MỤC LỤCSÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 4 TRƯỜNG TIỂU HỌC NGA AN PHÂN BIỆT TỪ ĐƠN, TỪ GHÉP, TỪ LÁY Người thực hiện: Thịnh Thị Ngọc Chức vụ: Giáo viên Đơn vị côn
Trang 1MỤC LỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 4
TRƯỜNG TIỂU HỌC NGA AN PHÂN BIỆT
TỪ ĐƠN, TỪ GHÉP, TỪ LÁY
Người thực hiện: Thịnh Thị Ngọc
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường TH Nga An
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Tiếng Việt
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO NGA SƠN
Trang 2TT Danh mục Trang
3.4 Phân biệt từ ghép tổng hợp và từ ghép phân loại 123.5 Giúp học sinh phân biệt từ láy, từ ghép bằng một số cách, một số
Trang 3I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn sáng kiến.
Bậc tiểu học là bậc học rất quan trọng đặt nền móng cho việc hình thànhnhân cách ở học sinh trên cơ sở cung cấp những tri thức khoa học ban đầu về xãhội và tự nhiên, phát triển các năng lực nhận thức, trang bị các phương pháp và
kĩ năng ban đầu về hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, bồi dưỡng vàphát huy các tình cảm, thói quen và đức tính tốt đẹp của con người Việt Nam.Mục tiêu nói trên được thực hiện thông qua việc dạy học các môn học và thựchiện thông qua các hoạt động có định hướng theo yêu cầu giáo dục
Thực tế những năm gần đây, việc dạy học Tiếng Việt ở trường tiểu họcNga An đã có những bước cải tiến về phương pháp, nội dung và hình thức dạyhọc Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạocủa học sinh, làm cho hoạt động dạy học trên lớp nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả
là một trong những giải pháp được nhiều người quan tâm
Trong chương trình Tiếng Việt lớp 4, Đặc biệt là trong phân môn Luyện từ
và câu, một trong những nội dung kiến thức mới mà các em được học đó là từ
đơn, từ láy, từ ghép Đây là loại từ khó, phức tạp Thực tế trong những năm qua
ở Trường Tiểu học Nga An, tuy học xong bài từ đơn, từ láy, từ ghép nhưng đa sốcác em vẫn chưa phân biệt chắc chắn đâu là từ đơn, đâu là từ ghép hoặc từ láy.Việc dạy để học sinh phân biệt được từ đơn, từ láy, từ ghép cũng là một việc làmhết sức khó khăn đối với giáo viên Hiện nay đồng nghiệp trong trường cũngchưa có phương pháp cải tiến để làm tốt vấn đề này Hơn nữa cũng chưa có tàiliệu nào nghiên cứu sâu về nội dung vừa nêu trên Chính vì vậy phần nào làmảnh hưởng đến chất lượng giáo dục trong nhà trường
Nhận thức sâu sắc về vấn đề trên tôi đã chọn viết sáng kiến: “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 Trường Tiểu học Nga An, Nga Sơn Thanh Hóa phân biệt từ đơn, từ ghép, từ láy” nhằm góp phần quan trọng trong việc nâng
cao chất lượng giáo dục trong nhà trường
Trang 42 Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích tìm hiểu kĩ nội dung về từ đơn, từphức ở lớp 4 nhằm nâng cao chất lượng dạy cấu tạo từ Trên cơ sở đó sẽ nângcao được chất lượng đọc, nói, viết cho học sinh
3 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là giáo viên, học sinh lớp 4 Trường Tiểu học Nga
4 Phương pháp nghiên cứu
Để vận dụng trong dạy học tốt tôi dùng những phương pháp sau đây:
- Phương pháp đàm thoại
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp thống kê
II NỘI DUNG
1 Cơ sở lí luận.
Như chúng ta đã biết Môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học có nhiệm vụ hìnhthành năng lực hoạt động cho học sinh Năng lực hoạt động ngôn ngữ của họcsinh thể hiện tốt hay không là nhờ vốn kiến thức về Tiếng Việt dồi dào và khảnăng chuyển tải kiến thức sáng tạo của giáo viên
Theo tôi nghĩ là một giáo viên đứng lớp thì đều phải dạy tốt các phân mônnhư chương trình đã quy định Song muốn dạy tốt một tiết Luyện từ và câu làmột điều khó nhất bởi từ ngữ Việt Nam rất phong phú, đa dạng Đúng như ông
cha ta đã có câu: “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam”.
Câu nói đó đã thể hiện rõ sự phức tạp của ngữ pháp Việt Nam Do đó, vấn
đề dạy Tiếng Việt ở các trường Tiểu học nói chung và phân môn Luyện từ và
Trang 5câu nói riêng là một yếu tố quan trọng giúp phát triển năng lực trí tuệ và nhữngphẩm chất đạo đức tốt đẹp cho học sinh Luyện từ và câu giúp học sinh Tiểu học
có hiểu biết về quy tắc cấu tạo từ, nắm quy tắc dùng từ đặt câu và tạo văn bản để
sử dụng trong giao tiếp
Thông qua việc dạy và học môn Tiếng Việt để góp phần rèn luyện các emnhững thao tác tư duy về ngôn ngữ; cung cấp cho học sinh các kiến thức sơ giản
về Tiếng Việt và những hiểu biết ban đầu về tự nhiên - xã hội, về con người, vềvăn hóa, văn học Việt Nam và nước ngoài Qua đó bồi dưỡng tình yêu TiếngViệt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, gópphần hình thành nhân cách con người Việt Nam
2 Thực trạng vấn đề
2.1 Thuận lợi
Qua tiết xúc với học sinh thì tất cả các em đọc thông viết thạo, nắm chắccác kiến thức cơ bản, ham học hỏi, phụ huynh rất quan tâm đến việc học tập củacon mình
2.2 Một số khó khăn mà giáo viên và học sinh thường gặp:
* Về phía giáo viên:
Theo ý kiến chủ quan của cá nhân tôi và ý kiến đồng nghiệp cho rằng đây
- Theo trình bày của sách giáo khoa thì nhất loạt xét theo hình thức ngữâm: “Từ đơn là từ do một tiếng có nghĩa tạo thành”, “Từ ghép là những từ do 2-
Trang 63 hoặc 4 tiếng ghép lại có nghĩa tạo thành”, “Từ láy gồm 2- 3 hoặc 4 tiếng màphối hợp những tiếng có âm đầu hay vần (hoặc cả âm đầu và vần giống nhau)”.Chính cách trình bày của SGK đã làm nổi bật được bản chất của vấn đề giúp họcsinh làm cơ sở phân loại nhưng chưa được chặt chẽ Đặc biệt là ở từ láy thìchính cách trình bày của sách giáo khoa đã giúp học sinh nhận diện từ láy theodấu hiệu hình thức Vì vậy các từ “chèo chống, nhân dân, đón đợi, chôm chôm,
đu đủ, học sinh đã xếp vào từ láy
- Thời lượng dành cho việc dạy từ ghép – từ láy ở Tiểu học quá ít mà yêucầu lại quá cao như việc nhận diện được từ ghép, từ láy trong một văn bản, phânloại được các kiểu từ láy, kiểu ghép
- Tiếng Việt phong phú và đa dạng, do vậy việc xác định vạch ranh giớigiữa các từ đều gặp khó khăn, còn tranh luận nhau trong sinh hoạt chuyên môn
* Về phía học sinh:
Qua trực tiếp giảng dạy, dự giờ đồng nghiệp, sinh hoạt chuyên môn, tôithấy học sinh rất khó khăn khi cảm nhận, tiếp nhận, phân loại từ đơn, từ ghép, từláy Đặc biệt, các em còn rất lúng túng khi xác định các từ đơn, từ ghép, từ láytrong ngữ cảnh và văn cảnh
- Thời lượng dành cho học cấu tạo từ ít mà việc phân loại từ ghép, từ láylại nhiều
- Khả năng hiểu nghĩa về từ của học sinh còn yếu dẫn đến việc xác định từloại của học sinh hạn chế
- Học sinh mới chú ý đến dấu hiệu hình thức của từ chứ chưa chú ý đếndấu hiệu bản chất
- Học sinh chưa có ý thức chủ động, tích cực lĩnh hội tri thức mà còn rậpkhuôn, máy móc
2.3 Kết quả khảo sát thực trạng
Vào cuối tháng 10 năm học 2020-2021, tôi đã cho học sinh lớp 4A và 4Blàm bài kiểm tra, với thời gian làm bài 20 phút
Trang 7Ảnh học sinh lớp 4A Trường Tiểu học Nga An đang làm bài tập kiểm tra
Đề bài:
Bài 1:Tìm từ đơn, từ ghép, từ láy trong đoạn văn sau
Chim hót líu lo Nắng bốc hương hoa tràm thơm ngây ngất Gió đưa mùihương ngọt lan xa, phảng phất khắp rừng
Bài 2: Tìm từ ghép phân loại và từ ghép tổng hợp ở những từ được gạch chân?
Núi đồi, làng bản chìm trong biển mây mù Trước bản, rặng đào đã trút
hết lá Trên những cành khẳng khiu đã lấm tấm những lộc non và lơ thơ những
cánh hoa đỏ thắm Lá thông vi vu một điệu đàn bất tuyệt Xen lẫn vào giữa những đám lá tai mèo, những nương đỗ, nương mạch xanh um, trông như những ô bàn cờ Chốc chốc, một điệu hát Hmông lại vút lên trong trẻo
Kết quả thu được:
Trang 8
Lớp Sĩ số
Đánh giá xếp loại
Hoànthành tốt
Hoànthành
Chưa hoàn thành
3 Một số biện pháp giúp học sinh phân biệt từ đơn, từ ghép, từ láy.
Để củng cố kiến thức và kĩ năng về nhận biết và sử dụng đúng, học sinhphải được làm quen nhiều với việc phân tích ví dụ để hiểu rõ hơn về từ đơn, từghép, từ láy từ đó giúp học sinh hiểu rõ được bản chất của vấn đề nhằm nhậnbiết, phân biệt và vận dụng chúng một cách linh hoạt Việc củng cố kiến thứcnày không chỉ ngày một, ngày hai mà phải cả quá trình lâu dài, mọi lúc, mọi nơi
có thể Nói là củng cố kiến thức chung nhưng cũng phải bắt đầu từ các ví dụ cụthể, qua đó để thấy được chỗ “hổng” của học sinh mà kịp thời củng cố, khắcsâu Ngoài ra, học sinh sẽ được hướng dẫn cách tự học để có thể tự củng cốthêm
3.1 Giúp học sinh nắm vững khái niệm về từ đơn, từ ghép, từ láy
Việc nắm vững khái niệm về từ đơn, từ láy, từ ghép vô cùng quan trọng vìchỉ khi nắm vững khái niệm học sinh mới có cơ sở để nhận diện về cấu tạo từ
a Từ đơn: là những từ chỉ có một tiếng
Ví dụ: nhà, vườn, hoa, thì,
b Từ ghép: là từ được tạo ra từ hai hoặc nhiều tiếng có nghĩa
Ví dụ: học sinh, thời tiết,
Trang 9Từ ghép phân loại có thể chia thành 3 loại:
- Từ ghép phân loại chỉ sự vật: Đó là những từ ghép có một yếu tố chính thường
là danh từ đơn biểu thị khái niệm cụ thể hoặc trừu tượng về sự vật, hiệntượng… yếu tố phụ bổ sung cho yếu tố chính tạo nên đặc điểm ngữ nghĩa đểphân biệt các sự vật thuộc cùng một loại
Ví dụ: Chân trời, thuốc bắc, xe đạp, xe máy…
- Từ ghép phân loại chỉ hoạt động: là những từ ghép có yếu tố chính là động từ
có ý nghĩa biểu thị sự hoạt động, yếu tố phụ chỉ đối tượng, mục đích, phươngthức….của hoạt động Cả hai yếu tố tạo nên một khái niệm hoàn chỉnh biểu thịmột loại hoạt động của sự vật
Ví dụ: ăn hại, hỏi thăm, chia sẻ…
- Từ ghép phân loại chỉ tính chất: Là những từ ghép có yếu tố chính thường làtính từ, yếu tố sau chỉ biểu thị phạm vi mức độ, tính chất, đặc điểm do yếu tốchính biểu thị
Ví dụ: tốt bụng, sáng dạ, láu cá…
Từ ghép phân nghĩa chỉ tính chất có yếu tố phụ không có ý nghĩa từ vựng
mà chỉ kết hợp với yếu tố chính để tạo ra sắc thái ý nghĩa mới
Ví dụ: trắng nõn, trắng phau,…
* Từ ghép tổng hợp: Là từ ghép có nghĩa bao quát chung
Ví dụ: Đêm ngày, áo quần, nhà cửa, phố phường, trông nom, mua bán, đi lại, tươi sáng, buồn vui,…
c Từ láy: là từ có một tiếng gốc và tạo ra hai hay nhiều tiếng láy giống nó hoàn toàn hoặc bộ phận
Ví dụ: xinh xắn, mũm mĩm,
Căn cứ vào số lần láy, người ta chia từ láy tiếng Việt thành hai loại lớn: từláy đôi, từ láy ba (là sản phẩm của lần láy thứ nhất) và từ láy tư (là sản phẩm củalần láy thứ hai)
Ví dụ: Gọn -> gọn gàng (láy đôi)
Sạch -> sạch sành sanh (láy ba)
Trang 10Khểnh -> khấp khểnh -> khấp kha khấp khểnh (láy tư)
Để tiếp tục phân loại các từ láy đôi, người ta căn cứ vào mức độ láy, phảinói cách khác là căn cứ vào bộ phận được giữ lại trong âm tiết của hình vị gốc,
từ đó chia thành: từ láy toàn bộ và từ láy bộ phân
Cũng vẫn dựa vào tiêu chí nói trên, người ta chia từ láy bộ phận thành từláy âm (cái được giữ lại là phụ âm đầu) và từ láy vần (cái được giữ lại là vần)
vị trí quan trọng trong ngôn ngữ văn chương
3.2 Giúp học sinh nắm được một số hiện tượng cấu tạo trung gian.
Ngoài những dạng cấu tạo đơn, láy, ghép điển hình, cần phải thừa nhận cónhững đơn vị mang tính chất trung gian, giao thoa giữa hai kiểu dạng Xét vềnguồn gốc, những đơn vị này có thể là những sản phẩm chưa hoàn thiện, báohiệu một quá trình vận động cấu tạo từ chưa kết thúc Một số trường hợp thườnggặp là:
* Từ ghép có sự lặp lại âm thanh một cách ngẫu nhiên.
Trang 11Ví dụ: mơ mộng, nhỏ nhẹ, gậy gộc, thúng mủng, tươi tốt,
Ta thấy quy luật nổi trội nhất ở từ láy là quy luật ngữ âm Việc trình bàycủa SGK làm cho học sinh dễ nhận diện từ láy vì học sinh Tiểu học là lứa tuổikhó nhận diện những gì không hiển minh, không gắn liền với dấu hiệu hìnhthức Vì vậy, tôi đã nghiên cứu và ra cho học sinh bài tập yêu cầu nhận diện một
số từ láy như sau:
- Em hãy chỉ ra trong các từ sau từ nào là từ láy, từ nào là từ ghép? (Lạnhlẽo, mong muốn, đường cua, vòng cua, sợ hãi, tươi tốt, thúng mủng, sáng sớm,vắng lặng, nhỏ nhắn)
Kết quả thu được như sau:
Số lượng từ học sinh lựa chọn Số học sinh
Từ ghép: mong muốn, tươi tốt, thúng
mủng, sáng sớm, vắng lặng, đường cua,
vòng cua, sợ hãi
Theo kết quả trên thì số học sinh nhận xét các từ: “mong muốn, tươi tốt,thúng mủng, sáng sớm, vắng lặng” không phải từ láy là những học sinh giỏi củalớp Vậy để học sinh cả lớp hoàn thành bài tập một cách hoàn chỉnh thì tươngđối khó vì ở SGK thì nhất loạt xét theo hình thức ngữ âm cho nên GV cần phântích rõ để cho học sinh thấy được những từ đó không phải là từ láy mà là sự địnhdanh bình thường, cách gọi tên sự vật, chúng không có nghĩa sắc thái hóa chonên những từ đó không phải là từ láy Để giải quyết được vấn đề này thì GV lầnlượt đưa ra các câu hỏi:
Trang 12GV: Vì sao các con xếp các từ mong muốn, tươi tốt, thúng mủng, sángsớm, vắng lặng vào nhóm từ láy?
HS: Vì cùng có phụ âm đầu, vần, tiếng giống nhau
GV: Mỗi tiếng (tốt và tươi; mong và muốn, thúng và mủng, ) có nghĩa rõràng không?
HS: Có
GV chốt lại: Khi các tiếng trong từ đều có nghĩa thì dù có bộ phận củatiếng giống nhau cũng là từ ghép (những từ như thế này ta cần ưu tiên nguyêntắc nghĩa Vì các tiếng có quan hệ về nghĩa thì mối quan hệ về âm sẽ mờ đi, chỉcòn được xem là sự trùng hợp ngẫu nhiên)
Tóm lại: Sau khi nghiên cứu, tìm tòi, tôi đã rút ra được những kinhnghiệm thông qua các bài tập trên Để học sinh đạt kết quả cao trong giờ học,yêu cầu học sinh thực hiện các bước sau:
+ Đọc thật kỹ đề bài
+ Nắm chắc yêu cầu của đề bài
+ Phân tích mối quan hệ giữa yếu tố đã cho với yếu tố phải tìm
+ Vận dụng kiến thức đã học để thực hiện lần lượt các yêu cầu đó
* Từ ghép có nguồn gốc từ tiếng Hán
Ví dụ: chân chính, bảo bối, linh tính, thành thực, bình minh, hoan hỉ, Tuy các tiếng có hình thức ngữ âm giống nhau nhưng đây là từ Hán Việt, mỗitiếng đều có nghĩa và giữa các tiếng trong từ có quan hệ về nghĩa Vì vậy takhông xếp vào nhóm từ láy
* Từ láy khái quát hóa
Một số từ được nhìn nhận như một từ ghép, nhưng người ta nhận ra mộtphương thức láy lại, lặp lại một bộ phận âm tiết để tạo ra một kiểu ý nghĩa trìutượng, nên coi chúng như những từ láy khái quát hóa
Ví dụ: mùa màng, chim chóc, thịt thà, nước non, bạn bè, rừng rú,
* Từ đơn đa âm định danh
Trang 13Một số từ mang hình thức của dạng láy nhưng về mặt ý nghĩa lại là cácdanh từ gọi tên sự vật Hai âm tiết vô nghĩa hợp lại tạo ra một từ có nghĩa Do đó
có thể tạm thời đưa chúng về từ đơn đa âm định danh
Ví dụ: chôm chôm, đu đủ,
* Từ láy mà chữ viết phản ánh không trung thành với âm thanh.
Ví dụ: cót két, cồng kềnh, quanh co,
Các từ trên được xếp vào từ láy vì thực tế chữ viết được viết bằng các conchữ khác nhau: /k/ = (c, k, q)
* Từ láy khuyết âm đầu.
Một số từ được coi là từ láy nếu xác nhận sự tồn tại của một âm vị đặcbiệt là âm tắc thanh hầu Với học sinh tiểu học thì đây là dạng láy khuyết âmđầu
Ví dụ: ầm ĩ, yên ắng, ồn ào,
Ngoài ra, trong hệ thống từ vựng tiếng Việt tồn tại gần 100 đơn vị từ ngữkiểu như: ngoan ngoãn, nhè nhẹ, chầm chậm, Chúng được coi là những từ láynhưng biểu hiện không phù hợp về phối hợp thanh điệu
3.3 Giúp học sinh phân biệt từ ghép với cụm từ:
- Để tránh được nhầm lẫn giữa cụm từ và từ ghép, thì GV cần phân tích: Mối quan hệ giữa các yếu tố trong từ ghép Một tổ hợp gồm 2- 3 hoặc 4 tiếngtạo thành từ ghép khi sự kết hợp giữa các tiếng rất chặt chẽ, việc tách rời cáctiếng ra sẽ ảnh hưởng đến ngữ nghĩa của từ Về mặt ngữ nghĩa GV phải giúp họcsinh hiểu được: Nghĩa của từ ghép là nghĩa tổng thể Tức là toàn bộ các tiếngtrong từ hợp lại mới biểu thị của một sự vật, một hành động hay một tính chất nào đó
Ví dụ: Từ “Học sinh” thì nghĩa tổng thể là chỉ một đối tượng con người
Từ ví dụ trên cho học sinh phân tích mối quan hệ trong các từ ghép điểnhình: làng bản, núi đồi, buồn vui, thuyền bè, cơm nước,
- GV tiếp tục cho ví dụ để học sinh phân tích, nhận biết từ ghép trong bốicảnh cụ thể: