Phân tích thiết kế hệ thống thông tin tin học hóa là một trong các môn cung cấp phương pháp luận để thực hiện một dự án tin học dành cho tất cả học sinh, sinh viên của bậc học chuyên ngh
Trang 1SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO HÒA BÌNH TRƯỜNG TRUNG HỌC KINH TẾ KỸ THUẬT HÒA BÌNH
Giáo viên biên soạn: Nguyễn Trần Phương
PHÂN TÍCH THIẾT KẾ HỆ THỐNG THÔNG TIN
Lưu hành nội bộ
HÒA BÌNH – NĂM 2009
Trang 2PHÂN TÍCH & THIẾT KẾ
HỆ THỐNG THÔNG TIN
Trang 31.3 Các giai đoạn trong quá trình xây dựng hệ thống thông tin 12
Chương 2: Nghiên cứu & xử lý kết quả nghiên cứu 26
2.3 Tài liệu và sơ đồ hóa kết quả nghiên cứu 50
Trang 44.5 Chuyển từ mô hình quan niệm sang mô hình lô gic 100
4.7.2 Sử dụng một hệ quản trị cơ sở dữ liệu 109
Chương 5: Quản lý các giai đoạn xây dựng HTTT 117 5.1 Quản lý giai đoạn lập kế hoạch, xác định yêu cầu 117
5.1.5 Ký kết các thỏa thuận tài chính, kỹ thuật 129
5.2.2 Thu thập các tài liệu có liên quan đến hệ thống sẽ tin học hóa 135 5.2.3 Triển khai theo kế hoạch đã xác lập ở giai đoạn trước 136 5.2.4 Tổng hợp các yêu cầu, phân loại theo nhóm,
loại bỏ các yêu cầu trùng lắp, lập hồ sơ cho từng nhóm việc 140 5.2.5 Lập kế hoạch phân công, bố trí nhân sự tiếp cận đối tác
làm rõ các yêu cầu, khái niệm chuyên môn chưa rõ 141 5.2.6 Hiệp thương với đối tác để giải quyết
các vấn đề mới nảy sinh về mặt kỹ thuật và tài chính 142
5.3.1 Qhân công nhóm thiết kế tổng thể, nhóm thiết kế chi tiết 142 5.3.2 Lập văn bản đặc tả thiết kế mức tổng thể, mức chi tiết 144
Trang 55.4.3 Lập sổ ghi các giải pháp cho các mô đul thử nghiệm 156
5.4.5 Nhất thể hóa từng phần, tất cả, rà soát lỗi mã khi nhất thể hóa 157 5.4.6 Xây dựng kế hoạch dự phòng cho các rủi do 158
5.5.2 Thực hiện các thử nghiệm an pha, bê ta, thử nghiệm thu 159
5.5.4 Đánh giá mức độ do các các lỗi sinh ra giải pháp khắc phục 161
5.5.6 Lắp đặt, tích hợp hệ thống và đào tạo người vận hành 162
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay với việc ứng dụng của công nghệ thông tin vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tất nhiên là sẽ có rất nhiều nhu cầu xây dựng các hệ thống thông tin tin học hóa từ quy mô nhỏ tới lớn, từ đơn giản đến phức tạp đòi hỏi có phương pháp luận để phát triển các hệ thống thông tin
Phân tích thiết kế hệ thống thông tin tin học hóa là một trong các môn cung cấp phương pháp luận để thực hiện một dự án tin học dành cho tất cả học sinh, sinh viên của bậc học chuyên nghiệp trong ngành Công nghệ thông tin Tài liệu này với những kiến thức chính, cơ bản từ giáo trình phân tích và thiết kế hệ thống thông tin của trường đại học Quốc gia và một số bộ môn có liên quan nhằm đề cập một số phương pháp tiếp cận vấn đề của một dự án tin học hóa, song song với các kiến thức trên còn có cập nhật bổ sung và giới thiệu một số cách tiếp cận hiện đại đang thịnh hành mà tác giả sưu tầm và tự nghiên cứu qua sách, báo và Internet nhằm giúp học sinh, sinh viên có cái nhìn toàn diện Đồng thời giúp học sinh, sinh viên tốt nghiệp ra trường có khả năng lựa chọn giải pháp khả thi nhất khi tham gia, đảm nhiệm dự án tin học hóa
Tài liệu trình bày khá chi tiết các kỹ năng trong phân tích thiết kế một hệ thống thông tin, từ việc trình bày các nguyên tắc cần thiết để phân biệt một số khái niệm liên quan đến việc trình bày hình ảnh dữ liệu bằng mô hình Tài liệu có nhiều
ví dụ cụ thể dễ hiểu từ đơn giản đến phức tạp
Phương pháp luận phát triển các hệ thống thông tin luôn là một trong những chủ đề quan trọng nhất của công nghệ thông tin Trải qua một giai đoạn phát triển, tiếp cận hướng đối tượng đã dần dần chiếm ưu thế và ngày càng trở nên phổ biến
và đã được chuẩn hoá trong công nghiệp phần mềm Tuy nhiên cũng cần nhìn nhận khách quan thì ngay trong cách tiếp cận hướng đối tượng vẫn còn đâu đó đường
nét của tiếp cận hướng chức năng Đặc biệt quan điểm “Chia để trị” thì vẫn không
thay đổi cho dù bất cứ cách tiếp cận nào tính cho tới thời điểm tác giả biên soạn tài liệu này
Bên cạnh đó trong tài liệu này tác giả cũng sưu tầm và giới thiệu một vài nét chính khi sử dụng công cụ hỗ trợ phân tích thiết kế để học sinh, sinh viên có thể sử dụng trong quá trình học môn phân tích thiết kế hệ thống thông tin như công cụ hỗ trợ như Rational Rose 2003 Ngoài ra cũng nêu tên một số công cụ khác hiện đang được giới công nghệ thông tin tại Việt Nam quan tâm để học sinh, sinh viên tham khảo và tự học khi có điều kiện
Nội dung của tài liệu gồm 5 chương và phần Phụ lục:
Chương 1: Những vấn đề chung
Các khái niệm cơ bản, các định hướng mới trong cách tiếp cận để thực hiện một dự án tin học; Giới thiệu các dạng hệ thống thông tin; Vòng đời phát triển hệ thống và so sánh các cách tiếp cận phát triển hệ thống; Các giai đoạn trong quá trình xây dựng hệ thống thông tin
Chương 2: Nghiên cứu & xử lý kết quả nghiên cứu
Phương pháp chung để nghiên cứu và xử lý các thông tin thu nhận được Các mặt mạnh, yếu của các phương nghiên cứu; Các xu hướng hiện nay Một vài
Trang 7kinh nghiệm khi thực hiện dự án tin học mà tác giả đã tiếp cận theo các phương pháp này để cùng tham gia xây dựng phần mềm tại đơn vị đang công tác
Chương 3: Mô hình quan niệm
Cung cấp phương pháp để xây dựng và mô hình hoá các quan niệm Nắm được những khái niệm căn bản của CSDL quan hệ; Các kỹ thuật cơ bản để xây dựng mô hình dữ liệu Phương pháp đơn giản có thể để giải quyết được mối kết hợp nhiều
Chương 5: Quản lý các giai đoạn xây dựng hệ thống thông tin
Với mục tiêu tham khảo, chương này cung cấp một số kiến thức được chắt lọc từ bộ môn quản lý dự án phần mềm, công nghệ phần mềm nhằm bổ trợ tốt hơn khi học sinh, sinh viên tốt nghiệp và công tác tại đơn vị phát triển phần mềm
Phần Phụ lục
Trích quy trình thực hiện việc nghiên cứu hiện trạng website của trường
(mẫu về nghiên cứu hiện trạng)
Trình bày giải pháp quản lý thư viện và phát sinh mã cho hệ thống này của
trường (mẫu về giải pháp lựa chọn, quản lý và thực hiện một dự án tin học)
Trình bày hồ sơ phân tích & thiết kế phần mềm quản lý đào tạo của trường
(trích một phần làm mẫu cho cho học sinh, sinh viên tham khảo)
Hồ sơ phân tích & thiết kế Hệ thống thông tin Quản lý đối tượng BHXH
Thành phố HCM (mẫu về cách lập hồ sơ phân tích thiết kế hệ thống thông tin để học sinh, sinh viên tham khảo)
Mỗi chương đều có phần câu hỏi, bài tập để giúp sinh viên hiểu rõ hơn kiến thức được học và kiểm tra khả năng áp dụng kiến thức của sinh viên vào các bài toán thực tế
Tài liệu này được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh, sinh viên Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Hòa Bình Dù đã cố gắng hết sức, nhưng tài liệu đều mới được cập nhật và bổ sung với nhiều kiến thức mới nên việc tự nghiên cứu và biên tập chắc chắn còn nhiều hạn chế và không thể tránh khỏi nhiều thiếu sót, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô, chuyên gia, đồng nghiệp và các bạn sinh viên, học sinh
Qua đây cá nhân cũng gửi lời tri ân tới các thầy cô, chuyên gia và đồng nghiệp chưa có điều kiện gặp mặt, mà trong tài liệu tác giả đã trích tư liệu, hình ảnh để biên tập cuốn sách này
Tác giả chân thành cám ơn sự động viên và đóng góp ý kiến của các thầy cô, chuyên gia và bạn đồng nghiệp để tài liệu đã biên soạn được hiệu chỉnh tốt hơn
Tác giả
Trang 8CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
Chương này trình bày các nội dung trọng tâm:
- Các khái niệm cơ bản
- Các hệ thống thông tin và vấn đề phát triển hệ thống thông tin
- Các giai đoạn trong quá trình xây dựng HTTT
- Các định hướng trong cách tiếp cận để thực hiện một dự án tin học
1.1 HỆ THỐNG THÔNG TIN
1.1.1 Hệ thống thông tin
Hệ thống là tập hợp các phần tử tương tác được tổ chức nhằm thực hiện một
mục đích xác định Áp dụng định nghĩa này vào các tổ chức ta cần chính xác hoá một số khái niệm:
Các phần tử ở đây tập hợp các phương tiện vật chất và nhân lực
Tổ chức tạo thành một hệ thống mở, nghĩa là liên hệ với một môi trường Một số phần tử của hệ thống có sự tương tác với bên ngoài (cung ứng, thương mại, v.v…)
Hệ thống thông tin là một hệ thống mà mối liên hệ giữa các thành phần của
nó cũng như những liên hệ của nó với với các hệ thống khác là liên hệ thông tin
Hệ thống thông tin của một tổ chức là bao gồm các nguồn lực và quy trình
xử lý thông tin trong tổ chức đương nhiên không thể bỏ qua các thông tin Khi nói đến thông tin thì nhất thiết phải kể đến:
Kiểu thông tin: Ví như văn bản, số liệu, âm thanh, hình ảnh, tri thức
Phương tiện lưu trữ thông tin: Giấy, phim, ảnh, đĩa vv
Các quy tắc và phương pháp biến đổi thông tin
Như vậy hệ thống thông tin tin học hóa chính là phần mềm tin học được cấu
thành bởi các yếu tố con người, thông tin, phương tiện và phương pháp xử lý tin
1.1.1.1 Các hệ thống thông tin
Ngày nay, các ứng dụng công nghệ thông tin đã được áp dụng trong hầu hết các lĩnh vựa khác nhau của đời sống xã hội Tuỳ theo quan điểm mà có thể phân loại các hệ thống thông tin theo các tiêu chí khác nhau Tuy nhiên xét về mặt ứng dụng, hệ thống thông tin có thể được phân chia thành một số nhóm như sau:
Hệ thống thông tin quản lý:
Bao gồm các hệ thống thông tin hỗ trợ các hoạt động nghiệp vụ và quản lý của các doanh nghiệp, các tổ chức Ví dụ các hệ thống quản lý nhân sự, hệ thống
kế toán, hệ thống tính cước và chăm sóc khách hàng, hệ thống quản lý thư viện, hệ thống đào tạo trực tuyến, hệ thống quản lý các đại lý bán hàng từ xa
Các hệ thống Website:
Gồm các hệ thống có nhiệm vụ cung cấp thông tin cho người dùng trên môi trường mạng Internet Các hệ thống Website có đặc điểm là thông tin cung cấp cho người dùng có tính đa dạng (có thể là tin tức hoặc các dạng file đa phương tiện) và được cập nhật thường xuyên
Trang 9Gồm cả các hệ thống website đặc biệt cung cấp các dịch vụ chủ yếu là việc trao đổi mua bán hàng hoá trên môi trường Internet Hệ thống thương mại điện tử bao gồm cả các nền tảng hỗ trợ các giao thức mua bán, các hình thức thanh toán, chuyển giao hàng hoá
Hệ thống điều khiển:
Gồm các hệ thống phần mềm gắn với các thiết bị phần cứng hoặc các hệ thống khác nhằm mục đích điều khiển và giám sát hoạt động của thiết bị hay hệ thống đó Ví dụ như hệ thống máy tính nhúng trong một dây truyền sản xuất, hệ thống điều khiển lò nung, hệ thống điều khiển cửa phai thủy điện, v.v
Mỗi loại hệ thống thông tin có những đặc trưng riêng và cũng đặt ra những yêu cầu riêng cho việc phát triển hệ thống Ví dụ, các hệ thống điều khiển đòi hỏi những yêu cầu về môi trường phát triển, hệ điều hành và ngôn ngữ lập trình riêng; các hệ website thực thi các chức năng trên môi trường mạng phân tán đòi hỏi cách phát triển riêng Do vậy, không có một phương pháp luận chung cho tất cả các dạng hệ thống thông tin
Có một cách phân chia khác:
Hệ thống thông tin (Information System):
Cất giữ, lấy, biến đổi biểu diễn thông tin cho người sử dụng Xử lý những khoảng dữ liệu lớn có các quan hệ phức tạp , mà chúng được lưu trữ trong các cơ
sở dữ liệu quan hệ hay hướng đối tượng
Hệ thống kỹ thuật (Technical System):
Xử lý và điều khiển các thiết bị kỹ thuật như viễn thông, hệ thống quân sự, hay các quá trình công nghiệp Đây là loại thiết bị phải xử lý các giao tiếp đặc biệt, không có phần mềm chuẩn và thường là các hệ thống thời gian thực (real time)
Hệ thống nhúng (Embeded System):
Thực hiện trên phần cứng gắn vào các thiết bị như điện thoại di động, điều khiển xe hơi, … Điều này được thực hiện bằng việc lập trình mức thấp với hỗ trợ thời gian thực Những hệ thống này thường không có các thiết bị như màn hình đĩa cứng, …
Hệ thống phân bố ( Distributed System):
Được phân bố trên một số máy cho phép truyền dữ liệu từ nơi này đến nơi khác một cách dễ dàng Chúng đòi hỏi các cơ chế liên lạc đồng bộ để đảm bảo toàn vẹn dữ liệu và thường được xây dựng trên một số các kỹ thuật đối tượng như CORBA, COM/DCOM, hay Java Beans/RMI
Hệ thống Giao dịch (Business System):
Mô tả mục đích, tài nguyên (con người, máy tính, …), các quy tắc (luật pháp, chiến thuật kinh doanh, cơ chế, …), và công việc hoạt động kinh doanh
Phần mềm hệ thống (System Software):
Định nghĩa cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho phần mềm khác sử dụng, chẳng hạn như hệ điều hành, cơ sở dữ liệu, giao diện người sử dụng
Trang 101.1.1.2 Các tính năng của hệ thống thông tin
Các tính năng của một hệ thống thông tin gồm:
o Thời gian trả kết quả: Tức là thời gian kể từ khi hệ thống nhận được
thông tin yêu cầu cho đến khi có quyết định tương ứng với thông tin yêu cầu đó
o Khối lượng của thông tin được xử lý
o Độ phức tạp của dữ liệu cần xử lý và cả độ phức tạp của xử lý
o Độ phức tạp của cấu trúc hệ thống cho dù quy mô của hệ thống không
lớn
o Độ tin cậy của hệ thống trong đó phải tính đến cơ chế an toàn, dự phòng
các sự cố ngoài mong đợi Bên cạnh đó là sự chính xác của quá trình xử lý thông tin cũng như độ ổn của hệ thống mà nguyên nhân chủ yếu đề phát sinh từ con
người
1.2 PHÂN TÍCH VÀ THIẾT KẾ HỆ THỐNG THÔNG TIN
Phân tích và thiết kế hệ thống thông tin là một phương pháp được sử dụng
để tạo và duy trì hệ thống thông tin nhằm thực hiện các chức năng cơ bản như lưu trữ, xử lý thông tin và truyền thông tin Mục tiêu chính của phân tích và thiết kế hệ thống là cải tiến hệ thống cấu trúc theo một hay một nhóm các quy trình, điển hình
là qua ứng dụng phần mềm, phần mềm có thể giúp đỡ những người sử dụng hoàn tất các công việc chính của đơn vị được dễ dàng và hiệu quả hơn Là một người phân tích hệ thống, bạn sẽ phải là trung tâm của sự phát triển phần mềm đó Phân tích và thiết kế hệ thống thông tin được dựa trên:
o Sự hiểu biết của bạn về các mục tiêu, các cấu trúc và các qui trình của tổ chức
o Kiến thức về tin học và am hiểu chuyên môn của bạn đối với lĩnh vực sẽ triển khai công nghệ thông tin nhằm mang lại lợi ích cho tổ chức theo yêu cầu
Trên thực tế chưa có một phần mềm nào ngay khi đưa vào sử dụng cũng như quá trình sử dụng mà không có những phiếm khuyết Vậy cho nên việc nghiên cứu nhu cầu đánh giá hiện trạng và phân tích trước khi thiết kế là điều không thể thiếu với dự án tin học hóa hệ thống, điều đó sẽ giảm chi phí cho việc phát triển hệ thống
Thông thường phía đầu tư thuê nhà phát triển với yêu cầu hết sức mờ, mơ hồ
có dạng “Phần mềm quản lý ” hoặc “Trang tin điện tử của đơn vị .” chứ
không nói rõ là sẽ tin học hóa một vấn đề cụ thể nào Thế nhưng khi vận hành nhà đầu tư chỉ quan tâm tới những nhu cầu trực tiếp và bỏ qua phần tổng thể của hệ thống tất nhiên là không bao giờ nói đến các mối liên hệ công tác giữa các nhóm trong đơn vị cũng như các quy định, quy trình riêng hiện đang có và đang vận hành tại đơn vị của mình Vì thế nhất thiết phải có một phương pháp khoa học hướng dẫn việc thực hiện dự án tin học hóa tùy theo mô hình sẽ phát triển
Có rất nhiều quan điểm về cách tiếp cận vấn đề cũng như việc phân chia các giai đoạn và cách gọi tên (có tài liệu, giáo trình chỉ có bốn giai đoạn, có tài liệu giáo trình phân chia thành tám giai đoạn Tuy nhiên trong phạm vi khuôn khổ của tài liệu này và điều kiện cụ thể tại nhà trường, tôi xin phân chia các giai đoạn như sau: Lập kế hoạch, xác định yêu cầu; Phân tích; Thiết kế; Thi công; Thử
Trang 11nghiệm; Bảo trì và nội dung chủ yếu của từng giai đoạn được tóm tắt ở các mục
tương ứng
1.2.1 Các quan điểm phân tích
Quan điểm tiếp cận tổng thể theo đó mọi thành phần, mọi dữ liệu, mọi chức
năng đều là hợp phần trong tổng thể và sự hiểu biết tất cả những điều đó là cần thiết cho việc phát triển hệ thống Thế nhưng sự hiểu biết của mỗi cá thể là hữu hạn, hơn nữa do điều kiện sống cũng như môi trường đào tạo, v.v là khác nhau vậy đòi hỏi sự hiểu biết tất cả có lẽ là ít khả thi
Quan điểm cấu trúc xem toàn bộ tổ chức, lĩnh vực, điểm công tác là các
phần tử có cấu trúc tức là có các quy tắc hoạt động, quy tắc kiểm tra và có hệ thống thông tin riêng Bên cạnh đó cần phải nói thêm rằng có những quy tắc hoạt động sẽ
là những ràng buộc của hệ thống được tin học hóa sau này nhưng điều đó không phải lúc nào cũng có thể mô tả trọn vẹn được vì đôi khi các quy tắc đó có mâu thuẫn không thể dung hòa Để làm được điều đó đòi hỏi phải tất cả các quy tắc hoạt động phải được đồng bộ hóa
Trong những năm 70 - 80, những trên quan điểm được coi là chuẩn mực để phát triển phần mềm Tuy nhiên, ngày này cùng với thay đổi, phát triển của công nghệ những chuẩn trên tỏ ra không phù hợp trong phát triển các hệ phần mềm lớn
và đặc biệt là kém hiệu quả trong sử dụng và tái sử dụng lại - Một yêu cầu quan trọng trong công nghiệp phần mềm
Quan điểm trừ trên - xuống (top - down) là quan điểm tiếp cận từ trên
xuống, từ tổng thể đến riêng biệt trong đó định ra các mức trừu tượng hóa tương
ứng với chu trình phát triển của hệ thống (Các giai đoạn trong quá trình xây dựng
hệ thống thông tin sẽ được nói ở phần 1.3 của tài liệu này) và đồng thời cũng định
ra kết quả mong đợi cho từng giai đoạn Tuy nhiên với quan điểm này thì cần có những phương pháp phân tích khoa học và đội ngũ phân tích viên chuyên nghiệp
Tóm lại: Cho dù có nhiều quan điểm và cách nhìn nhận khác nhau thế nhưng cho đến thời điểm hiện nay thì vẫn nổi bật là quan điểm “Chia để trị” đó là
kim chỉ nam cho việc phân tích và thiết kế bất cứ hệ thống thông tin cần phát triển
Phương pháp SADT (Structured Analysis and Design Technique): Kỹ thuật
phân tích cấu trúc và thiết kế, phương pháp này xuất phát từ Mỹ Phương pháp phân tích này bao gồm sơ đồ luồng dữ liệu (Data Flow Diagram) và từ điển dữ liệu (Data Dictionary) ;
Phương pháp phân tích MERISE (Method Pour Rassembler les Ideés Sans Effort) theo [GTPTTK.ĐHQG] dựa vào các mức bất biến kết hợp với mô hình Tạm dịch là "Các phương pháp tập hợp ý tưởng không cần cố gắng", ra đời tại Pháp cuối thập niên 70
Phương pháp MXC (Méthode de Xavier Castellani): Nguồn gốc từ Pháp
Trang 12Phương pháp GALACSI (Groupe d' Animation et de Liaison pour d' Analyse et la Conception de Systeme d' Information): Tạm dịch nguyên văn:
"Nhóm cọ vẽ và liên lạc để phân tích và quan niệm hoá hệ thông tin" ra đời tại
Pháp vào tháng 4 năm 1982
1.2.2.1 Phương pháp hướng cấu trúc
Đặc trưng của phương pháp hướng cấu trúc là phân chia chương trình chính thành nhiều chương trình con, mỗi chương trình con nhằm đến thực hiện một công
việc xác định
Trong phương pháp hướng cấu trúc, phần mềm được thiết kế dựa trên một
trong hai hướng: Hướng dữ liệu và hướng hành động
Cách tiếp cận hướng dữ liệu xây dựng phần mềm dựa trên việc phân rã
phần mềm theo các chức năng cần đáp ứng và dữ liệu cho các chức năng đó Cách
tiếp cận hướng dữ liệu sẽ giúp cho những người phát triển hệ thống dễ dàng xây
dựng ngân hàng dữ liệu
Cách tiếp cận hướng hành động lại tập trung phân tích hệ phần mềm dựa trên các hoạt động thực thi các chức năng của phần mềm đó
Cách thức thực hiện của phương pháp hướng cấu trúc là phương pháp thiết
kế từ trên xuống (top-down) Phương pháp này tiến hành phân rã bài toán thành
các bài toán nhỏ hơn, rồi tiếp tục phân rã các bài toán con cho đến khi nhận được các bài toán có thể cài đặt được bằng cách sử dụng các hàm của ngôn ngữ lập trình hướng cấu trúc
Phương pháp hướng cấu trúc có ưu điểm là tư duy phân tích thiết kế rõ ràng, chương trình sáng sủa dễ hiểu Tuy nhiên, phương pháp này có một số nhược điểm sau:
o Không hỗ trợ việc sử dụng lại Các chương trình hướng cấu trúc phụ thuộc chặt chẽ vào cấu trúc dữ liệu và bài toán cụ thể, do đó không thể dùng lại
một modul nào đó trong phần mềm này cho phần mềm mới với các yêu cầu về dữ liệu khác
o Tỏ ra không phù hợp cho phát triển các phần mềm lớn có sở sở dữ liệu phân tán Nếu hệ thống thông tin lớn, việc phân ra thành các bài toán con cũng như phân các bài toán con thành các modul và quản lý mối quan hệ giữa các modul đó
sẽ là không phải là dễ dàng và dễ gây ra các lỗi trong phân tích và thiết kế hệ
thống, cũng như khó kiểm thử và bảo trì
1.2.2.2 Phương pháp hướng đối tượng
Khác với phương pháp hướng cấu trúc chỉ tập trung hoặc vào dữ liệu hoặc vào hành động, phương pháp hướng đối tượng tập trung vào cả hai khía cạnh của
hệ thống là dữ liệu và hành động theo [TĐQ&NMS.PTTK]
Hướng đối tượng là thuật ngữ thông dụng hiện thời của ngành công nghiệp
phần mềm Các công ty đang nhanh chóng tìm cách áp dụng và tích hợp công nghệ mới này vào các ứng dụng của họ Thật sự là đa phần các ứng dụng hiện thời đều mang tính hướng đối tượng
Cách tiếp cận hướng đối tượng là một lối tư duy theo cách ánh xạ các thành phần trong bài toán vào các đối tượng ngoài đời thực Với cách tiếp cận này, một
hệ thống được chia tương ứng thành các thành phần nhỏ gọi là các đối tượng, mỗi
Trang 13đối tượng bao gồm đầy đủ cả dữ liệu và hành động liên quan đến đối tượng đó Các đối tượng trong một hệ thống tương đối độc lập với nhau và phần mềm sẽ được xây dựng bằng cách kết hợp các đối tượng đó lại với nhau thông qua các mối quan hệ và tương tác giữa chúng Các nguyên tắc cơ bản của phương pháp hướng đối tượng bao gồm :
Trừu tượng hóa (abstraction):
Trong phương pháp hướng đối tượng, các thực thể phần mềm được mô hình hóa dưới dạng các đối tượng Các đối tượng này được trừu tượng hóa ở mức cao hơn dựa trên thuộc tính và phương thức mô tả đối tượng để tạo thành các lớp Các
lớp cũng sẽ được trừu tượng hóa ở mức cao hơn nữa để tạo thành một sơ đồ các
lớp được kế thừa lẫn nhau
Trong phương pháp hướng đối tượng có thể tồn tại những lớp không có đối
tượng tương ứng, gọi là lớp trừu tượng Như vậy, nguyên tắc cơ bản để xây dựng
các khái niệm trong hướng đối tượng là sự trừu tượng hóa theo các mức độ khác nhau
Quá trình phân tích phạm vi bài toán thường được bắt đầu với các khái niệm then chốt (Key Abstraction)
Khái niệm then chốt rất quan trọng vì dựa vào nó chúng ta có thể tìm và chỉ
ra các lớp (class) :
Định nghĩa ranh giới của vấn đề
Nhấn mạnh đến các thực thể có liên quan đến thiết kế của hệ thống
Loại bỏ thực thể nằm ngoài phạm vi hệ thống
Các khái niệm then chốt thường sẽ trở thành các lớp trong mô hình phân tích Mỗi
lần tìm thấy một khái niệm then chốt mới, cần xem xét nó theo cách nhìn của vấn
đề, có thể hỏi các câu hỏi sau :
Những chức năng nào có thể được thực hiện đối với thực thể này ?
Điều gì khiến những thực thể loại này được tạo ra ?
Nếu không có câu trả lời thích hợp, cần phải suy nghĩ lại về thực thể đó Mỗi khái niệm then chốt mới cần phải được đặt tên cho thích hợp, miêu tả đúng chức năng của khái niệm
Một khái niệm then chốt tóm lại là một lớp hay đối tượng thuộc chuyên ngành của phạm vi bài toán Khi trình bày với người sử dụng, chúng có một ánh xạ 1-1 giữa với những thực thể liên quan tới người sử dụng ví như hóa đơn, séc, giấy
đề nghị rút tiền, sổ tiết kiệm, thẻ rút tiền tự động, nhân viên thu ngân, nhân viên nhà băng, các phòng ban,…
Khi phân tích phạm vi bài toán, cần chú ý rằng mức độ trừu tượng của các khái niệm then chốt là rất quan trọng, bởi mức độ trừu tượng quá cao hay quá thấp đều rất dễ gây nhầm lẫn
Mức trừu tượng quá cao dẫn tới những định nghĩa quá khái quát về một thực thể, tạo nên một cái nhìn vĩ mô và thường không nhắm vào một mục tiêu cụ thể Ví
dụ trong một nhà băng, ta không thể chọn khái niệm then chốt là "người", bởi nó
sẽ dẫn đến lời miêu tả: "Một người đến nhà băng để gửi tiền vào, và số tiền đó được một người khác tiếp nhận" Trong khi một yêu cầu quan trọng ở đây là phải
phân biệt giữa nhân viên với khách hàng vì chức năng của họ là khác hẳn nhau
Trang 14Tương tự như vậy, mức trừu tượng quá thấp cũng dễ gây hiểu lầm, bởi
những thông tin quá vụn vặt chưa thích hợp với thời điểm đang nghiên cứu
Các nguyên tắc cơ bản của phương pháp hướng đối tượng bao gồm:
Tính đóng gói (encapsulation) và ẩn dấu thông tin: Các đối tượng có
thể có những phương thức hoặc thuộc tính riêng (kiểu private) mà các đối tượng
khác không thể sử dụng được Dựa trên nguyên tắc ẩn giấu thông tin này, cài đặt
của các đối tượng sẽ hoàn toàn độc lập với các đối tượng khác, các lớp độc lập với nhau và cao hơn nữa là cài đặt của hệ thống hoàn toàn độc lập với người sử dụng cũng như các hệ thống khác sử dụng kết quả của nó
Tính modul hóa (modularity): Các bài toán sẽ được phân chia thành
những vấn đề nhỏ hơn, đơn giản và quản lý được
Tính phân cấp (hierarchy): Cấu trúc chung của một hệ thống hướng đối
tượng là dạng phân cấp theo các mức độ trừu tượng từ cao đến thấp
Ưu điểm nổi bật của phương pháp hướng đối tượng là đã giải quyết được các vấn đề nảy sinh với phương pháp hướng cấu trúc:
Hỗ trợ sử dụng lại mã nguồn : Chương trình lập trình theo phương pháp
hướng đối tượng thường được chia thành các gói là các nhóm của các lớp đối tượng khác nhau Các gói này hoạt động tương đối độc lập và hoàn toàn có thể sử dụng lại trong các hệ thống thông tin tương tự
Phù hợp với các hệ thống lớn: Phương pháp hướng đối tượng không chỉ
chia bài toán thành các bài toán nhỏ mà tập trung vào việc xác định các đối tượng,
dữ liệu và hành động gắn với đối tượng và mối quan hệ giữa các đối tượng Các đối tượng hoạt động độc lập và chỉ thực hiện hành động khi nhận được yêu cầu từ các đối tượng khác Vì vậy, phương pháp này hỗ trợ phân tích, thiết kế và quản lý một hệ thống lớn, có thể mô tả các hoạt động nghiệp vụ phức tạp bởi quá trình phân tích thiết kế không phụ thuộc vào số biến dữ liệu hay số lượng thao tác cần
thực hiện mà chỉ quan tâm đến các đối tượng tồn tại trong hệ thống đó
1.2.2.3 Các khái niệm cơ bản của hướng đối tượng
Một số khái niệm cơ bản trong hướng đối tượng bao gồm:
Đối tƣợng (object): Một đối tượng biểu diễn một thực thể vật lý, một
thực thể khái niệm hoặc một thực thể phần mềm Có thể định nghĩa một đối tượng
là một khái niệm, sự trừu tượng hoặc một vật với giới hạn rõ ràng và có ý nghĩa với một ứng dụng cụ thể
Lớp (Class): Là mô tả của một nhóm đối tượng có chung các thuộc tính,
hành vi và các mối quan hệ Như vậy, một đối tượng là thể hiện của một lớp và
một lớp là một định nghĩa trừu tượng của đối tượng
Thành phần (component): Là một phần của hệ thống hoạt động độc lập
và giữ một chức năng nhất định trong hệ thống
Gói (package): Là một cách tổ chức các thành phần, phần tử trong hệ
thống thành các nhóm Nhiều gói có thể được kết hợp với nhau để trở thành một hệ thống con (subsystem)
Trang 15 Kế thừa: Trong phương pháp hướng đối tượng, một lớp có thể có sử
dụng lại các thuộc tính và phương thức của một hoặc nhiều lớp khác Kiểu quan hệ này gọi là quan hệ kế thừa, được xây dựng dựa trên mối quan hệ kế thừa trong bài toán thực tế Ví dụ, giả sử ta có lớp Người gồm các thuộc tính : tên, ngày sinh, quê quán, giới tính ; Lớp Nhân Viên có quan hệ kế thừa từ lớp Người sẽ có tất cả các
thuộc tính trên và bổ sung thêm các thuộc tính mới gồm : chức vụ, lương
Vòng đời phát triển phần mềm hướng đối tượng cũng có các pha tương tự như các vòng đời phát triển phần mềm nói chung Các pha cơ bản đặc trưng trong phát triển phần mềm hướng đối tượng bao gồm:
Phân tích hướng đối tượng (Object Oriented Analysis - OOA): xây
dựng một mô hình chính xác để mô tả hệ thống cần xây dựng là gì Thành phần
của mô hình này là các đối tượng gắn với hệ thống thực
Là giai đoạn phát triển một mô hình chính xác và súc tích của vấn đề, có thành phần là các đối tượng và khái niệm đời thực, dễ hiểu đối với người sử dụng
Trong giai đoạn OOA, vấn đề được trình bày bằng các thuật ngữ tương ứng với các đối tượng có thực Thêm vào đó, hệ thống cần phải được định nghĩa sao cho người không chuyên Tin học có thể dễ dàng hiểu được
Dựa trên một vấn đề có sẵn, nhà phân tích cần ánh xạ các đối tượng hay thực thể có thực vào thiết kế để tạo ra được bản thiết kế gần cận với tình huống thực
Mô hình thiết kế sẽ chứa các thực thể trong một vấn đề có thực và giữ nguyên các mẫu hình về cấu trúc, quan hệ cũng như hành vi của chúng Nói một cách khác, sử dụng phương pháp hướng đối tượng chúng ta có thể mô hình hóa các thực thể thuộc một vấn đề có thực mà vẫn giữ được cấu trúc, quan hệ cũng như hành vi của chúng
Kiểu phân tích bằng kiểu ánh xạ "đời thực” vào máy tính như thế thật sự là
ưu điểm lớn của phương pháp hướng đối tượng Thế nhưng cũng có một yếu điểm
là đôi khi phân tích viên cũng như nhóm phát triển có thể không nhìn thấy tính tổng thể của dự án tin học hóa sẽ phát triển trong tương lai Do vậy kết quả của toàn bộ dự án không như mong đợi của cả các bên Điều này một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới sự thất bại của một dự án tin học hóa
Thiết kế hướng đối tượng (Object Oriented Design - OOD): Là giai
đoạn tổ chức chương trình thành các tập hợp đối tượng cộng tác, mỗi đối tượng trong đó là thực thể của một lớp Kết quả của pha thiết kế cho biết hệ thống sẽ được xây dựng như thế nào qua các bản thiết kế kiến trúc và thiết kế chi tiết
Mục đích của giai đoạn OOD là tạo thiết kế dựa trên kết quả của giai đoạn OOA, dựa trên những quy định phi chức năng, những yêu cầu về môi trường, những yêu cầu về khả năng thực thi, OOD tập trung vào việc cải thiện kết quả của OOA, tối ưu hóa giải pháp đã được cung cấp trong khi vẫn đảm bảo thoả mãn
tất cả các yêu cầu đã được xác lập
Trong giai đoạn OOD, nhà thiết kế định nghĩa các chức năng, thủ tục
(operations), thu ộc tính (attributes) cũng như mối quan hệ của một hay nhiều lớp (class) và quyết định chúng cần phải được điều chỉnh sao cho phù hợp với môi trường phát triển Đây cũng là giai đoạn để thiết kế ngân hàng dữ liệu và áp dụng các kỹ thuật tiêu chuẩn hóa
Trang 16Về cuối giai đoạn OOD, nhà thiết kế đưa ra một loạt các biểu đồ (diagram)
khác nhau Các biểu đồ này có thể được chia thành hai nhóm chính là tĩnh và động
Các biểu đồ tĩnh biểu thị các lớp và đối tượng, trong khi biểu đồ động biểu thị tương tác giữa các lớp và phương thức hoạt động chính xác của chúng Các lớp đó sau này có thể được nhóm thành các gói (Packages) tức là các đơn vị thành phần
nhỏ hơn của ứng dụng
Lập trình hướng đối tượng (Object Oriented Programming - OOP):
Thực hiện bản thiết kế hướng đối tượng bằng cách sử dụng các ngôn ngữ lập trình
hướng đối tượng (C++, Java, …) Kết quả chung cuộc của giai đoạn này là một
loạt các code chạy được, nó chỉ được đưa vào sử dụng sau khi đã trải qua nhiều vòng quay của nhiều bước thử nghiệm khác nhau Tuy nhiên trên thực tế các ngôn ngữ lập trình hướng đối tượng như đã nêu đều được nhúng một hệ quản trị cơ sở
dữ liệu (HQTCSDL) nào đó Hiện nay có các loại hệ quản trị cơ sở dữ liệu phổ dụng:
Loại phân cấp như hệ IMS của IBM
Loại mạng IDMS của Cullinet Software
Loại tập tin đảo như ADABAS của Software AG
Loại quan hệ như như ORACLE của Oracle, DB2 của IBM, ACCESS của Microsoft Access
Loại đối tượng Loại này là một tiếp cận khá mới trong thiết kế HQTCSDL và việc sử dụng hệ loại này sớm trở nên phổ biến
Hiện tại, loại HQTCSDL chính được sử dụng trong công nghệ là loại HQTCSDL quan hệ (RDBMS) Loại này đã chiếm lĩnh trong công nghệ trên 10-15 năm cuối cùng khi đánh bật loại HQTCSDL phân cấp và gần đây là HQTCSDL mạng
1.3 CÁC GIAI ĐOẠN TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG HTTT
Việc phát triển các hệ thống thông tin không chỉ đơn giản là lập trình mà luôn được xem như một tiến trình hoàn chỉnh
Tiến trình phần mềm là phương cách sản xuất ra phần mềm với các thành phần chủ yếu bao gồm: Mô hình vòng đời phát triển phần mềm, các công cụ hỗ trợ cho phát triển phần mềm và những người trong nhóm phát triển phần mềm
Như vậy, tiến trình phát triển phần mềm nói chung là sự kết hợp cả hai khía
cạnh kỹ thuật (vòng đời phát triển, phương pháp phát triển, các công cụ và ngôn ngữ sử dụng, …) và khía cạnh quản lý (quản lý dự án phần mềm) Xin lưu ý về
cách dùng ngôn ngữ của một số tài liệu thì các giai đoạn trong quá trình xây dựng
hệ thống thông tin cũng tương ứng với các vòng đời các bước phát triển một sản
phẩm phần mềm Các giai đoạn trong quá trình xây dựng hệ thống thông tin gồm các bước cơ bản sau:
1.3.1 Lập kế hoạch, xác định yêu cầu
Đây là giai đoạn đầu tiên nhằm nghiên cứu thực trạng của tổ chức (nhà đầu tư) có nhu cầu tin học hóa một quá trình nào đó được nhà phát triển gọi là dự án tin học hóa (bản chất là xây dựng một phần mềm phục vụ mục đích chuyên dụng của một tổ chức đó, không loại trừ phần mềm này đã được thương mại hóa và có bán trên thị trường nhưng có một số điểm không phù hợp với yêu cầu cụ thể của đơn vị đó) Nếu là dự án tin học hóa lớn người ta cũng có thể tổ chức đấu thầu như việc
Trang 17đấu thầu trong xây dựng vậy Điều đặc biệt ở chỗ trước khi bỏ thầu nhà phát triển cũng phải khảo sát hiện trạng thực tế sơ bộ, còn nếu không thì khôn ngoan hơn cả
là có lẽ chỉ gia công một số công đoạn nào đó trong dự án tin học đó
Trong giai đoạn này nhà phát triển phải nhất thiết xác định được các yêu cầu
cụ thể của nhà đầu tư trước khi tiến hành nghiên cứu và phát triển dự án
Nhà phát triển phải có kế hoạch và thống nhất với nhà đầu tư thời gian khảo sát thực tiễn tại đơn vị đó bao gồm:
Thời gian và địa điểm sẽ khảo sát
Số lượng các thành viên, cơ sở vật chất có liên quan, ảnh hưởng đến việc triển khai dự án đó
Khám phá các khái niệm liên quan đến việc phát triển phần mềm
Trình độ và tính sẵn sàng cho việc tin học hóa của thành viên tại đơn vị
1.3.2.1 Phân tích hướng chức năng theo [GTPTTK.ĐHQG]
Đây là công việc trọng tâm trong cả quá trình xây dựng hệ thống thông tin Bản thân giai đoạn này cũng có khởi điểm nằm trong các giai đoạn khác Đặc biệt
là nằm quá trình nghiên cứu hiện trạng của giai đoạn lập kế hoạch trước nhưng ở
mức độ chi tiết hơn
Xây dựng một mô hình chính xác để mô tả hệ thống cần xây dựng là gì Thành phần của mô hình này là các đối tượng gắn với hệ thống thực
Mô tả chức năng của sản phẩm, các input của sản phẩm và các output được yêu cầu; Khám phá các khái niệm trong miền quan tâm của sản phẩm và bước đầu đưa ra giải pháp xây dựng hệ thống Hay nói cách khác chính là xác định
phạm vi của dự án cần tin học hóa
Nghiên cứu hiện trạng: Như đã nói ở phần trên quá trình này cụ thể hóa
các tình trạng hiện tại của hệ thống cũ, cũng như xem xét nhiệm vụ, vai trò của
từng đơn vị và của từng thành viên có liên quan, mối quan hệ thông tin, luồng thông tin, quá trình xử lý thông tin để hoạt động trong tổ chức có nhu cầu tin học hóa
Tần xuất, thời hạn, hiệu xuất của các thông tin đó trong hệ thống cũ Các
khả năng và giải pháp cho hệ thống tin học sẽ phát triển trong tương lai
Xây dựng mô hình hệ thống: Căn cứ và kết quả nghiên cứu hiện trạng từ
đó làm rõ mô hình thông tin và mô hình hoạt động của hệ thống Đây là giai đoạn cực kỳ quan trọng quyết định sự thành bại của dự án tin học hóa bởi vì:
Trang 18 Phụ thuộc hoàn toàn vào tài năng và kinh nghiệm của các phân tích viên
Tính thống nhất, hiểu biết chuyên môn giữa các phân tích viên và các thành viên các được tìm hiểu tại các đơn vị thuộc nhà đầu tư
Sự hợp tác của các thành viên tham gia không loại trừ các lý do tế nhị
Khả năng tài chính của nhà đầu tư khi phải thay đổi
Trình độ ứng dụng tin học cũng như trạng thái sẵn sàng thay đổi của các thành viên trong đơn vị sẽ sử dụng phần mềm này trong tương lai Vì hầu hết các
phần mềm được xây dựng đều có thể phải thay đổi một phần nhỏ về quy trình hoạt động của tổ chức đó cho dù không muốn điều đó xảy ra
Lập hồ sơ nhiệm vụ: Lựa chọn các giải pháp và định hình các chức năng
có thể mà hệ thống cần đạt được; Định hình thô giao diện và các mô dul cơ bản
nhất, có thể đây là một nguyên mẫu; Chuẩn các văn bản thỏa thuận các bên (Phân tích viên, Nhà đầu tư, người sẽ sử dụng)
1.3.2.2 Phân tích hướng đối tượng theo UML- Ngôn Ngữ Mô Hình Hoá Thống Nhất (Unifield Modeling Language) [TĐQ&NMS.PTTK]
Giai đoạn phân tích quan tâm đến quá trình trừu tượng hóa đầu tiên (các lớp
và các đối tượng) cũng như cơ chế hiện hữu trong phạm vi vấn đề Sau khi nhà
phân tích đã nhận biết được các lớp thành phần của mô hình cũng như mối quan hệ giữa chúng với nhau, các lớp cùng các mối quan hệ đó sẽ được miêu tả bằng công
cụ biểu đồ lớp (class diagram) của UML Sự cộng tác giữa các lớp nhằm thực hiện
các Use case cũng sẽ được miêu tả nhờ vào các mô hình động (dynamic models)
của UML Trong giai đoạn phân tích, chỉ duy nhất các lớp có tồn tại trong phạm vi vấn đề (các khái niệm đời thực) là được mô hình hóa Các lớp kỹ thuật định nghĩa chi tiết cũng như giải pháp trong hệ thống phần mềm, ví dụ như các lớp cho giao diện người dùng, cho ngân hàng dữ liệu, cho sự giao tiếp, trùng hợp, v.v , chưa phải là mối quan tâm của giai đoạn này
Xây dựng Biểu đồ use case (Use Case Diagram): Dựa trên tập yêu cầu
ban đầu, người phân tích tiến hành xác định các tác nhân, use case và các quan hệ giữa các use case để mô tả lại các chức năng của hệ thống Một thành phần quan trọng trong biểu đồ use case là các kịch bản mô tả hoạt động của hệ thống trong mỗi use case cụ thể
Một biểu đồ Use case chỉ ra một số lượng các tác nhân ngoại cảnh và mối
liên kết của chúng đối với Use case mà hệ thống cung cấp - Hình 1.1 Một Use
case là một lời miêu tả của một chức năng mà hệ thống cung cấp Lời miêu tả Use case thường là một văn bản tài liệu, nhưng kèm theo đó cũng có thể là một biểu đồ hoạt động Các Use case được miêu tả duy nhất theo hướng nhìn từ ngoài vào của các tác nhân (hành vi của hệ thống theo như sự mong đợi của người sử dụng),
không miêu tả chức năng được cung cấp sẽ hoạt động nội bộ bên trong hệ thống ra sao Các Use case định nghĩa các yêu cầu về mặt chức năng đối với hệ thống
Trang 19Hình 1.1: Biểu đồ use case của một công ty bảo hiểm
Xây dựng Biểu đồ lớp (Class Diagram): Xác định tên các lớp, các thuộc
tính của lớp, một số phương thức và mối quan hệ cơ bản trong sơ đồ lớp
Một biểu đồ lớp chỉ ra cấu trúc tĩnh của các lớp trong hệ thống - Hình 1.2
Các lớp là đại diện cho các “vật” được xử lý trong hệ thống Các lớp có thể quan
hệ với nhau trong nhiều dạng thức: liên kết (associated - được nối kết với nhau), phụ thuộc (dependent - một lớp này phụ thuộc vào lớp khác), chuyên biệt hóa (specialized - một lớp này là một kết quả chuyên biệt hóa của lớp khác), hay đóng gói (packaged - hợp với nhau thành một đơn vị) Tất cả các mối quan hệ đó đều
được thể hiện trong biểu đồ lớp, đi kèm với cấu trúc bên trong của các lớp theo khái niệm thuộc tính (attribute) và thủ tục (operation) Biểu đồ được coi là biểu đồ tĩnh theo phương diện cấu trúc được miêu tả ở đây có hiệu lực tại bất kỳ thời điểm nào trong toàn bộ vòng đời hệ thống
Một hệ thống thường sẽ có một loạt các biểu đồ lớp - chẳng phải bao giờ tất
cả các biểu đồ lớp này cũng được nhập vào một biểu đồ lớp tổng thể duy nhất và một lớp có thể tham gia vào nhiều biểu đồ lớp
Hình 1.2 : Biểu đồ lớp cho một đăng nhập chương trình
Trang 20 Biểu đồ đối tượng (Object Diagram): Một biểu đồ đối tượng là một phiên
bản của biểu đồ lớp và thường cũng sử dụng các ký hiệu như biểu đồ lớp Sự khác biệt giữa hai loại biểu đồ này nằm ở chỗ biểu đồ đối tượng chỉ ra một
loạt các đối tượng thực thể của lớp, thay vì các lớp Một biểu đồ đối tượng vì
vậy là một ví dụ của biểu đồ lớp, chỉ ra một bức tranh thực tế có thể xảy ra khi hệ thống thực thi: bức tranh mà hệ thống có thể có tại một thời điểm nào
đó Biểu đồ đối tượng sử dụng chung các ký hiệu của biểu đồ lớp, chỉ trừ hai ngoại lệ: đối tượng được viết với tên được gạch dưới và tất cả các thực thể trong một mối quan hệ đều được chỉ ra - Hình 1.2 Biểu đồ đối tượng không
quan trọng bằng biểu đồ lớp, chúng có thể được sử dụng để ví dụ hóa một biểu đồ lớp phức tạp, chỉ ra với những thực thể cụ thể và những mối quan hệ như thế thì bức tranh toàn cảnh sẽ ra sao Một biểu đồ đối tượng thường thường được sử dụng làm một thành phần của một biểu đồ cộng tác (collaboration), chỉ ra lối ứng xử động giữa một loạt các đối tượng
Xây dựng biểu đồ trạng thái (State Diagram): Mô tả các trạng thái và
chuyển tiếp trạng thái trong hoạt động của một đối tượng thuộc một lớp nào đó
Một biểu đồ trạng thái thường là một sự bổ sung cho lời miêu tả một lớp Nó chỉ ra tất cả các trạng thái mà đối tượng của lớp này có thể có, và những sự kiện
(event) nào sẽ gây ra sự thay đổi trạng thái - Hình 1.3 Một sự kiện có thể xảy ra
khi một đối tượng tự gửi thông điệp đến cho nó - ví dụ như để thông báo rằng một khoảng thời gian được xác định đã qua đi – hay là một số điều kiện nào đó đã được thỏa mãn Một sự thay đổi trạng thái được gọi là một sự chuyển đổi trạng thái (State Transition) Một chuyển đổi trạng thái cũng có thể có một hành động liên quan, xác định điều gì phải được thực hiện khi sự chuyển đổi trạng thái này diễn
ra
Biểu đồ trạng thái không được vẽ cho tất cả các lớp, mà chỉ riêng cho những lớp có một số lượng các trạng thái được định nghĩa rõ ràng và hành vi của lớp bị ảnh hưởng và thay đổi qua các trạng thái khác nhau Biểu đồ trạng thái cũng có thể được vẽ cho hệ thống tổng thể
Hình 1.3: Biểu đồ trạng thái trong xây dựng hệ thống quản lý thư viện
Trang 21 Các biểu đồ cộng tác (Collaboration Diagram): Biểu diễn mối liên hệ
giữa các đối tượng trong hệ thống và giữa các đối tượng với các tác nhân bên ngoài Có hai loại biểu đồ tương tác:
Biểu đồ trình tự: Biểu diễn mối quan hệ giữa các đối tượng và giữa các
đối tượng và tác nhân theo thứ tự thời gian
Biểu đồ cộng tác: Biểu diễn mối quan hệ giữa các đối tượng và giữa các
đối tượng và tác nhân nhưng nhấn mạnh đến vai trò của các đối tượng trong tương tác
Biểu đồ hoạt động: Biểu diễn các hoạt động và sự đồng bộ, chuyển tiếp
các hoạt động, thường được sử dụng để biểu diễn các phương thức phức tạp của các lớp
Biểu đồ thành phần: Định nghĩa các thành phần của hệ thống và mối
liên hệ giữa các thành phần đó
Biểu đồ triển khai: Mô tả hệ thống sẽ được triển khai như thế nào, thành
phần nào được cài đặt ở đâu, các liên kết vật lý hoặc giao thức truyền thông nào được sử dụng
1.3.3 Thiết kế
1.3.3.1 Thiết kế hướng chức năng theo [GTPTTK.ĐHQG]
Xác định cụ thể phần mềm sẽ được xây dựng như thế nào Thiết kế bao gồm hai mức là thiết kế kiến trúc và thiết kế chi tiết.Việc thiết kế không hẳn là dùng
giải pháp tin học để mô phỏng lại hệ thống như vốn dĩ đang có hoặc bắt chước hệ thống thông tin tin học hóa cũ mà phải loại bỏ vấn đề đã lạc hậu và tính kế thừa ưu điểm và đồng thời có tính mềm dẻo cho các thay đổi trong tương lai gần
Công việc thiết kế đòi hỏi sự sáng tạo, bề dày kinh nghiệm, không thể học qua sách vở Bên cạnh đó thiết kế có phương pháp nghiêm ngặt vậy đối với một
học sinh, sinh viên ngành công nghệ thông tin mới ra trường cần có thời gian, môi trường nhất định Để có phương pháp thiết kế tốt độc giả nên đọc các tài liệu, giáo trình bộ môn công nghệ phần mềm
Trên thực tế giai đoạn phân tích và giai đoạn thiết kế không hoàn toàn tách
rời, chúng đan xen theo chu trình vòng xoắn ốc, nói tóm lại thiết kế gồm:
Thiết kế dữ liệu: Định ra đối tượng và cấu trúc dữ liệu tương ứng cho đối tượng đó
Thiết kế các chức năng hoặc các tập hợp đối tượng cộng tác, mỗi đối tượng trong đó là thực thể của một lớp
Thiết giao diện: Chi tiết hóa hình thức giao tiếp người và máy
Thiết kế an toàn, bảo mật của hệ thống, hệ thống trợ giúp
Thiết kế phần cứng
1.3.3.2 Thiết kế hướng đối tượng [TĐQ&NMS.PTTK]
Trong giai đoạn này, kết quả của giai đoạn phân tích sẽ được mở rộng thành một giải pháp kỹ thuật Các lớp mới sẽ được bổ sung để tạo thành một hạ tầng cơ
sở kỹ thuật: Giao diện người dùng, các chức năng để lưu trữ các đối tượng trong ngân hàng dữ liệu, giao tiếp với các hệ thống khác, giao diện với các thiết bị ngoại
Trang 22vi và các máy móc khác trong hệ thống, Các lớp thuộc phạm vi vấn đề có từ giai đoạn phân tích sẽ được "nhúng" vào hạ tầng cơ sở kỹ thuật này, tạo ra khả năng thay đổi trong cả hai phương diện: Phạm vi vấn đề và hạ tầng cơ sở Giai đoạn thiết kế sẽ đưa ra kết quả là bản đặc tả chi tiết cho giai đoạn xây dựng hệ
thống
Xây dựng các biểu đồ tương tác (gồm biểu đồ cộng tác và biểu đồ tuần
tự): Mô tả chi tiết hoạt động của các use case dựa trên các scenario đã có và các
lớp đã xác định trong pha phân tích
Xây dựng biểu đồ lớp chi tiết: tiếp tục hoàn thiện biểu đồ lớp bao gồm
bổ sung các lớp còn thiếu, dựa trên biểu đồ trạng thái để bổ sung các thuộc tính,
dựa trên biểu đồ tương tác để xác định các phương thức và mối quan hệ giữa các
lớp
Xây dựng biểu đồ hoạt động: Mô tả hoạt động của các phương thức
phức tạp trong mỗi lớp hoặc các hoạt động hệ thống có sự liên quan của nhiều lớp
Biểu đồ hoạt động là cơ sở để cài đặt các phương thức trong các lớp
Xây dựng biểu đồ thành phần: Xác định các gói, các thành phần và tổ
chức phần mềm theo các thành phần đó
Xây dựng biểu đồ triển khai hệ thống: Xác định các thành phần và các
thiết bị cần thiết để triển khai hệ thống, các giao thức và dịch vụ hỗ trợ
1.3.4 Thi công
1.3.4.1 Thi công hướng chức năng theo [GTPTTK.ĐHQG]
Xây dựng coding để mã hóa chương trình; Cài đặt chi tiết và tích hợp hệ
thống phần mềm dựa trên kết quả của thiết kế Hầu hết các công cụ phân tích CASE (Computer Aided Software Engineering) đều có thể chuyển mã (C, v.v …) cho khung chính của phần mềm Tuy nhiên lập trình viên vẫn phải hiệu chỉnh các đối tượng Ngoài ra tùy theo kiểu hệ thống phần mềm mà lập trình viên mà có thể
lựa chọn một công cụ thích hợp phát triển để xây dựng mã nguồn Ví dụ như
“Chương trình tuyển sinh của một trường học trung cấp chuyên nghiệp” có thể dùng hệ quản trị Foxpro để xây dựng cũng được
Nhiệm vụ quan trọng trong giai đoạn này là xây dựng tài liệu: Tài liệu kỹ thuật và tài liệu hướng dẫn sử dụng
1.3.4.2 Thi công s ử dụng UML [TĐQ&NMS.PTTK]
Mô hình thiết kế (gồm chủ yếu các biểu đồ) được chuyển thành code Programmer sử dụng các UML diagrams trong giai đoạn thiết kế để hiểu vấn đề và tạo code Một công cụ phát triển được bàn đến trong tài liệu Rational Rose sẽ chia
xẻ ở chương 4 theo đó việc sinh mã không phải là vấn đề
Trong giai đoạn xây dựng (giai đoạn lập trình), các lớp của giai đoạn thiết kế sẽ được biến thành những dòng code cụ thể trong một ngôn ngữ lập trình hướng đối
tượng cụ thể (không nên dùng một ngôn ngữ lập trình hướng chức năng!) Phụ
thuộc vào khả năng của ngôn ngữ được sử dụng, đây có thể là một công việc khó khăn hay dễ dàng Khi tạo ra các mô hình phân tích và thiết kế trong UML, tốt nhất nên cố gắng né tránh việc ngay lập tức biến đổi các mô hình này thành các dòng code Trong những giai đoạn trước, mô hình được sử dụng để dễ hiểu, dễ giao tiếp
và tạo nên cấu trúc của hệ thống; vì vậy, vội vàng đưa ra những kết luận về việc
Trang 23viết code có thể sẽ thành một trở ngại cho việc tạo ra các mô hình chính xác và đơn
giản Giai đoạn xây dựng là một giai đoạn riêng biệt, nơi các mô hình được chuyển thành code
Tất nhiên có một điểm chung của cả thi công theo hướng đối tượng và thi công theo hướng chức năng là viết tài liệu kỹ thuật và tài liệu hướng dẫn sử dụng
1.3.5 Thử nghiệm
1.3.5.1 Thử nghiệm hướng chức năng theo [GTPTTK.ĐHQG]
Thử nghiệm là quá trình tốn kém về thời gian và tiền bạc Nhưng cơ bản có các thử nghiệm chính:
Thử nghiệm an-pha: Thử nghiệm dành cho người dùng chuyên nghiệp trong
1.3.5.2 Thử nghiệm sử dụng UML [TĐQ&NMS.PTTK]
Tương tự như đã trình bày trong phần thử nghiệm hướng chức năng và bàn chi tiết trong chương 5, một hệ thống phần mềm thường được thử nghiệm qua nhiều giai đoạn và với nhiều nhóm thử nghiệm khác nhau Các nhóm sử dụng nhiều loại biểu đồ UML khác nhau làm nền tảng cho công việc của mình: Thử nghiệm đơn vị sử dụng biểu đồ lớp (class diagram) và đặc tả lớp, thử nghiệm tích hợp thường sử dụng biểu đồ thành phần (component diagram) và biểu đồ cộng tác
(collaboration diagram), và giai đoạn thử nghiệm hệ thống sử dụng biểu đồ Use case (use case diagram) để đảm bảo hệ thống có phương thức hoạt động đúng như
đã được định nghĩa từ ban đầu trong các biểu đồ này
Sử dụng các UML diagrams trong các giai đoạn trước Có 4 hình thức kiểm tra hệ thống:
Unit testing (class diagrams & class specifications): kiểm tra từng đơn
thể, được dùng để kiểm tra các lớp hay các nhóm đơn thể
Integration testing (integration diagrams & collaboration diagrams):
kiểm tra tích hợp là kiểm tra kết hợp các component với các lớp để xem chúng hoạt động với nhau có đúng không
System testing (use-case diagrams): kiểm tra xem hệ thống có đáp ứng
được chức năng mà người sử dụng yêu cầu hay không
Acceptance testing: Kiểm tra tính chấp nhận được của hệ thống,
thường được thực hiện bởi khách hàng, việc kiểm tra này thực hiện tương tự như
kiểm tra hệ thống
1.3.6 Bảo trì
Tiến hành sửa chữa phần mềm khi có các thay đổi Đây là giai đoạn không kém phần quan trọng, tiêu tốn nhiều thời gian và chi phí nhất trong tiến trình phát
Trang 24triển phần mềm Để thực hiện vấn đề này, đội ngũ bảo trì phải được cung cấp tài
liệu kỹ thuật đầy đủ từ giai đoạn thi công Đặc biệt phải xây dựng kênh thông tin
giữa người sử dụng và đội ngũ bảo trì, lập kế hoạch bảo trì thường xuyên định kỳ ngay sau khi đã cài đặt và đưa vào sử dụng
Cần phải nói thêm rằng có nhiều kiểu phân chia các giai đoạn phát triển hệ thống thông tin tin học hóa hay vòng đời của phần mềm nhưng hai mô hình đơn giản và được sử dụng rộng rãi hiện nay là mô hình thác nước và mô hình tạo nguyên mẫu (làm bản mẫu nhanh)
Giai đoạn bảo trì có liên quan mật thiết từ giai đoạn thiết kế, thi công vì quá trình này tài liệu kỹ thuật đã phải được lập một cách chi tiết Điều này thường bị bỏ qua đối với dự án nhỏ vì tương đối tốn kém thời gian và công sức của các nhà thiết
kế và thi công
Mô hình xoắn ốc: Là sự đệ quy mô hình mô hình thác nước tức là
trong mỗi giai đoạn lại thực hiện các lại tiến trình như mô hình thác nước Tiến trình này chỉ dừng lại khi bài toán đủ nhỏ để cài đặt thuật toán hay nói các khác là bài toán có thể giải được bằng một thuật giải được mô tả bằng ngôn ngữ lập trình nào đó
Mô hình thác nước: Sau khi đã được xác định yêu cầu của hệ thống
Giai đoạn phân tích sẽ được tiến hành để xây dựng tài liệu Sau khi tài liệu phân tích được khách hàng chấp nhận, nhóm phát triển sẽ tiến hành lập kế hoạch và lịch biểu cho các quá trình phát triển tiếp theo Sau đó, các thiết kế, cài đặt và tích hợp
sẽ lần lượt được tiến hành;
Mỗi giai đoạn này đều có phần kiểm tra để khi cần có thể quay lại sửa đổi tài liệu của pha trước đó Khi phần mềm đã được triển khai và chuyển sang giai đoạn bảo trì; Nếu có lỗi hoặc thay đổi xảy ra, nhóm thiết kế sẽ phải quay trở lại sửa đổi tài liệu cho một trong các giai đoạn trước đó và nếu cần có thể quay trở lại thay đổi một số yêu cầu ban đầu của hệ thống
Trang 25Vì các giai đoạn cứ nối tiếp nhau một cách liên tục như một thác nước nên
mô hình này được gọi là mô hình thác nước Tiến trình phần mềm theo mô hình
thác nước được biểu diễn như trong Hình 1.4 Mô hình thác nước có một số ưu
điểm như sau:
Có vòng lặp, cho phép trở về giai đoạn trước trong vòng đời phần mềm
để sữa chữa khi phát hiện lỗi hoặc khi có thay đổi
Hướng tài liệu: Tất cả các giai đoạn trong vòng đời phần mềm theo mô hình thác nước đều được viết tài liệu cẩn thận và được kiểm tra trước khi chuyển sang giai đoạn tiếp theo Do vậy, hệ thống sẽ dễ dàng bảo trì khi có những thay đổi
Tuy nhiên, mô hình thác nước cũng có nhược điểm là sản phẩm phần mềm cuối cùng có thể không thỏa mãn nhu cầu thực sự của khách hàng Lý do là khách hàng chỉ được trao đổi một lần duy nhất và chưa được hình dung sản phẩm nên rất
có thể các giai đoạn tiếp theo sẽ không thực hiện đúng những gì khách hàng cần Tất nhiên nguy cơ thất bại của một dự án là tương đối lớn nếu các nguyên nhân của
sự rủi do không được đoán định, lường trước và có kế hoạch dự phòng Để hiểu biết kỹ vấn đề này độc giả có thể tìm hiểu kiến thức trong các tài liệu, giáo trình quản lý dự án phần mềm
Hình 1.4: Tiến trình phần mềm theo mô hình thác nước
Trang 26Mô hình tạo nguyên mẫu
Trong mô hình tạo nguyên mẫu, bước đầu tiên là nhóm phát triển sẽ xây dựng một bản mẫu và giao cho khách hàng và người sử dụng hệ thống dùng thử Khi khách hàng đồng ý chấp nhận bản mẫu thì nhóm phát triển mới tiếp tục tiến hành các pha khác của vòng đời phần mềm Trong các pha tiếp theo, do đã có bản mẫu nên các pha sẽ được tiến hành liên tục và không có bước quay về pha trước
đó Chỉ khi hệ thống đã triển khai và chuyển sang pha bảo trì, nếu có thay đổi hay phát hiện lỗi thì nhóm phát triển mới quay lại một trong những pha trước đó, nhưng không quay lại pha làm bản mẫu vì bản mẫu đã được chấp nhận Ưu điểm chính của mô hình này là “nhanh” và hơn nữa do sản phẩm phần mềm được tạo ra
từ mô hình làm bản mẫu nên có khả năng cao là đảm bảo thỏa mãn yêu cầu thực sự của khách hàng
Tuy nhiên, mô hình làm bản mẫu nhanh cũng có nhược điểm do các pha được tiến hành liên tục mà không được viết tài liệu Mô hình làm bản mẫu nhanh
được biểu diễn như trong Hình 1.5
Hình 1.5: Phát triển phần mềm theo mô hình tạo nguyên mẫu
Trang 271.4 CÁC MỨC TRỪU TƯỢNG HÓA
Đây là một trong các phương pháp tiếp cận nhằm chỉ ra mức bất biến của hệ thống thông tin sẽ phát triển Phương pháp này đáp ứng các nhu cầu phát triển cho một hệ thống thông tin nói chung và hệ thống thông tin tự động hóa nói riêng, trong khi một số phương pháp khác khó có thể thỏa mãn các nhu cầu phát triển đó đồng thời cung cấp cái nhìn toàn diện trong quá trình phát triển dự án tin học, nhưng phương pháp này bản thân cũng ở mức trừu tượng cao do đó để nắm chắc phương pháp này đòi hỏi học sinh, sinh viên phải đầu tư thời gian học và khổ luyện
Các nhu cầu mà phân tích viên phải lưu ý:
Mô hình và ngôn ngữ đặc tả đơn giản, đơn nghĩa để xác định yêu cầu trong quá trình phân tích
Mô hình và ngôn ngữ để đối thoại với người không chuyên tin học khi nghiên cứu hiện trạng và tìm hiểu yêu cầu Ví dụ: Quan niệm CSDL giữa người chuyên tin học và không chuyên là hoàn khác nhau đôi khi còn trái ngược
Bao quát mô hình ở tất cả các mức độ trừu tượng hóa khác nhau: Sau khi
ta có mô hình thì có sử dụng một công cụ phân tích nào đó để hỗ trợ Do đó mô hình cũng cần phải dễ chuyển tải từ lời miêu tả ở cấp trừu tượng hóa cao nhất của
hệ thống (tức là ở dạng một lượng các gói khác nhau) đi xuống cho tới cấp của
những dòng code thật sự Sau đó, để truy xuất những dòng lệnh code cho một thủ tục cụ thể nào đó trong một lớp nào đó, bạn có thể chỉ cần nhấp chuột vào tên của thủ tục đó trong một biểu đồ
Tóm lại: Dù tiếp phương pháp tiếp cận nào thì cũng cần tạo ra mức bất biến
của hệ thống thông tin sẽ phát triển Để khắc phục yếu điểm của phân tích viên cũng như nhóm phát triển có thể không nhìn thấy tính tổng thể của dự án tin học hóa sẽ phát triển trong tương lai UML hỗ trợ cách tiếp cận theo hướng nhìn từ nhiều phía theo bảng sau - Bảng 1.1:
Khía cạnh chính Hướng nhìn Các biểu đồ Các khái niệm chính
Use case, tác nhân, liên
hệ, extend, include … Hướng nhìn cài đặt
(implementation view)
Biểu đồ thành phần Thành phquan hệ phụ thuộc … ần, giao diện, Hướng nhìn triển
khai (deployment view)
Biểu đồ triển khai
Node, thành phần, quan
hệ phụ thuộc, vị trí
(location) Khía cạnh động
Hướng nhìn máy trạng thái (state
machine view)
Biểu đồ trạng thái Trạng thái, sự kiện, chuyển tiếp, hành động Hướng nhìn hoạt Biểu đồ Trạng thái, sự kiện,
Trang 28động (activity view)
động chuyển tiếp, kết hợp,
đồng bộ … Hướng nhìn tương
tác (interaction view)
năng mở rộng Tất cả Tất cả Các ràng buộc, stereotype, …
Bảng 1.1 - Các hướng nhìn trong UML
1.4.1 Mức quan niệm
Mức quan niệm chính là mô tả mục đích của hệ thống và các rằng phải tôn trọng trong mối quan hệ với mục đích của hệ thống Việc mô tả phải độc lập với công cụ phát triển sau này cao hơn thế là độc lập với mọi giải pháp sẽ được sử dụng trong hệ thống tin sẽ được phát triển
Mức quan niệm cần mô tả: Đối tượng được sử dụng trong hệ thống; Các hiện tượng, các mối liên hệ thông tin, môi trường và điều kiện để thực hiện mối
liên hệ thông tin đó Cụ thể là các quy tắc biến đổi, xử lý thông tin trong hệ thống
Định ra các mối liên hệ trong, mối liên hệ trong và liên hệ ngoài chẳng hạn như công đoạn rút tiền tại ngân hàng và rút tiền tại trạm rút tiền ATM cũng của ngân hàng đó
Xét về quy tắc theo [GTPTTK.ĐHQG] gồm có ba loại quy tắc cơ bản:
Quy tắc quản lý là các quy tắc quy định mục tiêu và ràng buộc của hệ
Theo cá nhân tôi Quy tắc quản lý nên chia tách thành quy tắc quản lý trong
(nội bộ) và quy tắc quản lý ngoài ví dụ như: Chương trình tuyển sinh hàng năm
của các trường trung cấp, cao đẳng và đại học đều phải ngoài việc tuân thủ quy định chung của Bộ GD&ĐT còn phải giải quyết các bài toán đặc thù tại địa phương như chia miền theo quy định của Tỉnh
Các quy tắc có thể mô tả bằng lời nói, văn bản, công thức hoặc bảng chuyển trạng thái
1.4.2 Mức tổ chức
Thông tin được mô tả theo quan hệ lô gíc của chúng hay còn gọi là mức lô gíc Ở mức này bao gồm kiểu sẽ khai thác, các ràng buộc về thời gian trong hệ thống, trả lời cho câu hỏi câu hỏi hệ thống làm việc như thế nào?
Mức tổ chức chỉ bất biến với giải pháp được lựa chọn bởi vì chắc hẳn độc giả sẽ đồng ý với tác giả về giải pháp để giải quyết vấn đề có thể có hơn một nhưng chắc chắn chỉ có một giải pháp được lựa chọn theo phương châm “Có nhiều
Trang 29con đường để đi tới đích, nhưng chỉ đi đến được đích bằng một con đường” Mức
tổ chức liên quan chủ yếu đến quy tắc tổ chức
1.4.3 Mức tác nghiệp
Mức vật lý hay còn gọi là mức tác nghiệp đây là chính là phần mềm, và các phương tiện kỹ thuật phục vụ phần mềm đó mà đôi khi đơn giản hóa gọi là phần mềm
Quy tắc kỹ thuật liên quan đến mức vật lý Nó bao gồm các mô tả các điều kiện kỹ thuật để tạo môi trường thực thi Mặt khác mức vật lý chính lại là sự cụ thể hóa của mức tổ chức Do đó mức vật lý chính là hình ảnh của mô hình tổ chức được thể hiện trên trang bị kỹ thuật, trên cấu trúc chương trình, trên phương thức truy cập
Trang 30CHƯƠNG 2:
NGHIÊN CỨU & XỬ LÝ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương này trình bày các nội dung trọng tâm:
- Các khái niệm có liên quan
- Các phương pháp để nghiên cứu và xử lý kết quả nghiên cứu
- Các mặt mạnh, yếu của các phương nghiên cứu
- Các xu hướng hiện nay Một vài kinh nghiệm khi thực hiện dự án tin học
mà tiếp cận theo các phương pháp này
2.1 NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG
Mục đích của việc nghiên cứu hiện trạng và xử lý kết quả nghiên cứu là xác định thực trạng hệ thống thông tin hiện đang sử dụng của đơn vị có nhu cầu tin học hóa hệ thống bao gồm cả hệ thống chưa được tin học hóa và hệ thống đã được tin học hóa nhưng có những thay đổi để phù hợp mục tiêu chiến lược của tổ chức đó Quá trình này phải đáp ứng các yêu cầu sau:
Hệ thống sẽ được tin học hóa phải là công cụ hỗ trợ ra quyết định
Hệ thống sẽ được tin học hóa phải giảm thời gian và áp lực công việc
Hệ thống sẽ được tin học hóa phải dễ sử dụng, độ tin cậy cao
Nêu ra những hạn chế bất cập của hệ thống hiện tại cần thay đổi
Quy mô tin học hóa phải phù hợp: Tài chính, mô hình tổ chức, trình độ quản lý của đơn vị đó
Như đã nói ở phần trước đây là giai đoạn khởi phát một dự án tin học và thực hiện trước khi hợp đồng được ký kết nên nhà phát triển phải chịu toàn bộ chi phí Vậy thế cho nên nhà phát triển cần lựa chọn các phân tích viên phù hợp với
quy mô của dự án (đối với dự án tin học nhỏ thì thường lập trình viên cũng là phân tích viên) Phân tích viên cần có phẩm chất:
Hiểu biết về tin học đồng thời phải am hiểu hoạt động nghề nghiệp ở mức
Điểm công tác là các điểm, đầu mối phát sinh hay thu nhận và lưu trữ
thông tin Điểm công tác có hai loại chính : Điểm công tác ngoài và điểm công tác trong
Điểm công tác ngoài là nơi phát sinh hoặc thu nhận thông tin
Điểm công tác trong là nơi lưu trữ, xử lý thông tin và phát sinh thông
tin
Tài liệu là giá mang thông tin sử dụng trong hệ thống ví dụ như giấy tờ, hồ
sơ, đĩa từ, đĩa quang, và âm thanh, hình ảnh
Nhiệm vụ là một hoặc nhiều công việc nhằm thực hiện một chức năng nào
đó của hệ thống
Trang 312.1.2 Các phương pháp nghiên cứu
Sau đây là một vài phương pháp tôi cho rằng rất hữu dụng với một phân tích viên khi mới bước vào nghề Tuy nhiên cũng cần phải nói rằng không có phương pháp nào là tối ưu, hoàn hảo Chỉ có nhóm phân tích viên làm việc sáng tạo, chủ động mới đạt kết quả mong đợi mà thôi Sau đây là một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu:
Phỏng vấn và lắng nghe (interviewing and listening)
Điều tra lập bảng câu hỏi (administering questionnaires)
CUNG ỨNG VVP QUỐC GIA
Văn phòng chính: 1234 Pacific Highway Newtown NSW 2199 ĐT: 81231234 Fax: 81231235
Địa chỉ: 22B St Georges Tce Địa chỉ: 862 Welshpool road
Miễn phí giao hàng cho đơn hàng có giá trị trên 50.00 Phí giao hàng: 1.50
Tổng cộng: 575.47
Hoàn trả sản phẩm trong vòng 30 ngày sẽ được hoàn tiền mua hàng
Hình 2.1: Mẫu biểu đơn đặt hàng và tập thực thể/thuộc tính được nhận diện
Trang 32Trước khi phân tích mẫu biểu, ta có nhận xét sau:
Tên mẫu biểu có thể giống tên tập thực thể nhưng chúng hoàn toàn khác nhau như: tập thực thể HÓA ĐƠN và mẫu biểu hóa đơn
Phân tích mẫu biểu để nhận diện tập thực thể, mối tương quan giữa chúng và thuộc tính của vấn đề
Một mẫu biểu thường có các thông tin in sẵn mà chúng ta không cần quan tâm trong việc xây dựng mô hình dữ liệu
Mẫu biểu chứa thuộc tính của nhiều tập thực thể
Một nhà phát triển đã phân tích như sau: Từ mẫu đơn đặt hàng ta rút ra những
điều sau:
1 Thông tin in sẵn trên đơn đặt hàng:
Tên công ty, địa chỉ và điện thoại liên hệ
Tên mẫu biểu
Thông tin quảng cáo
2 Số đơn hàng và ngày đơn hàng là các thông tin của một đơn hàng Vậy ĐƠN HÀNG là một tập thực thể
3 Ph ần được đặt bởi là các thông tin về khách hàng đặt hàng Vậy ta có tập
thực thể KHÁCH HÀNG
4 Ph ần nơi giao hàng là các thông tin về người nhận hàng Người nhận
hàng có thể là người đặt hàng cũng có thể là người khác Thông tin người nhận hàng chỉ nhằm mục đích mô tả thêm về đơn hàng là hàng giao cho ai mà không có mục đích gì khác chẳng hạn như có bao nhiêu người nhận mặt hàng H vì thế chúng
ta đưa chúng vào tập thực thể ĐƠN HÀNG
5 Thông tin trên phần chi tiết là danh sách các mặt hàng cung ứng Ta gọi mỗi dòng như vậy là một thực thể của tập thực thể DÒNG ĐƠN HÀNG
6 C ột thành tiền của đơn hàng là giá trị được tính bằng cách nhân đơn giá bán với số lượng, nên thông tin này không cần đưa vào mô hình ER
7 Những thông tin như đơn vị tính, mã hàng, màu sắc, mô tả, đơn giá là các thuộc tính của mặt hàng vậy MẶT HÀNG là tập thực thể Như vậy chỉ có thuộc
tính s ố lượng là thuộc tính của tập thực thể DÕNG ĐƠN HÀNG
8 Bên dưới đơn hàng là chi phí giao hàng và tổng giá trị đơn hàng Chi phí giao hàng là chi phí của một đơn hành nên chúng là thuộc tính của tập thực thể ĐƠN HÀNG Tổng giá trị của đơn hàng được tính bằng cách cộng các giá trị trên cột thành tiền và chi phí giao hàng nên chúng không được đưa vào mô hình ER
9 Thông thường các thông tin trên một mẫu biễu không nhóm chung để diễn
tả một thực thể Trong các trường hợp như vậy đòi hỏi ta phải biết gán thuộc tính thích hợp cho từng thực thể
Nh ững thành phần chính của mẫu biểu đơn đặt hàng:
Trang 33 Cách thức trao đổi thông tin trong tổ chức đó
Khối lượng công việc
Những yếu tố bất thường mà trong giai đoạn lập kế hoạch chưa lường hết
Đặc biệt là các rủi ro có thể gặp phải (chi tiết phần này sẽ chia sẻ tại chương 5)
Phương pháp quan sát cho cái nhìn khái quát về hệ thống sẽ tin học hóa Tuy nhiên phương pháp này thường mang tính chủ quan do hiểu biết của phân tích viên
có hạn Hơn nữa phương pháp này đòi hỏi thời gian tương đối dài, không giới hạn được phạm vi cần nghiên cứu
Ví dụ: Sử dụng phương pháp quan sát để lập hồ sơ nghiên cứu hiện trạng phần mềm quản lý đào tạo trường Trung học Kinh tế Kỹ thuật Hòa Bình
Các bộ phận của tổ chức của trường Trung học Kinh tế Kỹ thuật Hòa Bình gồm:
Ban giám hiệu : 01 hiệu trưởng; 01 hiệu phó phụ trách đào tạo; 01 hiệu phó phục trách cơ sở vật chất
Các phòng, khoa: Phòng đào tạo; Phòng CTHSSV; Khoa CB&MC; Khoa Tài chính & Kế toán; Khoa Nông lâm Ngoài ra còn có các phòng tổ chức hành chính; Quản trị đời sống
Mối quan hệ nghiệp vụ giữa các bộ phận của tổ chức; Các hoạt động tác nghiệp; Cách thức trao đổi thông tin trong tổ chức đó; Khối lượng công việc được thể hiện như sau:
Quy trình thực hiện công tác tính điểm:
Điểm thành phần từ các giáo viên bộ môn được nhập vào hệ thống Theo danh sách học sinh trên máy tính tại khoa có kết nối với hệ thống mạng nội bộ của trường
Điểm tổng kết môn học được hệ thống tính toán và chuyển về phòng đào tạo
Kết quả tính toán được sử lý sau đó đại diện cán bộ phòng đào tạo in và giao lại cho giáo viên của môn đó (có sự ký kết của hai bên)
Hệ thống tổng hợp các điểm tổng kết môn và tính điểm học kỳ, cả năm, cả khóa theo quy chế hiện hành với hệ số môn được thống nhất theo kế hoạch đào tạo hàng năm
Giáo viên chủ nhiệm của từng lớp nhận kết quả cuối cùng vào sổ theo quy định
Quy trình tính kết quả rèn luyện
Giáo viên chủ nhiệm nhận kết quả bình xét của lớp hàng tháng, kỳ nhập vào
Trang 34Hình 2.2: Sơ đồ tổ chức trường Trung học kinh tế kỹ thuật Hòa Bình
Trang 352.1.2.2 Phương pháp điều tra
Phương pháp điều tra được thực hiện để nắm bắt các vấn đề vĩ mô Để thực hiện phương pháp này các phân tích viên phải xây dựng bảng hỏi hướng đến mục
tiêu cần điều tra (tốt nhất là các câu hỏi trắc nghiệm với ngôn ngữ dễ hiểu tránh các từ ngữ chuyên ngành tin học), sau đó gửi phiếu đến đối tượng cần điều tra,
cuối cùng là thu thập để phân tích
Đây là phương pháp tương đối khó thực hiện (để thực hiện phương pháp này nên có tư vấn chuyên môn) và tốn kém về tiền bạc và thời gian Tuy nhiên phương
pháp này khắc phục một số nhược điểm của phương pháp quan sát đó là: Xác định khối lượng thông tin và tần xuất sử dụng; Vấn đề nắm bắt có định hướng rõ ràng,
có phạm vi cụ thể, khắc phục được tính chủ quan do có tư vấn về chuyên môn
Ví dụ: Sử dụng phương pháp điều tra để lập hồ sơ nghiên cứu hiện trạng phần mềm website của trường Trung học Kinh tế Kỹ thuật Hòa Bình Giả sử phân tích viên lập phiếu hỏi về quy mô đào tạo, bộ máy tổ chức gửi tới điểm công tác trong trường Trung học Kinh tế Kỹ thuật Hòa Bình
Quy mô
Hiện tại, tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường là 80 người, trong
đó trình độ thạc sỹ có 4 người, trình độ đại học có 50 người (đang học thạc sỹ 20 người), trình độ trung cấp có 7 người, trình độ khác có 14 người Giáo viên đang giảng dạy tại trường đều đạt chuẩn theo tiêu chí Nhà giáo của Bộ Giáo dục & Đào tạo
Công tác nghiên cứu khoa học được duy trì thường xuyên trên các lĩnh vực quản lý, phương pháp giảng dạy, thực tiễn sản xuất nông - lâm nghiệp
Từ năm 2000 đến nay, Nhà trường coi trọng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, tại các hội thi giáo viên dạy giỏi cấp trường, cấp tỉnh, khối câu lạc bộ và toàn quốc, nhiều giáo viên của nhà trường tham gia Hội thi đã đạt được thành tích cao Hội thi cấp trường được tổ chức thường xuyên vào mùa xuân hàng năm, trung bình mỗi năm có từ 15 đến 20 giáo viên được công nhận là giáo viên dạy giỏi cấp trường Hội thi khối Câu lạc bộ các trường Trung học và Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật phía Bắc đã có 8 giáo viên được đạt giải giáo viên dạy giỏi Hội thi giáo viên dạy giỏi trung cấp chuyên nghiệp toàn quốc nhà trường có 5 giáo viên dự thi đều đạt giải cả 5, trong đó có 1 giải nhì và 4 giải ba
Ngành nghề đang đào tạo
Ngành nghề khối Kinh tế,Tài chính – Kế toán :
Kế toán doanh nghiệp sản xuất
Kế toán hành chính sự nghiệp
Quản lý ngân sách nhà nước
Quản lý kinh tế nông nghiệp
Ngành nghề khối kỹ thuật nông lâm nghiệp:
Chăn nuôi - Thú y
Trồng trọt tổng hợp
Bảo vệ thực vật
Trang 36 Lâm sinh tổng hợp
Khuyến lâm nông
Ngành nghề khối xây dựng và công nghệ thông tin:
Xây dựng dân dụng và công nghiệp
Xây dựng cầu đường
Tin học ứng dụng
o Loại hình đào tạo: Để phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội, nhà trường
thực hiện đa dạng hoá các hình thức đào tạo và loại hình đào tạo, dự kiến: Đào tạo trung cấp chính quy và vừa làm vừa học
Liên kết đào tạo đại học
o Thời gian đào tạo: Đào tạo bậc trung cấp chuyên nghiệp: 2 năm đối với học
sinh tốt nghiệp THPT; 3 năm đối với HS tốt nghiệp THCS
o Địa bàn tuyển sinh, đối tượng và nguồn tuyển: Công dân Việt Nam đã tốt
nghiệp THPT, THCS và tương đương trong địa bàn tuyển sinh theo quy chế tuyển sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ưu tiên tuyển chọn con em người dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa và các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp thuộc tất cả các xã, phường, thị trấn, huyện, thành phố, các cơ sở kinh tế, các ban ngành trong tỉnh và các tỉnh lân cận
Tổ chức, bộ máy nhà trường: Lãnh đạo: 3 người
Hiệu trưởng Ông : Nguyễn Anh Tôn - Thạc sỹ khoa học Phó hiệu trưởng Ông : Nguyễn Hùng Cường - Kỹ sư Lâm nghiệp
Bà : Phạm Thị Ngân - Cử nhân kinh tế
Các phòng : 5 phòng
Chức năng và nhiệm vụ phòng Tổ chức – Hành chính
Thực hiện công tác hành chính, tổng hợp, văn thư, lưu trữ, lễ tân đối ngoại;
Giúp Hiệu trưởng trong việc sắp xếp tổ chức, quản lý và bồi dưỡng giáo viên, cán bộ, nhân viên;
Tổ chức thực hiện chính sách, chế độ đối với giáo viên, cán bộ, nhân viên; công tác bảo vệ nội bộ, thi đua, khen thưởng và kỷ luật
Trưởng phòng Ông : Nguyễn Văn Ba - Cử nhân kinh tế
Phó phòng Ông : Nguyễn Hữu Trâm - Trung cấp
Điện thoại: 0218.891381 Email:
Tổng số cán bộ công nhân viên của phòng: 08 người
Chức năng và nhiệm vụ phòng Quản trị - Đời sống
Xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện mua sắm, quản lý và bảo trì các loại trang thiết bị khoa học - kỹ thuật của trường;
Đề xuất và tổ chức thực hiện quyết định của Hiệu trưởng về điều chuyển, sử dụng hoặc tu sửa, cải tạo nhà làm việc, phòng học, phòng thí nghiệm, thực nghiệm khoa học, thực tập, sản xuất, nhà ăn và ký túc xá học sinh;
Trang 37 Tổ chức thực hiện các hoạt động sản xuất, dịch vụ; an toàn lao động, phòng chống cháy nổ; y tế, vệ sinh phòng bệnh; bảo vệ an ninh và trật tự trong trường
Trưởng phòng Bà : Bùi Thị Thảo - Cử nhân ngoại ngữ
Phó phòng Ông : Nguyễn Đình Đại - Trung cấp
Điện thoại: 0218.858213 số máy lẻ 107
Email:
Tổng số cán bộ công nhân viên của phòng: 12 người
Chức năng và nhiệm vụ Tổ tài vụ
Giúp Hiệu trưởng quản lý công tác tài chính Lập kế hoạch thu - chi hằng quí, hằng năm của trường; thực hiện các khoản thu, chi; lập quyết toán hàng quí, hàng năm theo đúng quy định về chế độ kế toán - tài chính của Nhà nước
Tổ chức kiểm tra các khoản thu và việc chi tiêu các khoản tiền vốn, sử dụng vật tư, thiết bị và tài sản khác của tất cả các bộ phận trong trường; tổ chức định kỳ kiểm kê, đánh giá tài sản, thiết bị kỹ thuật theo quy định của Nhà nước
Tổ trưởng Bà : Phùng Thị Pha - Cử nhân kinh tế
Điện thoại: 0218.891963 và 0218.858213 số máy lẻ 103
Email:
Tổng số cán bộ công nhân viên của phòng: 03 người
Chức năng và nhiệm vụ phòng đào tạo
Giúp Hiệu trưởng trong việc xác định mục tiêu giáo dục, xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo; xây dựng chương trình giáo dục, kế hoạch giảng dạy, chương trình và giáo trình môn học; tổ chức tuyển sinh, thi tốt nghiệp, công nhận
và cấp bằng tốt nghiệp; tổ chức thực nghiệm, nghiên cứu khoa học và công nghệ, đào tạo kết hợp với lao động sản xuất, dịch vụ;
Tổ chức thực hiện quá trình đào tạo
Tổ chức công tác thanh kiểm tra, đánh giá quá trình đào tạo
Thực hiện công tác giáo vụ: lập các biểu bảng về công tác giáo vụ, dạy và học, thực hành thực tập; đề xuất mua sắm trang thiết bị phục vụ đào tạo; theo dõi, tổng hợp, đánh giá chất lượng các hoạt động đào tạo, thống kê, làm báo cáo định
kỳ theo quy định của cơ quan quản lý cấp trên và của hiệu trưởng;
Đề xuất và giúp hiệu trưởng chỉ đạo công tác giáo viên chủ nhiệm lớp; thi đua, khen thưởng và xử lý vi phạm trong hoạt động đào tạo
Trưởng phòng Bà : Nguyễn Thị Hà - Kỹ sư lâm sinh
Phó phòng Ông : Võ Hoài Giáp - Thạc sĩ Lâm sinh
Điện thoại: 0218.858028 và 0218.858213 số máy lẻ 102
Email:
Tổng số cán bộ công nhân viên của phòng: 04 người
Chức năng và nhiệm vụ phòng công tác học sinh
Tham mưu, tổng hợp, đề xuất, thực hiện công việc thường xuyên đối với học sinh sinh viên
Tổ chức tiếp nhận hồ sơ thí sinh trúng tuyển vào học theo quy định
Tổ chức tiếp nhận học sinh vào ở nội trú
Thống kê, tổng hợp dữ liệu, quản lý hồ sơ học sinh
Trang 38 Phối hợp tổ chức phát bằng tốt nghiệp cho học sinh
Giải quyết các công việc thường xuyên liên quan tới học sinh
Tham mưu, đề xuất, thực hiện hoạt động học tập và rèn luyện của học sinh sinh viên:
Theo dõi đánh giá ý thức học tập, rèn luyện của học sinh theo tháng, học kỳ, năm học và toàn khoá; Tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thưởng, kỷ luật đối với học sinh sinh viên
Tổ chức " Tuần sinh hoạt công dân – Học sinh sinh viên " đầu khoá, đầu năm và cuối khóa học
Tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, các cuộc thi học sinh giỏi, thi Ôlympíc môn chính trị và các cuộc thi sáng tạo tài năng trẻ
Tổ chức triển khai công tác giáo dục tư tưởng chính trị đạo đức, lối sống cho học sinh; Tổ chức các hoạt động văn hoá văn nghệ và các hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh; Tổ chức đối thoại định kỳ giữa Hiệu trưởng nhà trường với học sinh
Phối hợp với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, hội sinh viên và các tổ chức chính trị – xã hội khác có liên quan tạo môi trường cho học sinh phấn đấu học tập và rèn luyện vì ngày mai lập nghiệp
Phối hợp tổ chức tư vấn nghề nghiệp, việc làm cho học sinh trước khi tốt nghiệp
Tham mưu và tổ chức thực hiện các hoạt động thể thao, y tế học đường học sinh sinh viên
Tổ chức thực hiện công tác y tế trường học và khám sức khoẻ cho học sinh theo quy định
Tổ chức cho học sinh tham gia các phong trào thể dục thể thao
Tổ chức nhà ăn tập thể cho học sinh
Tham mưu và tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách ưu đãi đối vói học sinh sinh viên
Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước quy định đối với học sinh về học bổng, học phí, trợ cấp xã hội, bảo hiểm, tín dụng đào tạo và các chế độ khác có liên quan đến học sinh
Tạo điều kiện giúp đỡ học sinh khuyết tật, diện chính sách và học sinh có hoàn cảnh khó khăn
Tham mưu và tổ chức thực hiện công tác an ninh, chính trị, trật tự an toàn phòng chống tội phạm và các tai tệ nạn xã hội
Phối hợp với các ngành, các cấp chính quyền địa phương quản lý học sinh nội, ngoại trú trên địa bàn ; giải quyết kịp thời các vụ việc liên quan đến học sinh
Tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về an toàn giao thông, phòng chống tội phạm, ma tuý, mại dâm, HIV/AIDS và các hoạt động khác có liên quan đến HS; hướng dẫn học sinh chấp hành pháp luật và nội quy, quy chế
Tư vấn pháp lý, tâm lý xã hội cho học sinh
Tham mưu và tổ chức thực hiện công tác quản lý nội trú, ngoại trú
Tổ chức triển khai thực hiện công tác quản lý học sinh nội trú, ngoại trú theo quy định của Bộ GD&ĐT
Trưởng phòng Ông : Nguyễn Bá Phương - Cử nhân QLXH
Phó phòng Ông : Đặng Thanh Hạ -TC Lý luận chính trị
Trang 39Điện thoại: 0218.858213 số máy lẻ 106
Email:
Tổng số cán bộ công nhân viên của phòng: 04 người
Các khoa: 3 khoa
Chức năng và nhiệm vụ Khoa Cơ bản & Môn chung
Tổ chức thực hiện quá trình đào tạo, giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo chương trình, kế hoạch giảng dạy của nhà trường;
Quản lý giáo viên, nhân viên và học sinh thuộc khoa
Tổ chức biên soạn chương trình, giáo trình môn học khi được phân công Tổ chức nghiên cứu cải tiến phương pháp giảng dạy, học tập; đề xuất xây dựng kế hoạch bổ sung, bảo trì thiết bị dạy học, thực hành, thực tập;
Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện việc bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên;
Tổ chức thực hiện các hoạt động thực nghiệm, nghiên cứu khoa học, dịch vụ khoa học và công nghệ, gắn đào tạo với sử dụng
Căn cứ chức năng, qui mô và tình hình cụ thể Hiệu trưởng có thể giảm hoặc giao thêm nhiệm vụ cho các khoa
Phụ trách khoa Ông : Nguyễn Trần Phương - Cử nhân tin học
Tổ Văn hoá Bà : Trần Thị Hồng Minh - Cử nhân Toán Tin
Tổ Môn chung Ông : Trần Duy Mạnh - Cử nhân TDT.Thao Điện thoại: 0218.858213 số máy lẻ 108
Email:
Tổng số giáo viên của khoa: 15 người
Chức năng và nhiệm vụ Khoa Kỹ thuật nông lâm nghiệp
Tổ chức thực hiện trình đào tạo, giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo chương trình, kế hoạch giảng dạy của nhà trường;
Quản lý giáo viên, nhân viên và học sinh thuộc khoa
Tổ chức biên soạn chương trình, giáo trình môn học khi được phân công Tổ chức nghiên cứu cải tiến phương pháp giảng dạy, học tập; đề xuất xây dựng kế hoạch bổ sung, bảo trì thiết bị dạy học, thực hành, thực tập;
Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện việc bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên;
Tổ chức thực hiện các hoạt động thực nghiệm, nghiên cứu khoa học, dịch vụ khoa học và công nghệ, gắn đào tạo với sử dụng
Căn cứ chức năng, qui mô và tình hình cụ thể Hiệu trưởng có thể giảm hoặc giao thêm nhiệm vụ cho các khoa
Phụ trách khoa Bà: Đặng Thị Thiện - Kỹ sư lâm sinh
Tổ Trồng trọt Bà : Phạm Thị Huệ - Kỹ sư trồng trọt
Tổ CNThú Y Ông : Bùi Trọng Anh - Kỹ sư Chăn nuôi Thú y
Điện thoại: 0218.858213 số máy lẻ 110
Email:
Tổng số giáo viên của khoa: 17 người
Trang 40 Chức năng và nhiệm vụ Khoa kinh tế, tài chính kế toán
Tổ chức thực hiện trình đào tạo, giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo chương trình, kế hoạch giảng dạy của nhà trường;
Quản lý giáo viên, nhân viên và học sinh thuộc khoa;
Tổ chức biên soạn chương trình, giáo trình môn học khi được phân công Tổ chức nghiên cứu cải tiến phương pháp giảng dạy, học tập; đề xuất xây dựng kế hoạch bổ sung, bảo trì thiết bị dạy học, thực hành, thực tập;
Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện việc bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên;
Tổ chức thực hiện các hoạt động thực nghiệm, nghiên cứu khoa học, dịch vụ khoa học và công nghệ, gắn đào tạo với sử dụng
Căn cứ chức năng, qui mô và tình hình cụ thể Hiệu trưởng có thể giảm hoặc giao thêm nhiệm vụ cho các khoa
Phụ trách khoa Bà: Nguyễn Thị Thu Thủy - Cử nhân Kinh tế
Điện thoại: 0218.858213 số máy lẻ 109
Email:
Tổng số giáo viên của khoa: 09 người
Đoàn thể
Chi bộ trường trung học Kinh tế Kỹ thuật Hòa Bình
Bí thư chi bộ: Ông : Nguyễn Hùng Cường
P Bí thư chi bộ: Ông : Nguyễn Anh Tôn
Chi bộ nhà trường : 28 Đảng viên
Công đoàn nhà trường
Chủ tịch công đoàn: Bà : Bùi Thị Thảo
P Chủ tịch công đoàn: Ông : Nguyễn Văn Ba
Công đoàn cơ sở trường : 74 đoàn viên
Đoàn thanh niên trường trung học Kinh tế Kỹ thuật Hòa Bình
Bí thư Đoàn trường: Ông : Nguyễn Bá Phương
P Bí thư Đoàn trường: Ông : Võ Hoài Giáp
Ông : Trần Duy Mạnh
Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh: 875 đoàn viên
Hội cựu chiến binh: 15 hội viên
2.1.2.3 Phương pháp phỏng vấn
Đây là phương pháp hay được dùng trong quá trình nghiên cứu hiện trạng của một hệ thống tin Để thực hiện phương pháp này phân tích viên cần làm việc sau:
Phỏng vấn lãnh đạo của tổ chức để lấy thông tin gồm:
Nhiệm vụ chung của tổ chức;
Sơ đồ tổ chức;
Các số liệu chung;