1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÌM HIỂU về cơ CHẾ QUẢN lý KINH tế VIỆT NAM THỜI kỳ TRƯỚC đổi mới vì SAO TRONG THỜI kỳ đổi mới, ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM PHẢI lựa CHỌN cơ CHẾ QUẢN lý THEO HƯỚNG KINH tế THỊ TRƯỜNG

28 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 205,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngay thời kỳ đầu của đổi mới kinh tế,các nghiên cứu của Việt Nam cũng đã chỉ ra: “Thực chất của đổi mới kinh tế ViệtNam là sự thay đổi các chính sách kinh tế, các hình thức và phương thứ

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC

- -KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BÀI TIỂU LUẬN:

LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM(2021-2022)

ĐỀ TÀI:

TÌM HIỂU VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ KINH TẾ VIỆT NAM THỜI KỲ TRƯỚC ĐỔI MỚI VÌ SAO TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI, ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM PHẢI LỰA CHỌN CƠ CHẾ QUẢN LÝ THEO HƯỚNG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA LÀ

3 HỒNG TRƯƠNG TUỆ VY 1956040130

4 ĐỒNG THỊ THANH THẢO 1956040111

Trang 3

A DẪN LUẬN

Mỗi giai đoạn lịch sử trong quá trình phát triển của nhân loại có một hình thái xãhội và một hệ thống kinh tế đặc trưng Chúng có vai trò như những cột mốc của sựphát triển Khi xã hội chuyển từ giai đoạn lịch sử này sang giai đoạn lịch sử khác, hệthống kinh tế cũng chuyển biến sang một hệ thống kinh tế mới, ưu việt hơn Nền kinh

tế chuyển đổi là trạng thái trung gian giữa các hệ thống kinh tế - xã hội khi nó mangtrong mình những tàn dư của hệ thống kinh tế trước đây đang gồng mình chuyển đổi

và cả những mầm mống của hệ thống kinh tế mới đang lấy đà phát triển Kết quả cuốicùng của quá trình chuyển đổi là sự loại bỏ hay biến đổi hoàn toàn những yếu tố của

hệ thống kinh tế - xã hội cũ

Tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về nền kinh tế chuyển đổi Đặc biệt làtrong các chương trình khoa học và công nghệ Ngay thời kỳ đầu của đổi mới kinh tế,các nghiên cứu của Việt Nam cũng đã chỉ ra: “Thực chất của đổi mới kinh tế ViệtNam là sự thay đổi các chính sách kinh tế, các hình thức và phương thức tác động đếnnền kinh tế” và “Trong thời gian qua, đổi mới kinh tế đã diễn ra trong bốn lĩnh vựcchủ yếu: chuyển sang nền kinh tế thị trường; thực hiện nền kinh tế có sỡ hữu hỗn hợp;

mở cửa nền kinh tế; và cả cách bộ máy nhà nước”1

Dứoi bài tiểu luận này, nhóm chúng tôi sẽ tìm hiểu về cơ chế quản lý kinh tếViệt Nam trước thời kỳ đổi mới và quá trình chuyển đổi sang cơ chế quản lý kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Từ đóxác định được những tư duy mới về phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam trong bốicảnh hiện nay, khi mà đất nước đã trải qua 30 năm đổi mới với những thành công vàchưa thành công và đang hội nhập ngày càng mạnh mẽ hơn vào nền kinh tế thế giới

1 Vũ Đình Bách, Ngô Đình Giao: “Đổi mới hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta”,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993

Trang 4

B NỘI DUNG

I Cơ chế quản lý kinh tế VN trước thời kỳ đổi mới

1 Khái niệm cơ chế quản lý

1.1 Cơ chế là gì?

Đây là cách thức hoạt động của một tập hợp các yếu tố phụ thuộc vào nhau Cụm

từ này được sử dụng phổ biến từ cuối những năm 1970 Khi Việt Nam bắt đầu nghiêncứu quản lý và dần thay đổi về nền kinh tế Do đó, cách hiểu cơ bản nhất chính là mộtcách hoạt động mới theo một quy định cụ thể

Trong tiếng anh, cụm từ cơ chế là “mechanism” Ý nghĩa rất đơn giản, đó làhoàn thành công việc ở trong một hệ thống hoặc một tổ chức một cách tốt nhất Đemlại cái kết đẹp, tạo được nhiều thành tích vẻ vang

1.2 Cơ chế quản lý là gì?

Cơ chế quản lý là sự tương tác qua lại giữa các hình thức quản lý, các biện phápquản lý với nhau Những yếu tố cũng có tác động mạnh mẽ đến đối tượng quản lý.Nhằm mục đích thu được những kết quả, sự khắc phục tiêu cực và đẩy mạnh tích cực Làm như vậy sẽ mang đến những thành tựu đáng kể cho đơn vị, doanh nghiệp,nhà nước Tạo nên sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế và đời sống xã hội Từ đó, giúpngười dân có một cuộc sống yên bình, ấm no hơn

Qua những cách hiểu ở trên thì có thể nói ngắn gọn cơ chế chính là phương thứcvận động, sắp xếp tổ chức làm cơ sở, đường hướng cho sự vận động của sự vật hayhiện tượng trong tương lai

2 Tình hình xã hội trước thời kỳ đổi mới

2.1 Thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám (1945)

Trong hơn 80 năm đô hộ của thực dân Pháp, trong đó có 45 năm đầu thế kỷ XX,kinh tế Việt Nam chìm đắm trong nghèo nàn và lạc hậu, nhân dân ta phải sống trongcảnh nô lệ và đói nghèo cả về vật chất và tinh thần, 90% dân số mù chữ.Các ngànhsản xuất vật chất là nông nghiệp và công nghiệp chịu tác động nặng nề của chế độthực dân kiểu cũ nên rất lạc hậu Trong nông nghiệp, thực dân Pháp tiếp tục duy trìkiểu bóc lột phong kiến bằng tô tức, sưu cao thuế nặng Người nông dân phải chịucảnh một cổ hai tròng là thực dân và phong kiến Phần lớn ruộng đất tập trung vào taybọn địa chủ và chủ đồn điền người Pháp.Dưới chế độ thực dân nửa phong kiến, nền

QUẢN LÝ, ĐIỀUTIẾT CÁC HOẠT ĐỘNGKINH TẾ TRONG XÃ

Trang 5

nông nghiệp nước ta hết sức nghèo nàn về cơ sở vật chất, lạc hậu về kỹ thuật và hoàntoàn dựa vào lao động thủ công và phụ thuộc vào thiên nhiên Năng suất các loại câytrồng đều rất thấp Năng suất lúa bình quân 1 ha thời kỳ 1930-1944 là 12 tạ, trong khi

đó Thái Lan là 18 tạ và Nhật Bản là 34 tạ.Ruộng đất phần lớn tập trung trong tay giaicấp địa chủ phong kiến và thực dân Pháp Nhân dân lao động chiếm 97% số hộ nhưngchỉ sử dụng 36% ruộng đất Trong nông thôn có tới 59,2% số hộ không có ruộng đấtphải sống bằng cày thuê, cấy rẽ Nghịch cảnh sâu sắc diễn ra dưới thời thực dân Phápchiếm đóng: Hàng năm Việt Nam xuất khẩu trên 1 triệu tấn gạo trắng, nhưng nôngdân Việt Nam, người làm ra lúa gạo, lại luôn luôn phải chịu cảnh đói nghèo Năm

1945 có trên 2 triệu người chết đói Cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn: cả nước chỉ có

12 công trình thuỷ nông nhỏ, đảm bảo tưới cho 15% diện tích canh tác, không có côngtrình tiêu úng nên lũ lụt thường xuyên xảy ra, bình quân 2 năm 1 lần vỡ đê Nôngnghiệp chủ yếu là quảng canh, năng suất cây trồng, vật nuôi rất thấp Năm 1939 đượccoi là năm được mùa nhất trước cách mạng nhưng năng suất lúa bình quân cả nướccũng chỉ đạt hơn 10 tạ/ha.Sản xuất công nghiệp rất nhỏ bé và què quặt, chủ yếu làcông nghiệp khai thác mỏ và một số cơ sở công nghiệp nhẹ nhằm bóc lột nguồn nhâncông rẻ mạt và vơ vét tài nguyên khoáng sản Từ năm 1930 đến năm 1945, thực dânPháp đã khai thác: 2,76 triệu tấn than, 217.300 tấn kẽm, chì; 598.000 tấn sắt, mănggan, 1.384 kg vàng, 315.500 tấn phốt pho.Trong hơn 10 năm, từ năm 1930 đến năm

1943, cả nước chỉ có khoảng 200 xí nghiệp công nghiệp và 90.000 công nhân, trong

đó 60% là công nhân khai thác mỏ Cả nước không có một cơ sở công nghiệp luyệnkim, công nghiệp chế tạo thiết bị và hoá chất nào Công nghiệp hàng tiêu dùng cũngchỉ có một số nhà máy đường, rượu, xay xát lương thực, dệt may, giấy với máy mócthiết bị cũ Vào những năm 1938-1939, tỷ trọng công nghiệp chỉ chiếm 10% trongtổng giá trị sản lượng công nông nghiệp cả nước Khu vực tiểu thủ công nghiệp và cáclàng nghề truyền thống bị kìm hãm và mai một So với tổng số vốn đầu tư vào côngnghiệp toàn Đông Dương thời kỳ 1913-1939, vốn đầu tư cho ngành mỏ chiếm 40%,riêng thời kỳ 1924-1930 là 52%.Hậu quả về xã hội cũng rất nặng nề: Thực dân Pháp

đã thực hiện một nền giáo dục nô dịch, trên 90% dân số mù chữ Trung bình 1 vạn dânchỉ có 115 học sinh vỡ lòng, 210 học sinh tiểu học, 2 học sinh chuyên nghiệp và đạihọc Cơ sở y tế thiếu thốn và chủ yếu phục vụ cho quân đội viễn chinh Pháp và bọntay sai phản động Cả nước chỉ có 213 bác sĩ, 335 y sĩ, 264 nữ hộ sinh, bình quân 1vạn dân mới có 0,23 bác sĩ và y sĩ

2.2 Thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1955

Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọcTuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Chính quyềnCách mạng ra đời chưa có thời gian củng cố, đã phải đương đầu với hàng loạt khókhăn thách thức của “giặc đói”, “giặc dốt”, “giặc ngoại xâm” Đảng và Nhà nước ta đãbắt tay ngay vào giải quyết những khó khăn cấp bách của đời sống nhân dân, tăngcường thực lực cách mạng trên tất cả các phương diện chính trị, quân sự, kinh tế, vănhóa, xã hội Ngày 6/1/1946, tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt NamDân chủ Cộng hòa.Với âm mưu xâm lược nước ta một lần nữa, thực dân Pháp bội ước

nổ súng đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn và đổ bộ hàng nghìn quân lên Đà Nẵng(20/11/1946) Hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Đảng và Chính phủ,nhân dân ta đã tiến hành cuộc kháng chiến đầy gian khổ nhưng rất anh hùng Cùng vớinhiệm vụ thực hiện cuộc kháng chiến chống chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp,

Trang 6

chúng ta đã thực hiện chuyển nền kinh tế tàn tích thực dân, phong kiến và thấp kémthành nền kinh tế dân chủ, độc lập phục vụ nhu cầu kháng chiến và kiến quốc.Trongthời kỳ này (1946-1954) kinh tế nông thôn và sản xuất nông nghiệp có vị trí đặc biệtquan trọng nên cùng với việc động viên nông dân tích cực tăng gia sản xuất, Chínhphủ đã từng bước thực hiện các chính sách về ruộng đất, giảm tô, giảm tức Năm

1949, sắc lệnh giảm tô, giảm tức được ban hành, đồng thời tạm cấp ruộng đất thuđược của thực dân Pháp và địa chủ bỏ chạy vào vùng địch tạm chiếm chia cho nôngdân nghèo Nhờ đó, trong các vùng giải phóng, sản xuất nông nghiệp phát triển, sảnlượng lương thực năm 1954 đạt gần 3 triệu tấn, tăng 13,7% so với năm 1946, tốc độtăng giá trị sản lượng nông nghiệp ở miền Bắc trong 9 năm kháng chiến đạt 10%/năm.Nhiều cơ sở công nghiệp quan trọng phục vụ quốc phòng và sản xuất hàng hóa tiêudùng thiết yếu cho nhân dân được khôi phục và mở rộng.Chỉ tính riêng từ năm 1945đến tháng 4/1953 ở vùng tự do và đến tháng 7/1954 ở vùng mới giải phóng, nông dânmiền Bắc đã được chia 475.900 ha ruộng đất và ở Nam Bộ, chính quyền cách mạng đãchia cho nông dân 410.000 ha Do lực lượng sản xuất được giải phóng, sản xuất nôngnghiệp vùng giải phóng đạt mức tăng trưởng khá Sản lượng lương thực quy thóc đạt2,95 triệu tấn, tăng 13,7% so với năm 1946, trong đó riêng thóc đạt 2,3 triệu tấn tăng15,9%.Công nghiệp và thủ công nghiệp kháng chiến được xây dựng, đặc biệt là côngnghiệp quốc phòng đã góp phần không nhỏ đáp ứng nhu cầu chiến đấu và tiêu dùng.Ngoài số lượng lớn về vũ khí đạn dược, các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu được sảnxuất ngày càng nhiều Từ năm 1946-1950 đã sản xuất 20.000 tấn than cốc, 800 kgăngtimoan Từ năm 1950 đến cuối năm 1952 sản xuất được 29,5 tấn thiếc, 43,0 tấnchì Những năm 1950-1954 đã sản xuất được 169,3 triệu mét vải, 31.700 tấngiấy.Cùng với nỗ lực đẩy mạnh sản xuất, sự nghiệp giáo dục-chống giặc dốt được coi

là một trong những nhiệm vụ hàng đầu, đi đôi với chống giặc ngoại xâm, giặc đói Từ

1946 đến 1954 có 10,5 triệu người thoát nạn mù chữ.Từ một nền kinh tế nông nghiệplạc hậu, kiệt quệ vì sự bóc lột lâu dài của đế quốc và phong kiến, dân tộc ta đã đứnglên kháng chiến 9 năm gian khổ chống thực dân Pháp, kết thúc bằng chiến thắng lịch

sử Điện Biên Phủ chấn động địa cầu

2.3 Thời kỳ từ năm 1955 đến năm 1975

Sau khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nước ta đứngtrước một tình hình mới, cách mạng Việt Nam thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược: miềnBắc bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cuộc cáchmạng dân tộc dân chủ nhân dân nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước,hoàn thành cuộc cách mạng độc lập dân tộc trong cả nước.Sau khi hòa bình được lậplại ở miền Bắc (1954), sản xuất công nghiệp từng bước được khôi phục và phát triển.Trong 3 năm khôi phục kinh tế (1955-1957) và tiếp theo là kế hoạch 5 năm 1961-1965với đường lối công nghiệp hóa, nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp được phục hồi vàxây dựng Từ năm 1965 đến 1975, tuy miền Bắc phải đương đầu với cuộc chiến tranhphá hoại của đế quốc Mỹ nhưng sản xuất công nghiệp vẫn được duy trì và phát triển.Giá trị tổng sản lượng công nghiệp năm 1975 tăng gấp 16,6 lần năm 1955, bình quântăng mỗi năm 14,7% Hầu hết các sản phẩm công nghiệp tính bình quân đầu ngườinăm 1975 đã đạt mức cao hơn nhiều so với năm 1955, trong đó: điện gấp 13,8 lần,than 4,8 lần, xi măng 25,2 lần, giấy 14,5 lần, vải 4,8 lần, đường 4 lần Năm 1975 miềnBắc đã có 1.335 xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, tăng 323 xí nghiệp so với năm

1960 Một số ngành công nghiệp nặng có năng lực sản xuất khá lớn Vị trí của công

Trang 7

nghiệp trong tổng sản phẩm xã hội tăng từ 32,7% năm 1960 lên 42,6% năm 1975; thunhập quốc dân từ 18,2% lên 28,7% trong 15 năm tương ứng.Sản lượng lương thực quithóc từ 3,76 triệu tấn năm 1955 tăng lên 5,49 triệu tấn năm 1975; đàn lợn từ 2,45 triệucon lên 6,75 triệu con Hoạt động thương mại được chú trọng Tổng mức bán lẻ hànghóa xã hội năm 1975 so với năm 1955 tăng gấp 7,8 lần; kim ngạch xuất khẩu tăng21,3 lần; kim ngạch nhập khẩu tăng 11,8 lần Tỷ lệ xuất khẩu so với nhập khẩu tăng từ9,1% năm 1945 lên 17,0% năm 1955; riêng thời kỳ 1958-1964 đạt tỷ lệ 63,7%.Để hỗtrợ cho nông nghiệp và nông thôn khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh và tàn

dư của chế độ phong kiến, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương và chính sáchkinh tế, tài chính tích cực, trong đó nổi bật nhất là cải cách ruộng đất, thực hiện ngườicày có ruộng, 810.000 ha đất nông nghiệp của địa chủ được tịch thu và chia cho nôngdân nghèo Sau 3 năm khôi phục kinh tế (1955-1957), diện tích gieo trồng tăng 23,5%,năng suất lúa tăng 30,8%, sản lượng lương thực tăng 57%, lương thực bình quân đầungười tăng 43,6%, đàn trâu tăng 44,2%, đàn bò tăng 39%, đàn lợn tăng 20% so vớinăm 1939 Trong hoàn cảnh sau chiến tranh nhưng kết quả đạt được như trên là rấtđáng ghi nhận, trong đó nổi bật nhất là lương thực bình quân đầu người năm 1957 đãđạt 303 kg Đến năm 1957, nền kinh tế miền Bắc được phục hồi vượt mức cao nhấtdưới thời Pháp thống trị (1939) Sau khi thu được những kết quả quan trọng trongkhôi phục kinh tế, Hội nghị Trung ương lần thứ 14 (11/1958) đã vạch ra kế hoạch 3năm cải tạo xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế, văn hóa Những năm 1958-1960,nền kinh tế miền Bắc có những chuyển biến đáng kể.Trong 5 năm 1961-1965, nhândân miền Bắc đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng: Quan hệ sản xuất mới tiếp tụcđược củng cố, cơ sở vật chất được tăng cường, bước đầu có sự tìm tòi cải tiến cungcách làm ăn qua các cuộc vận động “ba xây ba chống” và “cải tiến quản lý hợp tác xã,cải tiến kỹ thuật”, giáo dục văn hóa, y tế phát triển mạnh mẽ Đến năm 1965, có88,8% số hộ nông dân vào hợp tác xã sản xuất nông nghiệp; trong đó 71,7% số hộ lênhợp tác xã bậc cao Nền nông nghiệp hợp tác hóa cùng giai cấp nông dân tập thể đãhình thành và phát triển Tốc độ tăng bình quân về giá trị tổng sản lượng nông nghiệp

là 4,1% Năm 1965 đã có 9 huyện và 125 hợp tác xã đạt năng suất bình quân từ 5 tấnthóc/ha trở lên Đầu năm 1965 đã xây dựng được 3.139 điểm cơ khí nhỏ, 7 trạm và 32đội máy kéo, 33 công trình thuỷ lợi lớn, 1.500 công trình vừa và nhỏ được khôi phục

và xây dựng, bảo đảm tưới tiêu chủ động cho hơn 500.000 ha diện tích trồngtrọt.Nông nghiệp miền Bắc từ một nền nông nghiệp lạc hậu, độc canh, năng suất thấpdần dần trở thành một nền nông nghiệp phát triển tương đối toàn diện.Công nghiệpmiền Bắc thời kỳ này đã có bước phát triển khá Từ những cơ sở sản xuất công nghiệpnhỏ bé, chủ yếu là khai thác nguyên liệu và sửa chữa nhỏ nay đã bắt đầu sản xuất mộtphần tư liệu sản xuất và phần lớn những vật phẩm tiêu dùng của nhân dân Vai trò chủđạo của công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân bước đầu được phát huy Các ngànhcông nghiệp chủ yếu như điện, cơ khí, luyện kim, hóa chất, vật liệu xây dựng đãhình thành và phát triển nhanh, nhất là ngành điện và ngành cơ khí Đến năm 1965 đãxây dựng được 1.132 xí nghiệp công nghiệp quốc doanh Nhiều khu công nghiệp pháttriển và hình thành ở Hà Nội, Hải Phòng, Việt Trì, Thái Nguyên, Nam Định, Vinh,Hồng Quảng.Cuối năm 1964, miền Bắc hoàn thành những mục tiêu cơ bản của kếhoạch 5 năm 1961-1965 Đánh giá những chuyển biến của miền Bắc, tại Hội nghịChính trị đặc biệt (27/3/1964), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong 10 nămqua, miền Bắc nước ta đã tiến những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc

Trang 8

Đất nước, xã hội và con người đều đổi mới”.Giai đoạn 1965-1970, trong hoàn cảnhchiến tranh ác liệt, miền Bắc vẫn vững vàng vừa sản xuất vừa chiến đấu, vừa làm trònnghĩa vụ hậu phương lớn với tiền tuyến lớn Công cuộc khôi phục kinh tế và phát triểnsản xuất đã thu được kết quả Sản lượng lương thực năm 1970, toàn miền Bắc đạt5.278.900 tấn, tăng hơn năm 1969 hơn nửa triệu tấn Năng suất lúa cả năm đạt 43,11

tạ trên 1 ha ruộng hai vụ Tỉnh Thái Bình và thành phố Hà Nội đạt năng suất bìnhquân trên 5 tấn thóc/ha 30 huyện, 2.265 hợp tác xã đạt năng suất bình quân 5 tấn thóc/

ha Thu nhập bình quân đầu người của gia đình xã viên hợp tác xã nông nghiệp tăng20% so với năm 1965.Sản xuất công nghiệp cũng có những chuyển biến tốt Những cơ

sở công nghiệp bị địch đánh phá phần lớn đã được khôi phục trong năm 1970 Giá trịtổng sản lượng công nghiệp vượt mức kế hoạch 2,5%, xấp xỉ bằng năm 1965 Phầnlớn các sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp đều đạt hoặc vượt mức kế hoạchnăm.Sau thắng lợi trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân

và hải quân lần thứ hai của đế quốc Mỹ năm 1972, hai năm 1972-1973, công cuộckhôi phục và phát triển kinh tế ở miền Bắc được tiến hành khẩn trương Năm 1974,hai vụ lúa được mùa Sản xuất lúa cả năm đạt 5.468.800 tấn (năm 1973 đạt 4.468.000tấn) Năng suất bình quân một vụ lúa đạt 24,18 tạ/ha Năm 1974 có 9 tỉnh, 107 huyện

và 4.226 hợp tác xã đạt năng suất 5 tấn thóc/ha ruộng hai vụ lúa Tỉnh Thái Bình, lá cờđầu về năng suất lúa của miền Bắc đạt trên 7 tấn thóc/ha Hệ thống thủy nông đượcphục hồi và nâng cấp Năm 1974, giá trị tổng sản lượng công nghiệp và thủ côngnghiệp vượt kế hoạch 4%, so với năm 1973 tăng 15% So với năm 1960, số xí nghiệpcông nghiệp ở miền Bắc năm 1975 tăng 32%, khu vực kinh tế quốc doanh chiếm88,4% tổng sản phẩm xã hội và 84,1% thu nhập quốc dân Nhiều bến cảng, đườnggiao thông thủy bộ được phục hồi nhanh chóng Nhiều cầu được sửa chữa, xây dựnglại.Cùng với phát triển kinh tế, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân cũng nânglên Lấy năm 1957 làm gốc so sánh, Quỹ tiêu dùng của nhân dân tính bình quân đầungười tăng 82,8%; thu nhập bình quân đầu người của gia đình công nhân viên chứctăng 48,5%; của gia đình xã viên hợp tác xã nông nghiệp tăng 73,8%Hoạt động giáodục, y tế đạt được những thành tựu to lớn Số người đi học năm 1955 là 1.288.000người thì đến năm 1975 đạt 6.796.900 người, tăng gấp 5,3 lần, trong đó trung họcchuyên nghiệp là từ 2.800 người lên 83.500 người, tăng gấp 29,8 lần, đại học từ 1.200

và 61.100 người, tăng gấp 50,9 lần Tính bình quân cho 1 vạn dân, năm 1955 có 949người đi học thì đến năm 1975 có 2.769 người, tăng gấp 2,9 lần, trong đó trung họcchuyên nghiệp và đại học là 2,9 người và 59 người, tăng gấp 20,3 lần

2.4 Thời kỳ 1976 đến 1986

Trải qua 21 năm chiến đấu gian khổ và anh hùng, cách mạng miền Nam từngbước lớn mạnh và giành được nhiều thắng lợi to lớn Với cuộc Tổng tiến công và nổidậy Mùa Xuân năm 1975, quân và dân ta đã đánh bại hoàn toàn chiến tranh xâm lượccủa đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc.Sau khi miền Nam đượchoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, cách mạng Việt Nam chuyển sang giaiđoạn mới – giai đoạn cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.Trong 5 năm 1976-1980, trênmặt trận kinh tế, nhân dân Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng: Khắcphục từng bước những hậu quả nặng nề của chiến tranh xâm lược do đế quốc Mỹ gây

ra và của cuộc chiến tranh biên giới; khôi phục phần lớn những cơ sở công nghiệp,nông nghiệp, giao thông ở miền Bắc và xây dựng lại các vùng nông thôn ở miền Nam

bị chiến tranh tàn phá; củng cố kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ở miền Bắc, bước

Trang 9

đầu cải tạo và sắp xếp công thương nghiệp tư doanh ở miền Nam, đưa một bộ phậnnông dân Nam Bộ, nông dân Nam Trung Bộ vào con đường làm ăn tập thể; bước đầuphân bố lại lực lượng lao động xã hội; tăng cường một bước cơ sở vật chất-kỹ thuậtcủa nền kinh tế quốc dân.Tuy nhiên, kết quả sản xuất trong 5 năm 1976-1980 chưatương xứng với sức lao động và vốn đầu tư bỏ ra; những mất cân đối của nền kinh tếquốc dân còn trầm trọng; thu nhập quốc dân chưa bảo đảm được tiêu dùng của xã hội;thị trường, vật giá, tài chính, tiền tệ không ổn định; đời sống của nhân dân lao độngcòn khó khăn Lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hànhcủa Nhà nước giảm sút.Ngay từ những năm đầu của kế hoạch 5 năm lần thứ 2 (1981-1985), nhiều Nghị quyết và Quyết định quan trọng của Đảng và Chính phủ được banhành nhằm từng bước sửa đổi cơ chế quản lý đối với kinh tế nông nghiệp, côngnghiệp, kinh tế tư nhân và xóa bỏ quan liêu bao cấp Trước đó, từ Đại hội Đảng toànquốc lần thứ V (1982), bước đầu có cách nhìn mới về nền kinh tế nhiều thành phần,thừa nhận miền Bắc tồn tại 3 thành phần kinh tế là quốc doanh, tập thể và cá thể; miềnNam tồn tại 5 thành phần kinh tế là quốc doanh, tập thể, công tư hợp doanh, tư bản tưnhân và cá thể Đó là bước khởi đầu thay đổi cơ cấu các chủ thể sản xuất kinh doanh,tạo tiền đề cơ bản cho sự phát triển kinh tế thị trường.Hội nghị Ban Chấp hành Trungương lần thứ 10 khoá V (6/1986) đã đánh giá tình hình sau cuộc điều chỉnh giá-lương-tiền (9/1985) và khẳng định chính thức đổi mới cơ chế quản lý, xóa bỏ cơ chế tậptrung quan liêu bao cấp.

Với những bước đi đổi mới từng phần theo những chủ trương, chính sách đúngđắn của Đảng và Nhà nước, những sáng kiến, sự năng động, sáng tạo của nhân dâncủa các địa phương, cơ sở sản xuất kinh doanh, đã làm cho nền kinh tế Việt Namnhững năm 1981-1985 có bước phát triển khá Sản lượng lương thực bình quân mỗinăm đạt 17 triệu tấn, sản lượng công nghiệp tăng bình quân 9,5%/năm Thu nhập quốcdân tăng bình quân hàng năm 6,4% Cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội được xâydựng đáng kể với hàng trăm công trình tự động hóa và hàng nghìn công trình vừa vànhỏ, trong đó có những cơ sở quan trọng về điện, dầu khí, xi măng, cơ khí, dệt, giaothông Về năng lực sản xuất, đã tăng thêm 456.000 kW điện, 2,5 triệu tấn than, 2,4triệu tấn xi măng, 33.000 tấn sợi, 58.000 tấn giấy, thêm 309.000 ha được tưới nước,186.000 ha được tiêu úng Tuy vậy, tình hình kinh tế-xã hội và đời sống nhân dân vẫncòn nhiều khó khăn, khủng hoảng kinh tế-xã hội vẫn trầm trọng mà biểu hiện là: (1)kinh tế tăng trưởng thấp và thực chất không có phát triển Nếu tính chung từ năm 1976đến 1985 tổng sản phẩm xã hội tăng 50,5%, bình quân hàng năm chỉ tăng ở mức4,6%; thu nhập quốc dân tăng 38,8% bình quân hàng năm chỉ tăng 3,7%, trong khi tỷ

lệ dân số tăng trung bình hàng năm 2,3%; (2) không có tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế

vì làm không đủ ăn, thu nhập quốc dân sản xuất chỉ bằng 80 – 90% thu nhập quốc dân

sử dụng; (3) siêu lạm phát hoành hành Suốt trong thời kỳ 1976-1985 chỉ số giá bán lẻhàng hóa năm sau so năm trước luôn tăng ở mức hai con số và giao động ở mức 19-92% Năm 1986 lạm phát đạt đỉnh điểm với tốc độ tăng giá 774,7% và (4) đời sốngnhân dân hết sức khó khăn, thiếu thốn

3 Cơ chế quản lý trước đổi mới ( quan liêu, bao cấp)

Vào trước thời kỳ đổi mới, cơ chế quản lý kinh tế ở Việt Nam là cơ chế kế hoạch

hóa tập trung quan liêu, bao cấp Cơ chế kế hoạch hóa tập trung là cơ chế mà trong

đó nền kinh tế vận động dưới sự kiểm soát của Nhà nước về các yếu tố sản xuất cũngnhư phân phối hàng hóa, ngoài ra nhà nước cũng quyết định các loại hàng hóa cần sản

Trang 10

xuất, đồng thời cũng điều hành các cơ quan cấp dưới để sản xuất theo mục tiêu củaquốc gia và xã hội, không tuân theo quy luật cung - cầu của thị trường Nước ta từ saukhi cách mạng thành công và thành lập nhà nước xã hội chủ nghĩa, cả dân tộc trởthành một khối, nhà nước nắm giữ toàn bộ tư liệu sản xuất và đề ra các kế hoạch lớnnhư kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965), kế hoạch 5 năm lần thứ 2 (1976 -1980), kế hoạch 5 năm lần thứ 3 (1981 - 1985)

Cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp ở nước ta trước thời kỳ đổi

mới có những đặc điểm chủ yếu sau:

Thứ nhất, nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hànhchính dựa trên hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết từ trên xuống dưới Cácdoanh nghiệp hoạt động dựa trên cơ sở các quyết định của cơ quan nhà nước cóthẩm quyền và các chỉ tiêu pháp lệnh được giao Tất cả các phương hướng sảnxuất, nguồn vật tư, tiền vốn, định giá sản phẩm, tổ chức bộ máy, nhân sự, tiềnlương, đều do các cấp có thẩm quyền quyết định Nhà nước giao chỉ tiêu kếhoạch, cấp vốn, vật tư cho các doanh nghiệp, các doanh nghiệp sản xuất vàgiao nộp sản phẩm cho nhà nước Lỗ thì nhà nước bù, lãi thì nhà nước thu

- Thứ hai, các cơ quan hành chính can thiệp sâu vào quá trình hoạt độngsản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm gì

về vật chất đối với các quyết định của mình Những thiệt hại về vật chất do cácquyết định không đúng gây ra thì ngân sách nhà nước phải gánh chịu, cácdoanh nghiệp không có quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh cũng không bịràng buộc trách nhiệm đối với kết quả sản xuất, kinh doanh

- Thứ ba, quan hệ hàng hóa - tiền tệ bị xem nhẹ, chỉ là hình thức, quan hệhiện vật là chủ yếu, nhà nước quản lý kinh tế thông qua chế độ “cấp phát - giaonộp” Vì vậy, rất nhiều hàng hóa quan trọng như sức lao động, phát minh sángchế, tư liệu sản xuất quan trọng không được coi là hàng hóa về mặt pháp lý

- Thứ tư, bộ máy quản lý cồng kềnh, nhiều trung gian vừa kém năng độngvừa sinh ra đội ngũ quản lý không có năng lực, phong cách cửa quyền, quanliêu nhưng được hưởng quyền lợi cao hơn người lao động

Chế độ bao cấp được thực hiện dưới các hình thức chủ yếu sau:

Bao cấp qua giá: Nhà nước quyết định giá trị tài sản, thiết bị, vật tư, hàng

hóa thấp hơn giá trị thực của chúng nhiều lần so với giá thị trường Do đó, hạchtoán kinh tế chỉ là hình thức

Bao cấp qua chế độ tem phiếu: Nhà nước quy định chế độ phân phối vật

phẩm tiêu dùng cho cán bộ, công nhân viên, công nhân theo định mức qua hìnhthức tem phiếu Chế độ tem phiếu với mức giá khác xa so với giá thị trường đãbiến chế độ tiền lương thành lương hiện vật, thủ tiêu động lực kích thích ngườilao động và phá vỡ nguyên tắc phân phối theo lao động

Bao cấp theo chế độ cấp phát vốn của ngân sách nhưng không có chế tài

ràng buộc trách nhiệm vật chất đối với các đơn vị được cấp vốn Điều đó vừalàm tăng gánh nặng đối với ngân sách vừa làm cho sử dụng vốn kém hiệu quả,nảy sinh cơ chế “xin - cho”

Trong thời kỳ kinh tế còn tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng thì cơ chế này cóhiệu quả nhất định, nó cho phép tập trung tối đa các nguồn lực kinh tế vào các mụctiêu chủ yếu trong từng giai đoạn và điều kiện cụ thể, đặc biệt là trong quá trình công

Trang 11

nghiệp hóa theo hướng ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, nhưng nó lại thủ tiêu cạnhtranh, kìm hãm sự tiến bộ của khoa học - công nghệ, triệt tiêu động lực kinh tế đối vớingười lao động, không kích thích được tính năng động, sáng tạo của các đơn vị sảnxuất, kinh doanh, làm cho đội ngũ cán bộ công chức của các cơ quan hành chính nhànước trở nên quan liêu, lộng quyền, hách dịch Khi nền kinh tế thế giới chuyển sanggiai đoạn phát triển theo chiều sâu dựa trên cơ sở áp dụng các thành tựu của cuộc cáchmạng khoa học - công nghệ hiện đại thì cơ chế này không còn phù hợp và bộc lộnhiều khuyết điểm, làm cho kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, trong đó cónước ta, lâm vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng

Trước thời kỳ đổi mới, do chưa thừa nhận sản xuất hàng hóa và cơ chế thịtrường, nên đã xem kế hoạch hóa là đặc trưng quan trọng nhất của kinh tế xã hội chủnghĩa, phân bổ mọi nguồn lực theo kế hoạch là chủ yếu; coi thị trường chỉ là công cụthứ yếu bổ sung cho kế hoạch Không thừa nhận trên thực tế sự tồn tại của nền kinh tếnhiều thành phần trong thời kỳ quá độ, lấy kinh tế quốc doanh và tập thể là chủ yếu,muốn nhanh chóng xóa bỏ sở hữu tư nhân và kinh tế cá thể, tư nhân Vì vậy, nền kinh

tế của nước ta rơi vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng

II Đổi mới cơ chế quan lý theo hướng kinh tế thị trường định hướng

XHCN

1 Nhu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế

Dưới áp lực của tình thế khách quan, nhằm thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xãhội, Đảng và Nhà nước đã thực hiện những bước cải tiến nền kinh tế theo hướng thịtrường, tuy nhiên còn chưa toàn diện, chưa triệt để Đó là khoán sản phẩm trong nôngnghiệp theo chỉ thị 100-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương khóa IV; bù giá vàolương ở Long An; nghị quyết Trung ương 8 khóa V (năm 1985) về giá - lương - tiền;thực hiện Nghị định 25 và Nghị định 26-CP của Chính phủ Đó là những căn cứ thực

tế để Đảng đi đến quyết định thay đổi cơ chế quản lý kinh tế

Đề cập sự cần thiết đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, Đại hội VI khẳng định: “Việc

bố trí lại cơ cấu kinh tế phải đi đôi với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế Cơ chế quản lýtập trung quan liêu, bao cấp từ nhiều năm nay không tạo được động lực phát triển, làmsuy yếu kinh tế xã hội chủ nghĩa, hạn chế việc sử dụng và cải tạo các thành phần kinh

tế khác, kìm hãm sản xuất, làm giảm năng suất, chất lượng, hiệu quả, gây rối loạntrong phân phối lưu thông và đẻ ra nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội”2 Chính vìvậy, việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trở thành nhu cầu cần thiết và cấp bách

Vì vậy, việc chuyển đổi nền kinh tế nước ta theo hướng nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa là một tất yếu là một nhiệm vụ cần thiết, cấp bách đểchuyển từ nền kinh tế lạc hậu thành nền kinh tế hiện đại, hội nhập quốc tế Đây là conđường đúng đắn để phát triển lực lượng sản xuất và khai thác có hiệu quả mọi tiềmnăng của đất nước để phục vụ nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Kinh

tế hàng hóa không những không đối lập với các nhiệm vụ kinh tế xã hội khác trongthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mà ngược lại còn thúc đẩy các nhiệm vụ đó pháttriển mạnh mẽ hơn

2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006, t.47, 396

Trang 12

tr.395-2 Quá trình đổi mới tư duy lý luận và thực tiễn phát triển nền kinh

tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

Khái niệm “kinh tế thị trường định hướng XHCN” được khẳng định tại Đại hộiĐảng IX năm 2001 Đây là kết quả của quá trình 15 năm đổi mới tư duy và thực tiễn ởnước ta, được đúc kết lại trên cơ sở kiểm điểm, đánh giá và rút ra các bài học lớn tạicác kỳ Đại hội Đảng

Quá trình đổi mới tư duy lý luận về kinh tế thị trường định hướng XHCN đượcxác định trên cơ sở khái quát lại quá trình đổi mới qua ba nấc thang nhận thức về nềnkinh tế XHCN, tương ứng với ba giai đoạn phát triển của nền kinh tế: Trước Đại hộiĐảng VI (năm 1986); Từ Đại hội Đảng VI đến Đại hội Đảng IX (1986-2000) và TừĐại hội Đảng IX đến nay

2.1 Giai đoạn trước Đại hội VI (1986)

Nền kinh tế vận hành trong khuôn khổ cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp.Những cải tiến theo hướng kinh tế thị trường chủ yếu ở cấp vi mô, mang tính cục bộ,không triệt để và thiếu đồng bộ, diễn ra trong khuôn khổ cơ chế kế hoạch hoá tậptrung và nhằm duy trì, củng cố hệ thống kinh tế công hữu, tập trung, bao cấp và đóngcửa

- Đây là giai đoạn nền kinh tế chịu sự thống trị tuyệt đối của chế độ sở hữu côngcộng, vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung với các đặc trưng nổi bật là quanliêu - bao cấp Các quan hệ hàng hoá, tiền tệ, thị trường bị phủ nhận

- Do tính kém hiệu quả của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, dưới áp lực củathực tiễn, trong thời kỳ cuối thập niên 1970, đầu thập niên 1980, trong nền kinh tếdiễn ra những cải cách cục bộ theo hướng bước đầu thừa nhận thị trường là một công

cụ bổ sung cho kế hoạch, chủ yếu để tổ chức hoạt động kinh doanh ở cấp vi mô Với

sự thừa nhận này, thị trường không bị coi là đối lập với CNXH và có thể chấp nhậnđược trong quá trình xây dựng CNXH

● Năm 1979: Hội nghị TW 6 (khoá IV): Nghị quyết về lưu thông - phân phối,

mở đường áp dụng cơ chế “kế hoạch 3 phần” trong các doanh nghiệp nhà nước, chophép doanh nghiệp nhà nước vươn ra thị trường tự do với phần vượt ra ngoài kế hoạchpháp lệnh

● Năm 1981: Khoán 100 trong nông nghiệp Hộ nông dân nhận khoán sản phẩm

và được quyền bán sản phẩm vượt khoán trên thị trường tự do

Đây là hai điểm đột phá thị trường đầu tiên ở hai lĩnh vực kinh tế chủ chốt, tạođộng lực phát triển mạnh mẽ cho doanh nghiệp, tập thể và người lao động

Tuy đây là sự chuyển biến nhận thức và thực tiễn quan trọng, mang tính đột phá,song vẫn chưa đủ để tạo ra một bước ngoặt căn bản trong quan điểm lý luận và thựctiễn về quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế XHCN Thị trường chỉ được coi

là công cụ bổ sung Công cụ chủ yếu để quản lý, điều hành và tổ chức kinh tế vẫn là

kế hoạch pháp lệnh với các chỉ tiêu định lượng cụ thể giao xuống từng doanh nghiệp(xí nghiệp quốc doanh và hợp tác xã) Về thực chất, đó là những cải tiến, cải cách thểchế cục bộ trong khuôn khổ cơ chế cũ (kế hoạch hoá tập trung) và nhằm duy trì, củng

cố hệ thống kinh tế vận hành thông qua cơ chế đó

● Giai đoạn 1984-1986: nhà nước giảm dần số mặt hàng cung cấp định lượng,thu hẹp dần chế độ hai giá Năm 1985, dưới áp lực lạm phát mạnh, tiến hành đổi tiền.Các bước “tiến ra” thị trường này gây “sốc” mạnh trong xã hội do giá của ngày càng

Trang 13

nhiều hàng hoá chuyển thành giá thị trường trong khi giá các sản phẩm đầu vào nhưlương (giá lao động) và lãi suất, tỷ giá (giá vốn) và giá một số mặt hàng thiết yếu (gạo,chất đốt, thịt, v.v.) vẫn là phi thị trường Nền kinh tế lâm vào rối loạn, khủng hoảng.Nguyên nhân không phải do áp dụng các quan hệ giá trị - thị trường mà do áp dụngchúng thiếu đồng bộ, không hệ thống và thiếu triệt để.

- Trong nhận thức lý luận, vẫn chưa thừa nhận những thay đổi mang tính cấutrúc của nền kinh tế mà thiếu chúng, không thể có nền móng cho sự tồn tại và pháttriển của kinh tế thị trường Cụ thể:

+ Trên thực tế, chưa thừa nhận tính tất yếu của kinh tế đa thành phần, đa sở hữu,của sở hữu tư nhân và các lợi ích hợp pháp được hưởng từ các quyền tài sản (phủ nhậnnguyên tắc phân phối dựa vào nguồn vốn đóng góp)

+ Không thừa nhận quyền tự chủ kinh doanh, tự chịu trách nhiệm tài chính củadoanh nghiệp

+ Nền kinh tế vận hành theo nguyên tắc "hiện vật", phủ nhận thị trường, giá cả

và cạnh tranh thị trường

+ Tiếp tục duy trì mô hình tự cung - tự cấp kiểu Xô viết: xây dựng nền kinh tế tựbảo đảm, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, hướng nội, phụ thuộc vào nguồn tài trợquốc tế (từ các nước XHCN)

- Hệ quả của những thay đổi cục bộ trong tư duy và thực tiễn trước đổi mới:+ Nền kinh tế nhiều thành phần, đa sở hữu không được thừa nhận trên thực tế;+ Cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp tiếp tục thống trị

+ Thị trường bắt đầu có tác động tích cực nhưng rất hạn chế, không đóng vai tròđiều tiết hoạt động của doanh nghiệp

+ Nền kinh tế bị rối loạn, lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng

+ Lực lượng SX bị trói buộc; quan hệ sản xuất trở thành lực cản phát triển

+ Tình thế khủng hoảng làm gia tăng áp lực đổi mới toàn diện cơ chế kinh tế

2.2 Giai đoạn từ Đại hội VI (1986) đến hết Đại hội VIII (2001)

Đổi mới toàn diện cả cấu trúc và cơ chế vận hành nền kinh tế với nội dung chính

là từ bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, phát triển nền kinh tế nhiều thànhphần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước, theo định hướngXHCN

- Đại hội VI đột phá mạnh và căn bản trong tư duy lý luận bằng việc đề ra đườnglối đổi mới, trong đó, phê phán và từ bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, coisản xuất hàng hoá và kinh tế hàng hoá không phải là sản phẩm riêng có của CNTB,thừa nhận sự tồn tại khách quan của “nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo địnhhướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước” trên conđường đi lên CNXH (Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXHđược thông qua tại Hội nghị giữa kỳ Đại hội VII)

- Khẳng định các yếu tố cấu thành cơ bản của nền kinh tế hàng hoá trong giaiđoạn quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam:

+ Các thành phần kinh tế với các loại hình sở hữu khác nhau, cùng tồn tại lâudài, trong đó, sở hữu toàn dân và tập thể là nền tảng, kinh tế quốc doanh đóng vai tròchủ đạo

+ Đổi mới khu vực doanh nghiệp nhà nước theo hướng tăng quyền tự chủ và tựchịu trách nhiệm tài chính, chịu sự điều tiết ngày càng nhiều của thị trường

Trang 14

+ Tạo điều kiện và khuyến khích sự phát triển của các doanh nghiệp thuộc mọithành phần kinh tế phi nhà nước; đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài trực tiếp và tăngcường hoạt động của các doanh nghiệp nước ngoài ở Việt Nam.

+ Thừa nhận cơ chế một giá do thị trường định đoạt đối với đại bộ phận hànghoá và dịch vụ Từng bước áp dụng chế độ lãi suất và tỷ giá thị trường;

+ Thừa nhận cạnh tranh bình đẳng, giảm độc quyền và đặc quyền trong kinhdoanh Xoá bỏ ngăn sông cấm chợ, cho phép tự do giao lưu hàng hoá, thống nhất thịtrường cả nước

+ Chấp nhận tính chất chính đáng của động cơ lợi nhuận trong kinh doanh; thừanhận tính hợp pháp của thu nhập từ các quyền tài sản trong khi vẫn coi thu nhập từ laođộng là nguyên tắc chủ yếu

+ Giới hạn vai trò trực tiếp phân bổ nguồn lực thông qua đầu tư từ năng suất nhànước; tạo điều kiện để thị trường trở thành công cụ chủ yếu phân bổ các nguồn lực

- Mở cửa kinh tế và từng bước hội nhập kinh tế quốc tế, đa phương hoá, đa dạnghoá quan hệ với thế giới, chủ trương làm bạn với tất cả các nước, biến nền kinh tếnước ta thành một bộ phận của nền kinh tế thế giới và khu vực

- Mở rộng cơ hội phát triển cho đông đảo nhân dân thuộc tất cả các tầng lớp trên

cả nước Lợi ích do đổi mới mang lại được phân phối rộng khắp và tương đối bìnhđẳng trong xã hội Nhân dân ngày càng có nhiều cơ hội việc làm, tiếp thu tri thức mới

và nâng cao trình độ văn hoá và năng lực hành động Quá trình đổi mới giúp nhậnthức đầy đủ hơn, đi đến khẳng định quan điểm: "phát triển kinh tế phải đi đôi với tiến

bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường"; thực hiện mục tiêu hành động: "dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh"

- Nhờ đổi mới, đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội; nền kinh tếtăng trưởng khá nhanh và vững chắc, tạo nên những chuyển biến cơ bản trong pháttriển kinh tế - xã hội; giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng; giữ vững độc lập chủ quyền

và an ninh quốc gia, tạo chuyển biến mạnh trong quá trình CNH, HĐH đất nước, cảithiện đáng kể đời sống các tầng lớp nhân dân, đạt thành tích có ấn tượng về xoá đóigiảm nghèo và phát triển con người

* Các mốc đổi mới chủ yếu của giai đoạn 1986-2001

a)1986-1987: đổi mới tư duy, chuẩn bị về mặt tư tưởng và đường lối đổi mới vàtiến hành đổi mới trên thực tế ở một số lĩnh vực

- Đại hội Đảng VI: đề ra đường lối đổi mới, trong đó, nhấn mạnh yêu cầu đổimới tư duy Tư tưởng coi việc “sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hoá - tiền tệ là đặctrưng thứ hai của cơ chế mới về quản lý” (sau tính kế hoạch), đòi hỏi “sản xuất phảigắn với thị trường, mọi hoạt động kinh tế phải so sánh chi phí với hiệu quả, các tổchức và đơn vị kinh tế phải tự bù đắp chi phí và có lãi để tái sản xuất mở rộng”, v.v.được ghi trong Báo cáo Chính trị của Đại hội là đột phá quan trọng về tư tưởng vàđường lối phát triển kinh tế của thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta

- 1987: Sửa đổi Luật Đất đai, ban hành Luật Đầu tư nước ngoài trực tiếp, mộtđạo luật được coi là rất thông thoáng Chuyển sang chính sách tỷ giá sát với tỷ giá thịtrường Mở cửa cho xuất khẩu các loại nông sản, đặc biệt là gạo

Thực trạng: nền kinh tế trong giai đoạn lạm phát phi mã, khủng hoảng nặng nề.Tình hình này tạo áp lực phải tiến hành đổi mới trên thực tế một cách mạnh mẽ vàquyết liệt Một số đổi mới thực tế ban đầu theo hướng thị trường và mở cửa đã tạo ra

Ngày đăng: 26/12/2021, 15:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w