Bài làm: Trong thời kỳ đổi mới nói chung, cũng như trong hoàn cảnh mà cả nước cùng chung tay góp sức chống thiên tai dịch bệnh nói riêng để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, đẩy mạn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Tiểu luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh
SS003.L21
Giảng viên – Trương Thị Mai
Sinh viên thực hiện: 18521562 – Trần Thanh Trung
Ngày 03 tháng 08 năm 2021.
Trang 2Đề tài: Đảng CSVN vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc trong việc xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ đổi mới
Bài làm:
Trong thời kỳ đổi mới nói chung, cũng như trong hoàn cảnh mà cả nước cùng chung tay góp sức chống thiên tai dịch bệnh nói riêng để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đánh bay thiên tai, dịch bệnh, đói nghèo, đòi hỏi Đảng, nhà nước ta phải xây dựng và phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, phải coi Đại đoàn kết dân tộc là sự nghiệp của toàn dân, toàn hệ thống chính trị mà hạt nhân là tổ chức Đảng Với chiến lược đại đoàn kết dân tộc trong Dự thảo Cương lĩnh, trước hết cần nhận thức rõ đại đoàn kết toàn dân tộc không phải là sự hô hào, kêu gọi chung chung mà là hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của Đảng có ý nghĩa khoa học, lý luận và chính trị – thực tiễn sâu sắc
Muốn thực hiện tốt được những chỉ tiêu đưa ra của một khối Đại đoàn kết dân tộc, Đảng lãnh đạo, cầm quyền phải chú trọng xây dựng, hoàn thiện và bảo đảm tính đúng đắn, hiện thực của Cương lĩnh, đường lối chính trị, đề ra mục tiêu chiến lược
Trang 3lâu dài phản ánh quy luật phát triển của cách mạng, đồng thời đề ra những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể phù hợp với từng giai đoạn khác nhau
Đảng cần phải chú trọng đẩy mạnh việc lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, phát triển các
tổ chức quần chúng, lựa chọn hình thức tổ chức thích hợp để tập hợp và phát huy vai trò tích cực, chủ động, tự giác của các tầng lớp nhân dân Muốn khối Đại đoàn kết toàn dân được lớn mạnh và bền vững, Đảng và nhà nước cần coi trọng và không ngừng đổi mới công tác vận động quần chúng, củng cố sự gắn bó mật thiết với nhân dân, cần lên án, phê bình cũng như kỷ luật những trường hợp quan liêu,
có mục đích chống phá khối Đại đoàn kết dân tộc
I MỞ ĐẦU
Đất nước Việt Nam ta từ lâu đã được hình thành là một quốc gia có truyền thống dân tộc đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau trong quá trình dựng nước và giữ nước Nhân dân Việt Nam có ý thức sâu bền về quyền tự chủ quốc gia dân tộc Quá trình dựng nước và giữ nước đã tạo dựng và phát triển cho dân tộc Việt Nam một nền văn hóa
tư tưởng rực rỡ, trong đó chủ nghĩa dân tộc, ý chí độc lập và khát vọng tự do là truyền thống của lịch sử Đó là nền tảng văn hóa tư tưởng của sự hội tụ và đoàn kết
Trang 4dân tộc, là động lực vĩ đại và duy nhất của nhân dân Việt Nam trong lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Thắng lợi của chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản do chính Người sáng lập trong gần 80 năm đã qua cho phép chúng ta có thể khẳng định rằng: Trong một quốc gia dân tộc, bao giờ cũng có các giai cấp, tầng lớp xã hội, các tộc người, các tôn giáo khác nhau, song bao giờ cũng có lợi ích chung và cao cả của cả dân tộc Dân tộc Việt Nam không phân biệt giai cấp, nam
nữ, già trẻ, lớn bé , dân tộc, tôn giáo khác nhau,… song người Việt Nam đều là con Hồng, cháu Lạc có lịch sử hình thành dân tộc lâu đời, có một cội nguồn văn hóa chung, có chủ nghĩa dân tộc truyền thống vững bền, có lợi ích cao cả là độc lập, tự do
II NỘI DUNG CHÍNH
1 Những cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc: 1.1 Những giá trị truyền thống của nhân dân ta:
Trang 5Được biết đến là một đất nước giàu truyền thống dân tộc bao gồm truyền thống yêu nước và tinh thần đấu tranh anh dũng bất khuất cho độc lập, tự do; tinh thần nhân nghĩa và tinh thần đoàn kết, sự tương thân, tương ái, vị tha của dân tộc, tinh thần lạc quan, yêu đời; ý thức tự lực, tự cường
Những giá trị truyền thống đó được hình thành và phát triển trong những điều kiện địa lý – chính trị, môi trường tự nhiên, nền kinh tế, xã hội (gia đình – làng – nước) rất đặc trưng của Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử và đã tạo nên sức mạnh vô địch của cả dân tộc để chiến đấu và chiến thắng mọi thiên tai, dịch bệnh cũng như giữ vững được nền độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ
Những giá trị truyền thống đó đã trở thành một triết lý sống tự nhiên, một chuẩn mực chung cho việc đối nhân xử thế tạo dựng một con người Việt Nam chuẩn mực như hiện nay và được khắc ghi vào những bài thơ, cao dao tục ngữ dân gian:
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng”;
“Bầu ơi thương lấy bí cùng
Trang 6Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”
“Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”;
“Tình làng, nghĩa nước; nước mất thì nhà tan”; …
Những giá trị truyền thống đó còn được các anh hùng dân tộc ở các thời kỳ lịch sử khác nhau đúc kết nâng lên thành phương pháp đánh giặc giữ nước như: phương pháp nuôi dưỡng sức dân và sử dụng sức quân của Trần Hưng Đạo: “trên dưới đồng lòng, cả nước chung sức”, “tướng sĩ một lòng phụ tử”; phương pháp tập hợp lực lượng và sức mạnh nhân dân của Nguyễn Trãi và hai cụ Phan: “Dựng gậy làm
cờ, tập hợp bốn phương manh lệ”, “chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”;…
Hồ Chí Minh sinh ra là con của một gia đình nho học nên Người đã sớm tiếp thu được những giá trị truyền thống của dân tộc, thấy rõ được sức mạnh của dân tộc, những quan điểm nhân sinh và phương pháp đánh giặc của cha ông kết hợp với những giá trị thời đại để chuyển thành hệ thống quan điểm cách mạng của mình
Trang 71.2 Quá trình đúc kết được những kinh nghiệm thành công và thất bại của các phong trào yêu nước cách mạng Việt Nam nói riêng và cách mạng thế giới nói chung:
Từ việc tổng kết các phong trào yêu nước cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh rút
ra kết luận: Vận mệnh của đất nước đòi hỏi một lực lượng cách mạng mới có khả năng đề ra được đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử và những yêu cầu của thời đại, có đủ sức quy tụ, tập hợp lực lượng của cả dân tộc vào cuộc đấu tranh chống thực dân, đế quốc, phong kiến
và xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc bền vững
Từ việc tổng kết các phong trào cách mạng thế giới, Hồ Chí Minh rút ra kết luận: Cách mạng Mỹ, cách mạng Pháp là những cuộc cách mạng “chưa đến nơi”, vì sao cách mạng thành công, nhân dân vẫn bị áp bức, bóc lột và nghèo nàn Cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa tiềm ẩn một sức mạnh to lớn, những chưa có sự lãnh đạo đứng đắn, chưa có đoàn kết, chưa có tổ chức Chỉ có cuộc cách mạng tháng Mười Nga là cuộc cách mạng triệt để vì: “…Cách mệnh rồi thì quyền trao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người Thế mới khỏi hy sinh
Trang 8nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc” và nó đã để lại bài học kinh nghiệm
về việc huy động, tập hợp lực lượng quần chúng công nông đông đảo trong việc giành và giữ chính quyền cách mạng, xây dựng chế độ xã hội mới
Những phong trào cách mạng ở các nước phương Đông như Trung Quốc, Ấn Độ
đã đem lại bài học bổ ích về việc tập hợp lực lượng yêu nước tiến bộ để tiến hành cách mạng Những kết luận trên đã giúp Người chuẩn bị những nhân tố cần thiết cho việc lãnh đạo nhân dân Việt Nam thực hiện sự nghiệp cách mạng của mình
1.3 Một số quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin:
– Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng;
– Nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử;
– Giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng phải trở thành giai cấp dân tộc
– Liên minh công nông là cơ sở để xây dựng lực lượng cách mạng
– Đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế theo tinh thần “vô sản tất cả các nước đoàn kết lại” v.v
Trang 9Nhờ những quan điểm trên mà Hồ Chí Minh đã có cơ sở khoa học để thu hái những hiểu biết của các đời trước để lại và chuyển hóa chúng thành những hệ thống tư tưởng của mình về đại đoàn kết dân tộc
2 Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc:
2.1 Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược của cách mạng:
Với Hồ Chí Minh, đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của nhân dân ta Người cho rằng: “Muốn giải phóng các dân tộc bị áp bức và nhân dân lao động, phải tự cứu lấy mình bằng đấu tranh vũ trang cách mạng, bằng cách mạng vô sản.” Chiến lược đó được tổng kết thành những luận điểm có tính chân lý như:
“Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta”
“Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi”
“Đoàn kết đoàn kết đại đoàn kết,
Thành công, thành công, đại thành công!”
Tuy nhiên trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, có thể và cần thiết phải điều chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp lực lượng cho phù hợp với những
Trang 10đối tượng khác nhau trong cộng đồng các dân tộc Nhưng đại đoàn kết luôn được Người nhận thức là vấn đề sống còn của cách mạng
2.2 Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu và nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng:
Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc phải được quán triệt trong mọi đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, vì Đảng là lực lượng lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam Sức mạnh của đảng là ở sự đoàn kết nhất trí và sự đoàn kết trong Đảng là hạt nhân đoàn kết trong tất cả các tổ chức chính trị xã hội và trong toàn xã hội
Mục tiêu là “Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc” nhiệm vụ là tuyên truyền, huấn luyện làm sao cho nhân dân hiểu biết và làm được, ví dụ: “Một là đoàn kết Hai là xây dựng chủ nghĩa xã hội Ba là đấu tranh thống nhất nước nhà” Chỉ có như vậy, mục tiêu, nhiệm vụ của Đảng mới trở thành mục tiêu, nhiệm vụ của cả dân tộc và đại đoàn kết dân tộc mới trở thành một đòi hỏi khách quan của bản thân quần chúng trong cuộc đấu tranh tự giải phóng, là sự nghiệp của quần chúng, do quần chúng và vì quần chúng
Trang 11Đảng có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn, chuyển những đỏi hỏi khách quan,
tự phát của quần chúng thành những đòi hỏi tự giác thành hiện thực có tổ chức và thành sức mạnh
2.3 Đại đoàn kết dân tộc để thực hiện khối đoàn kết toàn dân:
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh các khái niệm đồng nghĩa thường được dùng là dân, nhân dân, đồng bào, quần chúng nhân dân, quốc dân, … Ở đây khái niệm “Dân” được dùng với tư cách là khái niệm chung cho tất cả Khái niệm “Dân” vừa được hiểu là một tập hơp đông đảo quần chúng, vừa được hiểu là mỗi con người Việt Nam cụ thể và dùng để chỉ mọi con dân nước Việt, con Rồng cháu Tiên, không phân biệt già, trẻ, gái, trai, giàu, nghèo, quý, tiện, tín, ngưỡng, … Như vậy, “Dân” được hiểu là chủ thể của đại đoàn kết dân tộc
Đại đoàn kết dân tộc là cơ sở để thực hiện khối đại đoàn kết toàn dân, với ý nghĩa
là cần phải huy động và tập hợp được mọi người dân Việt Nam, đang sống trong nước hay đang định cư ở nước ngoài vào khối đại đoàn kết nhằm thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng chung của dân tộc Muốn làm được điều đó phải kế thừa truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, đoàn kết của dân tộc, phải có tấm lòng
Trang 12khoan dung, độ lượng với con người và cần xoá bỏ mọi định kiến, cách biệt “Bất
kỳ ai mà thật thà tán thành hoà bình, thống nhất độc lập dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng vẫn thật thà đoàn kết với họ” Đại đoàn kết dân tộc mở rộng cửa để đón tiếp những người lầm lạc mà biết ăn năn hối cải Theo Người, “Ta đoàn kết để đấu tranh chống cho thống nhất
và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ra đoàn kết với họ”
Mẫu số chung để quy tụ mọi người vào khối đại đoàn kết dân tộc là nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc, là cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân và nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc, cũng đồng thời là nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân – là liên minh công, nông, và lao động trí óc
2.4 Đại đoàn kết dân tộc trở thành sức mạnh vật chất, có tổ chức dưới sự lãnh đạo của Đảng:
Trang 13Theo Hồ Chí Minh, dân tộc hay quần chúng nhân dân khi chưa được tổ chức và giác ngộ về lợi ích, mục tiêu, lý tưởg thì chỉ là số đông chưa có sức mạnh nhưng khi đươc tổ chức giác ngộ và hoạt động theo một đường lối chính trị đúng đắn sẽ trở thành sức mạnh vô địch Quy tụ quần chúng nhân dân vào một tổ chức yêu nước phù hợp với từng bước phát triển của phong trào cách mạng là sự quan tâm ngay từ đầu của Hồ Chí Minh và là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng ta
Tổ chức thể hiện sức mạnh vât chất của khối đại đoàn kết dân tộc chúnh là Mặt trận dân tộc thống nhất Mặt trận có thể có tên gọi khác nhau nhưng tựu trung lại chỉ là một tổ chức chính trị rộng rãi, tập hợp đông đảo các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, đảng phái, các tổ chức và các nhân tố yêu nước ở trong và ngoài nước, phấn dấu vì mục tiêu độc lập, thống nhất của Tổ quốc và tự do, hạnh phúc của nhân dân như: Hội phản đế đồng minh (1930); Mặt trận Dân chủ (1936); Mặt trận nhân dân phản đế (1939); Mặt trận Việt Minh (1941); Mặt trận Liên Việt (1946); Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam (1960); Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1955 và 1976)
Trang 14Mặt trận dân tộc thống nhất được xây dựng và hoạt động theo những nguyên tắc sau:
Thứ nhất, Mặt trận dân tộc thống nhất phải được xây dựng trên nền tảng liên minh công nông (về sau Người nêu thêm là liên minh công – nông – lao động trí óc), dưới sư lãnh đạo của Đảng cộng sản
Thứ hai, Mặt trận dân tộc thống nhất hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ, lấy việc thống nhất lợi ích tối cao của dân tộc với lợi ích của các tầng lớp nhân dân làm cơ sở để củng cố và không ngừng mở rộng
Thứ ba, đoàn kết lâu dài, chặt chẽ, đoàn kết thật sự, chân thành, thân ái, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ Hồ Chí Minh đã viết: “Đoàn kết thật sự nghĩa là mục đích phải nhất trí và lập trường cũng phải nhất trí Đoàn kết thật sự nghĩa là vừa đoàn kết, vừa đấu tranh, học những cái tốt của nhau, phê bình cái sai của nhau và phê bình trên lập trường thân ái, vì nước, vì dân”
Đảng Cộng sản vừa là thành viên của Mặt trận dân tộc thống nhất vừa là lực lượng lãnh đạo khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng vững chắc Muốn lãnh đạo được, Đảng phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại, phải
Trang 15thực sự đoàn kết nhất trí Đảng Cộng sản Việt Nam phải là đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc Người viết: “Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất Chỉ trong đấu tranh và công tác hàng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo”
Từ đó, Hồ Chí Minh đã định hướng cho việc hình thành ba tầng Mặt trận ở Việt Nam là: Mặt trận đại đoàn kết dân tộc; Mặt trận đoàn kết Việt – Miên – Lào; Mặt trạn nhân dân tiến bộ thế giới đoàn kết với nhân dân Việt Nam chống đế quốc xâm lược
3 Ý nghĩa tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh:
Trong toàn bộ những bài báo của Hồ Chí Minh theo thống kê có đến 40% bài báo nói về đại đoàn kết, qua đó ta thấy được tầm quan trọng của đại đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh Lời đầu tiên trong bản di chúc của Hồ Chí Minh cũng như lời cuối cùng trong bản di trúc thì Hồ Chí Minh đều nhắc tới đại đoàn kết Lời đầu tiên Người nói: “Trước khi tôi qua đời tôi để lại vài lời dặn dò như sau: Trước hết nói
Trang 16về đoàn kết các đồng chí từ trung ương đến các chi bộ phải gìn dữ sự đoàn kết như gìn giữ con ngươi của mắt mình” còn lời cuối cùng của người: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là toàn Đảng toàn dân toàn quân ta đoàn kết xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh dân chủ độc lập đóng góp xứng đáng vào cách mạng vô sản thế giới”
Đại đoàn kết dân tộc là tư tưởng lớn, có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc với cách mạng nước ta Tư tưởng này có nhiều giá trị, biểu hiện tập trung ở những điểm chính sau:
– Đoàn kết là bài học hàng đầu và có tính chiến lược, quyết định mọi thành công Biết đoàn kết thì vượt qua khó khăn, thử thách, không đoàn kết, chia rẽ là thất bại – Đoàn kết phải có nguyên tắc, vì mục tiêu và lợi ích chung Không đoàn kết một chiều, đoàn kết hình thức, nhất thời
– Đoàn kết trong tổ chức, thông qua tổ chức để tạo nên sức mạnh Đoàn kết cá nhân và đoàn kết tổ chức không tách rời nhau