Lý luận của họ còn có nhiều hạn chế, thiếu sót, trong đó hạn chế lớn nhất là không thấy được vai trò của hoạt động thực tiễn đối với nhận thức, do vậy chủ nghĩa duy vật của họ mang tính
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ GIAO THÔNG VẬN TẢI
KHOA CHÍNH TRỊ-QUỐC PHÒNG AN
NINH-GIÁO DỤC THỂ CHẤT
CÂU HỎI TIỂU LUẬN: Trình bày vai trò thực tiễn đối với nhận thức? Từ đó vận dụng quan điểm thực tiễn vào
hoạt động học tập và thực tiễn bản thân
MÔN: Triết học Mác - Lênin
HỆ ĐẠI HỌC KHÓA: K72
SVTH : Bùi Tuấn Anh
LỚP : 72DCMX21
MÃ SINH VIÊN : 72DCCK20014 GVHD : TS, GVC LƯƠNG CÔNG LÝ
Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2021
Trang 2Mục Lục
I Phần nội dung:
1 Trình bày vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
1.1 Khái niệm
II Phần vận dụng:
2.1 Vận dụng vào học tập
2.2 Vận dụng vào thực tiễn bản thân
Trang 3I Nội dung, khái niệm thực tiễn
1.1 Khái niệm
Thực tiễn là một trong những vấn đề trung tâm của triết học, nó không chỉ
là một phạm trù nền tảng, cơ bản của lý luận nhận thức mácxít mà còn của toàn
bộ triết học Mác-Lênin Có thể nói, các nhà duy vật trước mác đã có công lớn trong việc phát triển thế giới quan duy vật và đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo và thuyết không thể biết Họ đã hiểu thực tiễn là một hành động vật chất của con người nhưng lại xem đó là hoạt động của những con buôn, đê tiện, bẩn thỉu Nó không có vai trò gì đối với nhận thức của con người Lý luận của họ còn có nhiều hạn chế, thiếu sót, trong đó hạn chế lớn nhất là không thấy được vai trò của hoạt động thực tiễn đối với nhận thức, do vậy chủ nghĩa duy vật của họ mang tính chất trực quan Một số nhà triết học duy tâm tuy đã thấy được mặt năng động, sáng tạo trong hoạt động của con người, nhưng cũng chỉ hiểu hoạt động thực tiễn như là hoạt động tinh thần sáng tạo ra thế giới của con người, chứ không hiểu nó như hoạt động hiện thực, hoạt động vật chất cảm tính, hoạt động lịch sử – xã hội Kế thừa những yếu tố hợp lý và khắc phục những thiếu sót trong quan điểm vể thực tiễn của các nhà triết học trước đó, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đem lại một quan điểm đúng đắn, khoa học về thực tiễn và vai trò của nó đối với nhận thức cũng như đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Với việc đưa ra phạm trù thực tiễn vào lý luận, C.Mác và Ph.Ăngghen đã thực hiện một bước chuyển biến cách mạng trong lý luận nói chung và lý luận nhận thức nói riêng V.I.Lênin đã nhận xét: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận nhận thức” (V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tập 18, tr.167) Vậy thực tiễn là gì? Thực tiễn là những hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử – xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội Hoạt động thực tiễn không phải bao gồm tất cả các hoạt động của con người mà chỉ là hoạt động vật chất của con người Trong hoạt động thực tiễn, con người phải sử dụng những
Trang 4phương tiện, công cụ, sức mạnh vật chất để tác động vào tự nhiên, xã hội, cải tạo, biến đổi chúng cho phù hợp Nếu con vật chỉ hoạt động theo bản năng nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài, thì con người, nhờ vào thực tiễn như là hoạt động có mục đích, có tính xã hội của mình mà cải tạo thế giới
để thỏa mãn nhu cầu của mình, thích nghi một cách chủ động, tích cực với thế giới và để làm chủ thế giới Thông qua hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi thế giới, sự vật và làm cho hình ảnh của đối tượng thay đổi trong nhận thức Con người không thể thỏa mãn với những gì mà tự nhiên cung cấp cho mình dưới dạng có sẵn, con người tiến hành hoạt động thực tiễn mà trước hết là lao động sản xuất để biến đổi tạo ra sản phẩm mới phục vụ cuộc sống con người Con người phải tiến hành lao động sản xuất ra của cải vật chất để nuôi sống mình Để lao động và lao động có hiệu quả, con người phải chế tạo và sử dụng công cụ lao động Chính nhờ lao động, con người thoát khỏi giới hạn của con vật và tự hoàn thiện mình Do vậy, hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất, đặc trưng của con người, là cái quan trọng để phân biệt con người với con vật Không có hoạt động thực tiễn, con người và xã hội loài người không thể tồn tại
và phát triển được Vì vậy, có thể nói rằng thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội, là phương thức đầu tiên và chủ yếu của mối quan
hệ giữa con người và thế giới Mác đã viết: “Con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân
nó còn con người thì tái sản xuất ra tất cả thế giới” ( C.Mác - Ph.Ăngghen, Tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, tr.119) Thực tiễn là cái xác định một cách thực tế sự liên hệ giữa vật chất và những điều cần thiết đối với con người Hoạt động thực tiễn là hoạt động vật chất hóa tư tưởng, chuyển cái tinh thần vào cái vật chất hay mục đích của nhận thức là vì thực tiễn Tuy nhiên hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức nhiều khi lại hoàn toàn khác nhau, đôi khi người ta nhận thức giỏi song hoạt động lại không tốt, không hiệu quả và ngược lại Hoạt động thực tiễn còn là qúa trình tương tác giữa chủ thể và khách thể, trong đó thực tiễn là khân trung gian nối con người với thế giới khách quan
Nhận thức là gì
Trang 5Nhận thức bắt nguồn từ thực tiễn Quá trình nhận thức của con người gồm hai giai đoạn như sau:
+ Nhận thức cảm tính: là giai đoạn nhận thức được tạo nên do sự tiếp xúc trực tiếp của các cơ quan cảm giác với sự vật, hiện tượng, đem lại cho con người hiểu biết về đặc điểm bên ngoài của chúng
Ví dụ: khi chúng ta muốn ăn tác động vào các cơ quan cảm giác, mắt (thị giác) sẽ cho ta biết muối có màu trắng, dạng tinh thể; mũi (khướu giác) cho ta biết muối không có mùi; lưỡi (vị giác) cho ta biết muối có vị mặn
+ Nhận thức lý tính: là giai đoạn nhận thức tiếp theo, dựa trên các tài liệu do nhận thức cảm tính đem lại, nhờ các thao tác của tư duy như: phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát… tìm ra bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng
Ví dụ: nhờ đi sâu phân tích, người ta tìm ra cấu trúc tinh thể và công thức hóa học của muối, điều chế được muối…
Nhận thức luôn là một quá trình phản ánh sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan vào bộ óc của con người, để tạo nên những hiểu biết về chúng
Thực tiễn là gì
Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử –
xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội
Những hình thức cơ bản của hoạt động thực tiễn:
+ Hoạt động sản xuất vật chất Ví dụ: hoạt động gặt lúa của nông dân, lao động của các công nhân trong các nhà máy, xí nghiệp…
+ Hoạt động chính trị – xã hội Ví dụ: hoạt động bầu cử Đại biểu Quốc hội, tiến hành Đại hội Đoàn Thanh niên trường học, Hội nghị Công đoàn
+ Hoạt động thực nghiệm khoa học Ví dụ: hoạt động nghiên cứu, làm thí nghiệm của các nhà khoa học để tìm ra các vật liệu mới, nguồn năng lượng mới, vác xin phòng ngừa dịch bệnh mới
+ Hoạt động sản xuất vật chất là cơ bản nhất
Theo chủ nghĩa duy vật của Mác và Lênin
Trang 6Dựa vào trình độ thâm nhập vào bản chất của đối tượng
Nhận thức kinh nghiệm hình thành từ sự quan sát trực tiếp các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội hay trong các thí nghiệm khoa học Tri thức kinh nghiệm là kết quả của nó, được phân làm hai loại: Tri thức kinh nghiệm thông thường là loại tri thức được hình thành
từ sự quan sát trực tiếp hàng ngày về cuộc sống và sản xuất Tri thức này rất phong phú, nhờ có tri thức này con người có vốn kinh nghiệm sống dùng để điều chỉnh hoạt động hàng ngày
Tri thức kinh nghiệm khoa học là loại tri thức thu được từ sự khảo sát các thí nghiệm khoa học loại tri thức này quan trọng ở chỗ đây là
cơ sở để hình thành nhận thức khoa học và lý luận
Hai loại tri thức này có quan hệ chặt chẽ với nhau, xâm nhập vào nhau để tạo nên tính phong phú, sinh động của nhận thức kinh nghiệm
Nhận thức lý luận (gọi tắt là lý luận) là loại nhận thức gián tiếp, trừu tượng và khái quát về bản chất và quy luật của các sự vật, hiện tượng Nhận thức lý luận có tính gián tiếp vì nó được hình thành và phát triển trên cơ sở của nhận thức kinh nghiệm Nhận thức lý luận
có tính trừu tượng và khái quát vì nó chỉ tập trung phản ánh cái bản chất mang tính quy luật của sự vật và hiện tượng Do đó, tri thức lý luận thể hiện chân lý sâu sắc hơn, chính xác hơn và có hệ thống hơn Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận là hai giai đoạn nhận thức khác nhau, có quan hệ biện chứng với nhau Trong đó nhận thức kinh nghiệm là cơ sở của nhận thức lý luận Nó cung cấp cho nhận thức lý luận những tư liệu phong phú, cụ thể Vì nó gắn chặt với thực tiễn nên tạo thành cơ sở hiện thực để kiểm tra, sửa chữa, bổ sung cho lý luận và cung cấp tư liệu để tổng kết thành lý luận Ngược lại, mặc dù được hình thành từ tổng kết kinh nghiệm, nhận thức lý luận không xuất hiện một cách tự phát từ kinh nghiệm Do tính độc lập tương đối của nó, lý luận có thể đi trước những sự kiện kinh nghiệm, hướng dẫn sự hình thành tri thức kinh nghiệm có giá trị, lựa chọn kinh nghiệm hợp lý để phục vụ cho hoạt động thực tiễn Thông qua đó mà nâng những tri thức kinh nghiệm từ chỗ là cái cụ thể, riêng lẻ, đơn nhất trở thành cái khái quát, phổ biến
Theo học thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin, nắm vững bản chất, chức năng của từng loại nhận thức đó cũng như mối quan hệ biện chứng giữa chúng có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng trọng việc đấu tranh khắc phục bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa và bệnh giáo điều
Dựa vào tính tự phát hay tự giác của sự xâm nhập vào bản chất của
sự vật
Nhận thức thông thường (hay nhận thức tiền khoa học) là loại nhận thức được hình thành một cách tự phát, trực tiếp từ trong hoạt động hàng ngày của con người Nó phản ánh sự vật, hiện tượng xảy ra với tất cả những đặc điểm chi tiết, cụ thể và những sắc thái khác nhau
Trang 7của sự vật Vì vậy, nhận thức thông thường mang tính phong phú, nhiều vẻ và gắn với những quan niệm sống thực tế hàng ngày Vì thế, nó thường xuyên chi phối hoạt động của con người trong xã hội Thế nhưng, nhận thức thông thường chủ yếu vẫn chỉ dừng lại ở bề ngoài, ngẫu nhiên tự nó không thể chuyển thành nhận thức khoa học được
Nhận thức khoa học là loại nhận thức được hình thành một cách tự giác và gián tiếp từ sự phản ánh đặc điểm bản chất, những quan hệ tất yếu của các sự vật Nhận thức khoa học vừa có tính khách quan, trừu tượng, khái quát lại vừa có tính hệ thống, có căn cứ và có tính chân thực Nó vận dụng một cách hệ thống các phương pháp nghiên cứu và sử dụng cả ngôn ngữ thông thường và thuật ngữ khoa học để diễn tả sâu sắc bản chất và quy luật của đối tượng nghiên cứu Vì thế nhận thức khoa học có vai trò ngày càng to lớn trong hoạt động thực tiễn, đặc biệt trong thời đại khoa học và công nghệ
Hai loại nhận thức này cũng có mối quan hệ biện chứng với nhau Nhận thức thông thường có trước nhận thức khoa học và là nguồn chất liệu để xây dựng nội dung của các khoa học Ngược lại, khi đạt tới trình độ nhận thức khoa học thì nó lại tác động trở lại nhận thức thông thường, xâm nhập và làm cho nhận thức thông thường phát triển, tăng cường nội dung khoa học cho quá trình nhận thức thế giới của con người
Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, cụ thể là
Đối với nhận thức, thực tiễn đóng vai trò là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn của chân lý, kiểm tra tính đúng đắn của quá trình nhận thức chân lý
Thứ nhất, thực tiễn là cơ sở, mục đích, là động lực chủ yếu và trực tiếp của nhận thức
+ Thực tiễn là cơ sở của nhận thức:
Điều này có nghĩa là thực tiễn cung cấp tài liệu cho nhận thức, cho lý luận Mọi tri thức dù trực tiếp hay gián tiếp đối với người này hay người kia, thế hệ nay hay thế hệ khác, ở trình độ kinh nghiệm hay lý luận, xét đến cùng đều bắt nguồn
từ thực tiễn
Trang 8Bằng hoạt động thực tiễn, con người tác động vào thế giới, buộc thế giới phải bộc lộ những thuộc tính, những tính quy luật để cho con người nhận thức chúng
Sở dĩ như vậy, bởi con người quan hệ với hế giới không phải bắt đầu bằng lý luận mà bằng thực tiễn Chính từ trong quá trình hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới mà nhận thức ở con người được hình thành và phát triển
Ban đầu, con người thu nhận những tài liệu cảm tính Sau đó, con người tiến hành so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa… để phản ánh bản chất, quy luật vận động của các sự vật, hiện tượng trong thế giới, từ đó xây dựng thành các khoa học, lý luận
+ Thực tiễn là mục đích của nhận thức:
Thực tiễn là mục đích của nhận thức vì nhận thức dù về vấn đề khía cạnh hay ở lĩnh vực gì đi chăng nữa thì cũng phải quay về phục vụ thực tiễn Nhận thức mà không phục vụ thực tiễn thì không phải là “nhận thức” theo đúng nghĩa
Do vậy, kết quả nhận thức phải hướng dẫn chỉ đạo thực tiễn Lý luận, khoa học chỉ có ý nghĩa thực sự khi chúng được vận dụng vào thực tiễn, cải tạo thực tiễn + Thực tiễn là động lực chủ yếu và trực tiếp của nhận thức
Thực tiễn là động lực chủ yếu và trực tiếp của nhận thức là thực tiễn cung cấp năng lượng nhiều nhất, nhanh chóng nhất giúp con người nhận thức ngày càng toàn diện và sâu sắc về thế giới
Trong quá trình hoạt động thực tiễn làm biến đổi thế giới, con người cũng biến đổi luôn cả bản thân mình, phát triển năng lực thể chất, trí tuệ của mình Nhờ đó, con người ngày càng đi sâu vào nhận thức thế giới, khám phá những bí mật của thế giới, làm phong phú và sâu sắc tri thức của mình về thế giới
Thực tiễn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của nhận thức Nhu cầu thực tiễn đòi hỏi phải có tri thức mới, phải tổng kết kinh nghiệm, khái quát lý luận, nó thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các ngành khoa học Khoa học ra đời chính vì chúng cần thiết cho hoạt động thực tiễn của con người
Thứ hai, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý
Trang 9Theo các nhà kinh điển của triết học Mác – Lênin đã khẳng định: vấn đề tìm hiểu xem tư duy con người có thể đạt tới chân lý khách quan hay không hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận, mà là một vấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý
Tất nhiên, nhận thức khoa học có tiêu chuẩn riêng, đó là tiêu chuẩn logic nhưng tiêu chuẩn logic không thể thay thế cho tiêu chuẩn thực tiễn và xét đến cùng nó cũng phụ thuộc vào tiêu chuẩn thực tiễn
Chúng ta cần phải hiểu thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý một cách biện chứng Tiêu chuẩn này vừa có tính tuyệt đối, vừa có tính tương đối:
+ Tiêu chuẩn thực tiễn có tính tuyệt đối vì thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan để kiểm nghiệm chân lý Thực tiễn ở mỗi giai đoạn lịch sử có thể xác nhận được chân lý
+ Tiêu chuẩn thực tiễn có cả tính tương đối vì thực tiễn không đứng nguyên một chỗ mà luôn biến đổi và phát triển Thực tiễn là một quá trình và được thực hiện bởi con người nên không tránh khỏi có cả yếu tố chủ quan
Tiêu chuẩn thực tiễn không cho phép biến những tri thức của con người thành những chân lý tuyệt đích cuối cùng Trong quá trình phát triển của thực tiễn và nhận thức, những tri thức đạt được trước kia và hiện nay vẫn phải thường xuyên chịu kiểm nghiệm bởi thực tiễn tiếp theo, tiếp tục được thực tiễn bổ sung, điều chỉnh, sửa chữa và phát triển hoàn thiện hơn
Ví dụ: Sự xuất hiện học thuyết Macxit vào những năm 40 của thế kỷ XIX cũng bắt nguồn từ hoạt động thực tiễn của các phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại giai cấp tư sản lúc bấy giờ
Ví dụ: Chẳng hạn, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn con người cần phải “đo đạc diện tích và đo lường sức chứa của những cái bình, từ sự tính toán thời gian
và sự chế tạo cơ khí” mà toán học đã ra đời và phát triển
Ví dụ: Ngay cả những thành tựu mới đây nhất là khám phá và giải mã bản
đồ gien người cũng ra đời từ chính thực tiễn, từ mục đích chữa trị những căn bệnh nan y và từ mục đích tìm hiểu, khai thác những tiềm năng bí ẩn của con
Trang 10người…có thể nói, suy cho cùng, không có một lĩnh vực tri thức nào mà lại không xuất phát từ một mục đích nào đó của thực tiễn, không nhằm vào việc phục vụ, hướng dẫn thực tiễn
Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý
+ Thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất của chân lý
+ Chân lý có tính cụ thể, có đặc tính gắn liền và phù hợp giữa nội dung phản ánh với một đối tượng nhất định cùng các điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể
+ Tiêu chuẩn thực tiễn vừa mang tính tuyệt đối vừa mang tính tương đối
Phân loại hoạt động thực tiễn
Hoạt động thực tiễn gồm những dạng cơ bản sau:
Thứ nhất, hoạt động sản xuất vật chất:
Ví dụ về hoạt động sản xuất vật chất ta có thể thấy ở khắp mọi nơi trong cuộc sống, như trồng lúa, trồng khoai, dệt vải, sản xuất giày dép, ô tô, xe máy… Đây
là dạng hoạt động thực tiễn nguyên thủy nhất và cơ bản nhất vì:
– Hoạt động sản xuất vật chất quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người
– Đồng thời, dạng hoạt động này quyết định các dạng khác của hoạt động thực tiễn, là cơ sở của tất cả các hình thức khác của hoạt động sống của con người, giúp con người thoát khỏi giới hạn tồn tại của động vật
Thứ hai, hoạt động chính trị – xã hội:
Là hoạt động của các cộng đồng người, các tổ chức khác nhau trong xã hội nhằm cải biến những quan hệ chính trị-xã hội để thúc đẩy xã hội phát triển
Ví dụ về hoạt động chính trị – xã hội là:
+ Đi bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội
+ Đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri
+ Thanh niên tham gia tình nguyện giúp đồng bào vùng sâu vùng xa
Thứ ba, hoạt động thực nghiệm khoa học