho việchoàn thiện các quá trình kỹ thuật gia công chế biến gỗ, đẩy mạnh sản xuất đáp ứngđược nhiệm vụ của ngành hiện nay cũng như sau này

3.2.2 Các dạng gia công chế biến gỗ

Công nghệ gỗ là tổng quát cả quá trình và cả phương tiện được áp dụng vào sảnxuất để tạo ra được những sản phẩm từ gỗ

a) Gia công chế biến hóa học: Là quá trình gia công tạo từ gỗ ra các sản phẩm mà

bản chất của gỗ đã bị thay đổi như sản xuất đường, giấy, rượu

Trang 37

b) Gia công cơ hóa: Là dạng gia công kết hợp giữa hóa học và cơ học như gia

công áp lực có ngâm tẩm

c) Gia công chế biến cơ giới: Là quá trình gia công từ gỗ ra sản phẩm bằng cách

thay đổi hình dạng, kích thước, còn bản chất của gỗ thì cơ bản không thay đổi Dạngnày có thể phân ra thành 4 phương pháp chủ yếu: gia công cắt gọt, gia công áp lực, giacông va đập, gia công tách chẽ

Gia công cắt gọt làm phá hủy mối liên hệ giữa các phần tử vật chất gỗ theo mộthướng nhất định nhờ công cụ cắt Vật gia công được chia thành hai thành phần cùngvới phoi hoặc không có phoi Như cưa, bào bóc, phay, khoan Là cắt gọt có phoi Nhưđột cắt, xén là cắt gọt không có phoi

Gia công áp lực không làm phá hủy mối liên hệ giữa các phần tử của vật được giacông mà chủ yếu dùng áp lực để làm thay đổi hình dạng, kích thước vật gia công nhưkéo, nén uốn

Gia công va đập làm phá hủy mối liên kết giữa các phần tử vật chất được giacông thành những phần nhỏ, không theo một dạng kích thướt hình hình học qui địnhtrước, như gia công bọt gỗ làm giấy, thuốc súng,

Gia công tách chẻ làm phá hủy mối liên kết giữa các phần tử gỗ theo các lớp màkhông theo một hướng nhất định cho trước, như chẻ củi, tước gỗ,

3.2.3 Gia công cắt gọt cơ bản

Giới thiệu chung về nguyên lý cắt gọt gỗ:

Cắt gọt gỗ là quá trình cắt gọt lấy đi từ vật gia công một lớp hoặc nhiều lớp phoi.Quá trình này được thực hiện nhờ một vật rắn nhỏ có dạng hình nêm gọi là dao cắt.Phần phôi còn lại với phoi được xác định theo một ranh giới quy định trước

Cắt gọt là một quá trình công nghệ, nhờ tác dụng trực tiếp của dao mà phôi đượcphân chia để tạo ra sản phẩm có hình dạng và kích thước cho trước

Phoi là một phần vật chất, thường rất nhỏ được cắt ra từ phôi sau một lần chuyểnđộng của dao hoặc phôi Phoi được tạo ra phù hợp với khả năng cắt của dao và máy.Như vậy, để thực hiện quá trình cắt gọt, phôi có thể đứng yên, dao chuyển động hoặcngược lại Và sau mỗi lần chuyển động chúng ta sẽ có được một lớp phoi từ phôi.Trong quá trình cắt gọt phải có hai chuyển động:

Trang 38

Chuyển động thứ nhất là chuyển động của dao hay phôi để cắt được một lớpphoi Thường chuyển động này có tốc độ rất lớn gọi là chuyển động chính, được gọi làchuyển động cắt gọt Chuyển động tuyệt đối của dao hay phôi cần thiết và đủ để cắtđược một phần phoi người ta gọi là chuyển động cắt gọt.

Chuyển động thứ hai là chuyển động của phôi hoặc dao để đảm bảo cho lần cắttiếp theo tạo ra phoi mới Thường chuyển động này có tốc độ rất nhỏ so với chuyểnđộng thứ nhất gọi là chuyển động phụ, hay còn gọi là chuyển động ăn dao Chuyểnđộng tuyệt đối của phôi hay dao để đảm bảo cho lần cắt tiếp theo tạo ra phoi mới gọi làchuyển động ăn dao

Như vậy trong quá trình cắt gọt của dao được tiến hành theo một chu kỳ nhấtđịnh, cứ mỗi một chu kỳ chúng ta có được một phoi Trong một chu kỳ dao hoàn thànhhai bước, nếu phôi đứng yên và ngược lại nếu dao đứng yên Bước thứ nhất trong chu

kỳ phoi sẽ được cắt ra, ta gọi là bước hữu ích hoặc là bước có công Bước thứ hai daohoặc phôi trở về vị trí ban đầu để chuẩn bị cắt phoi mới, trong bước này phoi khôngđược tạo ra, người ta gọi là bước vô ích hay còn gọi là bước không công

Nếu trong quá trình cắt gọt ở khoảng thời gian nào đấy không có chuyển động ăndao mà chỉ có chuyển động cắt gọt, thì đường mũi dao vẽ nên gọi là quỹ đạo cắt gọt.Ngược lại, nếu như trong quá trình cắt gọt, ở khoảng thời gian nào đấy không cóchuyển động cắt gọt, thì quỹ đạo mũi dao vẽ nên gọi là quỹ đạo cắt gọt tương đối haycòn gọi là quỹ đạo cắt gọt thực

Tốc độ chuyển động dao hoặc vật gia công theo quỹ đạo cắt gọt gọi tốc độ cắt gọt.Vậy tốc độ cắt gọt là quãng đường đi được của dao hoặc phôi theo quỹ đạo cắt gọt trongmột đơn vị thời gian, thường được kí hiệu bằng chữ v, đơn vị là mét/giây (m/s) Tốc độcủa dao hoặc phôi theo quỹ đạo ăn dao, người ta gọi là tốc độ ăn dao Vậy tốc độ ăn dao làquãng đường đi được của dao hoặc phôi theo quỹ đạo ăn dao trong một đơn vị thời gian.Thường tốc độ này được kí hiệu bằng chữ U Đơn vị là mét/phút( ph m )

Trong gia công chế biến gỗ, tốc độ ăn dao có thể đạt tới 150 m/phút Nếu cả hai

chuyển động đồng thời tồn tại, thì dao sẽ chuyển động tương quan với phôi theo tốc độbằng tốc độ tổng hợp hai vectơ tốc độ trên, người ta gọi là tốc độ tương đối hay gọi làtốc độ thực của dao Thường kí hiệu là Vt

Trang 39

Vậy tốc độ tương đối hay tốc độ thực của dao hoặc phôi là quãng đường đi đượccủa dao hoặc phôi theo quỹ đạo thực trong một đơn vị thời gian.

Cắt gọt cơ bản: Đặc điểm của cắt gọt này là có hạn chế một số điều kiện của

các yếu tố tham gia vào quá trình cắt gọt, nhằm đưa đến dạng căn bản nhất, để dễnghiên cứu chúng Những kiến thức nghiên cứu được về cắt gọt này sẽ làm cơ sở đểnghiên cứu các dạng cắt gọt chuyên dùng

Dạng cắt gọt cơ bản có bốn đặc điểm sau đây:

Quá trình cắt gọt được thực hiện ở một cạnh chính của dao cắt, dao phải có dạnghình nêm, các mặt trước, sau của dao phải là mặt phẳng, góc cắt, góc sau phải cố định,

độ dài của cạnh cắt phải lớn hơn chiều rộng của phôi và chiều rộng của phoi, hình thứccắt như vậy người ta gọi là cắt hở Nếu quá trình cắt gọt được thực hiện ở hai cạnh cắt,chiều rộng của dao bằng chiều rộng của phoi, chiều rộng của phôi lớn hơn chiều rộngcủa dao người ta gọi là cắt nửa kín Nếu như trong quá cắt gọt được thực hiện ở bacạnh của dao và tạo ra ba mặt cắt, chiều rộng phoi bằng chiều rộng dao, chiều rộngphôi lớn hơn chiều rộng dao người ta gọi là cắt kín Hình thức đầu tiên thuộc cắt cơbản, còn hình thức hai và ba thuộc cắt phức tạp

Qũy đạo cắt gọt thực của dao phải là đường thẳng, tốc độ cắt và tốc độ ăn dao cốđịnh, hướng của các tốc độ cắt phải vuông góc với cạnh cắt và không đổi.Chiều dàycủa phoi là một đại lượng cố định

Đặc điểm cuối cùng là mặt phẳng chuyển động và hướng chuyển động của daophải vuông góc hoặc song song với chiều của thứ gỗ Từ đặc điểm này trong cắt gọt gỗ

Trang 40

có thể có ba trường hợp cắt gọt cơ bản sau đây: cắt ngang, cắt dọc và cắt bên Chúng ta

sẽ xét kỹ ở chương sau

Cắt gọt chuyên dùng: Tức là các dạng cắt gọt đã được ứng dụng vào những

trường hợp gia công cụ thể, nhằm những mục đích công nghệ nhất định như cưa, bào,lạng, sphay Thường thì các dạng này phức tạp hơn, số lượng yếu tố tác động lên quárình cắt gọt cũng nhiều hơn

Ngày đăng: 26/12/2021, 17:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Xuân Tình, 1998. Khoa học gỗ, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học gỗ
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
2. Hoàng Hữu Nguyên, Hoàng Xuân Niên; 2005. Máy và thiết bị gia công tập 1, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Máy và thiết bị gia công tập 1
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
3. Hoàng Việt, 2003. Máy và thiết bị chế biển gỗ, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Máy và thiết bị chế biển gỗ
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
4. Hoàng Nguyên, Hoàng Việt, Hoàng Xuân Niên; 2006. Tự động hóa trong chế biển gỗ và lâm sản ngoài gỗ, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự động hóa trong chế biểngỗ và lâm sản ngoài gỗ
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
5. Hoàng Việt, Hoàng Thị Thúy Nga; 2010. Cơ sở tính toán thiết kế máy và thiết bị gia công gỗ, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở tính toán thiết kế máy và thiết bị gia công gỗ
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
6. Phan Minh Thanh, Hồ Viết Bình; 2013. Cơ sở công nghệ chế tạo máy, Đại Học Sư Phạm Kỷ Thuật Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở công nghệ chế tạo máy
7. Dương Ngọc Hảo, 2011. Xác suất thống kê, Đại Học Sư Phạm Kỷ Thuật Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác suất thống kê
8. Trần Quốc Hùng, 2012. Dung sai kỹ thuật đo, Đại Học Sư Phạm Kỷ Thuật Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dung sai kỹ thuật đo

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1. Hình thức và kết cấu ĐATN - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố công nghệ tới độ nhám bề mặt gỗ khi gia công trên máy bào cuốn
1. Hình thức và kết cấu ĐATN (Trang 5)
1. Hình thức và kết cấu ĐATN - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố công nghệ tới độ nhám bề mặt gỗ khi gia công trên máy bào cuốn
1. Hình thức và kết cấu ĐATN (Trang 9)
Hình 3.1: Mặt cắt ngang thân cây - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố công nghệ tới độ nhám bề mặt gỗ khi gia công trên máy bào cuốn
Hình 3.1 Mặt cắt ngang thân cây (Trang 30)
Hình 3.3: Cấu tạo gỗ lá kim - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố công nghệ tới độ nhám bề mặt gỗ khi gia công trên máy bào cuốn
Hình 3.3 Cấu tạo gỗ lá kim (Trang 32)
Hình 3.4: cấu tạo gỗ lá rộng - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố công nghệ tới độ nhám bề mặt gỗ khi gia công trên máy bào cuốn
Hình 3.4 cấu tạo gỗ lá rộng (Trang 33)
Hình 3.5: Cắt nửa kín - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố công nghệ tới độ nhám bề mặt gỗ khi gia công trên máy bào cuốn
Hình 3.5 Cắt nửa kín (Trang 41)
Hình 3.7: Cắt kín - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố công nghệ tới độ nhám bề mặt gỗ khi gia công trên máy bào cuốn
Hình 3.7 Cắt kín (Trang 42)
Hình 3.8: độ nhấp nhô tế vi - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố công nghệ tới độ nhám bề mặt gỗ khi gia công trên máy bào cuốn
Hình 3.8 độ nhấp nhô tế vi (Trang 46)
Bảng 3.5: Giá trị S m  và R pvs - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố công nghệ tới độ nhám bề mặt gỗ khi gia công trên máy bào cuốn
Bảng 3.5 Giá trị S m và R pvs (Trang 51)
Hình 4.1: Máy bào cuốn. - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố công nghệ tới độ nhám bề mặt gỗ khi gia công trên máy bào cuốn
Hình 4.1 Máy bào cuốn (Trang 52)
Hình 4.2: Trục nhám - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố công nghệ tới độ nhám bề mặt gỗ khi gia công trên máy bào cuốn
Hình 4.2 Trục nhám (Trang 53)
Hình 4.3: Kiểu nén nguyên khối quả tạ - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố công nghệ tới độ nhám bề mặt gỗ khi gia công trên máy bào cuốn
Hình 4.3 Kiểu nén nguyên khối quả tạ (Trang 55)
Hình 4.4: Kiểu nén nguyên khối lò xo - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố công nghệ tới độ nhám bề mặt gỗ khi gia công trên máy bào cuốn
Hình 4.4 Kiểu nén nguyên khối lò xo (Trang 56)
Hình 4.5: Kiểu nén hỗn hợp phân đoạn - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố công nghệ tới độ nhám bề mặt gỗ khi gia công trên máy bào cuốn
Hình 4.5 Kiểu nén hỗn hợp phân đoạn (Trang 57)
Hình 4.6: Nén sau - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố công nghệ tới độ nhám bề mặt gỗ khi gia công trên máy bào cuốn
Hình 4.6 Nén sau (Trang 58)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w